Việt - Mỹ: Đi tìm điểm tựa của tương lai

  • Bởi Hồ Gươm
    05/05/2012
    14 phản hồi

    Nguyễn Chính Tâm

    Trong bài toán biển Đông, Việt - Mỹ chia sẽ với nhau ba góc nhìn.

    Lựa chọn liên minh

    Quan hệ Việt – Mỹ đang trong giai đoạn mà yếu tố lợi ích đang đóng vai trò tiên quyết. Mỹ là một đối tác quan trọng với Việt Nam bởi những tích cực mà hợp tác kinh tế, thương mại, giáo dục, chuyển giao công nghệ do Mỹ đem lại. Ngược lại, Việt Nam càng ngày càng trở nên quan trọng hơn với Mỹ, xét trên bàn cờ địa chính trị chung của khu vực châu Á. Riêng với chính quyền Obama, mở rộng hợp tác với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, còn thể hiện thuyết sách ngoại giao mới tập trung vào ba ưu tiên chuyển đổi, trong đó ưu tiên chuyển đổi địa dư, từ châu Âu sang châu Á với sự trở lại của nước Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương, nằm ở vị trí đầu tiên.

    Trong bài toán biển Đông, Việt - Mỹ chia sẻ với nhau ba góc nhìn. Thứ nhất, các xung đột trong khu vực nên giải quyết thông qua biện pháp ngoại giao và hòa bình, tránh đụng chạm xung đột vũ trang hay lạm dụng sự bất đối xứng trong tương quan quân sự. Điều này đã được các quan chức cấp cao của hai bên khẳng định nhiều lần trong thời gian gần đây tại nhiều diễn đàn đa phương. Điểm thứ hai thể hiện qua việc hai nước đang cùng tìm một vị trí pháp lý chung trong việc quản lý hàng hải. Bản đồ đường lưỡi bò 9 điểm đứt khúc từ phía Bắc Kinh (nếu được chấp nhận) đồng nghĩa với việc xây dựng một hàng rào giới hạn quyền tự do lưu thông hàng hải của Mỹ. Với Việt Nam là dấu chấm hỏi cho việc bảo vệ chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xa hơn, là lựa chọn chiến lược, bởi vì "luật chơi" trong một trật tự với một siêu cường không phải muốn chỉnh sửa thế nào cũng được. Nhất là qua cách thức đề cao nhiều sức mạnh về "cơ bắp".

    Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng Tổng thống Mỹ Barack Obama và các nhà lãnh đạo TPP tại APEC 19

    Cùng lợi ích thì thuận chiều: liệu thời gian đã chính muồi để bàn về sự hình thành cùa mối quan hệ - thậm chí liên minh chiến lược Việt - Mỹ hay không? Trả lời phỏng vấn báo chí, thứ trưởng bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã nhiều lần khẳng định chính sách “ba không” của Việt Nam: “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”. Trả lời nhậm chức vào tuần trước tân đại sức Mỹ tại Việt Nam David Bruce Shear cũng để mở khả năng là nhà cung cấp thiết bị quân sự cho Việt Nam, đặc biệt là những vũ khí mang tính sát thương. Những động thái này cho thấy một “định chế cứng” ở dạng liên minh quân sự, theo đó, các nước ràng buộc với nhau bằng một cam kết bảo vệ an ninh lẫn nhau (có thể chống lại một đe doạ đến từ phe thứ ba) hay cung cấp vũ khí để hổ trợ chưa đạt được một đồng thuận đủ mạnh từ hai phía. Một “định chế mềm”, tuy vậy, vẫn có thể khả thi, thể hiện qua ba kênh chính.

    Ba điểm tựa của thì hiện tại

    Đầu tiên là qua kênh kinh tế. Một Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn có nằm trong lợi ích của Mỹ hay không? Các nhà chiến lược theo trường phái duy thực sẽ trả lời có, vì dưới góc nhìn của họ không có phương thức nào tốt hơn để kiềm chế sự trỗi dậy của một nước đang lên bằng cách thúc đẩy sức mạnh của các nước láng giềng khác trong vùng. Cân bằng bên ngòai (offshore balancing) mang ý nghĩa tạo ra một khung bó buộc hành động của đối thủ dựa trên trọng lực của các nước xung quanh, mà không cần tham gia đối đầu trực tiếp. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, hưởng lợi trực tiếp của lựa chọn này trên hết là kinh tế. Kế hoạch Marshall tại châu Âu hay hổ trợ tái thiết Nhật Bản những năm sau thế chiến II cùng theo đuổi kịch bản tưong tự. Thặng dư trong thương mại, chuyển giao nhanh công nghệ, tăng tốc quá trình phát triển, để mạnh và để trở thành một lực lượng đóng vai trò chiến lược. Việc Vn liên tục nhập siêu với Mỹ trong những năm gần đây thể hiện xu thế đó. “Hiệp định Thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (Trans – Pacific Partnership Trade Agreement – TPP)” hiện đàm phán tới vòng thứ sáu, cũng có thể là một lực đẩy mới. Sáng kiến thương mại tự do được Mỹ khởi xướng gần đây tiếp tục sẽ gắn Việt Nam vào dòng thác thương mại đa phương toàn cầu, thiết lập một liên minh ngoại thương mà tầm hoạt động của nó là xuyên hai châu lục. Xét về mặt địa chính trị, ý nghĩa thứ hai có thể vượt qua những con số thông kế, không chỉ là một kế hoạch tự do thương mại, mà còn là “một dự án chính trị” nhằm thiết chế hoá một môi trường khu vực ổn định.

    Kênh thứ hai là ngọai giao. Lĩnh vực dường như nhạy cảm hơn, vì gắn liền đến nhiều yếu tố khách quan khác. Năm 2010, trước động thái có vẻ "vượt rào“ từ phía Bắc Kinh, các nước Asean mở cờ trong bụng tại hội nghị An ninh khu vực vùng ARF, khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton khẳng định “Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia của mình đối với vấn đề tự do hải hành, tự do tiếp cận các các vùng biển chung của Châu Á cũng như tôn trọng luật lệ quốc tế về biển Ðông”. Năm 2011, không khí bớt căng thẳng hơn, như vẫn theo chiều hướng cũ, khi Mỹ và Philippines nêu vấn đề cần đưa những căng thẳng hiện tại xung quanh vấn đề tranh chấp ở Biển Đông vào bàn đàm luận tại ARF. Mức độ "liên minh" giữa Mỹ và Asean có thể tiếp tục gắn kết hơn trên bình diện hợp tác đa phương, nếu vị trí của Washington được tái khẳng định trong lộ trình hướng tới đồng chung Đông Á (East Asian Community – EAC). Cho đến nay nước Mỹ (cùng với Nga) còn bị giới hạn với tư cách là quan sát viên. Đây là một diễn đàn quan trọng, mà thông qua đó - nếu được chấp thuận bằng lá phiếu của Asean - sẽ "định chế" vai trò và trách nhiệm của Mỹ vào các hồ sơ an ninh chung của toàn vùng.

