Trương Nhân Tuấn - Tranh chấp Trung - Phi tại bãi cạn Scarborough

  • Bởi Hồ Gươm
    19/05/2012
    21 phản hồi

    Trương Nhân Tuấn

    1/ Sơ lược lịch sử và địa lý:

    Bãi cạn Scarborough, cách đảo Luçon (Luzon) của Phi khoảng 115 hải lý (215 Km), cách bờ biển Việt Nam khoảng 900 Km, cách Hồng Kông 850 Km, tọa độ 15°08’ N – 117°46’ E, có hình thể một dãi san hô tam giác chìm dưới nước, dài khoảng 10 Km, có chu vi 46 Km, bao quanh một vùng biển lặng (lagon) diện tích tổng cộng khoảng 150 Km². Bãi cạn này có một số đá nổi trên mặt nước, trong đó lớn nhất là Đá Nam (South Rock – Nam Nham), nổi trên mặt nước khoảng 1,8 mét lúc thủy triều cao. Đá này tọa lạc ở góc đông-nam, kế cận cửa (passe) vào vùng biển lặng. Cửa (passe) có chiều dài 380 mét và độ sâu từ 9 đến 11 mét. Ngoài ra còn có Đá Bắc (North Rock – Bắc Nham) cùng với một số đá khác nổi trên mặt nước. Bãi cạn Scarborough ở về phía tây bãi Macclesfield, cách 318 Km. Hai bãi này được phía Trung Quốc gộp lại chung với tên “Trung Sa quần đảo – Zhongsha Qundao”.

    Việc Trung Quốc gộp chung bãi Macclesfield, bãi chìm dưới mặt nước, vào chung với bãi Scarborough, vốn là một bãi cạn, chỉ có vài đá nổi lên mặt nước, vào thành một “quần đảo – archipel”, là hoàn toàn gượng ép trên quan điểm địa lý, địa mạo. Hai bãi này chỉ là “bãi ngầm, ám tiêu, đá, đá ngầm – Bank, Reef”, không có “đảo” nào gọi là “đảo” theo qui ước của quốc tế. Mặt khác, hai bãi này hoàn toàn tách biệt nhau, thiếu sự liên tục của thềm lục địa, cách nhau đến 318 Km. Do đó vừa không có tính “quần” lẫn tính “đảo”.

    Về tên gọi, phía Trung Quốc cũng đã tỏ ra thiếu thống nhất. Trong các tài liệu địa chí của Trung Quốc in trước năm 1935, bãi Scarborough được ghi bằng tên quốc tế, với ghi chú tiếng Hoa là “Nam Sa quần đảo”. Đến năm 1947 bãi này được đặt là “Dân Chủ đảo – Minzhu jiao”, thuộc về “Trung Sa quần đảo”. (Như thế đến năm 1935, cái mà Trung Quốc gọi là Nam Sa – tức Trường Sa của Việt Nam hiện nay, là bãi cạn Scarborough. Năm 1947 họ “đẻ” ra tên Trung Sa, dán nhãn Nam Sa lên quần đảo Trường Sa, sau đó ra mặt tranh chấp với Việt Nam. Trước đó là hai bên chỉ có tranh chấp về Hoàng Sa). Đến năm 1983 thì bãi này lại đổi tên thành “Hoàng Nham – Huangyan”, thuộc “Trung Sa quần đảo”.

    Về chủ quyền của Trung Quốc tại “Trung Sa quần đảo”, tuyên bố năm 1951 của Chu Ân Lai, bên lề hòa ước San Francisco, nói rằng: “Quần đảo Tây Sa và đảo Nam Uy cũng như các quần đảo Nam Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Đông Sa, là lãnh thổ của Trung Quốc”. Điều đáng lưu ý là phía Trung Quốc không trưng dẫn bất kỳ bằng chứng nào, về việc khám phá hay chiếm hữu, kèm theo tuyên bố này. Tuyên bố “bên lề” này do đó mang tính “bảo lưu” hơn là một tuyên bố chủ quyền có giá trị pháp lý. Dầu vậy nó cũng được Liên Xô và các nước phe XHCN ủng hộ. Năm 1958 Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải: “Độ rộng lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lý. Qui định này áp dụng cho tòan lãnh thổ Trung Hoa, bao gồm phần đất trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi… quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa…”. VNDCCH, vì đứng trong khối XHCN, trước đó đã ủng hộ tuyên bố của Chu Ân Lai năm 1951, dịp này lại ra tuyên bố ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của TQ.

    Về phía Phi, theo Hiệp ước an ninh ký kết với Hoa Kỳ năm 1951, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, hải quân Hoa Kỳ đóng ở Subic Bay, bãi cạn Scarborough được xem như là một tiền trạm, do vùng biển lặng của bãi này khá rộng và sâu. Tàu chiến Hoa Kỳ thường xuyên neo ở đó. Hình thái địa lý bãi cạn này (nếu không bị chìm) thì giống như là đảo Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, là một đảo của Anh nhưng có hợp đồng cho quân đội Hoa Kỳ mướn dài hạn, có tầm chiến lược rất quan trọng cho chiến lược đại dương của Hoa Kỳ. Người ta ví nó là Guam thứ hai. (Guam ở Thái Bình Dương, Diego Garcia ở Ấn Độ Dương, cùng với các vị trí quân sự mới khai triển tại Úc, cho phép HK bảo vệ chặt chẽ vòng đảo thứ nhứt). Như thế, gián tiếp Hoa Kỳ đã công nhận bãi cạn này thuộc phạm vi ảnh hưởng của Phi. Ngoài ra năm 1991, nhà cầm quyền Phi có cho xây một đèn pha trên bãi, nhưng sau đó bị sập (không hiểu lý do), không còn sử dụng nữa. Điều đáng tiếc là phía nhà nước Phi không có hành vi chính thức nào nhằm tuyên bố chủ quyền của mình tại bãi này, trong khi từ 1951, phía Trung Quốc đã nhiều lần lên tiếng (đòi chủ quyền) mặc dầu chưa bao giờ họ chiếm hữu hay quản lý trên thực tế.

    Diego_Garcia_(satellite)

    Hình: đảo Diego Garcia, có hình dáng khá giống bãi cạn Scarborough, căn cứ hải quân lớn của Hoa Kỳ ở Ấn Độ Dương.

    Qua sự kiện đảo Vành Khăn năm 1995, bãi cạn Scarborough được hải quân Phi tăng cường canh phòng. Năm 1997 một số tàu bè của Trung Quốc tiến vào trong vùng Scarborough thì bị các tàu hải quân của Phi neo ở đây ngăn cản, không cho tiếp cận. Việc này đưa đến căng thẳng giữa hai bên. Qua các kinh nghiệm tại đá Vành Khăn (1995) và các đảo của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm trước đó không lâu, Hoa Kỳ lo ngại Phi có thể bị Trung Quốc tấn công, trong khi bãi dá này có thể có một vai trò tiền trạm chiến thuật cho tàu bè tuần dương, nếu để lọt vào tay Trung Quốc sẽ là điều bất tiện. Tháng 8 năm 1998, bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ William Cohen trấn an rằng quân lực Hoa Kỳ sẽ can thiệp nếu quân Phi bị tấn công. Qua thái độ này, tranh chấp tại Scarborough dịu lại.

    2/ Một số vấn đề về tranh chấp biển Đông hiện nay:

    Ngoài Việt Nam, trong khu vực chịu áp lực của Trung Quốc nặng hơn cả là Phi Luật Tân. Như Việt Nam, Phi từng là nạn nhân của Trung Quốc qua việc bị nước này dùng hải quân chiếm đảo Vành Khăn thập niên 90. Trung Quốc còn bày tỏ tham vọng xuống rất xa về phía nam, như đối với đảo Natuna của Nam Dương. Các nước ASEAN bày tỏ lo ngại về chính sách bành trướng của Trung Quốc, trong khi Liên Xô đã sụp đổ, Hoa Kỳ đặt ưu tiên ở Châu Âu và Trung Đông, biển Đông bỏ ngỏ. Do đó Việt Nam được dễ dàng được chấp nhận gia nhập vào ASEAN. Do có chung một đe dọa, khối ASEAN mạnh hơn nhờ đoàn kết và có mặt của Việt Nam, buộc Trung Quốc ký kết vào bản tuyên bố chung DOC về biển Đông vào năm 2002. Nhưng tuyên bố DOC không có tính ép buộc, không có giá trị pháp lý, do đó các bên lần lượt vi phạm, nhất là phía Trung Quốc, mà mức độ bạo lực ngày một mạnh. Nước này đơn phương ra lệnh cấm đánh cá trên vùng biển, từ phía bắc Trường Sa trở về phía bắc. Họ bắt bớ, bắn giết, phá hủy hay tịch thu tàu bè, lưới cá, bắt ngư dân Việt Nam đóng tiền chuộc. Họ liên tục xây dựng các cơ sở (có mục tiêu quân sự) trên các địa điểm mà họ đã chiếm được trước đó. Họ cho tàu hải giám xâm nhập vào các vùng biển của Việt Nam và Phi, thật xa về phía nam, cách bờ biển Trung Quốc hàng ngàn cây số, để sách nhiễu ngư dân Việt, Phi, đe dọa các công ty đang khai thác dầu khí trên thềm lục địa của Việt Nam và Phi, phá hoại các tàu nghiên cứu khoa học của Việt Nam đang làm công tác thăm dò… Họ tuyên bố rằng làm các việc đó là Trung Quốc hành sử quyền tài phán của họ. Cao điểm của sự hống hách là vào năm 2010, khi nước này tuyên bố biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Tức là, trong chừng mực, Trung Quốc đã ví biển Đông như là Đài Loan hay Tây Tạng. Tuy nhiên, đà quá trớn của Trung Quốc đã làm cho nhiều nước bất bình, lo ngại. Các nước điều thấy sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực là một cần thiết. Vì thế, sự trở lại của Hoa Kỳ được nhiệt liệt hoan nghênh, sau khi bà H. Clinton ký kết một loạt hiệp ước hữu nghị và chiến lược với ASEAN và các nước khác, cùng với tuyên bố "Hoa Kỳ, cũng như các nước khác trên thế giới, có quyền lợi tại biển Đông". Cái hung hăng của Trung Quốc liền dịu bớt lại.

    Tuy nhiên, việc lên tiếng khẳng định chủ quyền các đảo ở biển Đông và vùng biển chung quanh thì chưa bao giờ tiếng nói của Trung Quốc mạnh mẽ như lúc này. Nhiều thành phần dân tộc cực đoan Trung Quốc, hoặc một số tướng lãnh chủ trương diều hâu, luôn lên tiếng thúc giục Bắc Kinh xuất quân trừng phạt Việt Nam và Phi để chiếm lại các đảo Trường Sa. Nhiều "chiến lược gia" Trung Quốc đã đánh giá một cuộc chiến khôi phục lại lãnh thổ như thế sẽ ít tốn kém, trong sự chịu đựng của Trung Quốc, và cuộc chiến không thiệt hại sang các cường quốc. Ám ảnh về cuộc chiến Georgia (với Nga) lần nữa được các thày bàn đem ra đầy mặt báo nhằm hù dọa những người yếu bóng vía. Tuy vậy, "viễn ảnh" này khó có thể xảy ra.

    Từ khi cuộc chiến giữa Anh và Argentine về quần đảo Malvinas, nhiều chiến lược gia thế giới đã đặt lại vấn đề phát triển hải quân theo lối "pháo hạm”, tàu to súng lớn. Trong cuộc chiến ngắn ngũi, năm 1982, một khu trục hạm của Anh đã bị một phi cơ loại Mirage của không quân Argentine mang hỏa tiễn Exocet (do Pháp thiết kế và chế tạo) bắn trúng. Thiệt hại rất lớn. Nhưng phía Argentine vẫn thua, vì đã bị Anh bao vây ngoại giao và kinh tế. Những chiếc Mirage đã đặt mua của Pháp trước đó thì bị nước này giam lại (8 chiếc) trong khi hỏa tiễn Exocet thì không giao tiếp tục. Nhiều người nói rằng, nếu phía Argentine nhận đủ số vũ khí này thì họ đã đánh bại hải quân Anh và chiếm lại được đảo Malvinas.

    Từ đó, lý thuyết về đại dương của Hoa Kỳ đã có những thay đổi lớn. Một số chiến lược gia không đồng ý việc Hoa Kỳ tiếp tục đầu tư vào Hàng Không Mẫu Hạm. Các chiến hạm của Hoa Kỳ sau này chỉ chú trọng vào tính nhanh gọn, "tàng hình”, đồng thời được trang bị các loại vũ khí chống radar và công phá các trang bị điện tử của quân địch (như đại bác với đạn từ xung, bom từ xung – bom E) cùng với các hỏa tiễn tinh khôn tự tìm mục đích. Những gì to lớn không phải là "hỏa lực hùng hậu” mà trở thành một yếu điểm. Trong khi hải quân Trung Quốc vẫn ảnh hưởng nặng lý thuyết cổ điển, do ám ảnh thua hải quân Nhật trận Áp Lục 1895, chuyên chú phát triển về thiết giáp hạm, tuần dương hạm, tàu đổ bộ v.v… to lớn, cồng kềnh. Trung Quốc có khoa trương rằng đã sản xuất được hỏa tiễn có khả năng không cho Hàng không mẫu hạm tiếp cận vào biển Đông. Hoa Kỳ chưa bao giờ có ý muốn đặt hạm đội với Hàng không mẫu hạm tại biển Đông. Ngược lại, Hoa Kỳ mong muốn Trung Quốc dàn hạm đội của nước này với chiếc Thi Lang vào biển Đông để "thư hùng” với "quần cẩu”. Nếu một trận chiến, giả sử xảy ra, hạm đội của Trung Quốc có thể sẽ bị thiệt hại lớn, nếu không nói là bị tiêu diệt, nếu chiến trường cách đảo Hải Nam trên 800 Km. Lực lượng hải quân của Trung Quốc hiện nay có thể đánh những trận gần, như đánh sang Đài Loan, nhưng không thể đánh xa, vì sẽ làm mồi cho các loại phi cơ mang hỏa tiễn kiểu Exocet (mặc dầu sản xuất thập niên 70, 80, đã lỗi thời), các cao tốc đỉnh phóng hỏa tiễn hay ngư lôi, các loại tàu ngầm mang hỏa tiễn các loại... Mặt khác, các đảo Trường Sa do Việt Nam kiểm soát hầu hết đã được đặt mìn, gài thủy lôi chung quanh, tàu đổ bộ vào không dễ. Điểm quan trọng khác, tính gan lì chiến đấu của Việt Nam làm cả thế giới nể mặt, trong khi quân đội Trung Quốc, từ thế kỷ 19 đến nay, chưa bao giờ chứng tỏ được sự tinh nhuệ ở một trận chiến nào.

