Giáp Văn Dương - Trả lời câu hỏi: Trí thức là gì?

  • Bởi Admin
    21/04/2012
    33 phản hồi

    Giáp Văn Dương

    Trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ, truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng như những trung giới trong các quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội. Với quan niệm đó, khái niệm trí thức chỉ có ý nghĩa khi xem xét dưới lăng kính xã hội, và người trí thức chỉ thực sự xuất lộ khi sử dụng các đặc trưng cơ bản của mình: tri thức chuyên môn, khả năng cảnh báo và định chuẩn, để thực hiện vai trò xã hội của chính mình.

    “Trí thức là gì?” là vấn đề gây tranh cãi từ lâu. Cho đến nay, vẫn chưa có câu trả lời thuyết phục. Bằng chứng của điều này là hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức đang tồn tại song hành, như: trí thức là người lao động trí óc, trí thức là người có học, trí thức là người khám phá và truyền bá tri thức, trí thức là người tích cực tham gia phản biện xã hội, trí thức là người dẫn dắt xã hội, trí thức là lương tâm của xã hội, trí thức là người không để cho xã hội ngủ v.v… Thậm chí, triết gia người Pháp Jean-Paul Sartre còn đưa ra một định nghĩa tuy bề ngoài có vẻ hài hước, nhưng rất khó bác bỏ: trí thức là người thích làm những việc chẳng phải của mình!

    Chính vì vậy, việc tìm một định nghĩa đúng và khả dụng về trí thức, là một một điều cần thiết. Điều này cần bắt đầu từ việc lần lại thời điểm sớm nhất mà khái niệm trí thức có thể được hình thành.

    Đặc phẩm của xã hội

    Ngược dòng lịch sử, thấy rằng: khi con người còn ở giai đoạn săn bắt hái lượm thì chắc chắn khái niệm trí thức chưa xuất hiện. Lý do là trong hoàn cảnh đó, một khái niệm như vậy là hoàn toàn vô nghĩa. Khi chỉ cần với tay thu lượm các sản phẩm của tự nhiên để phục vụ cuộc sống còn nặng bản năng tự nhiên, theo kiểu tự cấp tự túc, người ta chỉ quan tâm đến những thứ có thể ăn được còn hay hết, chứ không quan trọng việc có trí thức hay không trí thức.

    Điều đó dẫn đến một nhận định: thời điểm sớm nhất để hình mẫu, và do đó là khái niệm, về trí thức xuất hiện là khi loài người rời bỏ đời sống săn bắt hái lượm để tập hợp thành xã hội với cấu trúc tương đối chặt chẽ, khởi đầu bởi việc phát minh ra nông nghiệp, khoảng 8000-3500 năm trước công nguyên, và sau đó là chuyển vào sống trong các đô thị, không phải bởi trào lưu đô thị hóa thời hiện đại, mà ngay sau khi nông nghiệp đã tương đối phát triển, khoảng 3500-800 năm trước công nguyên.

    Việc phát minh ra nông nghiệp đòi hỏi phải thuần hóa một số giống cây trồng và động vật. Còn việc chuyển vào sống trong các đô thị đòi hỏi những kỹ năng tổ chức và dịch vụ cao cấp hơn đời sống nông nghiệp, khi những người sống trong đô thị không trực tiếp sản xuất ra thực phẩm. Đây chính là môi trường thuận lợi để những loại hình lao động mới, và do đó là các giai tầng mới ra đời, trong đó có trí thức.

    Nhận định này cho thấy, hình mẫu và khái niệm về trí thức chỉ có thể xuất hiện khi xã hội với một cấu trúc chặt chẽ được hình thành, tức là khi con người rởi bỏ đời sống hoang dã để tập hợp lại với nhau, hình thành nên những cộng đồng người, trong đó các cá nhân tương tác với nhau theo những qui định và nghi thức được cả cộng đồng thừa nhận, dù là thành văn hay ngầm định. Nói cách khác, trí thức là một sản phẩm đặc biệt của xã hội.

