GS Vũ Quốc Thúc: "Việt Nam cần quy chế trung lập để bảo toàn lãnh thổ"

  • Bởi Hồ Gươm
    15/05/2012
    4 phản hồi

    Thanh Phương


    Giáo sư Vũ Quốc Thúc trả lời phỏng vấn RFI ngày 08/03/2012.
    Thanh Phương

    Trong thời gian gần đây, Trung Quốc đã liên tiếp có những hành động nhằm khẳng định hơn nữa chủ quyền của họ trên hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 26/04/2012, chính phủ Trung Quốc thông báo đồng ý với kế hoạch phát triển du lịch và đánh bắt cá trong khu vực Biển Đông của tỉnh Hải Nam. Trong kế hoạch này, có việc xây dựng cầu cảng lớn tại quần đảo Hoàng Sa.

    Trước đó, tại một hội nghị về du lịch ở Hải Nam ngày 24/04/2012, phó tỉnh trưởng tỉnh này, ông Đàm Lực, thông báo là quần đảo Tây Sa (tức là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) sẽ đón khách du lịch trong năm 2012. Một thông tin trên mạng gần đây cho biết là hai máy bay khu trục Trung Quốc ngày 01/05/2012 vừa qua đã xâm phạm không phận Việt Nam tại khu vực bán đảo Cam Ranh và phía bắc tỉnh Ninh Thuận. Tin này chưa được chính thức xác nhận, nhưng được biết là trong tháng Tư vừa qua, khi đoàn đại biểu Đà Nẵng đi thăm Trường Sa, máy bay Trung Quốc đã bay bên trên để đe dọa, tức là coi như đã xâm phạm không phận Việt Nam.

    Ấy là chưa kể sự kiện ngày 23/03/2012, hai tàu của Trung Quốc, mà báo Việt Nam chỉ dám gọi là “tàu nước ngoài”, bị phát hiện hoạt động trái phép ở vùng biển quân sự vịnh Nha Trang. Có điều cho tới nay, đã hơn một tháng, vẫn chưa biết là những chiếc tàu nói trên bị xử lý ra sao.

    Trong bối cảnh đó, ngày 23/04/2012, hải quân Hoa Kỳ và Việt Nam đã mở các cuộc thao diễn chung kéo dài trong năm ngày tại Đà Nẵng với sự tham gia của ba chiến hạm thuộc Đệ thất hạm đội Mỹ. Nhưng trong cùng ngày 23/04/2012, chiếc tàu huấn luyện mang tên Trịnh Hòa của Trung Quốc lại cập bến cảng Sài Gòn để thăm “hữu nghị”.

    Hai sự kiện diễn ra cùng ngày này cho thấy là Hà Nội vẫn như là người đi trên dây giữa hai siêu cường, rất muốn dựa vào Mỹ, nhưng vẫn ngán ngại láng giềng phương Bắc. Đối với giáo sư Vũ Quốc Thúc ở Paris, thế đi dây này không thể kéo dài mãi và để bảo toàn chủ quyền quốc gia, kể cả chủ quyền biển đảo. Việt Nam cần phải chọn một quy chế trung lập “theo công pháp quốc tế”. Điều này có nghĩa là gì? Sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn với giáo sư Vũ Quốc Thúc:

    RFI: Xin kính chào Giáo sư Vũ Quốc Thúc. Trước hết Giáo sư có nhận định như thế nào về những hành động gần đây của Trung Quốc trên Biển Đông?

    Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Những hành động mới đây của Trung Quốc, như kế hoạch đưa du khách đến Hoàng Sa, là nhằm đặt chúng ta trước việc đã rồi. Đó là thủ thuật của những kẻ, khi mà thế giới chưa chú ý đến địa điểm ấy, cứ làm theo ý họ, để sau này mọi người phải chấp nhận những chuyện đã xảy ra. Họ đang tạo nên ấn tượng đất này là đất của họ, mà họ đã nắm chắc rồi, thành ra du khách có thể thăm dễ dàng. Vì vậy ta phải phá cái ấn tượng đó đi. Ít nhất là ta phải tỏ cho thấy rằng đây vẫn là đất của Việt Nam còn đang ở trong vòng tranh chấp.