    Vì thế một cuộc chiến tại biển Đông, cho dầu "giới hạn”, nếu xảy ra ở vùng biển xa, với Việt Nam, phía Trung Quốc sẽ nắm chắc phần thất bại. Nhưng đối với một địch thủ như Phi thì việc này lại khác. Bãi cạn Scarborough, do vị trí địa lý, có thể nằm trong khả năng của hải quân Trung Quốc, nếu Hoa Kỳ đứng ngoài. Tuy nhiên, việc chiếc tàu ngầm nguyên tử của Hoa Kỳ vừa xuất hiện ở vùng Subic Bay (Luzon), cho thấy Hoa Kỳ có quan ngại đến việc này.

    Có thể do nhận thức được khó có thể đụng độ với Việt Nam với trình độ kỹ thuật hiện nay, Trung Quốc chuyển mũi dùi sang Phi. Một cuộc chiến "cục bộ” với Phi ở khu vực Scarborough có thể Trung Quốc sắp mở ra?

    Theo các tố cáo của phía Phi Luật Tân, Trung Quốc từ tháng 2 năm 2012, thường xuyên gây hấn với Phi. Khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank), cách bờ biển Palawan 200 Km, đã có những đụng chạm nhỏ. Thái độ mạnh dạn của quân đội Phi, qua việc gởi 2 phi cơ đến hiện trường đã khiến tàu của Trung Quốc rút lui. Tuy nhiên, sau đó, phía Trung Quốc đã gởi một số phi cơ của họ bay sang vần vũ trên các khu vực tranh chấp. Tiếp theo đó là đụng chạm ở bãi cạn Scarborough. Trung Quốc đã huy động một số tàu đánh cá cùng hai tàu hải giám đến đóng trong vùng bể lặng của bãi. Hải quân Phi cho tàu chiến ra đuổi, phía Trung Quốc lớn tiếng hăm dọa, tàu chiến của Phi phải rút lui.

    Tuy nhiên, nhìn vấn đề ở góc cạnh kinh tế, ta có thể có một nhận thức khác.

    Tháng 8 năm ngoái, TT Phi là ông Benigno Aquino, cùng với một đội doanh nghiệp hùng hậu người Phi sang công du Bắc Kinh. Aquino được Hồ Cẩm Đào tiếp kiến và hai bên có ký kết một số kết ước về kinh tế trị giá lên tới 7 tỉ đô. Phía Trung Quốc hứa hẹn sẽ đầu tư vào Phi trong thời gian tới, qua nhiều lãnh vực, trị giá đến 50 tỉ đô. Hai bên cũng hứa hẹn sẽ giải quyết tranh chấp biển Đông ôn hòa, theo lối "gác tranh chấp, cùng khai thác". Tuy nhiên, cùng lúc, Phi đã ký kết với một số công ty dầu khí nước ngoài tại khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank) nhưng không có mặt của Trung Quốc. Việc này tạo sự phản đối nơi Trung Quốc. Trung Quốc cho rằng khu vực khai thác là khu vực có tranh chấp với Trung Quốc. Tiếp theo Trung Quốc cho tàu hải giám, phi cơ… xâm nhập vùng biển này để đe dọa.

    Tranh chấp hiện nay, tại bãi Scarborough, vẫn chưa hạ nhiệt độ. Phía Trung Quốc sử dụng vũ khí kinh tế để trả đũa. Một số mặt hàng của Phi, như chuối, bị phía Trung Quốc làm khó dễ, trả về. Về phương diện này, Phi ở thế hạ phong. Nền kinh tế của Trung Quốc quá lớn để Phi có thể trả đũa. Mặt trận sắp tới của Phi là đưa vấn đề tranh chấp ra "tòa án quốc tế".

    Tổng thống Phi mới đây lu loa trên báo chí, cho rằng Phi không được ai ủng hộ trong vụ Scarborough. Việc này sẽ khuyến khích cho Trung Quốc làm tới, theo kiểu Hitler, sẽ thống lĩnh biển Đông. Nhưng việc này, nếu nhìn vấn đề từ các kết ước và hứa hẹn kinh tế giữa Phi và Trung Quốc, rõ ràng là một sự trả đũa Phi trong việc gạt Trung Quốc ra ngoài các hợp đồng khai thác bãi Cỏ Rong. Sự than vãn này chỉ có tính "hề" hơn là sự thật. Trong khi đó, nhớ đến cảnh quân đội VNCH lúc thất bại ở Hoàng Sa, bộ ngoại giao VNCH đã ra sức vận động để đưa Trung Quốc ra Hội Đồng Bảo An LHQ, VNDCCH im lặng đã đành, không hề thấy một "học giả yêu nước" nào lên tiếng. Thậm chí, lúc Trung Quốc đánh chiếm các đảo Trường Sa năm 1988, cũng không có học giả nào viết một giòng thuơng vay. Các dòng chữ ghi trên tấm bia của các liệt sĩ hy sinh tại Gạc Ma không hề ghi nhận công ơn người chết, mà ghi họ chết vì "sự ổn định của khu vực".

    Những người này có thực sự muốn chết vì "sự ổn định của khu vực"?

    3/ Vài điều liên quan đến Luật quốc tế về Biển.

    Một số điều cơ bản về tập quán quốc tế về biển cần nên nói ở đây. Cái gọi là “Trung Sa quần đảo” có thể xem như là một "lãnh thổ" để có thể chiếm hữu hay không?

    Về bãi Macclesfield, là một bãi ngầm chìm sâu dưới mặt nước, không có điều ước quốc tế nào, hay bất kỳ một tập quán quốc tế nào, chính thức cho phép một quốc gia được phép chiếm hữu. Điều này hàm ý, bãi ngầm này nếu nằm trong vùng lãnh hải, vùng Kinh tế độc quyền (ZEE) hay thềm lục địa của một quốc gia nào thì sẽ thuộc quyền tài phán của quốc gia đó. Từ đó, quốc gia này có thể xây dựng các đảo nhân tạo, các nhà giàn (như Việt Nam xây dựng tại các bãi Tư Chính và vùng kế cận), nhưng các kiến trúc nhân tạo này không có hiệu lực (theo điều 121 của Luật Biển 1982) như là một đảo tự nhiên.

    Về bãi Scarborough, là một bãi có phần chìm, có phần nổi, có phần lúc chìm, lúc nổi. Tập quán và Luật quốc tế có quan niệm gì về các hình thái địa mạo này?

    Về các đảo đá lúc chìm lúc nổi, chiếu theo án lệ sau đây, ta có thể lấy ra một kết luận. Đó là án lệ của Tòa Án Công Lý Quốc Tế (CIJ - Cour Internationale de Justice) về tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán quyết ngày 23-5-2008.

    Pedra Branca (tiếng Bồ Đào Nha) và Batu Puteh (tiếng Mã Lai) có nghĩa là "đá trắng". Đây là một hòn đảo đá granite, chiều dài 137 mét và chiều rộng trung bình 60 mét, diện tích khoảng 8560 mét vuông khi thủy triều xuống. Nằm ở phía đông eo biển Malacca, có tọa độ 1° 19' 48" vĩ độ bắc và 104° 24' 27 " kinh độ đông. Đảo cách khoảng 24 hải lý về phía đông của Singapour, cách 7,7 hải lý về phía nam tiểu bang Johor của Malaisie và cách 7,6 hải lý về phía bắc của đảo Bintan của Indonesie. Trên đảo có ngọn hải đăng Horsburgh được dựng lên vào giữa thế kỷ XIX.

    Middle Rocks và South Ledge là hai đảo nhỏ khác kế cận Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Middle Rocks cách 0,6 hải lý về phía nam, bao gồm hai hòn đá nhỏ cao khoảng 0,6-1,2 m trên mặt biển, cách nhau khoảng 250 mét. South Ledge là một đảo đá chỉ thấy khi thủy triều thấp, cách Pedra Branca/Pulau Batu Puteh 2,2 hải lý về phía nam-tây nam.

    Về hình thể địa lý, ta thấy bãi cạn Scarbourough có những điểm gần giống với quần thể các đảo Pedra Branca, Middle Rocks và South Ledge, nói chung là các đảo đá, có đảo nổi, có đảo lúc nổi lúc chìm tùy theo thủy triều.

    Trên phương diện lịch sử, tất cả các đảo trên, kể cả lãnh thổ Singapour và Mã Lai hiện nay, đều thuộc về vương quốc Johor (từ thế kỷ 15). Tức về lịch sử, Mã Lai đã chứng minh được chủ quyền và tính liên tục quốc gia trên các đảo đó. Tuy vậy, phán quyết của CIJ cho rằng Singapour có chủ quyền ở đảo Pedra Branca. Các lý lẽ đã khiến cho Mã Lai mất đảo này là vì thái độ thụ động của quốc gia trong việc hành sử chủ quyền. Nguyên nhân khác, quan trọng hơn hết, là tấm "công hàm" 1953 của vương quốc Johor. Công hàm này có nội dung phủ nhận chủ quyền của tiểu quốc Johor tại đảo Pedra Branca, trong khi các bằng chứng đã trình bày cho thấy điều này không đúng. Điều đáng ghi nhận, người ký công hàm thuộc về một "chính phủ lâm thời", lý ra không có thẩm quyền ký nhận.

    (Phán quyết diều này, tòa đã nhắc án lệ tranh chấp Thái-Miên về ngôi đền Preah Vihear (CIJ ngày 15-6-1962). Theo đó ngôi đền (và vùng đất xung quanh) thuộc về Kampuchia, mặc dầu nội dung công ước phân định biên giới 1907 xác định rõ biên giới Thái-Miên là đường nối các đỉnh cao, tức là đường phân thủy của rặng núi Dang Rek, mà đường này đi qua ngôi đền. Nguyên nhân, tấm bản đồ đính kèm, do phía Pháp vẽ, không đúng với nội dung công ước, theo đó ngôi đền lại thuộc về Kampuchia. Tòa phán ngôi đền thuộc về Kampuchia vì tòa cho rằng phía Thái đã không phản đối về nội dung tấm bản đồ trong một thời gian quá lâu, điều này hàm ý chấp nhận tấm bản đồ [sai] đó.)

    Về đá Middle Rocks (và South Ledge), Singapour đòi chủ quyền vì đảo này nằm trong vùng lãnh hải của đảo Pedra Branca. Tuy vậy, Tòa phán rằng đá này thuộc về Mã Lai (do tính liên tục quốc gia) trong khi bãi chìm South Ledge thì nằm ở vùng lãnh hải nước nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.

    Điều đáng chú ý, về tình trạng pháp lý của đá South Ledge (lúc chìm lúc nổi), tòa đã nhắc lại án lệ tranh chấp giữa Qatar - Bahreïn (Qatar đơn phương kiện Bahreïn lên CIJ), theo đó: “luật pháp quốc tế im lặng về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một “lãnh thổ” hay không? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.

    Điều này cho thấy, các đá nổi thường trực lên mặt nước thì có thể chiếm hữu, và có thể hưởng qui chế đảo theo điều 121 (xem thí dụ phần dưới), như đá Middle Rocks và đảo Pedra Branca.

    Về trường hợp đá South Ledge (lúc chìm lúc nổi), luật pháp quốc tế hiện hành không có ý kiến gì về tình trạng pháp lý của nó.

    Như thế, Scarborough là một bãi cạn, có đá nổi thường trực trên mặt nước, do đó có thể chiếm hữu và có lãnh hải. Điều quan trọng nhất ở đây là bãi cạn này có thể có vùng kinh tế độc quyền (ZEE) và thềm lục địa hay không? Tùy theo hiệu quả của việc này mà việc tranh chấp hai bên Trung-Phi có “enjeu” rất quan trọng.

    4/ Vài thí dụ về hiệu lực các đảo:

    4.1 Đảo Clipperton: có diện tích khoảng 6 Km², không có người ở, tọa lạc ở phía đông Thái Bình Dương, cách bờ Mễ Tây Cơ 1.120 Km, mang tên Clipperton là tên của một tên cướp biển nổi tiếng, lẩn trốn trên đảo. Năm 1858 Pháp tuyên bố chủ quyền ở đảo này. Năm 1897 Mễ chiếm đảo và tuyên bố chủ quyền. Năm 1931, Pháp đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế, được xử thắng kiện. Năm 1979 Pháp tuyên bố vùng kinh tế độc quyền ZEE và thềm lục địa cho các đảo thuộc Pháp, trong đó có Clipperton. Năm 2009, Pháp đệ trình hồ sơ thềm lục địa mở rộng cho cả đảo này và không gặp phản đối của nước nào. Đảo này chỉ là một đảo san hô, không có người ở, hoạt động kinh tế duy nhất là đánh cá.

    4.2 Các đá St-Pierre và St-Paul: Đây là một tập hợp 12 đá nhỏ do núi lửa cũ cấu thành, ở phía đông Brésil. Đá cao nhất 22,5 mét. Đá lớn nhất có kích thuớc 350 mét X 200 mét, diện tích khoảng 10.000 m². Một ngọn hải đăng được dựng nơi đây. Đá này còn nhỏ hơn bất kỳ đá nào ở Trường Sa, nhưng nó được đầy đủ vùng ZEE và thềm lục địa. Năm 2004, Brésil đệ trình hồ sơ thềm lục địa mở rộng, xác định vùng biển và thềm lục địa tại hai đá này. Hồ sơ không bị bác, với 15 phiếu thuận và 2 phiếu chống.

    4.3: Các đảo McDonald và Herald của Úc: Các đảo này không có người sinh sống cũng như không có hoạt động kinh tế nào. Tuy vậy đệ trình của Úc về thềm lục địa mở rộng vẫn tính hiệu lực hai đảo này.