    Điều này cũng cho thấy, việc chọn ra một mốc thời gian cụ thể, gắn với một sự kiện cụ thể trong thời cận đại hoặc hiện đại, như ra đời của bản kháng nghị năm 1906 –sau đó được thủ tướng Pháp Clemenceau gọi là Tuyên ngôn của trí thức - nhằm chống lại một bản án oan sai trong “sự kiện Dreyfuss”, do nhà văn Pháp Émile Zola ký tên đầu, làm thời điểm ra đời của khái niệm trí thức là không chính xác. Hình mẫu về người trí thức, và do đó là khái niệm trí thức, chắc chắn phải xuất hiện sớm hơn thế rất nhiều, khi xã hội có cấu trúc chặt chẽ được hình thành. Tuy nhiên, tiêu chí để xác định “trí thức là gì?” sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, và thay đổi theo sự phát triển của xã hội.

    Vì thế, việc tra cứu các văn bản có chữ “trí thức” sẽ không giúp nhiều cho việc làm rõ nội hàm của khái niệm trí thức. Thay vào đó, cần đi vào tìm hiểu những đặc trưng chính của người trí thức, đặc biệt ở thời hiện đại, thông qua phân tích công việc và vai trò của họ đối với xã hội, mới có hy vọng trả lời một cách rốt ráo câu hỏi: Trí thức là gì?

    Phân công lao động

    Đã là con người, dù muốn hay không, trước hết phải đáp ứng được những nhu cầu sinh học tối thiểu của mình như ăn, uống, ở, mặc… Nếu như ở thời săn bắt hái lượm, những nhu cầu này được đáp ứng theo kiểu “tự cung tự cấp”, tức mỗi cá nhân phải tự lo cho mình, thì trong đời sống nông nghiệp và đặc biệt là đô thị, các nhu cầu này được đáp ứng không chỉ bởi kiểu “tự cấp tự túc”, mà còn bởi các dịch vụ trao đổi phức tạp.

    Cấu trúc chặt chẽ của xã hội và sự tương tác giữa các thành phần của nó cũng đã làm nảy sinh nhiều nhu cầu khác so với nhu cầu sinh lý thuần túy, như các nhu cầu về giải trí, nghệ thuật, sinh hoạt tinh thần, nghi lễ tôn giáo… Việc đáp ứng những nhu cầu này đòi hỏi những kỹ năng và kiến thức chuyên biệt, cần được học hỏi và tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định, nên không phải cá nhân nào cũng có thể làm được.

    Đây chính là cơ sở cho việc hình thành sự phân công lao động, và như một hệ quả, là mảnh đất sống cho những tầng lớp mới có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mình không thông qua sản xuất trực tiếp. Đặc điểm chung của họ là sử dụng lao động trí óc nhiều hơn lao động chân tay trong việc tạo ra sản phẩm; và sản phẩm của họ cũng không mang tính “tự cấp tự túc”, tức không thể dùng để đáp ứng trực tiếp các nhu cầu sinh học tối thiểu, mà dùng để trao đổi với người khác, dưới dạng hàng hóa hoặc dịch vụ.

    Ở thuở ban đầu, có thể hình dung công việc này liên quan đến các hoạt động văn hóa, giả trí, nghi lễ, tôn giáo, quản lý cộng đồng… Nói chung là liên quan đến các hoạt động tinh thần của con người và tương tác giữa người này với người khác trong xã hội. Đây là sự rẽ nhánh lần thứ nhất trong quá trình phân công lao động.

    Theo thời gian, xã hội càng phát triển và càng phức tạp, việc đáp ứng những nhu cầu này đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng càng chuyên biệt hơn nữa, cần nhiều thời gian và năng lượng hơn nữa, nên không một cá nhân nào có thể đáp ứng được tất cả những yêu cầu này, mà cần chuyên chú vào một hoặc một nhóm kỹ năng chuyên biệt. Tầng lớp lao động gián tiếp được phân chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo đặc thù của công việc, chẳng hạn: nghệ sĩ đáp ứng các nhu cầu giải trí, luật sư đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp của các cá nhân và tổ chức, bác sĩ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo viên đáp ứng nhu cầu giáo dục thanh thiếu niên, chính trị gia đáp ứng nhu cầu quản trị xã hội… Đây chính là sự rẽ nhánh thứ hai trong quá trình phân công lao động.