    Nước yếu và nước mạnh bất tương quan về lực, vì thế không tương đồng với nhau về cách thức giải quyết giữa sức mạnh và thể chế. Nước mạnh dùng luật để xây dựng trật tự có lợi, ngược lại phần nào chấp nhận hạn chế hành vi của mình trong các quy phạm của pháp lý - một mặt để đề phòng khi sức mạnh mình bị suy giảm, một mặt hạn chế các phí tổn “hành động” nếu trong mọi trường hợp đều phải tiến hành giải pháp quân sự. Nước yếu chấp nhận luật pháp, ngược lại, theo đuổi bốn mục đích. Thứ nhất là thể chế tạo dựng diễn đàn để bày tỏ quan điểm. Thứ hai gắn kết tính chính đáng cho các hành xử của mình nếu nước lớn đơn phương hủy bỏ luật chơi. Thứ ba, tạo cơ sở tiên đoán (hoặc phần nào) hạn chế khung hành động của nước mạnh hơn. Cuối cùng, định chế không phải là phương thức thần kỳ để giải quyết tất cả vấn đề, nhưng với nước nhỏ đó là một con đường tối thiểu để đảm bảo rằng các vấn đề đang còn mâu thuẫn được giải quyết pháp chế và chuẩn tắc, chứ không phải thế yếu thông qua tương quan máy bay, tàu chiến. Phân tích thế cờ tại Biển Đông chỉ ra điểm mấu chốt không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa nước mạnh và nước yếu, nước lớn và nước nhỏ, mà được định hình bởi nhiều bên, phân tầng theo nhiều góc độ. Mỹ và Vn gặp nhau ở điểm là hai bên đều đang trong thế cần xài luật để tìm hướng giải quyết. Hình thành một liên minh "pháp lý" là điểm tiệm cận gần nhất của góc nhìn này, trong đó hai việc cần nâng làm ưu tiên: (i) thống nhất một số điểm còn tranh cãi trong Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) về khu vực đặc quyền kinh tế và (ii) kêu gọi Mỹ đứng sau hậu thuẫn tiến trình đi đến một hiệp ước mang tính ràng buộc pháp lý hơn tại biển Đông giữa các đối tác liên quan.

    “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng quả đất lên”, câu nói đã trở thành bất hữu của Archimedes. Nay với ba điểm tựa tiềm năng trong quan hệ Việt - Mỹ chúng ta sẽ "nhấc bổng" được những gì? Bài toán sắp tới chắc chắn sẽ nằm ở việc xây dựng những điểm tựa này tới đâu thông qua quá trình xúc tiến các định chế hoá. Một thách thức vừa của cả chính phủ, vừa của nhân dân hai quốc gia để đưa quan hệ Việt – Mỹ lên một tầm cao mới.

    Nguyễn Chính Tâm

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    14 phản hồi

    Quả thực trên website của whitehouse.gov (tiếng Anh) và trên website nguoi-viêt.com có đăng lời nói của TT Mỹ Barack Obama: “we must not forget others like blogger Dieu Cay” (chúng ta không được quên những người như blogger Điếu Cầy) khi lên tiếng trong Ngày Quốc Tế Tự Do Báo Chí (World Press Freedom Day).

    Ngoài ra còn có tin:

    SÀI GÒN (NV) -Tòa án thành phố Sài Gòn gửi giấy mời vào buổi sáng ngày 4 tháng 5 báo phiên tòa sẽ xử 3 bloggers Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần và AnhBaSaigon sẽ diễn ra vào ngày 15 tháng 5, 2012, nhưng đến chiều cùng ngày thì gọi điện thoại nói phiên tòa bị hoãn lại.

    Tổng thống Barack Obama nhắc đến Điếu Cày

    Tôi đọc tin nhưng chưa có được văn bản bài nói của Tổng thống Barack Obama nhân ngày Báo chí tự do (ngày 3 tháng Năm) trong đó có nhắc đến Điếu Cày là một trong ba người ông lưu ý.
    Đối xử với những người biểu tình Lòng Yêu Nước là hòn đá thử vàng cho thái độ của nhà cầm quyền và là bước đầu giải phóng cho ý chí, sức mạnh Dân Tộc!

    HongLac viết:

    Tôi thí dụ như thế nầy: Trung Quốc vào khu biển đang tranh chấp với Philippines, đe doạ và khiêu khích Philippines quá mức làm hải quân Philippines nổ súng trước vào tàu chiến Trung Quốc, Trung Quốc lấy cớ tự vệ, tiêu diệt toàn bộ hải quân Philippines rồi rút đi thì Mỹ sẽ làm gì? (Nếu Trung Quốc ở lại và chiếm đóng nhiều đảo mới của Philippines thì là chuyện khác). Đó là trường hơp của Philippines, môt đồng minh của Mỹ.

    Hiện tại theo tôi nghĩ thì Hoa Kỳ đang giăng bẫy Bắc Kinh , giả vờ chậm chạp và né tránh để Bắc Kinh chủ quan , hiện diện đông đủ trong biển thuộc chủ quyền của Philippines . Hoa Kỳ thưa biết là với tiềm năng hiện tại, Philippines một mình không đủ sức chịu nổi sự "đánh trả" của TQ nếu Philippins nổ súng tấn công phương tiện và con người cua TQ trước . Nhưng Hoa Kỳ thong thả để TQ sa lầy và bây giờ TQ đã sa lầy, càng ngày dân TQ và thế giới đang biết TQ đang thực hiện nhiệm vụ của mình tại nơi tranh chấp mà TQ lâu nay tuyên bố thuộc TQ trong khu lưỡi bò, khi dư luận đã biết , Hoa Kỳ với tư cách bảo vệ đồng minh trước mọi đe dọa sẽ chĩa toàn bộ hỏa tiễn vào Bắc Kinh, mà lúc đó Bắc Kinh tuy có tên lửa hành trình 5-7 ngàn KM cũng không dám tuyên chiến vì bản tính của độc tài lãnh đạo đẻ ra hàng loạt quan chức tham lam hưởng thụ , ham sống , sợ chết chứ không phải đội ngũ lãnh đạo xả thân vì việc nước . Lúc đó , trước thế trận tai quái như vậy thì TQ chỉ còn cách ngoan ngoãn để rút khỏi nơi tranh chấp và cả cồng đồng thế giới sẽ hiểu luôn là TQ không có chủ quyền vùng hình lưỡi bò . Việc Philippines sẽ đưa đơn ra tòa QT có chăng chỉ là thế giả nhu cho TQ cứ lấn để sa lầy càng nặng. Còn với VN thì với chế độ hiện tại , sẽ không có " đối tác chiến lược " nào chĩa hỏa tiễn vào TQ để dọa lại TQ khi TQ có hành vi tương tự như đang xảy ra ở khu biển đảo Philippines .