    4.4: Đảo Okinotorishima của Nhật: Đảo này thực ra là một đảo đang chìm, chỉ còn nổi lên mặt ba hòn đá nhỏ. Nhật ra sức củng cố đảo để không cho nó chìm xuống. Năm 2008, Nhật đã đệ trình hồ sơ thềm lục địa mở rộng, trong đó đảo này được tính đầy đủ hiệu lực.

    5/ Nếu vấn đề đưa ra một trong tài quốc tế:

    Các thí dụ ở trên cho thấy một đảo, đá, có thể không có người sinh sống và nền kinh tế tự túc, đôi khi vẫn có hiệu lực đầy đủ về ZEE và thềm lục địa. Nếu so sánh các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thậm chí bãi cạn Scarborough với các đảo trên, đồng thời xét qua các án lệ về chủ quyền và tình trạng pháp lý của các đảo, thì các đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay bãi cạn Scarborough có thể được xem là “lãnh thổ”. Từ đó một nước có thể chiếm hữu, có thể đòi hiệu lực về ZEE và thềm lục địa.

    Ý thức được điều này, ta sẽ thấy việc lựa chọn để đưa ra trọng tài phân xử trong trường hợp tranh chấp Scarborough là một lựa chọn chiến lược, có nhiều “option” riêng biệt:

    1/ Dựa trên ZEE và thềm lục địa. Bãi Scarborough là một bãi đá không có giá trị “lãnh thổ” để có thể chiếm hữu như đảo. Bãi này tọa lạc trong vùng kinh tế độc quyền 200 hải lý của Phi, do đó thuộc quyền tài phán của Phi.

    2/ Dựa lên chủ quyền của Phi tại bãi cạn Scarborough, đồng thời vùng biển chung quanh thuộc về vùng kinh tế độc quyền của Phi. Bãi cạn này, theo hình thể địa lý của nó, theo các án lệ quốc tế và luật quốc tế về Biển, là một “lãnh thổ” như là đảo, có thể chiếm hữu. Từ lâu Phi đã hành sử chủ quyền và quyền tài phán tại bãi cạn này, qua việc cho phép hải quân Hoa Kỳ đóng tại đây cũng như việc xây hải đăng (không thành) trong quá khứ.

    Theo tuyên bố của nhà chức trách Phi, hiện nay nước này có vẻ chú tâm nhiều tới “Option 1”, lấy hứng từ tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington, qua hồ sơ Việt Nam tại bãi Tư Chính, phía Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc, vào thập niên 90, khi phía Trung Quốc ngang nhiên ký giấy phép cho các công ty nước ngoài khai thác khu vực này. Lập luận của các luật sư này, qua hồ sơ “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông” do Brice M. Claget thành lập, theo đó bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, không liên quan đến Trường Sa. Tuy vậy, nếu Phi áp dụng điều này sẽ phạm nhiều sai lầm chiến lược: Phi không bị mất tố quyền (forclusion) như trường hợp Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và sự khác biệt giữa hai khu vực một bên là bãi cạn, một bên là bãi ngầm. Bãi ngầm Tư Chính không thể chiếm hữu và đòi hỏi ZEE và thềm lục địa như là đảo. Trong khi bãi cạn Scarborough thì có thể được xem là lãnh thổ, có thể chiếm hữu và có thể đòi hỏi lãnh hải, ZEE và thềm lục địa riêng biệt.

    Theo “option 1”, Phi gián tiếp không nhìn nhận tình trạng pháp lý bãi cạn Scarborough như địa mạo của nó đã được tập quán quốc tế công nhận, lại xem nó như là một bãi ngầm, trong khi Trung Quốc tận dụng yếu tố pháp lý này, lợi dụng sự ngập ngừng của Phi về bãi cạn Scarborough, để đặt căn bản đòi vùng biển của họ. Phía Trung Quốc đã lập lại những gì họ đã làm đối với Việt Nam ở khu vực Tư Chính từ hai thập niên trước, cho Phi ở khu vực Scarborough hiện nay.

    Lập trường phía Trung Quốc: đòi quyền quản lý biển mà không cần chứng minh quyền chủ quyền các “lãnh thổ” từ đó sinh ra vùng biển (mà họ đòi quản lý). Lập trường của Phi (và Việt Nam): ám thị từ bỏ các quyền của mình tại các vùng biển phát sinh từ các lãnh thổ trên biển mà mình có thể dễ dàng chứng minh chủ quyền, đặt lập luận trên quyền quản lý biển từ lãnh thổ trên đất liền.

    Việc này làm yếu đi tư thế của Phi (cũng như của Việt Nam tại Trường Sa). Tranh chấp trên bề mặt là tranh chấp về biển sẽ che khuất tranh chấp chủ quyền các “lãnh thổ” trên biển. Phía Trung Quốc chỉ chờ có bấy nhiêu để nhân dịp đó để tuyên truyền chủ quyền của họ ở các “lãnh thổ trên biển”. Bởi vì, khi hai bên chấp nhận là có tranh chấp về biển, tức là hai bên mặc nhiên đồng ý “lãnh thổ” sinh ra “vùng biển đang tranh chấp” cũng có tranh chấp.

    Trở lại lập trường của Việt Nam ở bãi Tư Chính, dựa trên lý lẽ thềm lục địa (tính từ đất liền), thay vì đặt căn bản trên hai việc việc: có quyền chủ quyền tại các đảo Trường Sa đồng thời có quyền quản lý vùng biển sinh ra từ thềm lục địa trên đất liền. Điều này làm mất tư thế Việt Nam nếu tranh chấp Trường Sa được giải quyết bằng trọng tài quốc tế. Thái độ lựa chọn của Việt Nam (và Phi tại Scarborough) được hiểu là một sự chấp nhận ám thị các đảo Trường Sa có tranh chấp với Trung Quốc.

    6/ Kết luận:

    Hiện nay phía Trung Quốc đòi hỏi phân chia vùng biển với Phi, nhưng phải tính từ đường cơ bản của bãi cạn Scarborough với bờ biển của Phi. Tương tự như đối với Việt Nam, chia đều từ các đảo Hoàng Sa và Trường Sa với bờ biển Việt Nam. Thái độ của Việt Nam, do mất tố quyền (forclusion) từ hệ quả của các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các động thái mặc nhiên (hay ám thị) đồng thuận (acquiescement) chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong một thời gian quá lâu, do đó phải giữ thế thụ động chông chênh. Trong khi tư thế của Phi thì khác.

    Nước này đã khôn khéo dành được của Việt Nam một số đảo Trường Sa, với sự đồng thuận của nhà nước CSVN và các “học giả Việt yêu nước Phi”. Nước này cũng thành công trong việc hóa giải hiệu lực các đảo Trường Sa của Việt Nam lên vùng ZEE và thềm lục địa của nước này. Việc này cũng nhờ ở sự vận động các “học giả Việt”. Hôm nay Phi dọa kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, chắc chắn sẽ không cần “các học giả Việt” dạy khôn.

    Thái độ đúng đắn của các học giả Việt Nam hôm nay là tìm cách lấy lại tố quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, qua việc hợp pháp hóa việc kế thừa lãnh thổ miền Nam từ chính quyền VNCH. Việc này không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động.

    Đối với tầng lớp học giả thực sự và có lương tâm trí thức, việc nhìn nhận di sản của học giả Việt Nam thế hệ trước và nối tiếp các công trình của họ phải được thể hiện như một trình tự tự nhiên, qua việc dẫn tên và tác phẩm của họ mỗi khi các dữ kiện do họ khám phá được sử dụng lại. Việc chép lại, trích dẫn… các tài liệu nghiên cứu của các học giả VNCH (hay của các học giả quốc tế) mà không ghi nguồn dẫn, như nhiều “công trình” của các “nhà nghiên cứu” Việt Nam hiện nay, là một thái độ đạo văn. Thái độ này phản khoa học và phi trí thức, ngoài ra còn phủ nhận sự liên tục và tính kế thừa của tầng lớp học giả Việt Nam. Đọc lại “Sách trắng” của nhà nước Việt Nam công bố thập niên 80, ta thấy đó nguyên vẹn là “Sách trắng” trước kia của VNCH, bổ túc thêm các nghiên cứu của các học giả VNCH trước 1975. Các “học giả” Việt Nam hiện nay, mỗi lần chép lại là sao chép lẫn nhau, nếu ghi tên thì người sau ghi tên người trước, không bao giờ đặt câu hỏi người trước đã lấy dữ kiện từ đâu? Dữ kiện đâu có rơi xuống từ trên trời? Phải có người bỏ công vào văn khố lục lọi thì mới có nó. Hình thức ghi ơn họ là ghi tên họ đầy đủ khi sử dụng các dữ kiện do họ khám phá ra. Các học giả Việt Nam hôm nay tự nhiên sử dụng, người sau chép lại người trước, lại như thế vài lần, các công trình của các học giả Việt Nam trước 1975 vô tình bị lãng quên. Trong khi chúng là nền tảng của mọi nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

    Về vụ Phi dọa kiện Trung Quốc trước trọng tài quốc tế hôm nay, đã thấy “học giả” Việt Nam lao nhao, trong khi ốc còn không lo nỗi thân ốc, bởi vì bang giao quốc tế đều đặt trên nền tảng quyền lợi. Không có quyền lợi thì không có nghĩa vụ. Tuyên bố của nhà nước Việt Nam vừa qua về tranh chấp Trung-Phi tại bãi cạn Scarborough: yêu cầu các bên bình tĩnh tôn trọng Tuyên bố chung DOC, giải quyết tranh chấp theo luật lệ quốc tế… là một “nghĩa vụ” quá hơn cần thiết, đủ để ủng hộ Phi và biểu lộ lập trường của mình. Mọi yêu cầu hơn điều này, như đã thấy ở các bài của học giả Việt Nam trên báo chí Phi, đều phi lý vì việc này đưa đến tình trạng căng thẳng hơn, thúc đẩy Việt Nam vào một cam kết (hay một tuyên bố) đơn phương, mà điều này có thể đem lại bất lợi cho Việt Nam về sau.

    Điều đúng đắn là nên quan sát kỹ tranh chấp này và học hỏi từ đó, biết đâu lại hữu ích cho nước nhà sau này.

    Trương Nhân Tuấn

    ____________________

    Tham khảo thêm các bài viết của tác giả để biết thêm thái độ của Trung Quốc về các tranh chấp lãnh thổ với các nước khác, về tập quán và luật quốc tế trong các phân xử của Tòa án Công lý quốc tế (CIJ) về tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia, phân tích quan điểm và thái độ của nhà nước Việt Nam hiện nay đối với tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa:

    - Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược biển Đông.

    - Thử tìm hiểu tranh chấp Thái-Miên về ngôi đền Preah Vihear.

    - Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles.

    - Tìm hiểu sơ lược tranh chấp Nhật-Trung về quần đảo Điếu Ngư

    - Về bài nghiên cứu của Tiến Sĩ Vũ Quang Việt trong buổi "Hội Thảo Hè 2010"

    - Tranh chấp giữa Malaisie và Singapour về chủ quyền các đảo Pedra Branca...

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    21 phản hồi

    Phản hồi: 

    Các bạn, kể cả ông Huệ Chi cùng những ông đã ký tên trong danh sách đã ký tên gởi đại sứ Philippine, hãy vui lòng download cái bản đồ về xem và suy nghĩ cho kỹ để mà phát biểu cho nó rõ ràng hơn để giúp dân mình thấy rõ hơn lý do tại sao Trung Quốc lại chọn bãi đá Scarborough làm vùng khởi đầu cho xung đột ở Biển Đông nhé?

    Các bạn hãy cùng tôi giở tấm bản đồ Biển Đông ra, nhớ là hãy xem bản đồ cho rõ nhé, để thấy rõ rằng bãi đã Scarborough là VIỀN NGOÀI BIỂN ĐÔNG NƯỚC TA, BÃI ĐÁ NÀY NỐI LIỀN GIỮA HAI QUẦN ĐẢO TRƯỜNG XA VÀ HOÀNG SA. CHO NÊN, NẾU TRUNG QUỐC CHIẾM ĐƯỢC SCARBOROUGH THÌ ĐƯƠNG NHIÊN SẼ CHIẾM ĐƯỢC TOÀN BỘ BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM. RÕ RÀNG LÀ HỌ BẮN MỘT MŨI TÊN TRÚNG HAI ĐÍCH.

    NHƯ VẬY, THÔNG ĐIỆP CỦA CHÚNG TA ĐẾN VỚI TOÀN DÂN VIỆT NAM PHẢI LÀ: “TRUNG QUỐC CHIẾM BÃI ĐÁ SCAREBOROUGH CŨNG CHÍNH LÀ CHIẾM HẾT BIỂN ĐÔNG CỦA VN”.

    CÁC BẠN HÃY NHÌN VÀO BẢN ĐỒ BIỂN ĐÔNG LẦN NỮA ĐỂ THẤY RÕ RẰNG: TÌNH HÌNH HIỆN TẠI KHÔNG PHẢI LÀ LỬA ĐANG CHÁY NHÀ HÀNG XÓM PHILIPINE ĐÂU, MÀ THỰC CHẤT LÀ PHILIPINE CHỈ ĐANG BỊ CHÁY MỘT PHẦN BIỂN PHÍA TÂY CỦA HỌ. CÒN VIỆT NAM CHÚNG TA THÌ ĐANG BỊ CHÁY TOÀN BỘ BIỂN ĐÔNG CỦA MÌNH.

    DO VẬY CHỈ CÓ AI NGU MỚI BÌNH CHÂN NHƯ VẠI ĐỂ TỰ HUYỄN MÌNH TỌA SƠN QUAN HỔ ĐẤU.

    QUẢ THẬT LÀ TRUNG QUỐC ĐANG ĐI MỘT NƯỚC CỜ QUÁ CAO, VƯỢT TẦM XA TẦM TRÍ TUỆ CỦA HẦU HẾT CÁC TINH HOA VN. PHẢI BÁI PHỤC HỌ CÁI ĐÃ.