    Trong lần rẽ nhánh này, các thể loại công việc đã đa dạng hơn rất nhiều so với trước đây, nên tầng lớp lao động gián tiếp cũng trở nên phong phú hơn nhiều. Tuy nhiên, cũng giống như sự rẽ nhánh lần thứ nhất, mẫu số chung trong lao động của họ vẫn là phần lao động trí óc nhiều và quan trọng hơn phần lao động chân tay. Đặc biệt, trong số những người lao động trí óc, có một nhóm nhỏ tập trung vào việc thu thập và xử lý thông tin; phân loại và hệ thống hóa thông tin để hình thành tri thức; sử dụng tri thức để đào tạo người khác, hoặc ứng dụng cho những công việc cụ thể khác nhau… Nói gọn là khám phá, truyền bá và sử dụng tri thức.

    Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, khối lượng tri thức này ngày càng nhiều và càng chuyên biệt hóa. Kết hợp với sự công nghiệp hóa và sản xuất đại trà, và sau đó là sự ra đời của công nghệ thông tin, tri thức ngày càng trở lên quan trọng. Trong nhiều lĩnh vực kinh tế và dịch vụ, tri thức đã trở thành đồng thời là lực lượng sản xuất và hàng hóa trao đổi chính. Vì thế, ai nắm được tri thức, người đó có sức mạnh.

    Chính nhờ việc nắm được sức mạnh này, một dạng sức mạnh mới mẻ hoàn toàn so với sức mạnh cơ bắp, những người lao động trí óc này trở nên có vai trò quan trọng trong xã hội. Nhiều người gọi họ là trí thức. Tuy nhiên, việc đồng nhất hoạt động của trí thức với lao động trí óc, và vai trò của họ với việc khám phá, truyền bá và sử dụng tri thức, tuy không sai nhưng thiếu chính xác. Đó là nguyên nhân vì sao những tranh luận về trí thức kéo dài mãi không ngừng.

    Cá nhân và xã hội

    Như phân tích ở trên, trí thức là một sản phẩm đặc thù của xã hội. Sự ra đời của trí thức gắn liền với sự hình thành của xã hội loài người. Do đó, nếu tách trí thức khỏi xã hội để định nghĩa xem trí thức là gì thì sẽ còn phiến diện hơn cả việc đưa cá ra khỏi nước để tìm hiểu hoạt động của cá. Lý do là khi cá ra khỏi nước thì cá vẫn là cá về mặt hình thức, nhưng đưa trí thức ra khỏi xã hội thì trí thức sẽ biến mất.

    Xã hội được hợp thành bởi các cá nhân. Nhưng sự hợp thành này không phải là sự kết hợp cơ học thuần túy. Cụ thể, tính chất của xã hội không chỉ đơn thuần là tổng tính chất của các phần tử hợp thành, mà còn được quyết định phần nhiều bởi cơ chế tương tác giữa các phần tử. Chính cơ chế tương tác có tính cách nhân tạo này đã làm cho xã hội trở thành một hệ thống, tạo ra các đặc thù văn hóa, kinh tế, chính trị… và đến lượt nó, quay trở lại chi phối toàn bộ lối sống, nếp suy nghĩ, cách thức ứng xử của các cá nhân dưới dạng cả vô thức lẫn ý thức thông qua tập quán, giáo dục và luật pháp.

    Xã hội khi đó trở thành một thực thể có tính độc lập tương đối với cá nhân. Tính chất của xã hội sẽ phụ thuộc phần lớn vào chính cơ chế vận hành, tức cơ chế tương tác giữa các phần tử của xã hội, và những đặc trưng của nó, chứ không phải là tính chất của các cá nhân riêng lẻ. Sức ép của xã hội lên cá nhân trong trường hợp này là rất lớn, và đặc biệt lớn trong các xã hội toàn trị hoặc thần quyền.

    Như vậy, có sự tương tác hai chiều mãnh liệt, dưới dạng bồi đắp, chi phối, kiểm soát hoặc tàn phá lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội. Tuy cá nhân là phần tử cơ bản hợp thành xã hội, nhưng chính cá nhân cũng là nạn nhân của xã hội, theo nghĩa bị xã hội tìm cách đồng hóa làm mất các đặc trưng riêng của mình. Tổ chức xã hội càng phức tạp thì mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội càng lớn, sức ép của xã hội lên cá nhân càng nặng nề.

