Nguyễn Thái Linh - Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kỳ II)

  • Bởi Hồ Gươm
    02/06/2012
    12 phản hồi

    Nguyễn Thái Linh


    Tượng đài Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa trên đảo Lý Sơn, mô tả hình ảnh các binh phu trong tư thế lên đường thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh hải của Tổ quốc.

    Do Trung Quốc và Đài Loan sử dụng các luận cứ tương tự cho yêu sách của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng tôi sẽ trình bày chung các luận cứ này trong phần dưới đây.

    II. Luận thuyết của Trung Quốc và Đài Loan

    1. Luận thuyết của Trung Quốc dựa trên quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hữu hiệu đối với lãnh thổ vô chủ (terra nullius)

    Trung Quốc khẳng định họ đã phát hiện ra các quần đảo sớm nhất, từ thời Hán Vũ Đế (thế kỷ II trước CN) (1). Tuy nhiên, để chứng minh cho luận cứ này, Trung Quốc đưa ra các tài liệu không phải là chính sử được viết bởi các cơ quan nhà nước. Theo Nguyễn Hồng Thao, “phần lớn chúng là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa lý của người xưa liên quan không chỉ tới lãnh thổ Trung Quốc mà còn tới lãnh thổ của các nước khác.” (2) Hơn nữa, phần lớn các tài liệu nói đến các quần đảo với những tên gọi rất khác nhau, làm cho mọi xác minh không được chắc chắn. (3)

    Mặt khác, tác giả Phạm Hoàng Quân cho biết, theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa toàn thư do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm 1706, trong phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính), các địa đồ như Chức Phương tổng bộ đồ (địa đồ số 1), Quảng Đông cương vực đồ (địa đồ số 157), Quỳnh Châu phủ cương vực đồ (địa đồ số 167) đều không ghi nhận các quần đảo xa hơn đảo Hải Nam ngày nay. Theo Quảng Đông thông chí vẽ đời Gia Tĩnh (1522-1566) thì phần hải đảo cũng chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam). (4)

    Trung Quốc cũng sử dụng những bằng chứng về khảo cổ và việc tìm thấy vết tích tiền và đồ cổ từ thời Vương Mạng để khẳng định sự có mặt của ngư dân Trung Quốc trên các quần đảo. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác của ngư dân Trung Quốc là các hoạt động tư nhân, không mang lại hiệu lực pháp lý của quyền chiếm cứ hiệu quả mà luật quốc tế đòi hỏi.

    Để chứng minh việc thực thi chủ quyền trên các quần đảo từ lâu đời, Trung Quốc đưa ra các sự kiện sau:

    - Các cuộc tuần tra quân sự đến vùng biển quần đảo Hoàng Sa từ thời nhà Tống (960-1127). Khẳng định này dựa trên cơ sở Vũ Kinh tổng yếu (chương trình chung về quân sự có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông). (5) Theo Monique Chemillier-Gendreau, tài liệu này chỉ cho thấy có các đó là các hành trình thăm dò địa lý tới tận Ấn Đô Dương, và xác nhận Trung Quốc có biết đến quần đảo Hoàng Sa nhưng không minh chứng một sự chiếm hữu nào.

    - Vào thế kỷ XIII, Hoàng đế nhà Nguyên ra lệnh cho nhà thiên văn học Quách Từ Kính thực hiện các quan trắc thiên văn, trong đó có một số quan trắc từ Hoàng Sa. Tuy nhiên, các quan trắc này được thực hiện một phần trong lãnh thổ Trung Quốc, một phần ngoài lãnh thổ, mang tính chất nghiên cứu khoa học, không đủ để tạo nên danh nghĩa chủ quyền.

    - Vào khoảng các năm 1710-1712, phó tướng thủy quân Quảng Đông là Ngô Thăng đã thực hiện một cuộc tuần biển đến Hoàng Sa. Tuy nhiên, theo Monique Chemillier-Gendreau, xem xét trên bản đồ thì lộ trình đi tuần chỉ là một con đường vòng quanh đảo Hải Nam chứ không phải là quần đảo Hoàng Sa.

    - Năm 1883, khi tàu của Đức thực hiện nghiên cứu khoa học tại quần đảo Trường Sa, chính quyền Quảng Đông đã phản đối. Nhưng khi danh nghĩa của một nhà nước chưa được xác lập vững chắc và lâu dài, việc phản đối này chỉ mang tính chất ngoại giao và không có giá trị pháp lý. (6)

    Các bằng chứng lịch sử của Trung Quốc về quyền phát hiện và chiếm cứ hiệu quả hai quần đảo rõ ràng là rất ít ỏi, không vững chắc và không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện của luật quốc tế. “Chúng không chứng minh được một sự chiếm cứ thông thường, một sự quản lý hành chính hữu hiệu sự kiểm soát chủ quyền”. (7)

    Cân nhắc các luận cứ lịch sử của Việt Nam và Trung Quốc về quyền phát hiện đầu tiên và chiếm cứ hiệu quả, giáo sư người Pháp Yves Lacoste cho rằng: “dù sao đi nữa, luận cứ của Việt Nam cũng mạnh mẽ hơn luận cứ của Trung Quốc.” (8)