    Còn về chuyện Trung Cộng đưa tàu chiến đến vùng Trường Sa có thể là để chuẩn bị cho một cuộc chiếm đóng và tất nhiên là họ trù liệu sẽ có xung đột giữa hải quân của họ với hải quân Việt Nam. Đấy cũng có thể là một hành động khiêu khích. Nhưng mà, như ta đã thấy đó, Trung Quốc nếu chỉ đối phó với Việt Nam thì có thể lấn át mình, nhưng họ sợ rút dây động rừng, nhỡ các bạn đồng minh thế giới can thiệp ngăn chận thì sẽ bùng nổ lớn. Thành ra tôi nghĩ đây chỉ là thủ đoạn biểu dương lực lượng, hù doạ.

    Một lý do nữa, mà theo tôi có vẻ đúng hơn, đó là họ đang chuẩn bị hồ sơ, thiết lập những chứng cứ xác định chủ quyền của Trung Quốc trên những đảo đang tranh chấp đó. Rất có thể họ tin rằng rồi đây sẽ phải có những cuộc thương thuyết đa phương và trong cuộc thương thuyết đa phương ấy, họ phải đưa ra những chứng cứ vững chắc. Nếu có đưa vấn đề ra trước một cơ quan tài phán quốc tế, thì ít ra họ có những chứng cớ: đây, ngày đó, tháng đó, chúng tôi đưa tàu chiến đến đó mà không có phản ứng gì của phía Việt Nam cả, như thế thì Việt Nam đã xác nhận quần đảo này là thuộc về Trung Quốc.

    Dù là lý do gì đi nữa thì chúng ta cần phải có phản ứng và nếu cần, phải chứng tỏ rằng mình cũng có hải quân và dám đối đầu, ít nhất phải chứng tỏ sự không sợ hãi của mình, để đề phòng sau này vấn đề được đưa ra bàn cãi ở các hội nghị quốc tế hoặc trước một cơ quan tài phán quốc tế.

    RFI: Thưa Giáo sư, gần đây hải quân Việt Nam đã thao diễn chung với hải quân Mỹ. Phải chăng là Hà Nội muốn dựa hơn nữa vào Mỹ để đối đầu với Trung Quốc?

    Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Việc thao diễn ở Đà Nẵng với sự tham dự của ba tàu chiến của Mỹ quả thật là một dấu hiệu rất tích cực, để cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội muốn hợp tác với Mỹ, coi Mỹ là một đồng minh trong trường hợp xảy ra xung đột giữa hải quân Việt Nam với hải quân Trung Quốc. Đây là điều tôi rất hoan nghênh. Bởi vì mình yếu, nhưng mình đâu có cô đơn. Nếu mình có đồng mình thì đây là lúc phải hợp tác chặt chẽ với đồng minh, trong khi lực lượng hải quân của mình chưa đủ sức đối phó với hải quân Trung Cộng.

    Tuy đối với ta là mạnh thật đấy, nhưng hải quân Trung Quốc đối đầu với hải quân Mỹ thì không khác gì trứng chọi với đá. Vì vậy tôi tin chắc là những kẻ cầm đầu hải quân Trung Quốc chưa dám để xảy ra xung đột với một siêu cường rất mạnh về hải quân như Hoa Kỳ.

    Cuộc thao diễn chung ở Đà Nẵng không chỉ chứng tỏ Hà Nội có thiện chí hợp tác với Hoa Kỳ, mà nó cũng chứng tỏ là Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác với Việt Nam trong trường hợp phải đối đầu với hải quân Trung Quốc. Như thế nó xác nhận sự trở lại của Mỹ ở Đông Nam Á và Biển Đông.

    Nhưng cũng chính vì thế mà chúng ta cần cảnh giác, bởi vì ta không nên quên rằng, nếu ta làm Trung Quốc mất thể diện, thì họ sẽ tìm cách trả đũa. Trong lúc này, Hoa Kỳ và Trung Quốc không nước nào muốn có xung đột. Nhưng nếu có hành động gây hấn của Trung Quốc trên lục địa, thì lúc đó chỉ có một mình ta đối phó với Trung Quốc. Vẫn biết là trong trường hợp đó chúng ta chẳng sợ gì họ, nhưng cũng không quên rằng tình hình bây giờ không giống như vào năm 1979, khi chúng ta phải đối đầu với họ. Lúc đó quân đội họ chưa mạnh như bây giờ. Nhưng cũng không phải vì thế mà phải khoanh tay chấp nhận cái sự đàn áp của Trung Quốc. Nếu cần thì ta vẫn phải chống lại.