    Thể chế, tầm văn hóa và quan hệ quốc gia

    *
    Vì cũng (theo thói „học vẹt“ như có quý vị phong tặng) muốn biết cụ thể câu nói nổi tiếng mà bác Hồng Lạc ghi, xin bổ xung nguồn tìm được:
    Link: http://www.freedompartyuk.net/palm.html
    Dẫn:
    It is a narrow policy to suppose that this country or that is to be marked out as the eternal ally or the perpetual enemy of England. We have no eternal allies and no perpetual enemies - our interests are eternal and those interests it is our duty to follow.
    (Tìm được từ ngày 12-03-21)
    Ta chơi với ai thì cũng thế: Phải có sự tương đồng nào đó về nhận thức (“tầm văn hóa”, nói cho oách) thì mới trao đổi ý kiến và làm ăn chí cốt được. Cho nên vấn đề thể chế là rất quan trọng trong quan hệ quốc tế. Việc tính toán quyền lợi quốc gia tất nhiên phải được đặt lên trước. Tiếc rằng lãnh đạo đảng CSVN không được như thế.
    Tại hội nghị San Francisco (Cựu-kim-sơn), bộ trưởng ngoại giao Nga Molotov đề xuất trao Hoàng Sa (và cả Trường Sa?) cho Tàu là đồng minh chí cốt của họ lúc đó (và đồng minh lớn hiện nay trong vai trò chống “bá quyền” Mỹ).

    *
    Nước Mỹ theo chế độ dân chủ thì chủ trương, đường lối chính trị phải được quyết định theo ý nguyện và quyền lợi của người dân. Họ công khai nỗ lực ủng hộ những người đấu tranh cho dân chủ hóa ở VN cũng thể hiện theo hướng đó. Nhìn trở lại thì thấy Mỹ không ủng hộ VNCH cũng có lý do là chính quyền này, lúc đó đã trở thành tham nhũng và bất lực.
    Tôi đồng ý với 2 ý của các bác:
    . Người Tàu không ngu. – Khi tinh thần dân tộc ở Việt Nam được thể hiện qua làn sóng biểu tình chống Tàu thành 11 cuộc xuống đường mùa Hè 2011, Tàu đã triệu gấp chóp bu VN sang để “uốn nắn”.
    . Việt Nam chỉ có tự lực, tự cường, tự giải quyết việc của mình.
    Sức mạnh quân sự thể hiện sức mạnh kinh tế quốc gia nhưng cũng là kết quả của đồng thuận dân tộc. Nước nào cũng phải biết củng cố sức mạnh của mình. Cách ứng xử của VN vừa qua có vẻ được ca ngợi là “thông minh” kiểu “nín thở chờ thời”; Nhưng tôi e là sẽ “nín thở lặn luôn” vì cái điều cốt lõi là tin, dựa vào và vì Dân thì cứ ngơ ngơ giả điếc!
    Bắc Triều Tiên nhìn rõ vấn đề nên nỗ lực (đến mức bất chấp) để có vũ khí hạt nhân. VN xuất phát và tiềm lực không thua ông bạn này, nhưng làm thế nào thì cần coi xem thêm và suy ngẫm ...

    *
    Thực tình thì ngày nào mình cũng lướt mạng để xem Biển Đông thế nào. Đầu năm có ghi cảm nhận (hứng khởi nhận từ tinh thần “Xuống đường” mùa Hè 2011 chăng), xin ghi lại để chia sẻ:
    ...
    Trường Sơn trụ vững, Biển Đông vẹn toàn;
    Đứng nơi đầu sóng kiên cường,
    Bởi trên đất hiểm, biết nương Lòng Người.

    “Lòng Người” là tinh thần Dân tộc, cũng là thể chế Dân chủ vậy.

    Thân mến.

    Đối tác chiến lược viết:
    Lựa chọn số 1 thì chắc chắn không nên vì một khi "công nhận tạm thời của Trung Quốc" thì coi như mất hẳn về mặt pháp lý quốc tế! Phải luôn khẳng định trong nước và trước quốc tế, đó là biển đảo thuộc chủ quyền VN, đang tranh chấp, sẵn sàng thảo luận đa phương và ra trước tòa án quốc tế.

    Trung Quốc nếu sợ TÒA ÁN QT thì họ không dại gì đầu tư , phát triển và cố chiếm như lâu nay để sau này TQ chấp nhận trả lại cho các nước muốn đòi . Họ đang làm các việc mà họ tin rằng không có quyết định nào của bất cứ ai làm họ thay đổi tham vọng và như vậy chỉ có tạo dựng lực lượng vừa đánh , vừa đàm như lựa chọn 2 . Đời này phải quyết tâm như vậy thì đỡi sau mới kế thừa được , còn ngược lại đời này thỏa hiệp để TQ lấn sâu rồi trao cho đời sau gỡ lại thì đời này rất có tội với các đỡi sau .

    Đối tác chiến lược viết:
    Trở thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ là một điều nên đi tới trong tương lai, vì nếu đứng ngòai thì khó giữ được biển Đông. Một khi Trung Quốc khống chế biển Đông, vùng biển Việt Nam, thì quá trễ để trở tay vì lúc đó nhóm thân Trung Quốc trong đảng CSVN sẽ mạnh và theo hẳn Trung Quốc.

    Muốn trở thành đối tác chiến lược được Hoa Kỳ coi trọng, Việt Nam phải tỏ ra là một nước đáng tin cậy, không độc tài, đủ sức mạnh kinh tế, xã hội. Trước hết trở thành đối tác chiến lược với Hoa Kỳ về kinh tế, thương mại, giáo dục, truyền thông mà chưa cần ký liên minh quân sự

    Cứ coi cách ứng xử với người quen của mình chung quanh thì hiểu. Có người mình coi trọng, có người tuy giao tiếp vì cần nhưng mình coi thường, ...

    Việt Nam hiện tại có nhiều văn bản coi các cường quốc là đối tác chiến lược , nhưng giá trị của nó không có vì nó quá nhàm và với kiểu cách nói 1 đàng làm một nẻo thì không bao giờ có điểm tựa chắc chắn. Mới mục tiêu sẵn sàng phấn đấu hy sinh cho lý tưởng CS mà muốn các cường quốc thân Hoa Kỳ coi Việt Nam là đối tác chiến lược thực sự thì không bao giờ có . Nếu có hiện tượng hợp tác thì đó chỉ là hiện tượng lợi dụng để tiếp cận và tìm cách triệt tiêu, tạo chế độ mới theo hướng có lợi cho họ . Ví dụ VN hiện tại coi TQ cũng là đối tác chiến lược thì các đối tác chiến lược khác không nhằm nhò điều gì hơn. Khả năng bắt cá 2 tay , 2 chân sẽ dẫn đến kết quả không có gì .

