Phan Minh Ngọc - Đề án tái cơ cấu kinh tế - lạ và quen

  • Bởi Admin
    22/04/2012
    6 phản hồi

    TS Phan Minh Ngọc

    Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Đề án tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của kinh tế giai đoạn 2011 - 2012 và định hướng đến 2020 trình lên UBTVQH. Có thể thấy một số điểm lạ bên cạnh những điểm quen trong báo cáo này.

    Bao quát toàn bộ Đề án, cơ quan soạn thảo nhấn mạnh rằng, công cuộc tái cơ cấu kinh tế phải được thực hiện “vừa tuần tự tiệm tiến, vừa tăng tốc đột phá”. Trong đó, “tuần tự tiệm tiến” ở những ngành có công nghệ ít thay đổi song phải “tăng tốc đột phá” với các ngành công nghệ thay đổi nhanh, bởi những ngành này cần chọn, áp dụng các công nghệ hiện đại nhất để cải thiện năng lực cạnh tranh, tăng sức bật đối với nền kinh tế.

    Có thể coi đây là cái lạ nổi bật nhất so với những đề án và kế hoạch tương tự về hoạch định chiến lược và chính sách phát triển kinh tế cho đến nay. Tuy nhiên, thật khó mà nói rằng cái lạ này là cái mới, cái hay về nội dung, ngoài chuyện (thuật dùng) chữ nghĩa quả là có lạ, có mới thật.

    Vì không biết thật rõ được mô tả chi tiết cho cái chiến lược “tuần tự tiệm tiến” áp dụng ở những ngành có công nghệ ít thay đổi nên chúng ta không thể bàn luận được gì nhiều ở đây. Nhưng suy luận logic cho thấy đây có thể là chiến lược phát triển theo chiều rộng, áp dụng ở những ngành mà đầu tư chiều sâu, ví dụ vào đổi mới máy móc, công nghệ là không cần thiết, không đòi hỏi (nhiều). Cùng một suy luận logic như vậy thì chiến lược “tăng tốc đột phá” là chiến lược phát triển theo chiều sâu, nhấn mạnh vào tầm quan trọng trong đầu tư cho công nghệ hiện đại (và thay đổi nhanh chóng) để ngõ hầu luôn ở tư thế bắt kịp và cập nhật tiến bộ công nghệ của thế giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam duy trì được sức cạnh tranh quốc tế trong những ngành này.

    Lột tả được một cách dễ hiểu và cụ thể hơn bản chất của chiến lược được gói gọn trong 10 chữ trên, ta lại thấy rằng nó chẳng có gì là lạ, và càng không phải là mới, chỉ là những cái nghe quen quen. Trong các văn kiện về đường lối phát triển kinh tế từ trước đến nay, ta vẫn nghe nói đến cụm từ phát triển kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu. Thậm chí, chúng ta cũng đã cho ra đời cái cụm từ “đi tắt đón đầu”, là một cách biểu hiện khác của cái vế sau của chiến lược 10 chữ nói trên. Và nhân đây cũng cần nhấn mạnh rằng, chiến lược “tăng tốc đột phá” hay “đi tắt đón đầu” không phải cứ muốn là áp dụng được vì đơn giản là còn nhiều yếu tố kèm theo phải được thỏa mãn. Ví dụ, công nghiệp điện tử là một điển hình cho ngành có công nghệ và thiết bị luôn thay đổi, và cũng là một trong 7 nhóm ngành được bản đề án xác định cần phải ưu tiên (ở đây ta chưa bàn đến tính hợp lý, đúng đắn của việc chọn ra 7 nhóm ngành này, mặc dù rõ ràng là có một số vấn đề liên quan). Nhưng để phát triển được ngành này trước tiên cần phải có một đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên, công nhân viên lành nghề để có thể đảm đương được những công đoạn thiết kế, chế tạo đòi hỏi chuyên sâu. Nếu yêu cầu này không được đáp ứng đầy đủ thì rốt cuộc chúng ta chỉ có thể phát triển được một ngành công nghiệp điện tử dựa trên lắp ráp là chủ yếu như hiện tại. Mà vấn đề lại nằm ở chỗ để phát triển được đội ngũ kỹ sư, kỹ thuật viên và công nhân lành nghề này không phải là đơn giản, và khó có thể thực hiện được ngay kể cả trong hàng thập kỷ nữa chứ chưa nói đến trong một vài năm.