    Trước sức ép thường trực này, cả dưới dạng vô thức và ý thức, cá nhân dần đánh mất đi rất nhiều sự tự do và độc lập nguyên thủy của mình, mất dần khả năng tự quyết và tầm mức ảnh hưởng của mình trong các vận động xã hội lớn. Ngay cả trong những vận hành thường ngày của xã hội, điều này cũng không ngoại lệ, và có thể được minh chứng qua câu nói cửa miệng của rất nhiều người: Tại cơ chế! Như vậy, trăm sự là tại cơ chế, tức có nguyên nhân từ sự vận hành của hệ thống, chứ không phải là từ cá nhân.

    Giá trị phổ quát

    Khi từ bỏ đời sống săn bắt hái lượm tự do để bước vào đời sống xã hội với vô số tương tác, con người đã học cách cư xử, làm việc và chung sống với nhau, hình thành nên những nhân sinh quan, thế giới quan mới mà thời nguyên thủy không có. Theo thời gian, những nhân sinh quan, thế giới quan này sẽ được tinh luyện để tạo thành những giá trị có tính phổ quát, tức đúng trong một khoảng thời gian rất dài và với đại chúng, như Chân, Thiện, Mỹ; và gần đây hơn là Tự do, Bình đẳng, Dân chủ, Nhân quyền, Công lý… Những giá trị phổ quát này sẽ đóng vai trò định chuẩn cho xã hội, tỏa ra trong mọi ngõ ngách của đời sống, ảnh hưởng đến mọi hoạt động của cá nhân dưới nhiều thể nhiều dạng khác nhau như văn hóa, thói quen, tác phong… Với vai trò định chuẩn này, chúng sẽ giúp xã hội vận hành trơn tru và phát triển được trong thế ổn định tương đối, tránh được những xung đột, đổ vỡ và hỗn loạn do mâu thuẫn lợi ích và xung đột văn hóa gây ra. Chúng cũng giúp điều hòa mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội hầu cho cá nhân không bị bóp nghẹt trước sự chèn ép của xã hội; giúp cho xã hội giữ được sự lành mạnh cần thiết, không bị tha hóa thành một địa ngục nhân tạo do lòng tham, bạo lực và sự u mê gây ra, đặc biệt là từ sự lạm dụng các phương tiện vật chất và quyền lực của những cá nhân có thể chi phối sự vận hành của cả hệ thống.

    Những giá trị phổ quát này ổn định trong một khoảng thời gian dài, nhưng không phải là bất biến. Nếu như Chân, Thiện, Mỹ có thể được coi như một giá trị phổ quát ở cả phương Đông lẫn phương Tây, tồn tại bền vững từ hàng nghìn năm nay, thì Trung quân – tức là trung thành với nhà Vua – một giá trị có tính phổ quát thời phong kiến, đã bị loại bỏ vì đi ngược lại xu thế phát triển của xã hội hiện đại. Gần đây, một số giá trị mới hình thành ở phương Tây như Tự do, Dân chủ, Bình đẳng, Nhân quyền… đã được truyền bá khắp thế giới và được coi là những giá trị phổ quát mới, bên cạnh bộ ba Chân-Thiện-Mỹ truyền thống.

    Việc hình thành một, hoặc một bộ, giá trị phổ quát thường rất gian nan, và phải trả những giá rất đắt. Thông thường, những giá trị phổ quát này sẽ được hình thành ở một nơi nào đó có những điều kiện chín muồi và lan dần sang các nơi khác tiếp xúc với nó như những làn sóng văn hóa, kinh tế, chính trị…, hình thành nên một xu thế mới của phát triển.

    Do vai trò quan trọng của các giá trị phổ quát đối với việc bảo vệ cá nhân, bảo vệ sự lành mạnh của xã hội, cũng như định hướng phát triển cho xã hội sao cho hòa nhịp được với những trào lưu phát triển mới, nên trong các cuộc đấu tranh phát triển, chúng thường được coi là chính nghĩa. Chúng có sức mạnh nội tại như một giá trị phổ quát và sức mạnh thời đại của một trào lưu mới, nên trong các cuộc đối đầu, lực lượng nào nắm được chính nghĩa, hoặc được dân chúng tin là có chính nghĩa, thường là người thắng cuộc. Lực lượng này cũng thường được coi là tiến bộ vì hòa nhập được với sức mạnh của một trào lưu phát triển mới. Ngược lại, nếu tìm cách lảng tránh hoặc chống trả những giá trị phổ quát này, vì thiển cận hoặc vì lợi ích của một nhóm nhỏ, xã hội sẽ phải trả giá đắt, thậm chí bị phá hủy, vì cưỡng lại một động năng phát triển khổng lồ của thời đại. Những người chống lại các giá trị phổ quát mới này, và do đó là chống lại các làn sóng phát triển mới, sẽ bị coi là phản động, theo đúng nghĩa đen của từ này.