    Xin trao đổi với bác PVĐ một lần nữa thôi. Tôi làm việc, nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nên về chính trị, chiến lược thì chỉ như “người mù sờ voi” thôi.

    Đừng đánh giá thấp Trung Quốc về mặt chiến lược và sự khôn ngoan. Những gì bác, tôi, đảng CSVN muốn và có thể nói là ngay cả Mỹ muốn thì tôi nghĩ Trung Quốc đều biết cả. Thế nên Trung Quốc giữ quyền lợi của Mỹ với Trung Quốc luôn luôn cao hơn quyền lợi của Mỹ với Việt Nam.

    Thú thật tôi chưa đọc hết bài chủ nầy. Khi tôi thấy tựa tề bài chủ nầy là “Viêt - Mỹ: Đi tìm điểm tưa của tương lai” do tác giả Nguyễn Chính Tâm viết và đăng trên VietNamNet thì tôi có thể đoán tác giả muốn: Đảng CSVN tìm Mỹ làm điểm tựa tương lai? Và dường như bác PVĐ cũng nghĩ và muốn như thế?

    Tôi không nhớ rõ ai nói câu nầy (dường như là Lord Palmerston): Người Mỹ không có đồng minh vỉnh cữu, chỉ có lợi lộc vỉnh cữu (Americans have no permanent alliances, only permanent interests). Đảng CSVN không bao giờ là “đối tác chiến lược” lâu dài của Mỹ chứ nói gì đến đồng minh (những trở ngại mà tôi đã nói trong ý kiến trước). Mà ngay cả đồng minh của Mỹ như Philippines họ cũng biết mà không quá ỷ lại vào Mỹ.

    Tôi thí dụ như thế nầy: Trung Quốc vào khu biển đang tranh chấp với Philippines, đe doạ và khiêu khích Philippines quá mức làm hải quân Philippines nổ súng trước vào tàu chiến Trung Quốc, Trung Quốc lấy cớ tự vệ, tiêu diệt toàn bộ hải quân Philippines rồi rút đi thì Mỹ sẽ làm gì? (Nếu Trung Quốc ở lại và chiếm đóng nhiều đảo mới của Philippines thì là chuyện khác). Đó là trường hơp của Philippines, môt đồng minh của Mỹ. Còn với Việt Nam bây giờ thì như tôi nói trong ý kiến trước:

    Cũng theo tôi thấy, dù sau nầy Mỹ có hơp tác sâu rộng hơn với ĐCS VN đi nữa. Nếu Trung Quốc, bằng cách nào đó bảo đảm với Mỹ là luôn luôn tuân thủ để Mỹ (và thế giới) hoàn toàn tự do lưu thông trên toàn bộ Biển Đông và chia sẻ quyền lợi với Mỹ thì khi Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ những hòn đảo còn lại của Việt Nam trong quần đảo Trường Sa thì Mỹ cũng không (dại gì) can thiệp quân sự.

    Mỹ không bao giờ lấy máu của họ để bảo vệ Việt Nam, và cũng không bao giờ lấy máu của họ để giúp Việt Nam lấy lại đất, đảo đã mất về tay Trung Quốc. Trung Quốc đủ khôn để luôn luôn giữ quyền lợi của Mỹ với họ cao hơn nhiều quyền lợi của Mỹ với Việt Nam.

    Việc gì sẽ xảy ra nếu Mỹ và các đồng minh của Mỹ trên thế giới không mua hàng của Trung Quốc nữa vì đã có nguồn cung cấp từ các nước đồng minh khác. Kinh tế của Trung Quốc có thể phát triển thêm chút nữa chớ không thể qua mặt được Mỹ về bất cứ lãnh vực nào (kinh tê, quân sự, khoa học kỹ thuật); Và xin nhắc lại điều quan trọng: Đảng CSVN không bao giờ là “đối tác chiến lược” lâu dài của Mỹ. Còn nhân dân Việt Nam nên làm gì?, xin bác xem lại ý kiến trước của tôi. {Bây giờ gần 2 giờ sáng Thứ Bảy ở bên nầy, thức khuya quá, phải đi ngủ : - )}

    PVĐ viết:
    HongLac viết:
    Đối tượng của Mỹ là những thế lực (kinh tế + quân sự) nào có thể đe doạ quyền lợi của họ. Rõ ràng hiện nay đó là Trung Quốc. Ngày nào Mỹ thấy rõ Trung Quốc không còn là thế lực đe doạ quyền lợi của họ (do đã thông đồng chia chác quyền lợi bằng cách nào đó) thì họ không cần "đối tác chiến lược" (ĐCS VN) nữa.

    Khi "Rõ ràng(Đối tượng) hiện nay đó là Trung Quốc" thì Việt Nam luôn được chú ý để thành đối tác chiến lược có lợi cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có 1 thói quen không từ chối đối tác, nhưng với các đối tác có chế độ phi dân chủ, do độc tài lãnh đạo thì Hoa Kỳ chủ động can thiệp và sử dụng như tay sai, còn với các đối tác có nền dân chủ tương đồng thì hỗ trợ trên tinh thần bình đẳng. Riêng với lãnh đạo ĐCS Việt Nam, Hoa Kỳ có ý định tiếp cận để thọc sau lưng, hay bán đứng khi cần thiết. Hiện tương Hoa Kỳ luôn bênh vực và can thiệp nhằm cổ vũ,bảo vệ những người chống lại sự lãnh đạo của Đảng CS là bằng chứng không chối cãi trong ý định đó. Người Mỹ có cái lý riêng của họ, đó là coi lợi ích quốc gia lên trên hết, tuy nhiên với một trật tự mới mà Trung Quốc đang hướng tới vị trí số 1: Đông dân nhất, nhiều tiền nhất, nhiều sân sau nhất, nhiều tham vọng nhất thì vai trò của Hoa Kỳ chỉ luôn bị thu hẹp cùng lợi ích cũng bị thu hẹp. Trong lịch sử, Trung Quốc luôn có truyền thống xưng hùng, xưng bá, trong thời cận đại, cùng tiếp nhận thuyết CS , Trung Quốc cũng muốn sở hữu vị trí số 1 và đó là truyền thống không thuận lợi cho vị thế của Hoa Kỳ. Càng về sau, Hoa Kỳ sẽ càng khó khăn hơn với tham vọng của Trung Quốc. Với tiến triển này Trung Quốc không bao giờ trả lại biển đảo cho Việt Nam và Việt Nam chắc chỉ có 2 lựa chọn:

    1. Công nhận những gì của Trung Quốc đang chiếm giữ là tạm thời của Trung Quốc nhằm để cho các thế hệ sau nghĩ lo việc khac để sinh sống, không nhắc lại chuyện đòi chủ quyền, lằng nhằng sinh ra mâu thuẫn. Chờ khi Trung Quốc đại loạn (có thể vài trăm năm nữa) thì tranh thủ chiếm lại.