    RFI: Thưa Giáo sư, dù có muốn dựa hơn nữa vào Mỹ, thì về mặt lịch sử và chính trị thì Việt Nam vẫn lệ thuộc vào Trung Quốc, nhất là do quan hệ đặc biệt giữa hai đảng Cộng sản. Trung Quốc đang chuẩn bị thay đổi lãnh đạo với Đại hội Đảng cuối năm nay. Đây có phải là thời cơ để Việt Nam thoát được phần nào ảnh hưởng của Trung Quốc?

    Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Nhận định của ông là rất đúng. Đây là thời cơ rất thuận lợi để chúng ta thoát khỏi sự áp chế về mặt ý thức hệ và về mặt tổ chức đảng phái từ năm 1990, khi ở Thành Đô Đảng CS Việt Nam chấp nhận theo đúng đường lối của đàn anh Trung Quốc.

    Phải lợi dụng lúc Trung Quốc đang bối rối, với nhiều chuyện cho thấy là trong lòng chế độ Trung Hoa đang lủng củng, rối ren, như vụ luật sư mù Trần Quang Thanh, hay vụ Bạc Hy Lai ở Trùng Khánh. Những vụ đó chứng tỏ là giữa cấp trung ương với cấp tỉnh có nhiều mâu thuẫn, có những phe phái đang xung đột nhau, tranh giành nhau quyền lợi.

    Những rối ren đó khiến Đảng CS Trung Quốc trong lúc này chưa dám, hay chưa rảnh tay đối phó với Việt Nam. Ngay cả Bắc Triều Tiên Trung Quốc vẫn chưa nắm được. Họ đang lúng túng thì chúng ta phải lợi dụng thời cơ để lấy lại quyền độc lập, để gạt bỏ hai sự ràng buộc về ý thức hệ và cũng như ràng buộc về Hiến pháp. Thời cơ này không kéo dài đâu.

    Nếu ta tưởng rằng có thể chờ đợi tình hình Trung Quốc rối ren hơn nữa, thì điều đó nguy hiểm lắm. Một khi họ đã thỏa hiệp được với nhau trong Đại hội Đảng đó, đã ổn định được tình hình, thì bấy giờ họ sẽ rảnh tay để đối phó với ta. Đảng CS Việt Nam lúc đó có muốn thoát khỏi sự kềm tỏa thì e rằng sẽ rất khó. Thời gian còn lại của chúng ta không nhiều đâu

    RFI: Giáo sư vẫn chủ trương một nước Việt Nam trung lập để không phụ thuộc một ngoại bang nào, nhưng trong bối cảnh Đảng CS Việt Nam vẫn nắm độc quyền thì làm sao có thể đi đến quy chế trung lập đó?

    Giáo sư Vũ Quốc Thúc: Người ra thường hai lẫn lộn chính sách trung lập với quy chế trung lập. Chính sách trung lập là chính sách có tính chất giai đoạn, mà bất cứ chính quyền nào cũng có thể áp dụng trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhà cầm quyền Hà Nội từ nhiều năm nay áp dụng chính sách mà người ta gọi là đi dây giữa hai siêu cường Trung Quốc và Hoa Kỳ. Cái chính sách này là chính sách giai đoạn, nước nào cũng thi hành được. Nhưng không nên lẫn lộn nó với cái mà tôi đề nghị, tức là quy chế trung lập theo quốc tế công pháp. Nó có tính chất lâu dài, nếu không muốn nói là vĩnh viễn.

    Tôi vẫn luôn nêu lên tiền lệ Áo quốc. Áo quốc trước đây bị nhập vào Đức quốc xã. Nhưng sau chiến tranh, Áo quốc đã lấy lại cá tính quốc gia của mình. Nhưng lúc đó bốn cường quốc là Mỹ Anh Pháp và Liên Xô có thể chia nước Áo thành 4 phần, nhưng như thế thì mất sự thống nhất, mà lại không có độc lập.

    Vì vậy, các cường quốc lúc đó phải thỏa hiệp với nhau, không còn coi đó là nơi giao tranh đẫm máu giữa đồng minh Tây phương với Liên Xô và cũng chính vì thế đã để cho nước Áo trung lập. Nhưng cũng còn có sự hiện diện của lực lượng quân sự của hai bên. Trung lập trong vòng 10 năm đã đưa đến việc trả lại toàn vẹn chủ quyền cho nước Áo. Đó là phương tiện dẫn đến sự độc lập hoàn toàn.