    2. Các luận cứ của Trung Quốc trong thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đến 1945

    Đầu thế kỷ XX, Trung Quốc mới thực sự quan tâm và có những nỗ lực đầu tiên để chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1909, đô đốc Trung Quốc là Lý Chuẩn thực hiện một cuộc đổ bộ nhỏ (trong 24 giờ) lên quần đảo này. Họ kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. (9) (Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?). Nước Pháp đại diện cho An Nam không có phản ứng gì trước cuộc đổ bộ này vì họ cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân dịp chuyến thám sát. (10)

    Năm 1921, chính quyền dân sự Quảng Đông sát nhập hành chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện. Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước vì khi đó chính quyền Quảng Đông không được cả chính phủ trung ương Trung Quốc lẫn các cường quốc công nhận.

    Năm 1937, trước sự phản đối của Pháp, Nhật chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương”, đổi tên thành Shinnan Gunto (Tân Nam Quần Đảo) và đặt chúng dưới quyền tài phán của Cao Hùng (Đài Loan).

    Trong suốt thời gian Thế chiến II, các quần đảo bị Nhật chiếm đóng.

    Như vậy, cho đến khi Thế chiến II kết thúc vào năm 1945, ngoài nỗ lực ban đầu trong việc biểu thị chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không thể hiện được một sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính hiệu quả trên các đảo. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn không hề có một ảnh hưởng nào.

    3. Thời kỳ sau 1945

    Sau khi đầu hàng vào năm 1945, Nhật Bản rút khỏi Đông Dương và các quần đảo. Sau khi Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa vào tháng 6.1946, quân đội Trung Hoa Dân Quốc đổ bộ lên đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) vào tháng 1.1947. Pháp lập tức phản đối việc chiếm hữu trái phép này của Trung Quốc và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này hoạt động trong suốt 26 năm cho đến khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chiếm đóng quân sự vào năm 1974.

    Cuối năm 1946, Trung Hoa Dân Quốc cử quân đội đến chiếm đóng đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa), sau khi Pháp đặt bia chủ quyền.

    Tháng 10.1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Tháng 5.1950, Quân đội Quốc dân Đảng phải rời khỏi các đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và Ba Bình (quần đảo Trường Sa). Các trại đồn trú của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở Hoàng Sa.

    Tháng 4.1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đưa quân đến thay thế các đơn vị của Pháp tại Hoàng Sa. Nhưng khi đó chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã kín đáo cho quân đổ bộ chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh) (11).

    Ngày 4.9.1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Ngày 19.1.1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

    Đối với quần đảo Trường Sa, theo Jan Rowiński, cho đến thời điểm này (tháng 1.1974) “Trung Quốc không có khả năng gây ảnh hưởng đối với khu vực quần đảo Trường Sa, chứ chưa nói gì đến chuyện kiểm soát nó.” (12)

    Tháng 2.1988, Trung Quốc gửi quân đội đến một số đảo trên quần đảo Trường Sa. (13)

    Tháng 3.1988, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm 6 đảo của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Trung Quốc là quốc gia duy nhất yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa nhưng trên thực tế không kiểm soát bất cứ đảo nào cho mãi đến tận năm 1988. (14)

    Tháng 4.1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Tháng 5.1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa. (15)

    Tháng 2.1995, Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ của Philippines trên quần đảo Trường Sa.

    Có thể thấy phương pháp chủ yếu của Trung Quốc là dùng vũ lực để chiếm hữu các đảo. Tuy nhiên, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ XX việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 24.10.1970 cũng đã ghi rõ: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lưc. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp.” Do đó, các hành động dùng vũ lực trái ngược với luật quốc tế của Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    4. Các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giá trị pháp lý:

    - Trung Quốc luôn lập luận rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên các tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) trong thời gian chiến tranh 1954-1975.

    Tuy nhiên, các tuyên bố của VNDCCH có khiến cho nước Việt Nam thống nhất sau 1975 mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không đòi hỏi những nghiên cứu sâu hơn về luật quốc tế.

    Trong bài viết ngắn này, chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt quan điểm của mình.

    Trong thời gian chiến tranh 1954-1975 có hai quốc gia Việt Nam đồng thời tồn tại là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc và Việt Nam Cộng hòa (VNCH) ở miền Nam. Đây cũng là quan điểm của nhiều luật gia quốc tế như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin. (16)

    Sau Hiệp ước Geneve năm 1954, dựa theo nhận thức và thực tế quản lý của hai quốc gia, quốc gia kế thừa chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là VNCH. Trên thực tế, như đã nêu ở phần trên, VNCH đã liên tục kiểm soát, quản lý hành chính và khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo cho đến tận khi bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc quản lý quần đảo Trường Sa vẫn tiếp tục được duy trì đến thời điểm 30.4.1975.