    Với những nơi không phải là chỗ xuất phát của những giá trị phổ quát mới này, nếu biết chủ động và khôn khéo cưỡi lên những đợt sóng phát triển này thì sẽ tận dụng được động năng to lớn của cả một trào lưu mới, thường được gọi là sức mạnh thời đại, để phát triển. Do đó, “đi tắt đón đầu” trong phát triển, không có cách nào nhanh và hiệu quả hơn việc chủ động hấp thụ và quảng bá những giá giá trị phổ quát mới, hội nhập vào những dòng chảy mới của thời đại. Còn kéo lùi sự phát triển, không cách nào ghê gớm hơn việc ngăn chặn sự truyền bá cac giá trị phổ quát và tinh hoa tư tưởng của nhân loại.

    Về mặt triết học, có thể coi các giá trị phổ quát chính là kết quả của các quá trình đấu tranh biện chứng trong nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Sau khi đã được hình thành, được tinh luyện theo thời gian và được thừa nhận rộng rãi, thì chính các giá trị phổ quát sẽ trở thành các trung giới cho các quá trình biện chứng khác đang hàng ngày hàng giờ diễn ra trong mọi mặt của của đời sống, với tư cách định chuẩn cho sự vận hành và phát triển của cả xã hội.

    Tự do nội tại

    Áp lực của xã hội với tư cách là một hệ thống lên cá nhân, đặc biệt là trong các xã hội hiện đại, là một điều được thừa nhận hiển nhiên. Tuy nhiên, vấn đề có tính triết học cần đặt ra: Đâu là giới hạn của sự chèn ép này? Có chăng một khoảng tự do nội tại, bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt bởi các yếu tố bên ngoài, trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân? Nếu có, cá nhân nên sử dụng khoảng tự do bất khả tước đoạt đó như thế nào để tự bảo vệ mình và bảo vệ sự lành mạnh của xã hội?

    Con người, từ khi chuyển từ vượn thành người, và thông qua lịch sử phát triển của mình, đã tự chứng minh là một sinh vật có lý trí. Điều này có nghĩa, con người có thể sử dụng lý trí của mình để đưa ra các lựa chọn. Quá trình này diễn ra trong bộ não người, do đó về bản chất, có tính độc lập tương đối với những gì đang diễn ra ở bên ngoài. Chính khoảng độc lập tương đối này là cơ sở cho sự tồn tại của một thứ tự do có tính chất nội tại, bất khả xâm phạm đối với mọi chèn ép từ xã hội bên ngoài lên cá nhân.

    Đây là thứ tự do không thể tước đoạt. Trong trường hợp cùng cực nhất, cá nhân vẫn có thể lựa chọn bất hợp tác, hoặc cao hơn là tự hủy, bằng cách này hoặc cách khác. Các trường hợp tuyệt thực, tuẫn tiết… là những ví dụ điển hình cho lựa chọn của cá nhân trong những trường hợp khốn cùng. Chính những lựa chọn tự hủy của cá nhân trong các trường hợp này đã chứng thực cho tính không thể tước đoạt bởi xã hội của thứ tự do này.

    Trong thực tế, do giáo dục, ràng buộc, định kiến, qui tắc, nghi lễ, luật pháp, định chế, sự sợ hãi, sự u mê, áp lực cuộc sống, lòng tham, sự toan tính… mà các cá nhân thường quên mất rằng, mình có một tự do nội tại bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt. Có thể gọi điều này là sự đánh mất mình. Chỉ trong những hoàn cảnh rất đặc biệt, hoặc sau một quá trình chiêm nghiệm và tu tập lâu dài, cá nhân mới tái khám phá ra sự tồn tại của thứ tự do nội tại này. Sự kiện này thường được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau, như sự thức tỉnh, ngộ đạo, tìm lại được bản thân mình… nhưng đều có chung bản chất là tái khám phá ra tự do nội tại của cá nhân để thoát khỏi định kiến và sự sợ hãi, giành lại sự tự chủ cho cá nhân trong mọi cuộc ứng xử với chính mình và thế giới bên ngoài.