    Nước Việt Nam muốn thoát khỏi sự đô hộ gián tiếp của Trung Quốc thì phải trung lập. Trung lập là con đường đi tới độc lập. Nhưng tôi xin nhắc lại: đây là quy chế trung lập theo quốc tế công pháp. Muốn có quy chế trung lập ấy thì phải có một hội nghị quốc tế. Khi ta chấp nhận quy chế trung lập, thì chính nhà cầm quyền Việt Nam phải cam kết không để Việt Nam được dùng làm cứ điểm cho một phe nào để đánh phe kia, chẳng hạn như để Hoa Kỳ làm cứ điểm để đánh Trung Quốc, mà cũng không để cho Trung Quốc dùng Việt Nam như một tiền đồn để ngăn chận Tây Phương.

    Được hưởng quy chế trung lập như thế có nghĩa là ngoại quốc phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của mình, không chỉ trên đất liền, mà cả trên hải phận, trên các quần đảo. Cái sự bảo đảm này coi như là phần đền bù cho việc chúng ta cam kết không đứng về phe nào.

    Nhiều người hoài nghi cái sự bảo đảm quốc tế ấy thì cũng đúng thôi, bởi vì một nước nào cứ hung hăn, nhất định đi xâm lấn nước khác thì nó chẳng nề hà gì. Nhưng mà ít nhất trước khi dùng đến binh, thì ta phải dùng đến lễ. Đằng nào chúng ta cũng phải dùng phương pháp ngoại giao. Mà cho dù có đánh nhau đi nữa, thì cũng phải kết thúc bằng thương lượng, tức là bằng ngoại giao.

    Như vậy, ngay từ đầu chúng ta phải cố vận động trên trường ngoại giao. Hiện thời Việt Nam tham gia nhiều tổ chức quốc tế lắm. Tại sao lại không lợi dụng những diễn đàn quốc tế đó để vận động quốc tế công nhận chúng ta là một nước trung lập vĩnh viễn?

    Cam Bốt ngay từ năm 1992, tuy vẫn thuộc ảnh hưởng Việt Nam, nhưng đã ghi trong Hiến pháp một điều khoản khẳng định Cam Bốt là một nước trung lập. Cam Bốt đã dám làm, thế thì tại sao chúng ta lại cứ sợ đàn anh Trung Quốc? Đằng sau có ẩn tình gì hay không? Tôi xin chính thức nêu vấn đề đó để sau này các nhà viết sử xét thấy đó có phải là một tội nặng với dân tộc hay không?

    Quốc gia Việt Nam đâu có phải chỉ là quyền sở hữu của một đảng? Nên nhớ rằng chính cái đảng đó đã coi mình như là đại diện cho nhân dân mà thôi. Tai sao cứ luôn lẫn lộn Đảng là Nhà nước, Đảng là nhân dân? Cứ nhập nhoạng dựa vào Hiến pháp để nắm độc quyền lãnh đạo, rồi hiểu cái độc quyền lãnh đạo đó một cách trái với tinh thần dân chủ. Người ta có thể lãnh đạo về đường lối, về chính sách, nhưng quyền cai trị thật sự phải là của dân. Trong cuộc tuyển cử nào, nếu thật sự Đảng CS Việt Nam được lòng dân, thì vẫn nắm được đa số.

    Nhưng không phải nắm được đa số là nắm độc quyền lãnh đạo. Tinh thần dân chủ có nghĩa là các tổ chức, các hội đoàn, các tôn giáo, nói chung là các tổ chức của nhân dân, đều ngang hàng nhau. Nếu không chỉ là vỏ dân chủ thôi. Nếu chúng ta có can đảm đi đến độc lập thật sự, trung lập thật sự, thì cũng phải có can đảm gạt bỏ những ảo tưởng được xây dựng nên bởi danh từ đã bị lạm dụng đó.

    RFI: Xin cám ơn Giáo sư Vũ Quốc Thúc.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Trong thời đại thế giới phẳng ngày nay, lại ở gần kẻ tham lam như Tàu thì rất khó trung lập thực sự. Việc đi dây cũng có tác dụng một thời nhưng nay sắp hết cái thời ấy rồi.