    Công hàm của thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ngày 14.9.1958 cũng như các tuyên bố khác của VNDCCH không ảnh hưởng đến danh nghĩa chủ quyền mà VNCH duy trì. Các hành vi của VNDCCH cùng lắm chỉ có thể gây ra các ràng buộc và hiệu quả pháp lý cho chính mình mà thôi. Vậy các ràng buộc và hiệu quả pháp lý đó có thể là gì?

    Các tuyên bố của VNDCCH là hành vi đơn phương. Theo luật quốc tế, một hành vi đơn phương hay một lời hứa cần có những điều kiện trước khi có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Các điều kiện chính là: a) cần xét đến bối cảnh của hành vi tuyên bố đó; b) bên có tuyên bố cần thể hiện rõ ràng ý chí muốn bị ràng buộc bởi tuyên bố của mình; c) bên kiện quốc gia tuyên bố phải có hành động dựa vào tuyên bố đó và phải chứng minh mình đã bị thiệt hại do tuyên bố đó, hoặc quốc gia tuyên bố đã hưởng lợi từ tuyên bố này. Ngoài ra, nhiều bản án của Tòa án Công lý Quốc tế còn đòi hỏi các tuyên bố này phải mang tính chất liên tục và trường kỳ. (17)

    Có thể dễ dàng thấy rằng các tuyên bố của VNDCCH thiếu hầu hết các điều kiện để có thể gây ra nghĩa vụ ràng buộc. Trung Quốc không có hành động nào dựa vào tuyên bố của VNDCCH và VNDCCH cũng không được hưởng lợi gì từ các tuyên bố đó.

    Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Nguyễn Thái Linh
    _____________________

    Chú thích:

    1. Lee G. Cordner, The Spratly Island dispute and the Law of the Sea, Ocean Development and International Law, Washington D.C., vol.25, 1994

    2. Nguyễn Hồng Thao, sđd

    3. Monique Chemillier-Gendreau, sđd,

    4. Phạm Hoàng Quân, “Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc”, talawas ngày 11.12.2007 (http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11697&rb=0302 )

    5. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

    6. Nguyến Hồng Thao, sđd

    7. Kuang-Minh Sun, “Dawn in the South China Sea? A Relocation of the Spratly Islands in an Everlasting Legal Storm”, South African Yearbook of International Law, University of South Africa, vol.16, 1990/91, tr.40.

    8. Lacoste Yves, “Mer de Chine ou Mer de l’Asie du Sud-Est”, Herodote, Paris 1981, tr.8-13

    9. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

    10. Nguyễn Hồng Thao, sđd

    11. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

    12. Rowiński Jan, sđd

    13. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

    14. Rowiński Jan, sđd

    15. Monique Chemillier-Gendreau, sđd

    16. Dương Danh Huy, sđd

    17. Từ Đặng Minh Thu, "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng są và Trường Sa”, tạp chí Thời Đại Mới, số 11, tháng 7/2007.

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    HongLac viết:
    VN2006A viết:

    - đem ra tòa án quốc tế lấy gì đảm bảo VN sẽ được toàn bộ??? nếu không được toàn bộ thì ai chịu trách nhiệm??? nên nhớ có thẩm phán người Hoa mà không có thẩm phán người Việt nhé!!!

    Chắc bác VN2006A chỉ nói đùa thôi! Làm gì có chuyện “đảm bảo VN sẽ được toàn bộ”. Cho dù Toà án Quốc tế có xử Việt Nam (không phải CHXHCNVN) thắng đi nữa thì Trung Quốc cũng không trả lại quần đảo Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ thì ai làm gì được bọn Đại Hán Trung Quốc bây giờ (bây giờ chớ tương lai có thể khác và đã có phán quyết của Toà án Quốc tế),

    Nói như bác thì Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông lập ra để làm gì? Hay chỉ lập ra để chứng minh “CHXHCNVN có chủ quyền không thể tranh cãi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”!!!

    Thấy các bác tranh cãi nhiều về HS-TS-VN, tôi mới bắt đầu mua sách đọc sơ sơ rồi bỏ đó vì nó khô khan.
    Theo tôi hiểu, nếu căn cứ vào luật biển 1982, thì có những điểm VN đúng và có cơ sở, không phải tất cả. Nhà nước VN cũng khẳng định chủ quyền không thể chối cãi về HS-TS (TT NTD, CT TTS)
    TQ sai trái vì dùng sức mạnh quân đội chiếm đóng HS và TS.
    Phi cũng có một judge về luật biển để bảo vệ hồ sơ pháp lý của Phi nếu cần

    Mọi việc phải thực hiện song song như ngoại giao, quân sự và pháp lý.

    Các bác Dương Danh Hy, Trương Nhân Tuấn, Phạm Quang Tuấn, ... tranh luận rất hăng về chủ quyền của Phi, nay lại im lặng về việc lập hồ sơ pháp lý cho VN để có thể sau này đưa ra tòa.
    Mong các bác dẹp bỏ tự ái cá nhân, đưa ra những đề nghị cụ thể về hồ sơ pháp lý cho VN. Việc có dùng hồ sơ pháp lý này ra tòa án quốc tế hay không là tính sau, nhưng cần phải làm bây giờ

    VN2006A viết:

    - đem ra tòa án quốc tế lấy gì đảm bảo VN sẽ được toàn bộ??? nếu không được toàn bộ thì ai chịu trách nhiệm??? nên nhớ có thẩm phán người Hoa mà không có thẩm phán người Việt nhé!!!