    Chính việc ý thức được sự tồn tại của thứ tự do nội tại này sẽ giúp cá nhân đứng vững trước sự chèn ép của xã hội. Và thông qua đó, cá nhân ý thức được bản ngã và giá trị của bản thân mình, đồng thời điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp nhất, theo nghĩa tốt cho không chỉ bản thân cá nhân đó mà còn cả cộng đồng. Điều này tạo cơ sở cho sự hình thành một phẩm tính khác, gọi là lương tri. Như vậy, tự do nội tại của cá nhân chính là nơi trú ngụ của lương tri con người.

    Điều này giải thích vì sao những người tu tập để khám phá và nuôi dưỡng tự do của riêng mình, những người dám cất lên tiếng nói hoặc dấn thân bảo vệ tự do của con người, lại thường được gọi là lương tâm của xã hội hay rộng lớn hơn là lương tri của nhân loại.

    Điều thú vị là thứ tự do này, nếu xét về tầm mức thì rất nhỏ bé và chỉ xuất lộ trong những hoàn cảnh đặc biệt, lại thường được gọi là đại tự do. Chắc hẳn điều này gắn liền với mức độ tác động của nó đối với cuộc sống của cá nhân, và cả ở sự khó khăn của mỗi người phải trải qua trước khi đạt được nó.

    Với người trí thức, việc nhận thức được sự tồn tại của thứ tự do nội tại này sẽ giúp họ có đủ cơ sở ở trong lý luận, và sau đó là dũng cảm ở trong hành động, để theo đuổi những giá trị phổ quát đã nói ở trên, hầu thực hiện vai trò xã hội của chính mình.

    Trí thức là gì?

    Như vậy, đến đây đã có đủ cơ sở để trả lời câu hỏi “Trí thức là gì?”, như sau: Trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ, truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng như những trung giới trong các quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

    Từ cách hiểu về trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ và quảng bá những giá trị phổ quát của con người, có thể suy ra, và sau đó là kiểm chứng, những phẩm tính của người trí thức. Tùy hoàn cảnh cụ thể mà các phẩm tính này thể hiện ra dưới dạng khác nhau, nhưng có thể liệt kê một vài trong số đó: Yêu tự do, yêu chân lý, yêu mến cái đẹp, tư duy độc lập, trung thực, sáng tạo, lương thiện, không thoả hiệp với cái xấu và cái ác…

    Những phẩm tính này sẽ được bộ lộ ra thông qua hành động của họ, ở mức cơ bản nhất là lựa chọn và thái độ. Do đó, xã hội nhận biết một cá nhân có phải là trí thức hay không, trước hết thông qua lựa chọn và thái độ của cá nhân này, sau đó là trong chuỗi hành động của anh ta và hệ quả của nó đối với xã hội.

    Như thế, người trí thức với tư cách là một sản phẩm đặc thù của xã hội, xuất lộ khi xem xét dưới góc nhìn của xã hội đối với cá nhân, phải là người có lựa chọn và thái độ rõ ràng đối với các vấn đề xã hội, ở mức độ đủ tường minh để xã hội nhận biết được. Xã hội càng loạn lạc thì lựa chọn và thái độ càng phải rõ ràng, hầu cho đại chúng có thể nhận ra được mà hướng theo. Chính qua lựa chọn và thái độ của mình, người trí thức khẳng định cơ sở tồn tại , và qua đó là được xã hội thừa nhận như một hệ quả tất yếu. Nói cách khác, cơ sở tồn tại của người trí thức nằm ở mối tương quan của anh ta đối với xã hội, chứ không phải trong đời sống cá nhân. Vai trò của người trí thức, vì thế, cũng nằm ở vai trò xã hội của anh ta. Thiếu vai trò xã hội này, người trí thức sẽ suy biến thành một nhà chuyên môn thuần túy.

    Do đặc tính trừu tượng của những giá trị phổ quát, nên những người nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá chúng thường là người lao động trí óc. Điều này gây ra một cảm nhận rằng trí thức là người lao động trí óc. Tuy nhiên, qua những phân tích ở trên, có thể thấy nhận định này là phiến diện. Lý do là nó đã chỉ tập trung vào một đặc điểm nhận dạng, mà không chỉ ra được đặc trưng cơ bản nhất của người trí thức, và đặc biệt, không xét người trí thức trong tương quan của họ đối với xã hội.