    Phản hồi: 

    Em hỏi khí không phải mong các bác bỏ chút thời giờ quý báu trả lời giúp:
    - Scarborough có thuộc quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) không ạ?
    - Không nói chi đến nguyên đám ô hợp ASEAN, mà chỉ kể 2 ông VN - Philippines, nếu 2 ông này vẫn giữ tình trạng "đèn nhà ai nấy rạng" thì thằng nào hưởng lợi nhiều nhất ạ?

    Phản hồi: 

    [quote=Nguyễn SG]=> Thậm chí nếu gặp thời, đô hộ luôn Trung Quốc như thời Nguyên Mông tung vó ngựa coi Trung Quốc như bãi tập ngựa .

    Cái này thì tuyệt đối không nên đâu bác PVĐ, giả sử VN có khả năng. Lý do là tôi muốn bảo tồn văn hóa và con người VN. Bác không thấy nội Mông, Thanh bị tụi TQ đồng hóa hết hay sao ! Nếu Mông, Thanh chỉ chiếm một phần đất TQ như vùng Sơn Tây, Hà bắc thì còn có thể giữ được bản sắc của họ

    Một giấc mơ : VN ta chỉ cần giữ đủ đất đai biển đảo, lo phát triển kinh tế khoa học giáo dục, an sinh xã hội, dân chủ tự do hanh phúc, chung sống hòa bình với các nước (không làm tiền đồn) là quá tốt rồi. Làm được thì tự động quân sự và ngoại giao sẽ mạnh hẳn lên[/quote]
    Thời cơ có lẽ cũng sắp đến . Do Hoa Kỳ biết TQ đứng sau Bắc Hàn để thăm dò khả năng của Hoa Kỳ , nên Bắc Hàn chủ quan diễu võ thử tên lửa hết đợt này đến đợt khác . Đợt này sau khi Hoa Kỳ thấy kẻ gây hại cho họ không phải là Bắc Hàn mà là Trung Quốc nên đã tăng cường trang bị tại các điểm như ở Nam Hàn , Đài Loan và tất nhiên là có cả Nhật Bản các loại vũ khí không phải đối phó với Bắc Hàn tầm 300-500 km mà là loại có tầm trên 1000 km làm sao xóa sổ được cả Bắc Kinh . Trung Quốc đã phần nào nhận ra được điều đó , đã có lời cho Bắc Hàn giảm thách thức nhưng đã muộn . Dù Bắc Hàn có không thử , không thách thức thì những vũ khí tiêu diệt Bắc Kinh không thể vắng mặt ở các điểm trong trận địa của Hoa Kỳ. Khi chiến sự xảy ra , Trung Quốc tan thành trăm mảnh và những nước xung quan tràn vào Trung Quốc như chốn không người. Nếu lúc đó Việt Nam ta mạnh thực sự thì đô hộ Trung Quốc và đưa họ về cội nguồn Bách Việt thì cũng không có gì khó khăn.

    Phản hồi: 

    [quote=PVĐ][quote=Khách Qua Đường] nghĩ ra phương cách gì để VN ta giữ được HS, TS và cả bãi cạn Scarborough ....[/quote].
    Việt Nam không nên lên tiếng trong lúc này để khẳng định điều gì mà nên giữ 1 quan điểm nhất quán : Hoàng Sa và Trường Sa luôn là của Việt Nam . Trước hoàn cảnh không thể lấy , không thể giữ vì lực yếu nên tạm thất bại việc thực hiện quyễn chủ quyền .Lịch sử thế giới có 1 quy luật mạnh hiếp yếu . Kẻ mạnh bao giờ cũng giành lợi nhiều . Còn kẻ yếu thì bỏ của chạy lấy người . Khi bàn bạc chia chác thì chỉ được hưởng phần đầu thừa , đuôi thẹo . Theo tôi thì không có cách nào khác là phải tạo ra sức mạnh nội và ngoại lực để hơn thua với Trung Quốc trong vấn đề giành lại những thứ tối thiểu là của mình . Thậm chí nếu gặp thời, đô hộ luôn Trung Quốc như thời Nguyên Mông tung vó ngựa coi Trung Quốc như bãi tập ngựa .[/quote]

    Tạm thời VN ta không lấy lại được HS và 1 phần TS. Rất đáng tiếc

    Hiện nay VN phải luôn luôn khẳng định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền VN. Việc khẳng định này phải "liên tục" :
    - vừa chính thức thông qua văn bản kênh nhà nước (quốc hội, luật biển, chính phủ) cho trong và nhất là ngoài nước (LHQ, tòa án biển, Asean)
    - vừa không chính thức thông qua báo chí bản tiếng Việt và Anh, Pháp, Nga, Hoa, các hội đoàn, các nhà trí thức ở mọi diễn đàn trong và ngoài nước.

    Phải có tính liên tục ngay cả đối với các văn bản pháp lý của VNCH
    Liên tục lập đi lập lại để làm cơ sở pháp lý quốc tế chứ không phải cho là vô ích đâu

    Các kênh không chính thức như các nhà trí thức vẫn có thể và rất nên cho ý kiến dưới dạng thăm dò. Mặc dù bản ủng hộ Phi của các bác Huệ Chi còn thiếu sót nhưng đó là điều tốt để các hội đoàn khác và nhà nước VN thăm dò, đánh giá phản ứng quốc tế

    => Thậm chí nếu gặp thời, đô hộ luôn Trung Quốc như thời Nguyên Mông tung vó ngựa coi Trung Quốc như bãi tập ngựa .

    Cái này thì tuyệt đối không nên đâu bác PVĐ, giả sử VN có khả năng. Lý do là tôi muốn bảo tồn văn hóa và con người VN. Bác không thấy nội Mông, Thanh bị tụi TQ đồng hóa hết hay sao ! Nếu Mông, Thanh chỉ chiếm một phần đất TQ như vùng Sơn Tây, Hà bắc thì còn có thể giữ được bản sắc của họ

    Một giấc mơ : VN ta chỉ cần giữ đủ đất đai biển đảo, lo phát triển kinh tế khoa học giáo dục, an sinh xã hội, dân chủ tự do hanh phúc, chung sống hòa bình với các nước (không làm tiền đồn) là quá tốt rồi. Làm được thì tự động quân sự và ngoại giao sẽ mạnh hẳn lên

    Phản hồi: 

    [quote=Khách Qua Đường] nghĩ ra phương cách gì để VN ta giữ được HS, TS và cả bãi cạn Scarborough ....[/quote].
    Việt Nam không nên lên tiếng trong lúc này để khẳng định điều gì mà nên giữ 1 quan điểm nhất quán : Hoàng Sa và Trường Sa luôn là của Việt Nam . Trước hoàn cảnh không thể lấy , không thể giữ vì lực yếu nên tạm thất bại việc thực hiện quyễn chủ quyền .Lịch sử thế giới có 1 quy luật mạnh hiếp yếu . Kẻ mạnh bao giờ cũng giành lợi nhiều . Còn kẻ yếu thì bỏ của chạy lấy người . Khi bàn bạc chia chác thì chỉ được hưởng phần đầu thừa , đuôi thẹo . Theo tôi thì không có cách nào khác là phải tạo ra sức mạnh nội và ngoại lực để hơn thua với Trung Quốc trong vấn đề giành lại những thứ tối thiểu là của mình . Thậm chí nếu gặp thời, đô hộ luôn Trung Quốc như thời Nguyên Mông tung vó ngựa coi Trung Quốc như bãi tập ngựa .

    Phản hồi: 

    TC Biến Biển Đông Thành Chuyện Đã Rồi

    (05/22/2012) (Xem: 263)

    Tác giả : Vi Anh

    (Nguồn: http://www.vietbao.com/D_1-2_2-66_4-192321_15-2/ )

    Thời gian và nguyên trạng do Trung Cộng dàn dựng đang có lợi cho Trung Cộng, nên Trung Cộng đang dùng chiến lược chuyện đã rồi trong vấn đề Biển Đông, biến Biển Đông thành chuyện đã rồi đối với các nước trong vùng và cộng đồng thế giới.

    Một, chiến thuật chuyện đã rồi của TC đối với các nước có tranh chấp về đảo và biển. Trung Cộng đơn phương lấn chiếm nhiều đảo, nhiều vùng lãnh hải của các nước, tuyên bố thuộc chủ quyền của TC dù không có những chứng cớ lịch sử, pháp lý. Các nước phản dối biến những nơi đó thành vùng tranh chấp, thế là TC dược coi coi là một thành phần trong nội vụ. TC khăng khăng tự tuyên bố đó thuộc chủ quyền bất khả tranh cãi và nếu có giải quyết thì theo nguyên tắc song phương. Mà song phương giữa một nước nhỏ và một nước lớn thì “lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” như bài thơ ngụ ngôn Con Cừu và Con Sói của La Fontaine.

    Tiêu biểu như hai nước nhỏ tranh chấp với TC là Phi luật tân và Việt Nam. Bước một Phi luật tân cương quyết hơn, dùng cả phi cơ chiến đấu, tàu chiến ra ngăn chận tàu hải giám và đánh cá của TC. Kỳ đó TC như chỉ để thăm dò phản ứng của Mỹ xem coi Mỹ có vận dụng hiệp ước phòng thủ chung của Mỹ ký với Phi vào năm 1951 hay không. TC thấy Phi kêu gọi Mỹ áp dụng hiệp ước và Mỹ xác nhận có hiệp ước phòng thủ chung với Phi nhưng tuyên bố không đứng bên nào trong cuộc tranh chấp biển đảo. Sau khi nghe thấy Mỹ tuyên bố chỉ bảo vệ hải lộ cho tự do thương thuyền, chớ không đứng vào phía bên nào trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trong vùng, TC làm một cú mạnh hơn. TC chứng tỏ với các nước nhỏ trong vùng, rằng “Trung Quốc là một một nước lớn. Và các nước khác là những nước nhỏ. Đó là một sự thật.” Lời này là lời của Ngọai Trưởng TC Dương khiết Trì nói dằn mặt các nước trong hiệp hội các nước Đông Nam Á gọi tắt là ASEAN, có tranh chấp biển đảo với TC. Ông tuyên bố khi nghe Ngọai Trưởng Mỹ tuyên bố trở lại Á châu và các nước ASEAN đa số ủng hộ, Ông bỏ ra ngòai và tuyên bố bên lề hội nghị ASEAN hồi tháng Bảy năm 2010, tại Hà nội.

    Trong kỳ hai trở lại vùng biển đảo của Phi, TC chứng tỏ mình là một nước lớn. Từ đầu tháng Tư năm nay, TC tràn ngập vùng bãi cạn Scarborough của Phi. TC liên tục điều ra vùng này ngày càng nhiều vừa tàu hải giám, vừa tàu đánh cá xuất hiện dần dần lên hơn 33 chiếc. Trong khi Phi chỉ có hai tàu tuần cận duyên và hải quân quanh quẩn ở xa xa thôi.

    Nhưng đặc biệt, TC không điều tàu hải quân ra, mà dùng tòan tàu dân sự có thể ngụy trang làm tàu đánh cá và bán quân sự hải giám mà thôi. Nhưng những tàu này kiên trì bám trụ, có tăng, chớ không có giảm, để,tuần tiểu, di chuyển theo đội hình tác chiến.

    Thêm vào đó TC còn ra lịnh cấm đánh cá vào mùa hè, lịnh kỳ này không những chi phối tòan bộ Biển Đông VN mà chi phối cả vùng Scarborough đang căng thẳng với Phi nữa.

    Phi phản đối mặc phi. Phi tuyên bố đưa vấn đề ra tòa án quốc tế, mặc Phi. Phi gởi Bộ Trưởng Quốc Phòng, Ngọai Giao sang Mỹ cầu viện, mặc Phi, TC coi như không có. Báo chí bán chánh thức của TC còn khích động tinh thần quốc gia cực đoan của người Trung Quốc, đổ tội cho Phi giành vùng đảo và biển thuộc chủ quyền bất khả tranh cãi của TQ và khích động quân đội TC tấn công, đánh đuổi Phi.

    Ngọại Trưởng Mỹ xác nhận có hiệp ước phòng thủ chung với Phi nhưng vẫn giữ lập trường không dứng về phía bên nào trong tranh chấp biển đảo trong vùng. Bộ Trưởng Quốc Phòng Phi sau một tuần vận động với Mỹ tuyên bố Mỹ sẽ tuân thủ hiệp ước phòng thủ chung nhưng Bộ Quốc Phòng Mỹ không thấy xác nhận.

    Nhưng giả sử TC có tấn công quân sự Phi, Mỹ muốn chiếu hiệp ước phòng thủ chung để can thiệp cũng khó trên phương diện công luận. Như đã thấy ở phần trên có cả hơn 33 tàu của TC tràn ngập vùng biển và đảo Scarborough, nhưng đó là là tàu dân sự và bán quân sự mà thôi. Nói cho cùng tận nếu có thì chỉ có tranh chấp dân sự, bán quân sự, chớ không có giao tranh quân sự, Mỹ không có lý do chánh đáng, Phi không có lý do chánh đáng để vận dụng hiệp ước phòng thủ hổ tương.

    Tình hình càng kéo dài, thời gian có lợi cho TC. Các nước trong vùng sẽ quen sự có mặt của TC trên vùng chiếm đóng, quen lý luận của TC và nhứt là e ngại ảnh hưởng kinh tế của TC đối với công cuộc giao thương của nước mình. Kể cả Phi đang tranh chấp mà TC tỏ vẻ không mua chuối của Phi là Phi phải gởi bộ trưởng qua Bắc Kinh thương lượng liền.

    Nguyên trạng củng cố lời tuyên bố chủ quyền bất khả tranh cãi của TC dù đứng về phía chứng lý lịch sử, đia lý, luật biển những vùng TC cưỡng chiếm, TC rất yều lý. Trừ cái “Lý của kẻ mạnh bao giờ thắng của con sói dối với con cừu của La Fontaine...”

    Hai, chiến thuật biến việc cưỡng chiếm thành chuyện đã rồi, thời gian và nguyên trạng có lợi cho TC, TC cũng áp dụng cho nước láng giềng, như VN là nước bị TC lấn chiếm biển đảo nhiều nhứt. TC lấy hai đảo Hòang sa và Trường sa của VN làm huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam của TC. TC đơn phương tung ra một bản đồ hình lưỡi bò liếm mất 80% Biển Đông của VN. TC dùng căn cứ hải quân lớn nhứt của TC ở Hải Nam gần như khóa chặt Vịnh Bắc Việt của VN.