    Chắc bác VN2006A chỉ nói đùa thôi! Làm gì có chuyện “đảm bảo VN sẽ được toàn bộ”. Cho dù Toà án Quốc tế có xử Việt Nam (không phải CHXHCNVN) thắng đi nữa thì Trung Quốc cũng không trả lại quần đảo Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ thì ai làm gì được bọn Đại Hán Trung Quốc bây giờ (bây giờ chớ tương lai có thể khác và đã có phán quyết của Toà án Quốc tế),

    Nói như bác thì Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông lập ra để làm gì? Hay chỉ lập ra để chứng minh “CHXHCNVN có chủ quyền không thể tranh cãi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”!!!

    HongLac viết:
    Cá nhân tôi không có đọc, không có theo dõi các cuộc cãi nhau trên Talawas trước kia, nên tôi chỉ thấy thế nầy:

    1. Công hàm (diplomatic note) của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 không có giá trị pháp lý quốc tế.
    2. Nước CHXHCNVN không thừa kế hợp pháp nước VNCH trên phương diện pháp lý quốc tế.

    Nếu các bác trong Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông nhận thấy nuớc CHXHCNVN là thừa kế hợp pháp quốc tế (không phải hợp pháp CHXHCNVN) và chắc chắn sẽ thắng thì các bác khuyên ĐCSVN đưa vấn đề nầy ra Toà án Quốc tế để đòi lại quần đảo Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trườngt Sa đã bị Trung Quốc xâm chiếm đi (tôi nghĩ ĐCSVN "đủ khôn" để không dám làm như vậy).

    Sau khi “thắng” và lấy lại Hoàng Sa và Truờng Sa rồi thì các bác trong Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông đổi tên Quỹ thành Quỹ Nghiên Cứu Biên Giới và Vịnh Bắc Bộ để lấy lại các phần đất biên giới và phần biển trong Vịnh Bắc Bộ đã mất vào tay Đại Hán Trung Quốc!

    Bạn Hồng Lạc hơi vội vã!!!

    - Chứng minh được CHXHCN Vietnam kế thừa VNCH mới chỉ là 1 bước!!!

    - Bước tiếp là phải chứng minh chủ quyền của Vietnam đối với HS-TS trong vòng ít nhất 300 năm (tôi không rõ là bao nhiêu thì đủ), cũng đừng có khuếch đại lên. Lên nữa là Giao Chỉ lại thuộc về TQ, và như thế TQ có chủ quyền với HS-TS.

    - đem ra tòa án quốc tế lấy gì đảm bảo VN sẽ được toàn bộ??? nếu không được toàn bộ thì ai chịu trách nhiệm??? nên nhớ có thẩm phán người Hoa mà không có thẩm phán người Việt nhé!!!

    PS.: nước Nhật có đầy đủ/hội tụ các mong ước của các "chiến sỹ dân chủ":

    - có thể chế dân chủ.
    - có 1 nền kinh tế hùng mạnh.
    - có hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ.
    - có chủ quyền không thể chối cãi với 4 hòn đảo thuộc Kurilen.

    Nước Nhật đã làm gì để đòi lại 4 hòn đảo này từ tay Nga??? có đưa ra tòa án quốc tế không???

    Nên tham khảo cho biết!!!

    Cá nhân tôi không có đọc, không có theo dõi các cuộc cãi nhau trên Talawas trước kia, nên tôi chỉ thấy thế nầy:

    1. Công hàm (diplomatic note) của ông Phạm Văn Đồng năm 1958 không có giá trị pháp lý quốc tế.
    2. Nước CHXHCNVN không thừa kế hợp pháp nước VNCH trên phương diện pháp lý quốc tế.

    Nếu các bác trong Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông nhận thấy nuớc CHXHCNVN là thừa kế hợp pháp quốc tế (không phải hợp pháp CHXHCNVN) và chắc chắn sẽ thắng thì các bác khuyên ĐCSVN đưa vấn đề nầy ra Toà án Quốc tế để đòi lại quần đảo Hoàng Sa và các đảo trong quần đảo Trườngt Sa đã bị Trung Quốc xâm chiếm đi (tôi nghĩ ĐCSVN "đủ khôn" để không dám làm như vậy).

    Sau khi “thắng” và lấy lại Hoàng Sa và Truờng Sa rồi thì các bác trong Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông đổi tên Quỹ thành Quỹ Nghiên Cứu Biên Giới và Vịnh Bắc Bộ để lấy lại các phần đất biên giới và phần biển trong Vịnh Bắc Bộ đã mất vào tay Đại Hán Trung Quốc!

    Dù có bao biện thế nào thì việc ảnh hưởng của Công hàm do PVĐ ký năm 1958 là bất lợi nếu không xử lý trước tình huống trước khi đưa ra tòa án quốc tế. Cho nên những ý kiến Công hàm đó không có giá trị mà không nói tình huống gì thì tốt nhất đừng nói gì, mất công người khác đọc.