    Tương tự như vậy, tất cả các ngành được xác định ưu tiên sẽ cần một lượng nhân lực chất xám khổng lồ, càng làm trầm trọng thêm vấn đề thiếu hụt nhân lực thuộc loại này mà chắc chắn nền giáo dục và đào tạo ở Việt Nam còn lâu mới có thể theo kịp đòi hỏi. Tự thân điều này cho thấy nhìn thấy vấn đề và giải quyết được vấn đề là 2 chuyện khác nhau hoàn toàn, không mấy khi song hành với nhau.

    Những định hướng và chính sách khác trong Đề án cũng khó có thể nói là lạ và mới. Ví dụ, Đề án đề cập khá rõ về định hướng về vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp, người đầu tư. Theo đó, “đối với chuyển dịch tăng tốc, đột phá thì vai trò của Nhà nước là kiến tạo và hỗ trợ phát triển bằng việc xác định ngành ưu tiên phát triển, trực tiếp hoặc tham gia đầu tư dưới các hình thức thích hợp, trực tiếp xây dựng cơ sở hạ tầng cứng và hạ tầng mềm, dẫn dắt, định hướng và lôi kéo các nhà đầu tư, các bên khác có liên quan cùng tham gia thực hiện chương trình tăng tốc, đột phá phát triển các ngành, sản phẩm ưu tiên”. Định hướng trên dường như thấy phảng phất tinh thần của chiến lược phát triển với doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ đạo, định hướng, ví dụ, đầu tư vào những lĩnh vực mũi nhọn, những lĩnh vực mà tư nhân không đủ sức, không quan tâm v.v... mà thực ra đều thuộc những lĩnh vực được ưu tiên trong đề án này và từ trước đến nay đều chịu sự chi phối và độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước.

    Về các giải pháp, Đề án cũng trình ra 12 nhóm giải pháp để tái cơ cấu kinh tế, trong đó đề nghị “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh để huy động tối đa và không ngừng nâng cao hiệu quả đầu tư tư nhân trong và ngoài nước”. Khỏi cần nói rằng những giải pháp này đã quá quen thuộc, điều quan trọng, xin nhấn mạnh lại lần nữa, là liệu có biến được những nhận thức như vậy thành thực tế được không mới là điều đáng nói.

    Tương tự, kiến nghị: “Cần phải đổi mới chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư nhằm thu hút và định hướng đầu tư tư nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển các ngành, nghề ưu tiên phát triển”, thoạt nghe có vẻ là một bước tiến mới về lập trường chính sách. Nhưng nếu xét cho kỹ và công bằng thì tinh thần “đổi mới” này đã có từ thời “Đổi mới” hồi những năm 80!

    Các định hướng và quan điểm khác trong Đề án cũng chịu chung số phận (tức là chẳng có gì mới lạ về bản chất) khi chúng chỉ lặp lại các nhận thức về sự cần thiết phải làm điều này, điều kia, ví dụ tái cơ cấu tổ chức tín dụng và mục đích của việc này. Bình thường, chẳng cần phải có một chương trình tái cơ cấu kinh tế đồ sộ, toàn diện, tốn kém và đầy xáo trộn, việc lành mạnh hóa hệ thống tài chính mỗi khi có vấn đề phát sinh là một việc làm thường xuyên, tất yếu và cách làm, công cụ thì cũng chẳng có gì mới lạ nữa, còn mục đích thì cũng đương nhiên như Đề án đề ra.

    Giải pháp đảm bảo sự bình đẳng về quyền và cơ hội kinh doanh giữa các doanh nghiệp để cải thiện và nâng cao năng lực cạnh tranh vi mô của môi trường kinh doanh cũng đã xưa như trái đất. Còn định hướng “cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế tri thức… phấn đấu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại v.v...” chỉ là sự lặp lại của các văn kiện Đại hội Đảng đã qua.

    Như vậy, có thể nói không quá rằng Đề án tái cơ cấu kinh tế tổng thể lần này chỉ là một sự tập hợp một cách có hệ thống và chọn lọc (hơn) tất cả các định hướng chính sách và chiến lược phát triển kinh tế, kế hoạch phát triển KT - XH 5 năm từ trước đến nay. Song, các mục tiêu và giải pháp thì vẫn chỉ dừng lại ở mức độ chung chung, nặng về tính duy ý chí (muốn làm, phải thực hiện...) và nhẹ về tính khả thi (muốn nhưng có làm được không, làm như thế nào...).