    2. Vừa đàm, vừa đánh, sử dụng và vận dụng mọi khả năng, sẵn sàng hy sinh, quyết tâm lấy lại biển đảo để các đời sau khỏi phải lo chuyện này. Trong lựa chọn này, không nên từ chối thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ.

    Lựa chọn số 1 thì chắc chắn không nên vì một khi "công nhận tạm thời của Trung Quốc" thì coi như mất hẳn về mặt pháp lý quốc tế! Phải luôn khẳng định trong nước và trước quốc tế, đó là biển đảo thuộc chủ quyền VN, đang tranh chấp, sẵn sàng thảo luận đa phương và ra trước tòa án quốc tế.

    Trở thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ là một điều nên đi tới trong tương lai, vì nếu đứng ngòai thì khó giữ được biển Đông. Một khi Trung Quốc khống chế biển Đông, vùng biển Việt Nam, thì quá trễ để trở tay vì lúc đó nhóm thân Trung Quốc trong đảng CSVN sẽ mạnh và theo hẳn Trung Quốc.

    Muốn trở thành đối tác chiến lược được Hoa Kỳ coi trọng, Việt Nam phải tỏ ra là một nước đáng tin cậy, không độc tài, đủ sức mạnh kinh tế, xã hội. Trước hết trở thành đối tác chiến lược với Hoa Kỳ về kinh tế, thương mại, giáo dục, truyền thông mà chưa cần ký liên minh quân sự

    Cứ coi cách ứng xử với người quen của mình chung quanh thì hiểu. Có người mình coi trọng, có người tuy giao tiếp vì cần nhưng mình coi thường, ...

    HongLac viết:
    Đối tượng của Mỹ là những thế lực (kinh tế + quân sự) nào có thể đe doạ quyền lợi của họ. Rõ ràng hiện nay đó là Trung Quốc. Ngày nào Mỹ thấy rõ Trung Quốc không còn là thế lực đe doạ quyền lợi của họ (do đã thông đồng chia chác quyền lợi bằng cách nào đó) thì họ không cần "đối tác chiến lược" (ĐCS VN) nữa.

    Khi "Rõ ràng(Đối tượng) hiện nay đó là Trung Quốc." thì VN luôn được chú ý để thành đối tác chiến lược có lợi cho Hoa Kỳ . Hoa Kỳ có 1 thói quen không từ chối đối tác, nhưng với các đối tác có chế độ phi dân chủ, do độc tài lãnh đạo thì Hoa Kỳ chủ động can thiệp và sử dụng như tay sai, còn với các đối tác có nền dân chủ tương đồng thì hỗ trợ trên tinh thần bình đẳng . Riêng với lãnh đạo ĐCS VN , Hoa Kỳ có ý định tiếp cận để thọc sau lưng, hay bán đứng khi cần thiết. Hiện tương Hoa Kỳ luôn bênh vực và can thiệp nhằm cổ vũ , bảo vệ những người chống lại sự lãnh đạo của Đảng CS là bằng chứng không chối cãi trong ý định đó . Người Mỹ có cái lý riêng của họ , đó là coi lợi ích quốc gia lên trên hết , tuy nhiên với một trật tự mới mà Trung Quốc đang hướng tới vị trí số 1 : Đông dân nhất, nhiều tiền nhất , nhiều sân sau nhất , nhiều tham vọng nhất thì vai trò của Hoa Kỳ chỉ luôn bị thu hẹp cùng lợi ích cũng bị thu hẹp . Trong lịch sử , Trung Quốc luôn có truyền thống xưng hùng, xưng bá , trong thời cận đại, cùng tiếp nhận thuyết CS , TQ cũng muốn sở hữu vị trí số 1 và đó là truyền thống không thuận lợi cho vị thế của Hoa Kỳ. Càng về sau , Hoa Kỳ sẽ càng khó khăn hơn với tham vọng của Trung Quốc. Với tiến triển này Trung Quốc không bao giờ trả lại biển đảo cho Việt Nam và VN chắc chỉ có 2 lựa chọn :
    1. Công nhận những gì của Trung Quốc đang chiếm giữ là tạm thời của Trung Quốc nhằm để cho các thế hệ sau nghĩ lo việc khac để sinh sống, không nhắc lại chuyện đòi chủ quyền, lằng nhằng sinh ra mâu thuẫn. Chờ khi Trung Quốc đại loạn ( có thể vài trăm năm nữa) thì tranh thủ chiếm lại .
    2. Vừa đàm , vừa đánh, sử dụng và vận dụng mọi khả năng và sẵn sàng hy sinh, quyết tâm lấy lại biển đảo để các đời sau khỏi phải lo chuyện này . Trong lựa chọn này , không nên từ chối thành đối tác chiến lược của Hoa Kỳ.