    Từ rắc rối của cái Công hàm đó mà phải tính đến việc kế thừa từ VNCH. Nhưng kế thừa kiểu gì khi CHXHCNVN luôn tuyên bố giải phóng Miền Nam, giải phóng Trường Sa. Sao không dùng những từ "tiếp quản"?. Khi quân đội VNDCCH vào Sài Gòn họ tuyên bố "Các ông không còn cái gì để bàn giao cả" thì còn bàn giao, kế thừa vào lúc nào nữa.

    Cho nên tôi đồng ý giải pháp xóa đi làm lại, có thể là việc làm này chỉ mang tính hình thức để phù hợp với công pháp quốc tế và để vô hiệu hóa hoàn toàn cái công hàm khốn kiếp kia. Những người lãnh đạo hiện nay hãy đặt chủ quyền lãnh thổ lên hàng đầu, hãy dũng cảm nhận sai lầm. Tôi tin chắc rằng nhân dân sẽ không truy cứu trách nhiệm của những sai lầm đó.

    Trích dẫn:
    Khách qua đường viết:

    "đâu là bằng cứ pháp lý của sự sáp nhập hai thực thể pháp lý độc lập là VNCH và VNDCCH (ngày, tháng, nghi lễ hợp nhất, v.v…, ai là đại diện hợp pháp của VNCH trong ngày thi hành việc sáp nhập và ai là đại diện hợp pháp của VNDCCH trong ngày hợp nhất đó)?"

    Cho dù Ai cưỡng chiếm Ai thì cũng là chuyện trong nhà người ta với nhau. Thằng anh có đè ngửa thằng em ra cướp đất cướp nhà thì cũng vẫn là đất của một tổ Việt Nam mà thôi.
    Còn bằng chứng pháp lý của sự hợp nhất ư? Đây: Ngày 25/4/1976, quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp ở Hà Nội, quyết định đổi tên nước (VNCH + VNDCCH) thành một nước CHXHCN Việt Nam. Kỳ họp này có cả một đại biểu quốc hội rất đặc biệt là ông Dương Văn Minh - tổng thống cuối cùng của VNCH.

    Dương Danh Huy viết:
    ...
    Nếu xem ý kiến của Greg Austin là chân lý thì có nghĩa xem chủ quyền VN đối với HSTS là đã chết và chôn từ 30/4/1975 đến nay rồi (đó là ý kiến của Greg Austin). Và nếu đã chết và chôn như thế thì những gì ông Khách Qua Đường (Dân Luận), Hoàng Trường Sa (talawas) và Trương Nhân Tuấn đề nghị cũng không làm cho nó sống lại được.

    He he...chào anh Dương Danh Huy,

    Tôi cũng từng "cãi nhau" 1 vài lần với mấy ông Khách Qua Đường, Lê Quôc Trinh...trên Dân Luận, nên không có hứng lắm, vì cứ phải nhai đi, nhai lại.

    Luận điểm của mấy ông này có thể tóm tắt như sau:

    1. ra sức chứng minh công hàm của PVĐ có giá trị!
    2. ra sức chứng minh CHXHCN Vietnam không kế thừa VNCH!

    Từ 2 điểm này các vị ấy đề xuất:

    3. xóa bài đi làm lại (cách dùng từ của Khách Qua Đường), tức là xóa sổ CHXHCN Vietnam đi, làm lại 1 thể chế khác, để kế thừa VNCH.

    Tôi cũng từng nói rằng đâu có dễ thế! Cái gì cũng phải có tính liên tục của nó. Không lẽ anh có nợ, chỉ cần đổi tên (đổi thể chế) là anh có thể quỵt nợ được sao???

    Ví dụ các nước Ả rập hiện nay lần lượt có thể chế mới, nhưng nếu tôi không nhầm thì nợ nần và các hợp đồng của họ với phương Tây không bị xóa bỏ, chỉ được giảm hoặc phải đàm phán lại!!! Cũng giống như CHXHCN Vietnam vay ODA hay cái gì gì đi nữa của nước ngoài, sau này có dân chủ, thì chính quyền, thể chế mới vẫn phải có trách nhiệm với những nợ nần, hợp đồng của nhà nước CSVN trước đây!

    Nói như mấy ông Khách Qua Đường, LQT..v...v... thì công việc có vẻ quá dễ quá, thậm chí còn mở ra cho VN những khả năng lý thú: cứ để cho CHXCH Vietnam vay nợ, tiêu xài thoải mái. Sau này có thể chế dân chủ thì ta...quỵt nợ???

    Bây giờ tốt nhất ai hiểu về luật quốc tế hãy giải thích: các thể chế thay nhau trên (lãnh thổ) 1 quốc gia có phải đảm bảo tính liên tục (kế thừa) những ràng buộc với nước ngoài hay không???

    Nếu có, thì chúng ta chẳng có con đường nào khác là phải bám vào tính kế thừa của CHXHCN Vietnam với VNCH (dù có phải cãi chầy, cãi cối)!!!