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Phan Minh Ngọc viết:
    Tương tự như vậy, tất cả các ngành được xác định ưu tiên sẽ cần một lượng nhân lực chất xám khổng lồ, càng làm trầm trọng thêm vấn đề thiếu hụt nhân lực thuộc loại này mà chắc chắn nền giáo dục và đào tạo ở Việt Nam còn lâu mới có thể theo kịp đòi hỏi. Tự thân điều này cho thấy nhìn thấy vấn đề và giải quyết được vấn đề là hai chuyện khác nhau hoàn toàn, không mấy khi song hành với nhau.

    Ngày 19/4, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Phát triển Nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020, trong đó phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2015 là 55%, tỷ lệ này vào năm 2020 là 70%.

    Một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược là nhân lực Việt Nam có thể lực tốt, tầm vóc cường tráng, phát triển toàn diện về trí tuệ, ý chí, năng lực và đạo đức, có năng lực tự học, tự đào tạo, năng động, chủ động, tự lực, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng thích ứng và nhanh chóng tạo được thế chủ động trong môi trường sống và làm việc.

    Ngoài ra, sẽ xây dựng một số cơ sở đào tạo bậc đại học và dạy nghề đạt trình độ quốc tế để cung cấp nhân lực trình độ cao cho hệ thống giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đến 2020, số trường đại học xuất sắc đạt trình độ quốc tế từ 4 trường trở lên.

    Giải pháp của Chiến lược đưa ra là cần đổi mới chính sách sử dụng nhân lực, trong đó thực hiện việc tách bạch, phân biệt rõ những khác biệt trong quản lý, sử dụng nhân lực giữa cơ quan hành chính nhà nước (cán bộ, công chức nhà nước) và các đơn vị sự nghiệp công lập (viên chức). Trên cơ sở đó, đẩy mạnh quá trình trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị, tổ chức sự nghiệp công lập trong quản lý, sử dụng nhân lực.

    Bên cạnh đó, xây dựng quy chế (cơ chế và chính sách) giao nhiệm vụ theo các hình thức khoán, đấu thầu, hợp đồng trách nhiệm, thi tuyển gắn với đãi ngộ dựa trên kết quả cuối cùng để khuyến khích phát huy sáng kiến, sáng tạo và khích lệ lòng tự tôn dân tộc, tôn vinh người tài và người có nhiều đóng góp cho đất nước.

    Đồng thời, xây dựng quy chế (tiêu chuẩn và quy trình) đánh giá nhân lực dựa trên cơ cở năng lực thực tế, kết quả, hiệu suất, năng suất lao động thực tế và đãi ngộ tương xứng với trình độ năng lực và kết quả công việc. Khắc phục tâm lý, hiện tượng quá coi trọng và đề cao "bằng cấp" một cách hình thức trong tuyển dụng và đánh giá nhân lực.

    Tôi hy vọng sau khi kết thúc đợt đầu của chiến lược giáo dục và phát triển nhân sự sẽ có kết quả lớn.

    Ngày xưa còn bé thì nghe hoài điệp khúc "Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát tiển công nghiệp nhẹ và..." Giờ tập làm quen cái điệp khúc "phấn đấu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại v.v...” đến năm 2020 còn sống chắc lại nghe "đến 2040 đưa nước ta trở thành nước cơ bản có nền kinh tế thị trường cạnh tranh trong khu vực và..." :)

    Nguyễn SG viết:
    ..Đảng lãnh đạo nhưng các vấn đề kẹt xe nghiêm trọng ở Hà Nội và TPHCM thì không hề thấy ông Phạm Quang Nghi và ông Lê Thanh Hải, bí thư thành ủy, đứng ra công khai nhận trách nhiệm cương quyết đấu tranh để có giao thông thông thoáng hơn

    Tuấn kiệt Tô Linh Hương, sinh năm 1988, đỗ thủ khoa vào đại học năm 2005, ngành Quan hệ Quốc tế tại Học viện Báo Chí và Tuyên Truyền - con gái của ông Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ Chính trị Đảng CSVN, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng - hiện được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Vinaconex, chuyên xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, san lấp mặt bằng, xử lý nền móng công trình, đầu tư, kinh doanh bất động sản... Doanh thu năm 2012 ước tính 950 tỷ đồng. Công ty có gần 2.000 cán bộ công nhân viên, lương trung bình được nói vào khoảng tám triệu đồng/tháng... dư tài thừa lực, và trong tương lai không xa, sẽ đứng ra công khai nhận trách nhiệm cương quyết đấu tranh để có giao-thông ở Hà Nội và TPHCM thông-thoáng hơn... Hãy vững tin vào một ngày mai tươi sáng, nhá, bác Nguyễn SG.