    Thời cơ lại thuận lợi cho TC. Thời CS Hà nội, Trung Cộng xâm lăng biển đảo VN dễ dàng như móc khăn mu soa trong túi ra vậy. Không cần đưa người ngựa, gươm đao qua chiếm VN như trong ba thời kỳ Bắc Thuộc VN, lúc đó đô hộ công lại 1000 năm. TC lợi dụng tình đồng chí, cấy sinh tử phù tiền, gái và quyền để biến một số cán bộ, đảng viên của đảng CS Việt Nam thành gia nô, thái thú theo kiểu thực dân mới. TC dán lên trán của những người mặt mày là VN nhưng đầu óc là Tàu sẵn sàng mãi quốc cầu an, cầu vinh này, lá bùa mưới mấy chữ vàng và bốn cái tốt.

    Nhưng người VN với dã tâm gia nô, thái thú của quân Tàu này biến chế độ CSVN thành chế độ nhà cầm quyền ra tay, thẳng tay cấm đóan dân xuống đường bày tỏ lòng yêu nước, chống quân xâm lược Tàu và cúc cung tận tụy thi hành lịnh của Thiên Triều “định hướng dư luận”, bất cứ người Việt nào có hành động hay lời nói đụng đến quan thầy TC là bị thẳng tay trừng trị.

    Ngư dân VN bị quân Tàu Cộng bắn, bắt, đánh, tịch thu tàu, đòi tiền chuộc, thì phát ngôn viên ngọai giao như con két tuyên bố vùng biển ngư dân VN đánh cá là thuộc chủ quyền VN. Ngòai lời nói suông đó, người ta không thấy một cảnh sát biển, một hải quân nào có mặt để bảo vệ ngư dân và ngư trường VN do dất nước ông bà VN ngàn năm để lại.

    Ba và sau cùng, TC cứ lấn, cứ chiếm, cứ giữ, cứ khai thác, cứ tuyên bố mọi tranh chấp sẽ giải quyết trên căn bản song phương. Tranh chấp và đàm phán giữa một người không lồ và một người bé nhỏ, một đại cường và một nhược tiểu, một con sói và một con cừu, cái thắng sẽ thuộc về ai, ai cũng biết.

    TC bất cần Mỹ dù Mỹ hướng về Á châu. TT Obama, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ cứ thúc hối Quốc Hội phê chuẩn hiệp ước về luật biển. Quốc Hội Mỹ đã không phê chuẩn luật này suốt ba mươi năm rồi. Mỹ là nước duy nhứt trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp không tham gia về hiệp ước luật biển.

    Mà Mỹ có phê chuẩn thì cũng không làm gì được TC dù TC đã ký rồi. TC không đi dự khi tòa án hay tổ chức luật biển triệu tập, thì cũng không có tổ chức nào hay luật gì chế tài được TC. Một nước nhỏ như CS Bắc Hàn vi phạm luật quốc tế cấm phổ biến nguyên tử kia, cả thế giới cũng chẳng làm gì được chỉ vì có “ô dù” của TC thôi. Huống hồ gì “bản thân” người Khổng Lồ TC.

    Có một số nhà phân tích chiến lược Tây Phương do cái tật chẻ sợi tóc ra làm đôi, theo thói quen ăn học Tây Phương coi trọng vai trò cá nhân, cá tính của những lãnh tụ CS trong việc điều hành quốc sự. Quí vị làm chánh trị trong phòng lạnh này sợ một cuộc chiến có thể xảy ra trong vùng Á châu Thái bình Dương lôi kéo Mỹ nhảy vào có thể thành thế chiến ở Á châu. Quí vị này phân tích TC có quá nhiều cơ quan của TC can dư vào hồ sơ tranh chấp Biển Đông. Có cả năm cơ quan của TC, Cục Hải Giám, Cục Ngư Nghiệp, Cục Hải Quan, Nha Cảnh Sát Biển, Cục An Ninh Đường Biển. Mỗi cục và nha trực thuộc một bộ khác nhau. Con khác cha, nhà lắm chủ, dễ tranh quyền, dễ hành động tùy tiện, chánh quyền trung ương khó kiểm sóat. Một sơ hở bé với các nước tranh chấp sẽ xé ra to thành nguyên nhân gần của chiến tranh.

    Nhưng có một điều quí vị ăn học trong chế độ dân chủ, tự do, trọng cá tính, cá nhân của Tây Phương quên Đông vẫn là Đông, Tây vẫn là Tây và CS không phải là tư do, là cá nhân. Chế độ CS không dành vai trò “chủ đạo” cho cá nhân, cá tính; con người chỉ là một bánh xe của guồng máy, đảng CS là trên hết, tòan quyền.

    Đường lối chính sách của Đảng, Nhà Nước TC về Biển Đông là khai thác thời gian, nguyên trạng đang có lợi cho họ, biến sự xâm lấn Biển Đông của TC thành chuyện đã rồi. Đó là đường lối của Đảng CS Trung Quốc, không cá nhân lãnh tụ nào, không cơ quan nào của nhà nước, quân đội có thể đi ngược, đi chệch hướng của cái máy cái là Đảng CS Trung Quốc được cả.

    Vi Anh

    Phản hồi: 

    [quote=PVĐ][quote=Khách Qua Đường]

    Theo tôi, bức thư của các trí thức nhân sĩ VN gửi ủng hộ Phi Luật Tân, thực chất là đòn NGẦM của ĐCSVN khi đảng "ta" đánh giặc qua "cách không đả huyệt" (nói theo ngôn ngữ của truyện chưởng Kim Dung) bằng trận chiến proxy war, nhờ tay Phi Luật Tân trực diện đối đầu với TQ ở bãi cạn Scarborough [/quote]

    Tôi cho rằng ông KQĐ đang cố gắng biện bạch cho việc nhượng đảo biển cho Phi. Một nhóm người đang đua học theo hiện tượng Phạm văn Đồng nhờ Trung Quốc tranh giành hộ chủ quyền HS và TS trước khả năng không thể lấy , không thể giữ và không thể dùng trong hoàn cảnh lịch sử đó . Nói chung là hèn và đàng điếm .[/quote]

    Tôi cũng đau xót như bạn PVĐ trước việc nước ta phải chịu thiệt rất nhiều vì mất HS (vào tay Tàu), mất nhiều đảo ở TS (vào tay Phi, Tàu Đài Loan) và mất thêm bãi cạn Scarborough này (vào tay Phi hay Tàu) nếu bãi cạn này trước đây được phía VN ta tuyên bố chủ quyền. Tôi không cố gắng biện bạch cho việc nhượng đảo biển cho Phi như bạn PVĐ nghĩ đâu, vì đối với tôi lãnh thổ và lãnh hải của tổ tiên để lại là THIÊNG LIÊNG, bất khả nhượng. Nhưng ở đây tôi chỉ bàn về các động thái của ĐCSVN mà thôi. Thực ra, tôi cũng không chắc chắn là bãi cạn Scarborough có nằm trong số các đảo mà phía VN đòi chủ quyền hay không. Nếu VN chưa bao giờ đòi nó, thì nó ở gần Phi và có nhiều khả năng là thuộc về Phi hơn là của TQ (vì ông TQ này thường hay cậy lớn và hung hăng cướp giật đủ thứ từ tay các nước nhỏ). Nếu nó không phải là của VN, thì thuộc vào Phi sẽ tốt hơn cho ta, vì TQ sẽ không sử dụng nó để lấn chiếm hay gây rắc rối cho VN trong tương lai. Phi là nước nhỏ tương đương với VN, nên trong tranh chấp sẽ dễ đối phó hơn TQ, là một siêu cường đang lên. Dù sao thì việc ủng hộ Phi để qua đó phá tan cái lưỡi bò TQ cũng là một điều tốt cho VN, thì tại sao ta không ủng hộ Phi (dĩ nhiên là ngoại trừ trường hợp VN cũng đòi chủ quyền trên bãi cạn này). Trong trường hợp VN cũng đòi chủ quyền ở Scarborough thì vấn đề sẽ rắc rối hơn nhiều và đương nhiên ta cần suy tính kỹ hơn nhiều trước khi dại dột ủng hộ Phi và chịu thí bãi cạn này cho họ. Họa chăng là thương thuyết riêng với Phi để đánh đổi việc Phi nhương ta vào nơi khác (TS chẳng hạn). Có điều là thực tế không cho phép VN ta được TẤT CẢ, không nhượng ai cái gì hết. Điều này e khó xảy ra với sức mạnh và vị thế VN hiện nay.

    Nếu bạn PVĐ nghĩ ra phương cách gì để VN ta giữ được HS, TS và cả bãi cạn Scarborough (tên tiếng Việt là gì nhỉ, chắc phải có tên Việt nếu VN ta muốn đòi nó) đồng thời giữ được đặc khu kinh tế và thềm lục địa nới rộng (nghĩa là giành được phần biển tối ưu cho VN) xin bạn cho tôi biết với để mừng. Xin chân thành cám ơn bạn trước.

    Phản hồi: 

    [quote=Khách Qua Đường]

    Theo tôi, bức thư của các trí thức nhân sĩ VN gửi ủng hộ Phi Luật Tân, thực chất là đòn NGẦM của ĐCSVN khi đảng "ta" đánh giặc qua "cách không đả huyệt" (nói theo ngôn ngữ của truyện chưởng Kim Dung) bằng trận chiến proxy war, nhờ tay Phi Luật Tân trực diện đối đầu với TQ ở bãi cạn Scarborough [/quote]

    Tôi cho rằng ông KQĐ đang cố gắng biện bạch cho việc nhượng đảo biển cho Phi. Một nhóm người đang đua học theo hiện tượng Phạm văn Đồng nhờ Trung Quốc tranh giành hộ chủ quyền HS và TS trước khả năng không thể lấy , không thể giữ và không thể dùng trong hoàn cảnh lịch sử đó . Nói chung là hèn và đàng điếm .

    Phản hồi: 

    [quote=Khách Qua Đường]Mục đích việc gửi thư cho Philippines?
    http://www.boxitvn.net/bai/37194[/quote]

    Tôi không chống lại việc các trí thức nhân sĩ VN trong và ngoài nước gửi thư ủng hộ Phi trong tranh chấp của Phi với TQ về bãi cạn Scarborough. Trái lại, tôi có thiện cảm và ủng hộ hành động này.

    Tuy nhiên, ta phải thừa nhận một điều như sau. Là Phi Luật Tân, trong quá khứ, đã tỏ ra hoàn toàn ích kỷ, không ủng hộ VN trong tranh chấp HOÀNG SA, và Phi đã vài lần đi xé lẻ theo TQ hầu lợi dụng thời cơ để đạt TỐI ƯU quyền chia chác cho quốc gia họ ở Trường Sa nói riêng và trên Biển Đông (mà gần đây Phi gọi là Biển Tây Phi Luật Tân) nói chung. Thái độ của chính quyền và nhân dân Phi là chính đáng, quang minh lỗi lạc (đứng trên quan điểm dân tộc Phi) dù họ có làm THIỆT rất nhiều cho quyền lợi CHÍNH ĐÁNG của VN ta. Nói như ông Đinh Kim Phúc rằng sở dĩ Phi dám cương nghị thẳng thắn đối đầu trực diện với ông khổng lồ TQ là vì đằng sau họ còn lấp ló bóng dáng cái ô dù của siêu cường Hoa Kỳ, theo tôi, không đúng hẳn, dù cũng có một phần đúng. Chuyện chính quyền và nhân dân Phi đứng lên can đảm đối đầu với kẻ xâm lược biển đảo (mà họ xem thuộc vào tổ quốc họ) thật ra là một hành động ĐƯƠNG NHIÊN của bất cứ chính phủ và dân tộc nào trên quả đất này tự nghĩ mình là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, và cần phải được tôn trọng và đối xử bình đẳng, tử tế theo đúng tinh thần của nhân loại văn minh ngày nay.

    Việc đáng buồn là phía nhà nước và nhân dân CHXHCNVN (tức là nước "ta"). Tại sao ĐCSVN và nhà nước CHXHCNVN phải cư xử một cách HÈN HẠ như thế này trước sự hung hăng, hống hách, xem thường và khinh bỉ nhà nước và nhân dân VN ra mặt qua cách TQ đã đối xử với ngư dân VN? Xin thưa, đó là vì ĐCSVN đã thỏa thuận và thề nguyền với TQ tại Thành Đô vào năm 1992 (?) rằng "VN chúng tôi đã có LỖI rất nặng với quý quốc và quý ngài lãnh đạo anh minh của nước CHNDTH qua thời Tổng Bí Thư Lê Duẩn của chúng tôi, cho nên chúng tôi xin thành khẩn mong quý quốc và quý ngài THA THỨ cho LỖI LẦM quá khứ, và chúng tôi xin nguyện TỪ NAY và ĐỜI ĐỜI sẽ không bao giờ dám TÁI DIỄN sự việc này, và xin nguyện đời đời chịu sự che chở, lãnh đạo của quý quốc và quý ngài". Đó là lý do của việc ĐCSVN cam tâm nhượng bộ tất cả mọi đòi hỏi PHI LÝ của TQ về đất đai, biển đảo, và đã trấn áp, ngăn cản không cho nhân dân ta nói lên lòng yêu nước để toàn dân đoàn kết cùng nhau giữ nước trước họa MẤT NƯỚC vào tay người đồng chí anh em, người thầy vĩ đại và người bạn vàng TQ.