    Dương Danh Huy viết:
    Nếu Greg Austin nói đúng (mà tôi cho rằng ông đã không đúng khi ông hoàn toàn bỏ qua các hình thức pháp lý và dựa tất cả lên thực tế chính trị) thì trên diện pháp lý chủ quyền Việt Nam đối với HSTS đã chết ngày 30/4/75 rồi, và những gì ông Khách Qua Đường (Dân Luận), Hoàng Trường Sa (talawas) và Trương Nhân Tuấn đề nghị cũng không làm cho nó sống lại được.

    Như đã nói, tôi cho rằng Greg Austin đã không đúng ở điểm đang bàn đến.

    Ngoài ra, Greg Austin cũng cho rằng HSTS là của TQ vì những lý do khác chứ không phải chỉ vì VNDCCH, eg, Pháp không phản đối các hành động của TQ ở Hoàng Sa. Và tôi cho rằng ông này thiên vị cho TQ.

    Một người tin rằng HSTS là của VN thì chỉ nên xem ý kiến của Greg Austin là một trong nhiều ý kiến để tham khảo thôi, hoặc xem đó là một ý kiến cần phản biện, không nên xem đó là chân lý.

    Nếu xem ý kiến của Greg Austin là chân lý thì có nghĩa xem chủ quyền VN đối với HSTS là đã chết và chôn từ 30/4/1975 đến nay rồi (đó là ý kiến của Greg Austin). Và nếu đã chết và chôn như thế thì những gì ông Khách Qua Đường (Dân Luận), Hoàng Trường Sa (talawas) và Trương Nhân Tuấn đề nghị cũng không làm cho nó sống lại được.

    Theo tôi, CHXHCN VN hiện nay, bao gồm cả hai miền nam bắc VN, được quốc tế công nhận, tham gia LHQ, WTO, vậy đương nhiên CHXHCN VN kế thừa chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH.

    Thay vì một Việt Nam, từ hiệp định Genève, có hai Việt Nam với hai chính phủ riêng biệt. Sau đó, vào năm 1969, miền nam Việt Nam, cũng có một chính phủ cách mạng lâm thời (GRP), là một đồng minh của bắc Việt Nam. Có vẻ như ba chính phủ là những người kế thừa của Pháp và rằng tất cả các hành vi mà họ có thể làm được coi là hành vi của Việt Nam. Nhưng câu hỏi kế là vào năm 1975 khi Việt Nam cuối cùng đã được đoàn tụ sau 30 năm chia cắt.

    Thật vậy, miền Bắc xâm chiếm miền Nam, và do đó điều này miền Bắc có thể là kế thừa của Pháp, tuy nhiên Hiệp định Geneva năm 1954 đặt quần đảo Trường Sa dưới quyền kiểm soát của Nam Việt Nam, trong đó sẽ có nghĩa là những văn bản về Trường Sa phải theo tiếng nói của chính phủ miền Nam Việt Nam, và có thể là của GRP, là những người mà chúng ta nên lắng nghe.

    Ý kiến :
    Tôi đề nghị bà Nguyễn Thị Bình và những ai đã tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN, hãy "nhanh chóng" lên tiếng "chính thức" về chủ quyền VN đối với Hoàng Sa và Trường Sa

    Trích dẫn:

    A la place du Vietnam, à partir de l’Accord de Genève, il existe maintenant deux Vietnam avec deux gouvernements distincts. Puis, à partir de 1969, au Sud Vietnam, il existe aussi un Gouvernement Révolutionnaire Provisoire (G.R.P.) qui est l’allié du Vietnam du Nord. Il semblerait que les trois gouvernements soient les successeurs de la France et que tous les actes qu’ils prennent peuvent être retenus comme des actes du Vietnam. Mais la question de succession se repose en 1975 lorsque le Vietnam est enfin réunifié après 30 ans de division.

    En effet c’est le Nord qui envahit le Sud, et donc de ce fait le Nord devrait être le successeur, mais les Accords de Genève en 1954 placent les Spratlys sous le contrôle du Vietnam du Sud, ce qui voudrait dire que pour les actes relevant des Spratlys les voix du gouvernement du Sud Vietnam et possiblement celle du G.R.P. soient celles qu’il faille écouter.

    http://danluan.org/node/10715

    nsm : Tranh chấp Trường Sa (khách viếng thăm) gửi lúc 21:37, 30/11/2011 - mã số 46024

    Có một luận án tốt nghiệp đại học PIERRE MENDES của Pháp (Grenoble) viết chủ yếu về tranh chấp Trường Sa. Tuy nhiên trong đó có khá nhiều tư liệu lịch sử về biển Đông, kể cả Hoàng Sa
    Tôi cố gắng chuyển dịch từ hè năm nay nhưng chưa xong !
    Lý do : Phần vì làm biếng, phần vì dịch dở, phần bận nhiều việc ... linh tinh.
    Bác nào quởn, biết tiếng Pháp và có tài dịch, xin chuyển dịch cho mọi người tham khảo. Thanks

    http://www.ppl.nl/ebooks/files/314641343.pdf

    Tác giả Christophe SCIUS.
    L’ARCHIPEL DES SPRATLYS ET LA QUESTION DU REGLEMENT PACIFIQUE DES DIFFERENDS
    Tranh chấp quần đảo Trường Sa và câu hỏi giải pháp hòa bình về tranh chấp. (2006-2007)