    Nguyễn SG viết:
    [

    Công dân kỷ luật :
    Ở đây ngoài việc giáo dục đào tạo, nó gắn liền với công lý (justice), với sự trong sạch của mọi cấp chính quyền, cách tổ chức nhà nước.
    Bạn rất khó giáo dục và đòi hỏi một công dân bình thường phải có kỷ luật trong khi các quan chức (trong đảng và nhà nước) vô kỷ luật, độc tài và tham nhũng.

    Tớ đồng ý với bác Nguyễn SG, bổ túc thêm là:

    Chủ trương của dảng CS ở mọi nơi, không riêng đảng CS VN, là luôn luôn kêu gọi quần chúng nhân dân làm. Nhưng đảng viên và nhất là đảng viên cao cấp thì không.

    Luật pháp thì lỏng lẽo, mâu thuẫn, để dung dưỡng đảng viên.
    Để tránh tiếng, đảng còn sử dụng xã hội đen trong danh nghĩa quần chúng tự phát.

    Như thế, mọi việc đảng viên vi phạm đêu huề vốn.

    Trích dẫn:

    Comment 56583 Phan Sơn :

    Tham vọng của TPP đã rõ ràng cho tất cả và còn được phân tích với từng điểm về địa dịch của thị trường tổng hợp (comprehensive market access), về thỏa thuận toàn diện khu vực (fully regional agreement), về cắt ngang những cản trở mậu dịch (cross cutting trade issues), về những thách thức thương mại mới (new trade challenges), về sự thỏa thuận hằng sống (living agreement) và sau cùng là về quy định khung pháp lý (scop-legal texts). Tức là sẽ bãi bỏ thuế (theo thỏa thuận) và rào cản hàng hóa, dịch vụ, phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm, lập công ty trong TPP, đẩy mạnh thương mại và đầu tư, cải tiến sản xuất, dịch vụ cung ứng trong khuôn khổ của hiệp định với nền tảng khung pháp lý về hợp tác, cạnh tranh, thuế quan, thương mại điện tử, môi trường, dịch vụ tài chính, sở hữu trí tuệ, lao động, vấn đề luật pháp, thị trường, quy tắc vệ sinh, an toàn…

    Có nghĩa rằng, về tổng quát, chúng ta có thể thấy rõ những quy định hợp tác được đặt ra rõ ràng, sòng phẳng, khách quan phù hợp với quan điểm ngoại giao, chiến lược phát triển (Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế), đường lối quốc phòng của Việt Nam.

    Bác Phan Minh Ngọc kết luận đúng đấy :
    các mục tiêu và giải pháp thì vẫn chỉ dừng lại ở mức độ chung chung, nặng về tính duy ý chí (muốn làm, phải thực hiện...) và nhẹ về tính khả thi (muốn nhưng có làm được không, làm như thế nào...).

    Việc gì cũng phải xây dựng cơ sở tốt thì mới thực hiện được. Mà một trong vài cơ sở chính của một đất nước là "con người". Bạn không thể đột phá mọi việc nếu không có những công dân kỷ luật, giỏi kỹ thuật, tay nghề, sáng tạo.

    Giỏi kỹ thuật, tay nghề, sáng tạo, quản lý :
    Việc giáo dục và đào tạo phải là ưu tiên hàng đầu vì rất :
    - tốn kém,
    - cần nhiều thời gian (5-15 năm) để có kết quả đào tạo (ở trường) + background competence (trong thực tế)
    - không đem lại ngay hiệu quả trước mắt

    Công dân kỷ luật :
    Ở đây ngoài việc giáo dục đào tạo, nó gắn liền với công lý (justice), với sự trong sạch của mọi cấp chính quyền, cách tổ chức nhà nước.
    Bạn rất khó giáo dục và đòi hỏi một công dân bình thường phải có kỷ luật trong khi các quan chức (trong đảng và nhà nước) vô kỷ luật, độc tài và tham nhũng.

    Song song với giáo dục hợp lý là cơ sở cho "con người", một cơ sở khác là "tổ chức nhà nước" logic. Nhà nước phải là cơ quan cao nhất lãnh đạo và quản lý chứ không phải là một đảng duy nhất nào lãnh đạo đất nước. Trên báo chí vẫn nhan nhản câu "Đảng và Nhà nước" nhưng trong hiến pháp và luật pháp không hề ghi rõ một chức vụ cụ thể nào của Đảng ! Cách tổ chức mập mờ đi hai ba hàng như vậy vừa tốn kém ngân sách, vừa không hiệu quả, vừa làm tê liệt hệ thống luật + tư pháp.