    Theo nghiên cứu của tôi. Để bảo vệ được bờ cõi. Bên cạnh việc tham gia ASEAN, tham gia WTO, tham gia liên minh khu vực TBD do Mỹ vừa khởi xướng, nên đặt rõ hai vấn đề mang tính chiến lược về liên kết xa và gần như sau:
    1.Gần: Xúc tiến cùng Nhật Bản, Ấn Độ và có thể cả Lào, Thái, Miến thành lập Liên minh phát triển kinh tế - Bảo đảm tự do hàng hải và giao thương - Bảo vệ toàn vẹn chủ quyền phần lãnh thổ đã chắc chắn rõ ràng. Như thế:
    - Tuyến giao thông Đông Tây (có thể khởi đầu bằng xe lửa một ray chở người và hàng nhẹ) qua VN, Lào, Thái, Miến sẽ nhanh chóng hình thành. Nhờ vậy, hành lang tự do hàng hải sẽ được thiết lập ở Biển Đông và sẽ được nhiều nước ủng hộ. VN thoát thế kềm kẹp từ phía đông.
    - VN không lo dính líu vào các tranh chấp Xakhalin (Nhật -Nga), Cashmia (Ấn-Trung), Predvihia (Miên-Thái). Ngược lại các nước kia cũng không ngại phải dính vào tranh chấp đảo giữa VN và TQ. Tuy nhiên, Tàu không thể dám động binh ở vùng biên giới phía bắc hay xâm phạm đến vùng nội thủy của VN, cùng lắm họ chỉ gây rối tác oai tác quái vùng biển đảo xa khơi mà thôi.
    - Việc VN xuống nước chỉ thừa nhận quyền lãnh hải 12 hải lý từ viền các mép đảo của quần đảo TS và HS là một nước đi hay, nên tiếp tục nước đi này. Cùng với đó, nên khẩn trương cùng các nước ASEAN vạch ra vùng tự do an toàn giao thương hàng hải ở giữa HS và Hải Nam, giữa TS và HS, giữa vùng HS-TS và vùng lãnh hải VN, thậm chí có thể chấp nhận lãnh hải hẹp lại ở một số vị trí cần thiết để tạo ra vùng tự do hàng hải quốc tế. Cái này sẽ làm "lưỡi bò" bị cắt nát.
    2. Xa: Tương lai một vài chục năm sắp tới, Châu Âu (gồm cả Nga) và Mỹ sẽ sát cánh bên lực lượng dân chủ tiến bộ VN và có vai trò như Tàu với cộng sản VN hồi thế kỷ 20. Ấn Độ sẽ bên VN như Liên Xô trước kia. Cho nên, nhả Tàu và thắt chặt quan hệ với Âu, Ấn, Nhật, Nga, Mỹ là hướng đi hợp thời đại và chắc chắn sẽ giúp VN hùng cường về kinh tế chính trị ngoại giao như đã từng thắng lớn trong các cuộc chiến.

    Dĩ nhiên ý kiến lý thuyết của chuyên gia thường có lý và hấp dẫn. Nhưng cũng cần xem xét lại việc thi hành trong thực tế, một cách là nhìn quanh các nước bạn xem như thế nào. Dưới đây tôi chỉ nêu vài ý thôi, chi tiết cần kiểm lại vì lâu quá nên không nhớ rõ:

    Nước Áo có nền trung lập vững mạnh phần lớn nhờ họ hàm chứa nội lực về con người lẫn vật chất. Hơn nữa các quốc gia bao quanh có xã hội văn minh, dân chủ, và chính quyền biết tôn trọng công pháp quốc tế. Hình như Thụy Sĩ cũng trung lập từ trước Thế chiến II nữa kìa (do chính sách hay quy chế?)

    Hai nước Lào và Cam Bốt cũng ở vị thế trung lập (do chính sách hay quy chế?) sau khi người Pháp rút đi năm 1954. Nhưng thực tế trong thời chiến tranh VN, Lào vẫn không thoát khỏi chiến sự. Còn Cam Bốt thì ai cũng biết về hâu quả dẫn đến chế độ diệt chủng Polpot (và thời hậu Polpot cũng tiếp tục trung lập).

    Cho nên phải cẩn trọng, cũng môt thứ ấy nhưng áp dụng nơi khác rất tốt. Còn rước về cho mình (rồi còn biến chế, sáng tạo thêm) thì e rằng kết quả chẳng giống ai!