    Theo tôi, bức thư của các trí thức nhân sĩ VN gửi ủng hộ Phi Luật Tân, thực chất là đòn NGẦM của ĐCSVN khi đảng "ta" đánh giặc qua "cách không đả huyệt" (nói theo ngôn ngữ của truyện chưởng Kim Dung) bằng trận chiến proxy war, nhờ tay Phi Luật Tân trực diện đối đầu với TQ ở bãi cạn Scarborough (vì đảng "ta" không bao giờ DÁM ra mặt làm chuyện này, dù có cả Mỹ và đồng minh của Mỹ phụ giúp) do lời NGUYỆN TRUNG THÀNH nói trên của đảng với Tàu. Dù sao, đây cũng chỉ là cách mượn tay Phi của đảng "ta" (dù chịu nhượng ông tí hon này chút biển đảo ở TS hay Biển Đông) để đảng "ta" vớt vát chút xíu cái đặc khu kinh tế 200 hải lý mà UNCLOS 1982 đã quy định trong Luật Biển. Tôi dám nghi ngờ đảng "ta" đã TỪ BỎ vĩnh viễn chủ quyền ở Hoàng Sa (dù thỉnh thoảng còn đánh giặc mồm để dân ta khỏi nổi khùng vùng lên diệt đảng) và có thể đang sửa soạn cho tình trạng tệ nhất là MẤT LUÔN Trường Sa vào tay bạn vàng TQ. Câu châm ngôn hiện nay của đảng "ta", theo tôi nghi ngờ, là "BỎ ĐẢO, GIỮ BIỂN", nghĩa là tìm cách gỡ gạc cái đặc khu kinh tế cho VN. Thế đấy. Than ôi!

    Phản hồi: 

    [quote=PVĐ]

    Tôi xin hỏi 1 số người tán đồng : Lấy tư cách gì quý vị tán đồng, công nhận về lãnh thổ , chủ quyền của quốc gia ? Không những thế để tìm tiếng nói chung mà sẵn sàng "nhượng" phần đang tranh cãi là của nước khác thì có khác gì chính phủ VNDCCH cứ tán thành cho Trung Quốc để không ai thuộc phía Mỹ chiếm và tuyên bố của mình .
    [/quote]

    Câu hỏi này của bác PVĐ là một câu hỏi rất hay. Trước hết, ta cần phải biết là VN từ trước đến nay có tuyên bố chủ quyền trên Scarborough shoal hay không? Nếu có, thì liệu VN "HY SINH" tự ý từ bỏ Scarborough shoal và "NHƯỢNG" nó cho Phi Luật Tân (như qua bức thư gửi ông Đại sứ Phi Luật Tân của hơn 60 nhà trí thức nhân sĩ VN) để MUA tình đồng minh với Phi hầu cùng nhau liên kết chống lại đối thủ chung là TQ có đem đến kết quả gì có lợi cho VN chăng ?

    Thật ra, trên nguyên tắc, những vấn đề lớn như trên phải do Nhà Nước VN quyết định trước tiên, và thông thường là Nhà Nước vận động người dân ủng hộ (hay chống đối) hành động của Phi và TQ trên cái shoal này. Tiếc thay, động thái của nhà cầm quyền CHXHCNVN và ĐCSVN luôn luôn E DÈ, SỢ SỆT, GIẤM DÚI khi phải đối đầu với ông "bạn vàng" TQ. Do đó, trong hoàn cảnh bị ĐCSVN tước đoạt quyềm yêu nước và lên tiếng TRỰC TIẾP về những vấn đề thuộc lãnh vực quốc gia đại sự (như vấn đề chủ quyền biển đảo) các nhà trí thức nhân sĩ VN mới phải tự động thông qua bức thư ỦNG HỘ Phi Luật Tân này để GIÁN TIẾP tranh đấu xóa bỏ cái lưỡi bò phi lý của TQ. Tôi đồ chừng rằng động thái này của các vị trí thức nhân sĩ VN trong và ngoài nước đã được dự GIẬT DÂY (hay ít nhất cũng được sự thỏa thuận NGÂM) của ĐCSVN VÀ nHÀ nước CHXHCNVN.

    Như tôi đã nói trong một ý kiến trước, trong việc tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Trường Sa (và Biển Đông trong trường hợp Scarborough shoal) Phi Luật Tân luôn luôn là nước được lợi nhất, và VN là nước bị thiệt thòi nhất. Bởi vì, để chống ông khổng lồ TQ, VN đành bấm bụng nhượng ông tí hon Phi Luật Tân, với hy vọng là ông tí hon này sẽ cùng với mình nắm chặt tay chống ông khổng lồ TQ. Giả sử kho&ng có TQ xen vào, tôi e rằng VN ta chẳng bao giờ nhượng ông Phi thước biển hay hòn đảo nào đâu. Nhưng biết làm sao đây?

    Thôi thì tôi nghĩ "một liều, ba bảy cũng liều, cầm bằng như trẻ chơi diều đứt giây" quý vị trí thức nhân sĩ đành phải chịu bỏ con tép (Scarborough shoal) để câu con cá (Trường Sa và cái lưỡi bò của Tàu). Mong là cuối cùng ta cũng được xí phần ở Biển Đông. Chứ theo cái Công hàm ô nhục Phạm Văn Đồng, thi "kụ" Hồ và đảng "ta" đã chịu nhượng Hoàng Sa và Trường Sa cho ông anh nhớn đồng chí TQ từ năm 1958 mất rồi. Nay đảng "ta" cố vớt vát chút đỉnh cái đặc khu kinh tế EEZ do Luật Biển Liên Hiệp Quốc UNCLOS 1982 quy định thôi. Đấy là chủ đích của lá thư gửi ngài Đại Sứ Phi. Bà con cô bác nào còn yêu nước (Phi và Việt) mau mau nhảy ra ủng hộ.

    Phản hồi: 

    [quote=Khách Qua Đường]Thư gửi Ngài Jerril Galban Santos, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Philippines tại Việt Nam

    (Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/37175 )

    [/quote]
    Tôi đọc bản tin thư này mà thấy ngán ngẩm và chán ghét những trò chơi chính trị /
    Tôi xin hỏi 1 số người tán đồng : Lấy tư cách gì quý vị tán đồng, công nhận về lãnh thổ , chủ quyền của quốc gia ? Không những thế để tìm tiếng nói chung mà sẵn sàng " nhượng" phần đang tranh cãi là của nước khác thì có khác gì chính phủ VNDCCH cứ tán thành cho Trung Quốc để không ai thuộc phía Mỹ chiếm và tuyên bố của mình .
    Vừa qua , TQ cho dân và Tàu ngư chính ra chỗ đang tranh chấp thì không sao , khi dân Philippines chuẩn bị ra đó thì chúng cho là làm căng thẳng và khiêu khích . Đó cũng là một thái độ vừa ăn cướp vừa la làng nhưng chưa ai có phương cách nào để trị .

    Phản hồi: 

    Thư gửi Ngài Jerril Galban Santos, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Philippines tại Việt Nam

    (Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/37175 )

    Bản tiếng Việt:

    Kính gửi Ngài Jerril Galban Santos,
    Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Philippines tại Việt Nam,
    27B Trần Hưng Đạo, Hà Nội

    Kính thưa Ngài Jerril Galban Santos,

    Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, đại diện cho bản thân và cho ý kiến của nhiều công dân Việt Nam khác, theo dõi với mối quan tâm chặt chẽ các sự kiện đang xảy ra tại Panatag Shoal (Scarborough Shoal) trên Biển Tây Philippines (theo cách gọi của Philippines)/Biển Đông (theo cách gọi của Việt Nam), và bày tỏ ý kiến của mình như sau:
    1. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ quyền chủ quyền và các hành động bảo vệ quyền chủ quyền của nước Cộng hòa Philippines trong khu vực Panatag Shoal.
    2. Chúng tôi kiên quyết phản đối Trung Quốc áp đặt “đường chín đoạn” không có cơ sở lịch sử và pháp lý vào Biển Tây Philippines/Biển Đông nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines, Việt Nam và các nước ASEAN khác. Chúng tôi cực lực phản đối các hành động bất hợp pháp, đe dọa dùng vũ lực của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp ở Panatag Shoal.
    3. Chúng tôi ủng hộ yêu cầu của Philippines đưa tranh chấp ở Panatag Shoal ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Chúng tôi ủng hộ tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam vào ngày 25/4/2012, mong muốn “các bên liên quan cần kiềm chế, giải quyết hòa bình các tranh chấp [tại Panatag Shoal] trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).”
    4. Chúng tôi kêu gọi các chính phủ và công dân các nước ASEAN có những hành động cụ thể nhằm đoàn kết với và giúp đỡ Philippines bảo vệ quyền chủ quyền trong khu vực Panatag Shoal cũng như quyền chủ quyền của mỗi nước và của cả khối ASEAN theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.
    5. Chúng tôi long trọng tuyên bố rằng những đòi hỏi của Trung Quốc tại Biển Tây Philippines/Biển Đông thông qua đường chín đoạn chữ U phi pháp là một nguy cơ cho việc hợp tác hòa bình và phát triển bền vững của Đông Nam Á. Để tìm lại ổn định và để bảo đảm tự do giao thông hàng hải trên Biển Tây Philippines/Biển Đông, chúng tôi đòi hỏi chính quyền Bắc Kinh từ bỏ tham vọng phi lý tại Biển Tây Philippines/Biển Đông.
    Sự nghiệp chính nghĩa của chính phủ và nhân dân Philippines nhất định thắng lợi.
    Hòa bình và chủ quyền của Philippines cho khu vực Panatag Shoal!
    Kính chúc sức khỏe Ngài Đại sứ.

    Trân trọng,

    1. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Đại sứ CHXHCN Việt Nam tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
    2. GS TS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục – Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội CHXHCN Việt Nam
    3. Nguyên Ngọc, nhà văn Việt Nam
    4. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn Việt Nam
    5. Thanh Thảo, nhà thơ Việt Nam
    6. GS TS Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt
    7. GS Nguyễn Huệ Chi, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học Việt Nam
    8. Phạm Toàn, nhà giáo Việt Nam
    9. GS TS Nguyễn Thế Hùng, Đại học Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội thủy học cơ khí Việt Nam
    10. GS Chu Hảo, Giám đốc nhà xuất bản Tri thức Hà Nội
    11. TS Y khoa Nguyễn Đình Nguyên, Garvan Institute of Medical Research Sydney, Australia
    12. PGS TS Hoàng Dũng, Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
    13. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
    14. Nguyễn Bá Dũng, Kỹ sư Hà Nội
    15. Phạm Hoàng Quân, nhà nghiên cứu độc lập TP Hồ Chí Minh
    16. Hoàng Hưng, nhà thơ Việt Nam
    17. GS Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam
    18. TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS Việt Nam
    19. Nguyễn Ngọc Giao, dạy học, viết báo, Paris
    20. Thái Văn Cầu, Chuyên gia Khoa học Không gian, Mỹ
    21. TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Hán Nôm Việt Nam
    22. Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu Biển Đông và hải đảo Việt Nam
    23. TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, (Central Institute of Economic Managment, CIEM), Hà Nội, Việt Nam
    24. GS TS Hoàng Tụy, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Toán học Việt Nam
    25. GS TS Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư danh dự thực thụ Đại học Liège, Bỉ
    26. TS Tô Văn Trường, chuyên gia tài nguyên và môi trường Việt Nam
    27. Hà Sĩ Phu, Tiến sĩ, Đà Lạt
    28. Đặng Thị Thanh Biên, hưu trí, Đà Lạt
    29. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM
    30. Mặc Lâm, nhà báo hiện cư ngụ và làm việc tại Hoa Kỳ
    31. Mai Thái Lĩnh, nhà giáo hưu trí, nhà nghiên cứu, Đà Lạt, Lâm Đồng
    32. Huỳnh Nhật Hải, cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng
    33. Huỳnh Nhật Tấn, Cán bộ hưu trí, Đà Lạt, Lâm Đồng
    34. Hạ Đình Nguyên, TP Hồ Chí Minh
    35. KTS Trần Thanh Vân, Hà Nội
    36. PGS TS Đặng Ngọc Lệ, Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học TP HCM, TP HCM
    37. Trần Thị Khánh, Biên tập viên, TP.HCM
    38. TS Nguyễn Thị Từ Huy, TP.HCM
    39. Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội CHXHCN Việt Nam, TP HCM
    40. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM
    41. Cao Lập, Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975, TP HCM
    42. Trần Minh Thảo, viết văn, Lâm Đồng
    43. TS Đặng Thị Hảo, nguyên Phó ban Ban Văn học Cổ trung đại Viện Văn học Việt Nam, Hà Nội
    44. TS Vũ Quang Việt, nguyên chuyên gia kinh tế Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ
    45. GS TS Nguyễn Đình Cống, nguyên Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, Đại học Xây dựng Hà Nội
    46. Nguyễn Đức Hiệp, Chuyên gia khí quyển, Australia
    47. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục giáo phận Vinh, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình, Việt Nam
    48. Nguyễn Chí Thanh Long, Beach Corporation, Việt Nam
    49. GS TS Trần Văn Thọ, Giáo sư Đại học Waseda, Nhật Bản
    50. Trần Đức Quế, hưu trí, Hà Nội
    51. Tạ Văn Tài, Luật sư, nguyên giảng sư, hiện là research fellow, Harvard Law School, Hoa Kỳ
    52. Nghiêm Phương Mai, chuyên ngành Sinh học và Giáo dục (biologist & educator), Canada
    53. Lê Hiếu Đằng, Luật gia, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
    54. Tiến sĩ, Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên, nguyên Đại biểu Quốc hội CHXHCN Việt Nam
    55. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, nguyên Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư TP HCM (ITBC)
    56. Nguyễn Phú Yên, nhạc sĩ, TP HCM
    57. Hồ Hiếu, nguyên Uỷ viên lực lượng thanh niên, sinh viên tranh thủ dân chủ Đà Lạt trước 1975, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Thành uỷ TP HCM
    58. Phạm Xuân Yêm, nguyên Giám đốc Nghiên cứu Vật lý, CNRS và Đại học Paris VI, Pháp
    59. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Compiègne, Pháp
    60. Tống Văn Công, nhà báo, TP HCM
    61. Mai Hiền, nhà báo, TP HCM
    62. Đỗ Đăng Giu, nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS, Đại học Paris Sud, Pháp
    63. Phan Hoàng Oanh, tiến sĩ, giảng viên, TP HCM
    64. Hà Thúc Huy, PGS.TS. Đại học Khoa học – Đại học Quốc gia TP HCM
    65. Huy Duong, United Kingdom
    66. Đỗ Minh Tuấn, Nhà thơ – Đạo diễn, Hà Nội

    ****

    Bản tiếng Anh:

    To His Excellency Jerril Galban Santos,
    Ambassador Extraordinary and Plenipotentiary of the Republic of Philippines to Vietnam,
    27B Tran Hung Dao, Hanoi

    Your Excellency,

    We, the undersigned, reflecting the opinions of many other Vietnamese, have followed closely and with great concern the events at Panatag Shoal (Scarborough Shoal) in the waters known as the West Philippines Sea in the Philippines and the East Sea in Vietnam.
    We wish to convey to you and your people the following message:
    1. We fully support the sovereign rights of the Philippines in the Panatag Shoal area and the Philippines’s actions to defend her sovereign rights.
    2. We resolutely oppose China’s attempts to use its “nine-dashed line”, which is completely without historical or legal basis, to encroach on the Exclusive Economic Zones and continental shelves of the Philippines, Vietnam and other ASEAN countries. We strongly oppose China’s illegal actions and threats of force in the Panatag Shoal dispute.
    3. We support the Philippines’ proposal to submit the dispute at Panatag Shoal to the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS). We support the statement by the Vietnamese Foreign Ministry spokesperson on 25 April 2012 expressing hopes that “both sides will restrain themselves and settle peacefully the issue in compliance with international law, in particular the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) and the Declaration on the Conduct of Parties in the East Sea (DOC).”
    4. We call on the governments and citizens of all ASEAN countries to take concrete actions to show solidarity with the Philippines, to assist her in the defense of her sovereign rights in the Panatag Shoal area, and to defend the sovereign rights of each and every ASEAN country as affirmed in UNCLOS.
    5. We solemnly declare that China’s illegal “nine-dashed line” constitutes a threat to peaceful cooperation and sustainable development in Southeast Asia. To re-establish stability and ensure freedom of navigation in the West Philippines Sea/East Sea, we demand that China gives up its absurd maritime claims in these waters.
    The just cause of the government and people of the Philippines will prevail.
    Peace and Philippine sovereign rights for the Panatag Shoal area!