    Mấy suy nghĩ ban đầu

    Tôi chưa có đủ các bài viết quan trọng của tác giả Nguyễn Chính Tâm nên tạm lấy nội dung bài này làm điểm quan sát. Với việc đăng tải trên tờ báo chính thống, có thể coi đây là suy nghĩ, nhìn nhận (và cũng là mong muốn?) của chính giới? Ngoài ra, tôi cũng chưa chắc chắn nhìn rõ vai trò của tướng Vịnh khi tuyên bố những điểm có tính chất định hướng cho chính trị Việt Nam. Tôi cảm ơn các quý vị quảng kiến giúp làm rõ những nghi vấn trên.
    Nói rằng những xác quyết về „điểm tựa tương lai“ của cả Mỹ và Việt Nam chỉ là „mong muốn“ đơn phương (của riêng ông Nguyễn Chính Tâm) dựa trên những điểm sau:
    . Tác giả nhắc đến việc „kế hoạch Marschall“ giúp Đức và việc giúp Nhật sau hậu chiến như những đồng minh quan trọng trong chiến tranh lạnh chống lại khối XHCN như để chỉ ra rằng muốn chống một nước Tàu đương lên, dứt khoát phải cần („nhờ“?!) đến Việt Nam. Đó là điều ngộ nhận! Thực chất, cái giúp lớn nhất của Mỹ đối với Đức và Nhật như kể trên là việc giúp (với áp lực) để 2 nước này xây dựng một thể chế dân chủ với các bản hiến pháp cho từng nước là nền tảng của thể chế dân chủ đa nguyên này. Con đường Myanmar đi tới hòa nhập thế giới văn minh và được Mỹ cũng như các nước phương tây từng bước gỡ bò rào cản chính là việc nước này tiến tới trên con đường dân chủ hóa đất nước. Tin mới chưa kiểm chứng hé lộ rằng những người lãnh đạo Tàu cũng nghĩ tới phương án „đa nguyên“ chắc chắn là một điều đáng suy nghĩ: Người Tàu cũng phải nhìn nhận cái gì là „có giá“ trong thế giới ngày nay. Còn nếu họ nghĩ được rằng đó là liệu pháp duy nhất cho phát triển đất nước (chữa bệnh suy thoái, tham nhũng của đảng CS Tàu) thì cũng nên thừa nhận đó là sự sáng suốt không kém sự ra đời của thuyết „mèo trắng, mèo đen“.
    . Đoạn văn sau đây, đọc nghe rất hay:
    Cuối cùng, định chế không phải là phương thức thần kỳ để giải quyết tất cả vấn đề, nhưng với nước nhỏ đó là một con đường tối thiểu để đảm bảo rằng các vấn đề đang còn mâu thuẫn được giải quyết pháp chế và chuẩn tắc, chứ không phải thế yếu thông qua tương quan máy bay, tàu chiến. Phân tích thế cờ tại Biển Đông chỉ ra điểm mấu chốt không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa nước mạnh và nước yếu, nước lớn và nước nhỏ, mà được định hình bởi nhiều bên, phân tầng theo nhiều góc độ. Cuối cùng, định chế không phải là phương thức thần kỳ để giải quyết tất cả vấn đề, nhưng với nước nhỏ đó là một con đường tối thiểu để đảm bảo rằng các vấn đề đang còn mâu thuẫn được giải quyết pháp chế và chuẩn tắc, chứ không phải thế yếu thông qua tương quan máy bay, tàu chiến. Phân tích thế cờ tại Biển Đông chỉ ra điểm mấu chốt không chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa nước mạnh và nước yếu, nước lớn và nước nhỏ, mà được định hình bởi nhiều bên, phân tầng theo nhiều góc độ.
    Nói như sách vậy!
    Ông Nguyễn Chính Tâm thử đem những điều này mà soi xét việc „người yếu“, „người mạnh“, „các vấn đề còn mâu thẫn được giải quyết pháp chế và chuẩn tắc“ ngay trong việc đất của dân oan ở Văn Giang và khắp nơi xem có giá trị chút nào không? - Đặt vấn đề này vì bài viết được đăng trên ViệtnamNet như tiếng nói chính thống.

    Đã gọi là lý thì ở đâu cũng phải đúng; bằng không, chỉ có thể chấp nhân câu nói dân gian: "Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo; …" Không bắt đầu từ chính Nhân Dân mình, từ việc trong nước mình thì không thể làm nên công trạng gì, kể cả „leo giây“!
    Ngoài ra, việc nhìn nhận sai bản chất sự việc sẽ dẫn đến những sai lầm, thất bại rất đắt giá; Nhất là đối với những người có vai trò chính trị quan trọng. Nhìn nhận đúng, ngoài cái TẦM TRI THỨC, còn cần CÁI TÂM với Đất nước và Dân tộc của một con người.

    HongLac viết:

    Cho nên tôi đã nói, để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của tổ tiên ta để lại thì nội lực là chính (sức mạnh quân sư + đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước), ngoại lực (Mỹ) là hỗ trợ (nếu được Mỹ tin tưởng đầu tư kinh tế to lớn). Mỹ chỉ là phương tiện để Việt Nam đạt mục tiêu đó càng nhanh càng tốt (nhưng đừng dại khiêu khích, liên minh quân sự, chống đối Trung Quốc ra mặt như thời ông Lê Duẩn). Một nước Việt Nam tự do, dân chủ nhân bản pháp trị, đa nguyên đa đảng (ĐCS VN cũng là một đảng ở hậu trường không nắm quyền lực) sẽ tháo gỡ được các tảng đá cản trở đó và là chất súc tác để có và đưa nội lực đó đến mục tiêu nhanh.

    Tôi xin được đồng ý hoàn toàn với bạn HongLac trong nhận định trên. Xin cám ơn bạn.

    Đọc comment nầy (phiá dưới) của bác PVĐ tôi thấy lập trường của bác tương đối rõ hơn nên xin trao đổi thêm với bác.

    Theo tôi thấy không phải ĐCS VN (cũng như bác Hồ trước 1945) "không xem Hoa Kỳ là bạn" mà là Hoa Kỳ không tin ĐCS VN (và bác Hồ) là bạn tốt.

    Những điều tôi nói sau đây không có gì mới mẻ. Đối tượng của Mỹ là những thế lực (kinh tế + quân sự) nào có thể đe doạ quyền lợi của họ. Rõ ràng hiện nay đó là Trung Quốc. Ngày nào Mỹ thấy rõ Trung Quốc không còn là thế lực đe doạ quyền lợi của họ (do đã thông đồng chia chác quyền lợi bằng cách nào đó) thì họ không cần "đối tác chiến lược" (ĐCS VN) nữa.

    Thật ra theo tôi thấy thể chế nào ở Việt Nam không quan trọng đối với Mỹ miễn là đáng tin cậy và chắc chắn có lợi cho họ, giúp họ đắc lực để đạt mục tiêu của họ (đương nhiên là ai cũng thế).

    Nhưng điều khó khăn, cản trở Việt Nam làm đồng minh thật sự của Mỹ là ĐCS VN. Mỹ và thế giới tự do không bao giờ tin tưởng ĐCS VN. Mỹ (chính quyền + Quốc Hội + dân chúng) vẫn coi nước CHXHCN VN là một nước cộng sản (không phải là một nước tư do, dân chủ pháp trị) và Luật Pháp Mỹ (Quốc Hội) không cho phép chính quyền Mỹ làm đồng minh, bán vũ khí với các nước cộng sản + khủng bố.

    Cũng theo tôi thấy, dù sau nầy Mỹ có hơp tác sâu rộng hơn với ĐCS VN đi nữa. Nếu Trung Quốc, bằng cách nào đó bảo đảm với Mỹ là luôn luôn tuân thủ để Mỹ (và thế giới) hoàn toàn tự do lưu thông trên toàn bộ Biển Đông và chia sẻ quyền lợi với Mỹ thì khi Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ những hòn đảo còn lại của Việt Nam trong quần đảo Trường Sa thì Mỹ cũng (không dại gì) can thiệp.