    Đại học PIERRE MENDES www.iep-grenoble.fr

    NSM

    Nếu Greg Austin nói đúng (mà tôi cho rằng ông đã không đúng khi ông hoàn toàn bỏ qua các hình thức pháp lý và dựa tất cả lên thực tế chính trị) thì trên diện pháp lý chủ quyền Việt Nam đối với HSTS đã chết ngày 30/4/75 rồi, và những gì ông Khách Qua Đường (Dân Luận), Hoàng Trường Sa (talawas) và Trương Nhân Tuấn đề nghị cũng không làm cho nó sống lại được.

    Như đã nói, tôi cho rằng Greg Austin đã không đúng ở điểm đang bàn đến.

    Ngoài ra, Greg Austin cũng cho rằng HSTS là của TQ vì những lý do khác chứ không phải chỉ vì VNDCCH, eg, Pháp không phản đối các hành động của TQ ở Hoàng Sa. Và tôi cho rằng ông này thiên vị cho TQ.

    Một người tin rằng HSTS là của VN thì chỉ nên xem ý kiến của Greg Austin là một trong nhiều ý kiến để tham khảo thôi, hoặc xem đó là một ý kiến cần phản biện, không nên xem đó là chân lý.

    Nếu xem ý kiến của Greg Austin là chân lý thì có nghĩa xem chủ quyền VN đối với HSTS là đã chết và chôn từ 30/4/1975 đến nay rồi (đó là ý kiến của Greg Austin). Và nếu đã chết và chôn như thế thì những gì ông Khách Qua Đường (Dân Luận), Hoàng Trường Sa (talawas) và Trương Nhân Tuấn đề nghị cũng không làm cho nó sống lại được.

    Theo Hiệp định Geneva năm 1954, Pháp rút lui vĩnh viễn khỏi Việt Nam vào năm 1956 và từ ngày đó không lên tiếng gì về các đảo, mặc dù một cách hình thức Pháp không từ bỏ yêu sách của họ.
    Pháp để lại một nhà nước chia đôi : Cộng hoà Dân chủ Việt Nam và Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Trong thời hậu chiến, khi một đại diện của một trong hai Việt Nam có thể lên tiếng theo ý nghĩa về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, họ đã làm, nhất là tại Hội nghị San Francisco bởi đại diện của Nhà nước tương ứng của Việt Nam. Tuyên bố này được xem bởi một số như khai báo hiện đại đầu tiên về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa.

    (theo tôi chính là đại diện của VNCH đã lên tiếng tuyên bố chủ quyền VN về Trường Sa và Hoàng Sa tại Hội nghị San Francisco)

    Trích dẫn:

    La France se retire définitivement du Vietnam en 1956 après les Accords de Genève de 1954 et à partir de cette date ne dit plus rien sur les îles, même si formellement elle n’aurait pas abandonné ses prétentions. Elle laisse derrière elle un Etat divisé en deux : République Démocratique du Vietnam et la République du Sud Vietnam. Pendant cette période d’après-guerre, dés qu’un représentant de l’un des deux Vietnam pouvait s’exprimer dans le sens de la souveraineté du Vietnam sur les Spratlys, il le faisait, notamment à la Conférence de San Francisco par le représentant de l’Etat associé du Vietnam. Cette déclaration est vue par certains comme la première déclaration moderne de souveraineté du Vietnam sur les Spratlys.

    Réf : voir CHEMILLIER- GENDREAU (M.), La souveraineté…, op. cit., p.117.

    http://danluan.org/node/10715

    nsm : Tranh chấp Trường Sa (khách viếng thăm) gửi lúc 21:37, 30/11/2011 - mã số 46024

    Có một luận án tốt nghiệp đại học PIERRE MENDES của Pháp (Grenoble) viết chủ yếu về tranh chấp Trường Sa. Tuy nhiên trong đó có khá nhiều tư liệu lịch sử về biển Đông, kể cả Hoàng Sa
    Tôi cố gắng chuyển dịch từ hè năm nay nhưng chưa xong !
    Lý do : Phần vì làm biếng, phần vì dịch dở, phần bận nhiều việc ... linh tinh.
    Bác nào quởn, biết tiếng Pháp và có tài dịch, xin chuyển dịch cho mọi người tham khảo. Thanks

    http://www.ppl.nl/ebooks/files/314641343.pdf

    Tác giả Christophe SCIUS.
    L’ARCHIPEL DES SPRATLYS ET LA QUESTION DU REGLEMENT PACIFIQUE DES DIFFERENDS
    Tranh chấp quần đảo Trường Sa và câu hỏi giải pháp hòa bình về tranh chấp. (2006-2007)