    Yours faithfully,

    Signatories:

    1. Major-General Nguyen Trong Vinh, Former Ambassador of The Socialist Republic of Vietnam to PR China, Ha Noi,Vietnam.
    2. Prof. Nguyen Minh Thuyet, PhD, Former Vice-President, The Committee for Culture, Education and Youth, National Assembly, The Socialist Republic of Vietnam.
    3. Nguyen Ngoc, Writer, Ha Noi, Vietnam.
    4. Bui Ngoc Tan, Writer, Hai Phong, Vietnam.
    5. Thanh Thao, Poet, Quang Ngai Province, Vietnam.
    6. Prof. Pham Duy Hien, PhD, Former Director, Da Lat Institute of Atom, Ha Noi, Vietnam.
    7. Prof. Nguyen Hue Chi, Former President of Scientific Committee, Institute of Vietnamese Literature, Ha Noi, Vietnam.
    8. Pham Toan, Educator, Ha Noi, Vietnam.
    9. Prof. Nguyen The Hung, PhD, University of Da Nang, Vice President, Vietnamese Association of Hydromechanics, Da Nang, Vietnam.
    10. Prof. Chu Hao, Director, Tri Thuc Publisher, Ha Noi, Vietnam.
    11. Dr. Nguyen Dinh Nguyen, PhD, Garvan Institute of Medical Research, Sydney, Australia.
    12. Assoc. Prof. Hoang Dung, PhD, Ho Chi Minh City University of Pedagogy, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    13. Pham Xuan Nguyen, President, Association of Ha Noi Writers, Vietnam.
    14. Nguyen Ba Dung, Engineer, Ha Noi, Vietnam.
    15. Pham Hoang Quan, Independent Researcher, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    16. Hoang Hung, Poet, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    17. Prof. Tuong Lai, Former President, The Institute of Sociology of Vietnam, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    18. Nguyen Quang A, PhD, Former President, The Institute of Development Studies, Ha Noi, Vietnam.
    19. Nguyen Ngoc Giao, Former Lecturer, Free-lance Writer, Paris, France.
    20. Thai Van Cau, Space Science Specialist, USA.
    21. Nguyen Xuan Dien, PhD, Institute of Han-Nom, Ha Noi, Vietnam.
    22. Dinh Kim Phuc, Researcher on the East Sea & Vietnamese Islands, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    23. Le Dang Doanh, PhD, Former Director, Central Institute of Economic Management (CIEM), Ha Noi, Vietnam.
    24. Prof. Hoang Tuy, PhD, Former President, Scientific Committee of Vietnam Institute of Mathematics, Ha Noi, Vietnam.
    25. Prof. Emeritus Nguyen Dang Hung, PhD, University of Liege, Belgium.
    26. To Van Truong, PhD, Specialist of Vietnamese Natural Resources and Environment, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    27. Ha Si Phu, PhD, Da Lat City, Vietnam.
    28. Dang Thi Thanh Bien, Retired, Da Lat City, Vietnam.
    29. Phan Dac Lu, Poet, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    30. Mac Lam, Journalist, USA.
    31. Mai Thai Linh, Former Teacher, Researcher, Da Lat City, Vietnam.
    32. Huynh Nhat Hai, Former Official, Retired, Da Lat City, Vietnam.
    33. Huynh Nhat Tan, Former Official, Retired, Da Lat City, Vietnam.
    34. Ha Dinh Nguyen, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    35. Tran Thanh Van, Engineer, Hanoi, Vietnam.
    36. Assoc. Prof. Dang Ngoc Le, PhD, President, Association of Linguistics of Ho Chi Minh City, Vietnam.
    37. Tran Thi Khanh, Editor, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    38. Nguyen Thi Tu Huy, PhD, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    39. Lawyer Tran Quoc Thuan, Former Permanent Vice Chairman, Office of National Assembly of the SR of Vietnam, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    40. Kha Luong Ngai, Former Deputy Editor-in-Chief, Sai Gon Giai Phong News, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    41. Cao Lap, Former Political Prisoner in Con Dao before 1975, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    42. Tran Minh Thao, Writer, Lam Dong Province, Vietnam.
    43. Dang Thi Hao, PhD, Former Vice Head, Section of Ancient and Mediveal Literature, Institute of Literature, Ha Noi, Vietnam
    44. Vu Quang Viet, Specialist of Economics for UN, USA.
    45. Prof. Nguyen Dinh Cong, PhD, Former Chair of the Construction Department, University of Construction, Ha Noi, Vietnam.
    46. Nguyen Duc Hiep, Specialist of the Atmosphere, Office of Environment & Heritages, NSW, 9A Marshall Str., Bankstown NSW 2200 Australia.
    47. Paulus Nguyen Thai Hop, Archbishop, Vinh Dioscese, Chairman, Committee of Justice & Peace, Vietnam.
    48. Nguyen Chi Thanh Long, Beach Corporation, Vietnam.
    49. Prof. Tran Van Tho, PhD, Waseda University, Tokyo, Japan.
    50. Tran Duc Que, Retired, Ha Noi, Vietnam.
    51. Lawyer Ta Van Tai, Former Lecturer, Research Fellow, Harvard Law School, USA.
    52. Lawyer Le Hieu Dang, Deputy Head, Services of Legal & Democratic Issues, Central Committee of Vietnam Fatherland Front.
    53. Dr. Huynh Tan Mam, PhD, Former President, Association of Students of Saigon before 1975, Former Editor-in-Chief of Thanh Nien Newspaper, Former Member, National Assembly of SR Vietnam
    54. Le Cong Giau, Former General Secretary, Association of Students of Saigon before 1975, Former Director, Center for the Promotion of Investment & Trades Ho Chi Minh City (ITBC), Vietnam.
    55. Nguyen Phu Yen, Composer, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    56. Ho Hieu, Former Active Member, Association of Students and Youths of Da Lat for Democracy before 1975, Former Chair, Bureau of Public Relations, Ho Chi Minh City’s Committee of Communist Party of Ho Chi Minh City, Vietnam.
    57. Nghiêm Phương Mai, Biologist & Educator, Canada
    58. Prof. Pham Xuan Yem, Former Director of Research on Physics, CNRS, Former Professor, University Paris VI, France.
    59. Prof. Ha Duong Tuong, Former Professor, University of Technology Compiegne, France.
    60. Tong Van Cong, Journalist, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    61. Mai Hien, Journalist, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    62. Prof. Do Dang Giu, Former Director of Research, CNRS, Former Professor, University Paris Sud, France.
    63. Phan Hoang Oanh, PhD, Lecturer, Ho Chi Minh City, Vietnam.
    64. Assoc. Prof. Ha Thuc Huy, College of Natural Sciences - Ho Chi Minh City National University, Vietnam.
    65. Huy Duong, United Kingdom
    66. Do Minh Tuan, Poet, Film-Director, Hà Nội

    Phản hồi: 

    [quote=Trương Nhân Tuấn]
    Hiện nay phía Trung Quốc đòi hỏi phân chia vùng biển với Phi, nhưng phải tính từ đường cơ bản của bãi cạn Scarborough với bờ biển của Phi. Tương tự như đối với Việt Nam, chia đều từ các đảo HS và Trường Sa với bờ biển Việt Nam. Thái độ của Việt Nam, do mất tố quyền (forclusion) từ hệ quả của các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các động thái mặc nhiên (hay ám thị) đồng thuận (acquiescement) chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong một thời gian quá lâu, do đó phải giữ thế thụ động chông chênh. Trong khi tư thế của Phi thì khác.

    Nước này đã khôn khéo dành được của Việt Nam một số đảo Trường Sa, với sự đồng thuận của nhà nước CSVN và các “học giả Việt yêu nước Phi”. Nước này cũng thành công trong việc hóa giải hiệu lực các đảo Trường Sa của Việt Nam lên vùng ZEE và thềm lục địa của nước này. Việc này cũng nhờ ở sự vận động các “học giả Việt”. Hôm nay Phi dọa kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, chắc chắn sẽ không cần “các học giả Việt” dạy khôn.

    Thái độ đúng đắn của các học giả Việt Nam hôm nay là tìm cách lấy lại tố quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, qua việc hợp pháp hóa việc kế thừa lãnh thổ miền Nam từ chính quyền VNCH. Việc này không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động.
    [/quote]

    Trong tranh chấp về chủ quyền ở Trường Sa hiện nay, Phi Luật Tân thật ra là nước được hưởng lợi nhiều nhất, và VN, tiêc thay lại là nước bị thiệt thòi nhất. Điều này là một sự thật dù rất oái oăm, nhất là khi ta biết Phi Luật Tân không hề có bằng cứ lịch sử hay pháp lý đáng kể về chủ quyền của Phi ở TS (ngoại trừ yếu tố địa dư là Phi ở gần TS, nhưng yếu tố này thực ra không mạnh về khía cạnh công pháp quốc tế). Tất cả những gì Phi có được đều do sự xuất hiện của yếu tố TQ (và Đài Loan) trong việc tranh chấp tay 3 (hoặc tay 4) ở TS. Do sự yếu kém của phía CHXHCNVN do hậu quả từ Công hàm Phạm Văn Đồng cũng như từ sự "mất tố quyền (forclusion) từ hệ quả của các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các động thái mặc nhiên (hay ám thị) đồng thuận (acquiescement) chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong một thời gian quá lâu, do đó phải giữ thế thụ động chông chênh" (như ông Trương Nhân Tuấn đã nêu ra) nên trước một đối thủ mạnh như TQ, phía CHXHCNVN đành phải chọn giải pháp nhượng bộ Phi để tìm đồng minh cùng hợp sức tranh đấu với ông khổng lồ TQ. Trái với các nhà lãnh đạo VN, lãnh đạo Phi đã tỏ ra khôn ngoan và biết tận dụng thời cơ để giành phần lợi tối đa cho quốc gia họ. Họ lại còn được lợi thế là có sự thiện cảm của nhiều nước khác do đất nước của họ theo chế độ dân chủ, không vi phạm nhân quyền, và đối xử ác độc với người dân (hèn với giặc, ác vói dân) như chế độ CHXHCNVN. Ngoài ra, đàng sau lưng Phi lại còn thêm cái ô dù to lớn của Mỹ qua Hiệp ước hỗ tương Phi-Mỹ.

    Điều đau xót của phía VN là, trong thực tế, qua 37 năm dưới sự cai trị của ĐCSVN trên toàn quốc, lãnh thổ và lãnh hải của Tổ tiên ta để lại cứ lọt từng mãng lớn vào tay ngoại bang (dù là siêu cường TQ hay là nước nhược tiểu Phi Luật Tân) mà nhân dân ta đành phải bất lực, ngao ngán và hậm hực chấp nhận, vì ĐCSVN đã giành quyền quyết định mọi chuyện vào trong tay họ, hoàn toàn coi rẻ và khinh thường nhân dân VN.

    Tôi hoàn toàn đồng ý với kêu gọi của ông Trương Nhân Tuấn rằng : "Thái độ đúng đắn của các học giả Việt Nam hôm nay là tìm cách lấy lại tố quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, qua việc hợp pháp hóa việc kế thừa lãnh thổ miền Nam từ chính quyền VNCH. Việc này không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động." Tuy nhiên, trái với ông TUẤN, tôi không tin là có học giả (hay người) VN nào lại "yêu dân tộc Phi" đến độ phải từ bỏ quyền lợi của tổ quốc VN mà đi lo cho người ngoài. Những "học giả yêu dân tộc Phi" (như ông TUẤN mĩa mai), theo tôi, có lẽ chỉ YÊU ĐẢNG và làm theo mệnh lệnh của Đảng, hoặc chỉ làm theo công tâm của họ trước sự thật chua chát là giữa hai điều THIỆT HẠI (là mất tất cả TS vào tay TQ, hay mất một phần TS vào tay Phi Luật Tân) họ đành chấp nhận sự thiệt nhại ÍT NHẤT (là liên kết với Phi để cùng nhau bảo vệ lợi ích CHUNG và RIÊNG của Việt Phi). Thế thôi.

    Phản hồi: 

    [quote=Khách Qua Đường][quote= Trương Nhân Tuấn]

    Thái độ đúng đắn của các học giả Việt Nam hôm nay là tìm cách lấy lại tố quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, qua việc hợp pháp hóa việc kế thừa lãnh thổ miền Nam từ chính quyền VNCH. Việc này không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động.