    Cho nên tôi đã nói, để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của tổ tiên ta để lại thì nội lực là chính (sức mạnh quân sư + đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong và ngoài nước), ngoại lực (Mỹ) là hỗ trợ (nếu được Mỹ tin tưởng đầu tư kinh tế to lớn). Mỹ chỉ là phương tiện để Việt Nam đạt mục tiêu đó càng nhanh càng tốt (nhưng đừng dại khiêu khích, liên minh quân sự, chống đối Trung Quốc ra mặt như thời ông Lê Duẩn). Một nước Việt Nam tự do, dân chủ nhân bản pháp trị, đa nguyên đa đảng (ĐCS VN cũng là một đảng ở hậu trường không nắm quyền lực) sẽ tháo gỡ được các tảng đá cản trở đó và là chất súc tác để có và đưa nội lực đó đến mục tiêu nhanh.

    Tình hình biển Đông đến lúc ai cũng thấy rõ TQ là kẻ hiếu chiến nhất, gây căng thẳng nhất.
    Mỹ là một, trong những, điểm tựa chính và quan trọng nhất về quân sự và chính trị cho Asean về biển Đông. Chắc chắn TQ không chịu trả lại Hoàng Sa của VN. Và TQ đang triển khai để đánh chiếm thêm những khu khác của biển Đông.

    Những lời tầm bậy tầm bạ giả dối về quan hệ TQ-VN dĩ nhiên là bọn Đào, Bình chẳng có tên nào tin Trọng, Dũng cả nhưng việc vỗ về, xoa đầu, câu giờ với VN là để TQ cô lập VN, bóp cổ khi có cơ hội. Chẳng hiểu Trọng, Dũng thích được TQ tay xoa đầu tay bóp cổ hay là làm bạn với Mỹ để có chỗ hỗ trợ ?

    Quan hệ Việt - Mỹ cần dựa vào điểm tựa của lực lượng dân chủ đang bị giam tù và quản chế đang hướng tới hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ , đặc biệt là những tiếng nói công khai không bị trấn áp. Những khác biệt càng nên thu hẹp nhanh chóng trước khi Trung Quốc đặt các nước vào thế đã rồi . Không có hy vọng Trung Quốc đầu tư khai thác chiếm giữ Biển Đông để tự trao lại cho các nước bị mất phần biển đảo , cho nên chỉ còn cách thay đổi thể chế bất tín hiện tại để cùng các nước khác có nhiều điểm tương đồng và cùng nhạc trưởng Hoa Kỳ đánh sớm , lấy lại biển đảo sớm.
    Việt Nam đang vướng phải một oan nghiệt chính trị rằng đa số các nhà lãnh đạo ĐCS VN là những đối tượng mà quân đội Mỹ, Ngụy trước đây đã từng buộc phải sống trong địa ngục nên khi họ đổi đời trên lưng voi , họ vẫn có hội chứng của thời chiến, không xem Hoa Kỳ là bạn.

    Nguyễn Chính Tâm: Việt - Mỹ trong thế cờ biển Đông

    Trả lời hãng tin Blomberg trong một phỏng vấn năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh được dẫn lời: "Không ai có thể tưởng tượng được là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lại phát triển nhanh như thế này. Sau 16 năm bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã tiến tới giai đoạn phát triển nó trên mọi lĩnh vực".

    Hàm ý gì từ tác động cộng hưởng kép?

    Mỹ muốn gì ở Biển Đông? Và các nước ASEAN, mà cụ thể là Việt Nam có thể hợp tác với siêu cường này như thế nào để đảm bảo lợi ích của mình? Các động thái gần đây cho thấy một bức tranh mới trong mối quan hệ hai bên đang dần dần xuất hiện với nhiều gam màu khác nhau. Từ mối quan hệ ban đầu chỉ tập trung vào việc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, các dấu hiệu hợp tác gần đây khiến một số nhà quan sát đã sử dụng cụm từ "mối quan hệ chiến lược" để hình dung về tương lai song phương giữa hai nước từng đối địch.

    Trả lời hãng tin Blomberg trong một phỏng vấn năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh được dẫn lời: "Không ai có thể tưởng tượng được là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lại phát triển nhanh như thế này. Sau 16 năm bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã tiến tới giai đoạn phát triển nó trên mọi lĩnh vực".

    Cụm từ "trong mọi lĩnh vực" của tân ngoại trưởng không quá lời, khi cách đây không lâu một hiệp ước giữa hai nước được ký kết tạo cho giới quan sát nhiều chú ý. Đó là hợp tác Quân y Việt - Mỹ. Theo báo chí đưa tin, thỏa thuận bao gồm các hoạt động trao đổi chuyên môn, hội thảo cũng như hợp tác nghiên cứu y học và là một hợp tác đầu tiên trong đó là quân sự - quốc phòng. Liệu y học có là "ngôn ngữ chung" giúp nối liền những khoảng cách - như lời của quan chức Hải quân Mỹ ví von - thì chưa ai có thể khẳng định.

    Nhưng những bước đi "mềm" trong lĩnh vực còn được xem là nhiều nhạy cảm này có lẽ đã khởi động trước đó một thời gian qua lời cựu đại sứ Lê Công Phụng: "Việt Nam và Mỹ đã nhất trí thiết lập cơ chế đối thoại chiến lược về an ninh - quốc phòng và cho đến nay đã tiến hành được ba vòng đối thoại. Việt Nam là một trong số rất ít các nước ở Đông Nam Á có cơ chế này với Mỹ".

    Bối cảnh nào thúc đẩy mối quan hệ tiến nhanh như vậy, và những viên gạch nào cần tiếp tục được đặt nền? Vượt trên các tên gọi của giới nghiên cứu hay các nhà ngoại giao, một góc nhìn trực diện vào bản chất thật sự của quan hệ Việt - Mỹ đang cần đưa lên bàn cân đánh giá làm tiền đề cho quá trình hoạch định chính sách. Trong đó, tác động kép từ sự thay đổi cục diện khu vực đóng vai trò tiên yếu. Một là quá trình toàn cầu hóa. Hai là sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế - quân sự.

    Tác động cộng hưởng kép

    Dẫu đa phương hay song phương, dẫu quan hệ kinh tế hay ngoại giao, dẫu trong hoàn cảnh thuận hòa hay đang tồn tại một số bất đồng trước mắt, có hai yếu tố cần được xem xét, đó là toàn cầu hóa kinh tế và trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Một mặt, sự lựa chọn của Việt Nam tham gia thị trường toàn cầu đã làm thay đổi định hướng trong các quyết định về chiến lược ngoại giao.

    Việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007 là một bước thứ hai trong quá trình cải cách của Việt Nam, đánh dấu phương hướng đa phương hóa, đa dạng hóa trong các lựa chọn về chính sách đối ngoại. Quá trình xích lại gần với cộng đồng chung thế giới nên được đánh giá trong bối cảnh ưu tiên về phát triển và hiện đại hóa đất nước được đặt lên hàng đầu. Toàn cầu hóa trong mối quan hệ Việt - Mỹ, vì thế, kiến tạo một hình dung về thế giới ngày càng liên kết mà trong đó chia sẻ lợi ích sẽ là yếu tố chủ đạo.

    Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ thường xuyên xuất hiện ở các vùng biển châu Á trong những năm qua. Ảnh: US Navy

    Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc xoay quanh cuộc tranh luận rằng liệu cán cân quyền lực toàn cầu có đang chuyển đổi hay không. Với Trung Quốc, một ngôi sao đang lên, đồng nghĩa rằng đây sẽ là đầu máy tăng trưởng và thịnh vượng của nền kinh tế khu vực. Gắn kết vào nền kinh tế có 1,34 tỉ dân này là xu thế tất yếu, để tận dụng nguồn tài nguyên, giá thành nhân công, thị trường nội địa khổng lồ và xung lực tăng trưởng dồi dào.

    Sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế - quân sự làm thay đổi tương đối cán cân quyền lực của các nước trong vùng Thái Bình Dương. Công bố về ngân sách quốc phòng từ Bắc Kinh trong năm 2011, theo phát ngôn viên chính phủ nước này, đã đạt 601 tỉ nhân dân tệ (91,5 tỉ USD), tăng 12,7%. Kế hoạch hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm đạt bước tiến tương đối trong vòng bảy năm trở lại đây: trong năm 2002, chỉ có bảy trong 69 chiếc tàu ngầm đáp ứng tiêu chuẩn hiện đại, năm 2009 tỷ lệ này tăng lên 31 trên 65 chiếc, trong đó bao gồm 12 tàu ngầm hạng Kilo.

    Một xu hướng tương tự như thế cũng có thể quan sát từ kế hoạch phát triển kho vũ khí hạt nhân với việc thiết lập các loại tên lửa xuyên lục địa Dong Feng-31 và Dong Feng-31A với phạm vi tấn công khoảng từ 7.200km đến 11.200km. Song hành với chuyển động về năng lực quốc phòng, nước này đã có nhiều hành động xác quyết chủ quyền của mình tại vùng tranh chấp ở Biển Đông mà gần đây nhất qua hai vụ cắt cáp vụ tàu Bình Minh và tàu Viking trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

    Biển Đông: Thế của nước yếu, thế của nước mạnh

    Với Mỹ, điểm mà các nhà phân tích chiến lược đặt câu hỏi là sự trỗi dậy của Trung Quốc (i) sẽ làm thay đổi cấu trúc "đồng minh" của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương như thế nào, và cũng không kém phần quan trọng (ii) là sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn chiến lược của các nước nhỏ hay các nước vẫn chưa định hình vị trí của mình trong bàn cờ khu vực. Trong bài toán biển Đông, trước những hành động mang tính thách thức từ phía Trung Quốc qua hành xử của tàu hải giám, phân chia vùng lãnh hải hay tự diễn dịch UNCLOS phục vụ tùy theo lợi ích, nước Mỹ dường như đứng trước ngã ba đường. Tín hiệu xuất phát gần đây từ Washington cho thấy Chính phủ Mỹ có nhiều tiếng nói khẳng định lợi ích và sự cam kết hiện diện lâu dài tại châu Á.

    Tại Diễn đàn An ninh khu vực châu Á lần thứ 10 (Đối thoại Shangri-La 2011) Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cá cược 100 USD đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hiện diện mạnh mẽ hơn trong vòng 5-10 năm tới. Hội nghị Diễn đàn ASEAN (ARF 18) ở Bali trước đấy một tuần, Ngoại trưởng Mỹ cũng đã kêu gọi các bên giải quyết vấn đề bằng pháp lý và thông báo rằng, Mỹ sẽ đóng vai trò thúc đẩy quá trình này, khuyến cáo tất cả các quốc gia liên quan cần phân định chủ quyền theo Luật Biển quốc tế 1982.

    Mặt khác, Mỹ cũng đang đứng trước bài toán ngân sách và khó khăn tài chính, dẫn đến xu hướng đòi hỏi chính phủ xét lại các vấn đề quốc nội nên đặt làm ưu tiên hàng đầu. Cuộc tranh luận về nợ công giữa lưỡng đảng tại Quốc hội Mỹ chấm dứt nhưng chưa kết thúc, khiến cho bất kỳ cam kết hiện diện quân sự, hay giữa đảm nhiệm vai trò mạnh mẽ hơn tại trong hồ sơ tranh chấp Biển Đông không chỉ là bài toán địa chiến lược, mà còn cần được phân tích dưới góc nhìn kinh tế. "Biển Đông hay là tôi" (hiểu như người dân đóng thuế Mỹ), quan điểm của một phân tích gia trên tạp chí Foreign Policy tháng 6 năm ngoái có thể xem như đại diện một trường phái trong công luận Mỹ đặt dấu chấm hỏi về phí tổn nước Mỹ phải gánh chịu và nhu cầu đứng mũi chịu sào đảm bảo "ô dù an ninh chung" cho khu vực Thái Bình Dương.

    Còn với các nước nhỏ trong khối ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, thái độ của nước mạnh Trung Quốc lúc mềm mỏng, lúc cứng rắn với từng quốc gia, diễn ra trong từng diễn đàn, từng tình huống từ Bắc Kinh tạo nên những tiên đoán khác nhau từ các nước liên quan. Hoặc như chính sách của Bắc Kinh trong hồ sơ sông Mekong thời gian vừa qua cũng gây lo ngại cho những nước ở hạ nguồn. Siêu cường Mỹ vẫn giữ vai trò số một, nhưng phần nào đang suy giảm, và không trực tiếp đụng độ lợi ích từ việc tranh chấp, vì vậy giữ nguyên hiện trạng là lựa chọn khả dĩ. Các nước nhỏ ASEAN tổn thương trực tiếp từ tiếp cận sức mạnh, vì thế cần luật hơn cần nắm đấm.

    Trái banh bây giờ lăn về phía cường quốc đang lên Trung Quốc thông qua một giả định và hai câu hỏi. Giả định rằng nếu Bắc Kinh tự tin vào sức mạnh của mình sẽ vượt Nhật, vượt Mỹ, thì một trật tự mới (giống như những gì xảy ra trong lịch sử) cần được phải sắp xếp lại. Trung Quốc sẽ đi con đường nào, lựa chọn sức mạnh thủy lôi, tàu chiến, xe tăng để xây mộng bá quyền hay lựa chọn thể chế chấp nhận tự giới hạn mình vào luật, chuẩn tắc giữ vai trò "vương quyền" lãnh đạo dẫn dắt? Và ở cái thế dự đoán giữa những kịch bản khó tiên đoán trước, quan hệ Việt - Mỹ cần dựa vào điểm tựa nào để hoạch định tương lai?

    Nguyễn Chính Tâm

    Nguồn: Tuần Việt Nam