    Thật ra tôi nghĩ chọn cái thế trung lập (chính sách) là một thái độ thiếu ngay thẳng. Ví dụ Thụy Sĩ đã từng dùng thế ấy đứng giữa các phe để thủ lợi, gần như là "moi bị thóc, móc bị gạo" :D. Hay các ngân hàng TS "trung lập" nhận giữ tiền của cho mọi ai, kể cả kẻ xấu tham nhũng, buôn lậu (tuy nhiên khuynh hướng này giảm nhiều do áp lực của quốc tế).

    Ở Châu Á, hiện nay xu thế là phần lớn các nước đang liên minh với nhau đề phòng đà bành trướng của TQ. Dĩ nhiên nếu VN đi theo TQ sẽ là điều bất hạnh cho dân tộc vì TQ sẽ nuốt chửng không sớm thì muộn. Nhưng trường hợp VN xé lẻ, chọn con đường trung lập (chính sách) thì các nước chung quanh sẽ nghĩ gì và đối đãi với VN ra sao? Còn cách VN được trung lập hóa do thỏa thuận quốc tế (định chế) có khả thi không trong khi xu hướng là lưỡng cực? Đó là chưa nói đến sư hiệu quả của sự trung lập như trường hợp Lào và Cam Bốt lúc trước.

    Xin để người đọc rút ra kết luận của bài phản hồi này, và có đồng ý hay không là chuyện khác.

    Đồng ý là đảng CSVN (ĐCSVN) muốn kết thân hơn với Mỹ, đồng thời không dám làm mất lòng Trung Quốc. Thật ra là ĐCSVN muốn "đi dây giữa hai siêu cường Hoa Kỳ và Trung Quốc". Trong hoàn cảnh độc đảng, độc tài toàn trị của ĐCSVN thì chỉ có thể theo chính sách nầy, nhưng chính sách nầy chẳng đi đến đâu vì lẽ dĩ nhiên là cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều nhìn thấy rõ chính sách "thấu cáy" nầy nên chẳng dại gì tiến sâu hơn.

    Điều khó khăn, cản trở Việt Nam làm đồng minh thật sự của Mỹ là ĐCSVN. Mỹ và thế giới tự do không bao giờ tin tưởng ĐCSVN. Mỹ (chính quyền + Quốc Hội + dân chúng) vẫn coi nước CHXHCNVN là một nước cộng sản (không phải là một nước tư do, dân chủ pháp trị) và Luật Pháp Mỹ (Quốc Hội) không cho phép chính quyền Mỹ làm đồng minh, bán vũ khí với các nước cộng sản + khủng bố.

    ĐCSVN biết rất rõ là "đi với Mỹ mất Đảng, đi với Tàu mất Nước". Tôi cũng nghĩ là ĐCSVN không đến nỗi muốn mất nước, nhưng dứt khoát là không muốn mất Đảng. Vấn đề là nếu tình trạng nầy kéo dài thì Việt Nam chắc chắn sẽ mất biển, đảo, mất thêm đất và cuối cùng sẽ bị Bắc thuộc một lần nữa, mà nếu bị Bắc thuộc lần nầy thì việc giành lại độc lập là việc vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là giống như tình trạng của Tây Tạng. Thế cho nên việc cấp bách là toàn dân tộc Việt Nam phải đứng ra làm việc nầy.

    Để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của tổ tiên ta để lại thì nội lực là chính (sức mạnh quân sư + đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước), ngoại lực (Mỹ) là hỗ trợ (nếu được Mỹ tin tưởng đầu tư kinh tế to lớn). Mỹ chỉ là phương tiện để Việt Nam đạt mục tiêu đó càng nhanh càng tốt (nhưng đừng dại khiêu khích, liên minh quân sự, chống đối Trung Quốc ra mặt như thời ông Lê Duẩn). Một nước Việt Nam tự do, dân chủ nhân bản pháp trị, đa nguyên đa đảng (ĐCSVN cũng là một đảng ở hậu trường không nắm quyền lực), đồng thời theo quy chế trung lập (nhu GS Vũ Quốc Thúc trình bày trong bài chủ nầy) sẽ tháo gỡ được các tảng đá cản trở đó và là chất súc tác để có và đưa nội lực đó đạt đến mục tiêu nhanh.