    Đối với tầng lớp học giả thực sự và có lương tâm trí thức, việc nhìn nhận di sản của học giả Việt Nam thế hệ trước và nối tiếp các công trình của họ phải được thể hiện như một trình tự tự nhiên, qua việc dẫn tên và tác phẩm của họ mỗi khi các dữ kiện do họ khám phá được sử dụng lại. Việc chép lại, trích dẫn… các tài liệu nghiên cứu của các học giả VNCH (hay của các học giả quốc tế) mà không ghi nguồn dẫn, như nhiều “công trình” của các “nhà nghiên cứu” Việt Nam hiện nay, là một thái độ đạo văn. Thái độ này phản khoa học và phi trí thức, ngoài ra còn phủ nhận sự liên tục và tính kế thừa của tầng lớp học giả Việt Nam. Đọc lại “Sách trắng” của nhà nước Việt Nam công bố thập niên 80, ta thấy đó nguyên vẹn là “Sách trắng” trước kia của VNCH, bổ túc thêm các nghiên cứu của các học giả VNCH trước 1975. Các “học giả” Việt Nam hiện nay, mỗi lần chép lại là sao chép lẫn nhau, nếu ghi tên thì người sau ghi tên người trước, không bao giờ đặt câu hỏi người trước đã lấy dữ kiện từ đâu? Dữ kiện đâu có rơi xuống từ trên trời? Phải có người bỏ công vào văn khố lục lọi thì mới có nó. Hình thức ghi ơn họ là ghi tên họ đầy đủ khi sử dụng các dữ kiện do họ khám phá ra. Các học giả Việt Nam hôm nay tự nhiên sử dụng, người sau chép lại người trước, lại như thế vài lần, các công trình của các học giả Việt Nam trước 1975 vô tình bị lãng quên. Trong khi chúng là nền tảng của mọi nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
    [/quote]

    Tôi hoàn toàn ĐỒNG Ý với nhận định trên đây của ông Trương Nhân Tuấn. Đúng như ông TUẤN nói, rất nhiều tài liệu của Nhà Nước CHXHCNVN và các "học giả" nước CHXHCNVN viết sau năm 1975 về chủ quyền pháp lý và lịch sử của VN ở Hoàng Sa và Trường Sa đã lặp lại nguyên con nhiều phần nghiên cứu của các học giả Miền Nam thực hiện trước năm 1975 mà không nêu rõ xuất xứ cùng tên tác giả. Cuốn Sách Trắng của nước CHXHCNVN đã lặp lại hầu như trọn vẹn cuốn BẠCH THƯ của VNCH mà không ghi rõ xuất xứ. Đây là một hình thức ĐẠO VĂN có chủ đích là sử dụng công lao của Chính quyên và công dân VNCH nhưng đồng thời muốn xóa sạch mọi vết tích đóng góp của VNCH trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải VN. Đây là một chính sách BÁ ĐẠO và BỈ ỔI đáng khinh bỉ và cần phải được chấm dứt để trả lại CÔNG ĐẠO cho lịch sử. Hơn nữa, đứng về mặt học thuật, các tài liệu nghiên cứu sẽ có giá trị hơn nếu ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ công trình nguyên thủy (original) thay vì che giấu nó do mục đích chính trị bất chính.[/quote]

    Thái độ đúng đắn của các học giả Việt Nam hôm nay là tìm cách lấy lại tố quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, qua việc hợp pháp hóa việc kế thừa lãnh thổ miền Nam từ chính quyền VNCH. Việc này không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động.

    Tôi cũng đồng ý với nhận xét trên vì đây chính cơ sở pháp lý về tính liên tục chủ quyền biển đảo từ VNCH qua CHXHCNVN. Đây là một trong những điểm quan trọng nhất mà tòa án quốc tế về biển đảo chú ý để giải quyết tranh chấp.

    Còn mấy việc kia như "đạo văn", bằng cấp giả, nói dối, thì nhiều quan chức CS vẫn làm hoài mà không bị trừng phạt gì cả, cho nên họ, những đảng viên CSVN, không quan tâm đến "BỈ ỔI đáng khinh bỉ" đâu bác Khách Qua Đường. Không những quan chức CSVN đạo văn mà lan ra đến cả nhiều người khác trong xã hội, đưa đến giáo dục VN xuống cấp

    Phản hồi: 

    [quote=MVM][quote]Từ đó, lý thuyết về đại dương của Hoa Kỳ đã có những thay đổi lớn. Một số chiến lược gia không đồng ý việc Hoa Kỳ tiếp tục đầu tư vào Hàng Không Mẫu Hạm. Các chiến hạm của Hoa Kỳ sau này chỉ chú trọng vào tính nhanh gọn, "tàng hình”, đồng thời được trang bị các loại vũ khí chống radar và công phá các trang bị điện tử của quân địch (như đại bác với đạn từ xung, bom từ xung – bom E) cùng với các hỏa tiễn tinh khôn tự tìm mục đích. Những gì to lớn không phải là "hỏa lực hùng hậu” mà trở thành một yếu điểm. [/quote]

    Vai trò của HKMH vẫn tiếp tục quan trọng, có thể tính năng tấn công bị giảm bớt nhưng phần phòng thủ lại tăng lên. Dù qua kinh nghiệm thực tế, các chiến hạm trở nên được chú trọng hơn về kỹ thuật (nhanh gọn, tàng hình, thiết bị điện tử) để phục vụ tấn công, chúng (và những tàu vận tải, tiếp liệu) cần được bảo vệ vững vàng, trong đó hiệu quả nhất là từ trên không do phi cơ từ HKMH phụ trách.

    HKMH ngày nay bị "hở sườn" nhiều hơn, nhưng có thể được khắc phục bằng cách phòng thủ mạnh nhờ các tàu chiến nhỏ và linh động hơn. Đó xem như là thế "ỷ dốc", dựa lưng nhau để phòng thủ cho nhau: tàu lớn cồng kềnh dùng phi cơ che chở tàu nhỏ, và tàu nhỏ nhờ tính linh động và hỏa lực chính xẫc che chở tàu lớn. Một khi phòng thủ vững chắc thì việc tấn công sẽ nắm phần thắng.

    Phần tấn công không những vào tàu chiến bên địch mà còn vào lãnh thổ của đối phương. Ngoài ra một khi quân lính đổ bộ và chiến đấu trên đất liền cũng phải được yểm trợ bằng hỏa lực từ trên không. Những nhu cầu này phần lớn được cung cấp do phi cơ từ HKMH, trừ khi có nhiều căn cứ trên bộ rải rác khắp nơi trên thế giói (nhưng như thế sẽ rất tốn kém và khó khăn hơn về chính trị/ngoại giao)[/quote]

    Bác MVM nói rất đúng về khả năng và vai trò của Hàng Không Mẫu Hạm hiện nay. Tôi đồng ý với nhận định này.

    Xin mạn phép tác giả và quý vị để được nêu ra một sơ xuất nhỏ của tác giả Trương Nhân Tuấn (và nhiều người khác) về cách dùng chữ "yếu điểm" như trong câu " Những gì to lớn không phải là "hỏa lực hùng hậu” mà trở thành một yếu điểm." Viết YẾU ĐIỂM là đã sử dụng ngữ pháp Hán Việt (thay vì viết ĐIỂM YẾU theo ngữ pháp Việt) cho từ ghép của hai từ "điểm" và "yếu". Và YẾU ĐIỂM (là từ ghép Hán Việt) thực ra có nghĩa là "điểm quan trọng, điểm trọng yếu", chứ không có nghĩa là "điểm yếu" như ông TUẤN muốn diễn đạt. Nếu muốn dùng từ Hán Việt để chỉ điểm yếu thì phải viết là NHƯỢC ĐIỂM ("Nhược có nghĩa là "yếu").

    Phản hồi: 

    [quote= Trương Nhân Tuấn]

    Thái độ đúng đắn của các học giả Việt Nam hôm nay là tìm cách lấy lại tố quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, qua việc hợp pháp hóa việc kế thừa lãnh thổ miền Nam từ chính quyền VNCH. Việc này không thể nói suông mà phải thể hiện bằng hành động.

    Đối với tầng lớp học giả thực sự và có lương tâm trí thức, việc nhìn nhận di sản của học giả Việt Nam thế hệ trước và nối tiếp các công trình của họ phải được thể hiện như một trình tự tự nhiên, qua việc dẫn tên và tác phẩm của họ mỗi khi các dữ kiện do họ khám phá được sử dụng lại. Việc chép lại, trích dẫn… các tài liệu nghiên cứu của các học giả VNCH (hay của các học giả quốc tế) mà không ghi nguồn dẫn, như nhiều “công trình” của các “nhà nghiên cứu” Việt Nam hiện nay, là một thái độ đạo văn. Thái độ này phản khoa học và phi trí thức, ngoài ra còn phủ nhận sự liên tục và tính kế thừa của tầng lớp học giả Việt Nam. Đọc lại “Sách trắng” của nhà nước Việt Nam công bố thập niên 80, ta thấy đó nguyên vẹn là “Sách trắng” trước kia của VNCH, bổ túc thêm các nghiên cứu của các học giả VNCH trước 1975. Các “học giả” Việt Nam hiện nay, mỗi lần chép lại là sao chép lẫn nhau, nếu ghi tên thì người sau ghi tên người trước, không bao giờ đặt câu hỏi người trước đã lấy dữ kiện từ đâu? Dữ kiện đâu có rơi xuống từ trên trời? Phải có người bỏ công vào văn khố lục lọi thì mới có nó. Hình thức ghi ơn họ là ghi tên họ đầy đủ khi sử dụng các dữ kiện do họ khám phá ra. Các học giả Việt Nam hôm nay tự nhiên sử dụng, người sau chép lại người trước, lại như thế vài lần, các công trình của các học giả Việt Nam trước 1975 vô tình bị lãng quên. Trong khi chúng là nền tảng của mọi nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.
    [/quote]

    Tôi hoàn toàn ĐỒNG Ý với nhận định trên đây của ông Trương Nhân Tuấn. Đúng như ông TUẤN nói, rất nhiều tài liệu của Nhà Nước CHXHCNVN và các "học giả" nước CHXHCNVN viết sau năm 1975 về chủ quyền pháp lý và lịch sử của VN ở Hoàng Sa và Trường Sa đã lặp lại nguyên con nhiều phần nghiên cứu của các học giả Miền Nam thực hiện trước năm 1975 mà không nêu rõ xuất xứ cùng tên tác giả. Cuốn Sách Trắng của nước CHXHCNVN đã lặp lại hầu như trọn vẹn cuốn BẠCH THƯ của VNCH mà không ghi rõ xuất xứ. Đây là một hình thức ĐẠO VĂN có chủ đích là sử dụng công lao của Chính quyên và công dân VNCH nhưng đồng thời muốn xóa sạch mọi vết tích đóng góp của VNCH trong việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải VN. Đây là một chính sách BÁ ĐẠO và BỈ ỔI đáng khinh bỉ và cần phải được chấm dứt để trả lại CÔNG ĐẠO cho lịch sử. Hơn nữa, đứng về mặt học thuật, các tài liệu nghiên cứu sẽ có giá trị hơn nếu ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ công trình nguyên thủy (original) thay vì che giấu nó do mục đích chính trị bất chính.

    Phản hồi: 

    [quote]Từ đó, lý thuyết về đại dương của Hoa Kỳ đã có những thay đổi lớn. Một số chiến lược gia không đồng ý việc Hoa Kỳ tiếp tục đầu tư vào Hàng Không Mẫu Hạm. Các chiến hạm của Hoa Kỳ sau này chỉ chú trọng vào tính nhanh gọn, "tàng hình”, đồng thời được trang bị các loại vũ khí chống radar và công phá các trang bị điện tử của quân địch (như đại bác với đạn từ xung, bom từ xung – bom E) cùng với các hỏa tiễn tinh khôn tự tìm mục đích. Những gì to lớn không phải là "hỏa lực hùng hậu” mà trở thành một yếu điểm. [/quote]

    Vai trò của HKMH vẫn tiếp tục quan trọng, có thể tính năng tấn công bị giảm bớt nhưng phần phòng thủ lại tăng lên. Dù qua kinh nghiệm thực tế, các chiến hạm trở nên được chú trọng hơn về kỹ thuật (nhanh gọn, tàng hình, thiết bị điện tử) để phục vụ tấn công, chúng (và những tàu vận tải, tiếp liệu) cần được bảo vệ vững vàng, trong đó hiệu quả nhất là từ trên không do phi cơ từ HKMH phụ trách.

    HKMH ngày nay bị "hở sườn" nhiều hơn, nhưng có thể được khắc phục bằng cách phòng thủ mạnh nhờ các tàu chiến nhỏ và linh động hơn. Đó xem như là thế "ỷ dốc", dựa lưng nhau để phòng thủ cho nhau: tàu lớn cồng kềnh dùng phi cơ che chở tàu nhỏ, và tàu nhỏ nhờ tính linh động và hỏa lực chính xẫc che chở tàu lớn. Một khi phòng thủ vững chắc thì việc tấn công sẽ nắm phần thắng.

    Phần tấn công không những vào tàu chiến bên địch mà còn vào lãnh thổ của đối phương. Ngoài ra một khi quân lính đổ bộ và chiến đấu trên đất liền cũng phải được yểm trợ bằng hỏa lực từ trên không. Những nhu cầu này phần lớn được cung cấp do phi cơ từ HKMH, trừ khi có nhiều căn cứ trên bộ rải rác khắp nơi trên thế giói (nhưng như thế sẽ rất tốn kém và khó khăn hơn về chính trị/ngoại giao)

    Phản hồi: 

    Bác TN Tuấn viết:
    "Đối với tầng lớp học giả thực sự và có lương tâm trí thức, việc nhìn nhận di sản của học giả Việt Nam thế hệ trước và nối tiếp các công trình của họ phải được thể hiện như một trình tự tự nhiên, qua việc dẫn tên và tác phẩm của họ mỗi khi các dữ kiện do họ khám phá được sử dụng lại."

    Bác làm ơn cho tài liệu tham khảo của các thông tin, phân tích và nhận định của bác trong bài viết trên của bác. Cảm ơn bác.