    Tổ chức xã hội dân sự là một cơ sở khác để tạo sự minh bạch, kiểm tra và giám sát hiệu quả ...

    Tôi có cảm tưởng như các thủ tướng chính phủ VN từ ông Khải, ông Dũng ... không kiểm soát và phối hợp được các dự án khác nhau trong chính phủ để có thể quản lý hiệu quả

    Đảng lãnh đạo nhưng các vấn đề kẹt xe nghiêm trọng ở Hà Nội và TPHCM thì không hề thấy ông Phạm Quang Nghi và ông Lê Thanh Hải, bí thư thành ủy, đứng ra công khai nhận trách nhiệm cương quyết đấu tranh để có giao thông thông thoáng hơn

    Trích dẫn:
    “đối với chuyển dịch tăng tốc, đột phá thì vai trò của Nhà nước là kiến tạo và hỗ trợ phát triển bằng việc xác định ngành ưu tiên phát triển, trực tiếp hoặc tham gia đầu tư dưới các hình thức thích hợp, trực tiếp xây dựng cơ sở hạ tầng cứng và hạ tầng mềm, dẫn dắt, định hướng và lôi kéo các nhà đầu tư, các bên khác có liên quan cùng tham gia thực hiện chương trình tăng tốc, đột phá phát triển các ngành, sản phẩm ưu tiên”.

    “hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải thiện môi trường kinh doanh để huy động tối đa và không ngừng nâng cao hiệu quả đầu tư tư nhân trong và ngoài nước”.

    “Cần phải đổi mới chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư, cơ chế quản lý đầu tư nhằm thu hút và định hướng đầu tư tư nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển các ngành, nghề ưu tiên phát triển”,

    “cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế tri thức… phấn đấu đến năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại v.v...”

    Việt Nam được mời tham gia Trans-Pacific Partneship (TPP). Đây là hình thức hợp tác từ sự thỏa thuận quốc tế trước đây mang tính chiến lược là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement và tinh thần APEC.

    Ngày 11/11/2011 tại Honolulu - Hawaii, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã bắt tay Tổng thống Obama và nguyên thủ các quốc gia liên quan, cam kết trong vòng một năm sẽ thỏa thuận xong Hiệp định TPP để tạo lập khối liên kết kinh tế rộng lớn trên hai bờ Thái Bình Dương. Nghĩa là con đường của đất nước ta đã được lựa chọn.

    Chúng ta thấy TPP là một định chế hợp tác mang tính cấp cao bởi mục đích của hiệp định là muốn cùng nhau nâng cao cán cân ngoại thương của các thành viên, sản xuất thêm hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu, tạo ra nhiều việc làm để cùng đạt sự cạnh tranh và thắng lợi trong các thị trường khác ở tương lai. Điều này được bản Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo tiền hội nghị để chuẩn bị nêu rõ: “Together we can boost exports, create more goods available for our consumers, create good jobs and compete and win in the markets of the futer.”

    Tham vọng của TPP đã rõ ràng cho tất cả và còn được phân tích với từng điểm về địa dịch của thị trường tổng hợp (comprehensive market access), về thỏa thuận toàn diện khu vực (fully regional agreement), về cắt ngang những cản trở mậu dịch (cross cutting trade issues), về những thách thức thương mại mới (new trade challenges), về sự thỏa thuận hằng sống (living agreement) và sau cùng là về quy định khung pháp lý (scop-legal texts). Tức là sẽ bãi bỏ thuế (theo thỏa thuận) và rào cản hàng hóa, dịch vụ, phát triển sản xuất, dịch vụ, tạo việc làm, lập công ty trong TPP, đẩy mạnh thương mại và đầu tư, cải tiến sản xuất, dịch vụ cung ứng trong khuôn khổ của hiệp định với nền tảng khung pháp lý về hợp tác, cạnh tranh, thuế quan, thương mại điện tử, môi trường, dịch vụ tài chính, sở hữu trí tuệ, lao động, vấn đề luật pháp, thị trường, quy tắc vệ sinh, an toàn…

    Có nghĩa rằng, về tổng quát, chúng ta có thể thấy rõ những quy định hợp tác được đặt ra rõ ràng, sòng phẳng, khách quan phù hợp với quan điểm ngoại giao, chiến lược phát triển (Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế), đường lối quốc phòng của Việt Nam.