    Đại học PIERRE MENDES www.iep-grenoble.fr

    NSM

    Nguyễn Thái Linh viết:

    Như vậy, sau năm 1975, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người kế thừa hai nhà nước VNCH và VNDCCH, đã kế thừa chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ VNCH cùng các tuyên bố đơn phương không mang tính chất ràng buộc và hiệu quả pháp lý từ VNDCCH, và hoàn toàn có đầy đủ cơ sở để khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Nước CHXHCNVN có thực sự là người kế thừa (theo đúng thủ tục pháp lý được công pháp quốc tế thừa nhận) của VNCH hay chăng? Đây là điều mà nước CHXHCNVN phải chứng minh cho thế giới thấy theo đúng mọi thủ tục pháp lý. Trong tiến trình sáp nhập hai thực thể ĐỘC LẬP trên công pháp quốc tế (tức là hai quốc gia VNCH và VNDCCH) đâu là những nghi thức, thủ tục đã được thực hiện (về mặt công pháp quốc tế) và đâu là bằng cứ pháp lý của sự sáp nhập hai thực thể pháp lý độc lập là VNCH và VNDCCH (ngày, tháng, nghi lễ hợp nhất, v.v…, ai là đại diện hợp pháp của VNCH trong ngày thi hành việc sáp nhập và ai là đại diện hợp pháp của VNDCCH trong ngày hợp nhất đó)? Theo tôi biết, trong thực tế, VNDCCH đã cưỡng bức VNCH qua một cuộc chiến xâm lăng mà họ đã thắng, và sau đó dưới thời Lê Duẩn đã đơn phương tuyên bố sự thống nhất của hai miền Nam Bắc và sự ra đời của nước CHXHCNVN mà không kinh qua bất cứ thủ tục pháp lý nào cả. Sự thật là ĐCSVN đã loại bỏ ngay tức khắc chính phủ ma (có tên là Chính phủ lâm thời Cộng Hoà Nam Việt Nam) và cho gần như TẤT CẢ các thành phần “lãnh đạo” trong “chính phủ” này ra rìa (ngoại trừ vài người như bà Nguyễn Thị Bình chẳng hạn được giữ lại để làm cảnh qua chức PHÓ bù nhìn).

    Đối với dư luận trong giới luật học quốc tế tuyên bố ”người thừa kế" nói trên cũng bị nhiều nhà luật học phương Tây bác bỏ. Họ xem CHXHCNVN là sự nối dài của VNDCCH (chỉ đổi tên và gắn phần Miền Nam vào cho VNDCCH) chứ không có phải là một sự hợp nhất đúng nghĩa.

    Trong cuốn sách nhan đề China’s Ocean Frontier Tiến sĩ luật quốc tế người Úc, Greg Austin, khi bàn vê chủ để State succession (Kế thừa quốc gia) của nước CHXHCNVN đã viết như sau:
    “Yet the SRV’s contention that it is a composite of two previously existing states defies the common sense, political facts. The SRV is not only legally the successor to the DRV but is in many respects the same government by another name. The DRV had all along claimed to be the sole legitimate government of the whole of Vietnam, including the territory controlled by the RVN, and the international recognition accorded either the RVN or the DRV was largely on the basis that it was recognised as the sole legitimate government of the whole of Vietnam. Few states formally recognised the two governments, and the split between recognition was basically along ‘party lines’ with the communist states recognising the DRV and the non-communist states recognising the RVN.”[95]
    (tạm dịch :
    Thế nhưng lý luận của CHXHCNVN rằng CHXHCNVN là hợp nhất của hai quốc gia trước đây đã hiện hữu đã thách đố mọi lương tri và mọi sự kiện chính trị. CHXHCNVN không những chỉ là nước kế tục pháp lý của VNDCCH mà, trên nhiều khía cạnh, chính là chính thể VNDCCH đó nhưng được mang tên khác. Nước VNDCCH đã luôn luôn tuyên bố rằng họ là chính thể hợp pháp duy nhất của toàn thể Việt Nam, bao gồm cả vùng lãnh thổ do VNCH kiểm soát, và quốc tế thừa nhận VNCH hoặc VNDCCH chủ yếu phần lớn dựa trên căn bản là nước này [tức VNCH hoặc VNDCCH] là chính phủ duy nhất hợp pháp của toàn thể VN. Rất ít quốc gia chính thức thừa nhận cả hai chính thể, và sự thừa nhận này trên cơ bản, đã phân rẽ dựa theo tinh thần “phe đảng” với việc các nước trong phe cộng sản thì thừa nhận VNDCCH và các nước không cộng sản thì thừa nhận VNCH.”[95])

    Vấn đề CHÍNH hiện nay là CHỨNG MINH cho thế giới thấy sự hợp nhất hai miền Nam Bắc là một sự hợp nhất hợp pháp có sự đồng thuận của nhân dân hai miền. Điều đó đòi hỏi sự sáng suốt của lãnh đạo và người dân VN trong nước, chịu xóa bài làm lại, qua một sắp xếp khéo léo được thế giới cũng như nhân dân VN trên hai miền Nam Bắc chấp nhận.