    Do sự phân công lao động, những người lao động trí óc thường phải là người được đào tạo, tức người có học, định lượng chủ yếu thông qua bằng cấp. Do đó, cũng có ý kiến cho rằng, trí thức là người có học, hoặc cụ thể hơn là người đã tốt nghiệp đại học. Định nghĩa này còn phiến diện hơn cả định nghĩa trí thức là người lao động trí óc, nhất là khi việc học đại học đang ngày càng trở thành phổ cập.

    Cũng vì nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá những giá trị phổ quát, nên về mặt hình thức, người trí thức thường có xu hướng đứng về phía đại chúng. Tuy nhiên, đây không nhất thiết phải là điều luôn luôn đúng. Xét về bản chất, người trí thức sẽ đứng về phía những giá trị phổ quát, bất kể nó đang ở phía bên này hay bên kia.

    Cũng cần lưu ý rằng trí thức không phải là một nhãn mác vĩnh cửu, một khi đã được dán lên một cá nhân nào đó thì mãi mãi không thay đổi. Đời sống của mỗi cá nhân là tổng hợp của vô vàn hoạt động, trong đó có nhiều hoạt động mang tính bản năng, nên không hẳn lúc nào cũng có các giá trị phổ quát ở trong đó. Cho nên, sẽ rõ ràng hơn nếu nhìn nhận rằng, người trí thức có những phẩm tính đặc trưng, và những phẩm tính này sẽ bộc lộ ra ở những thời điểm cần thiết, chứ không nhất thiết phải đóng khung một hình mẫu cứng nhắc. Ngay cả khi một người đã được thừa nhận là trí thức, thì cũng không có gì đảm bảo rằng anh ta sẽ không bị tha hóa dưới tác động của lòng tham và sự u mê. Sự tha hóa này có thể được hiểu là việc người trí thức buông bỏ tự do nội tại và những giá trị phổ quát để hùa theo cường quyền, hùa theo cái ác và cái xấu, nhằm trục lợi cá nhân. Trong trường hợp này, anh ta không còn là trí thức, dù vẫn còn đầy đủ chức danh, bằng cấp, hay sự thừa nhận chính thức của các cơ quan công quyền.

    Ngược lại, có những người ban đầu chỉ là nhà chuyên môn thuần túy, nhưng sau đó ý thức được vai trò xã hội của mình, ý thức được sự cần thiết phải bảo vệ và quảng bá những giá trị phổ quát, nên dần chuyển hóa thành người trí thức.Vì thế, trí thức là một khái niệm động, chứ không phải là một nhãn mác vĩnh cửu. Người trí thức do đó, cũng luôn cần phải tự soi mình.

    Vì tự do và các giá trị phổ quát đều thuộc về nhận thức cá nhân, hoạt động chủ yếu trong đời sống tinh thần của cá nhân đó, nên sự tha hóa của trí thức rất khó nhận biết, nhất là khi đã được khéo léo ngụy trang bởi bằng cấp, chức danh, truyền thông đại chúng… Vì thế, trí thức chân chính bao giờ cũng rất ít, chỉ được nhận biết trước hết bởi cá nhân họ, sau đó là sự thừa nhận của xã hội thông qua hành vi của họ, mà trước hết là ở lựa chọn và thái độ của họ đối với các vấn đề xã hội.

    Sự đánh tráo các giá trị phổ quát, hoặc ngụy tạo cho những giá trị phổ quát ảo bằng tuyên truyền và các mỹ từ, nhằm trục lợi cá nhân hoặc bảo vệ lợi ích phe nhóm, cũng thường xảy ra trong lịch sử, nhất là ở những nơi dân trí còn chưa được mở mang đúng mức. Trong trường hợp này, tất yếu sẽ xuất hiện những kẻ, thậm chí là nhóm lớn, ngụy trí thức. Đây chính là những kẻ đạo đức giả, kẻ thù tự nhiên của trí thức chân chính.

    Phân biệt được đâu là trí thức chân chính, đâu là ngụy trí thức, nếu chỉ căn cứ trên lời nói và sự phô diễn, thì thường rất khó khăn. Nhưng nếu nhìn vào hành vi của họ, từ động cơ thực hiện, phương tiện sử dụng và mục đích hướng tới, và đặc biệt là hậu quả của các hành vi này với đối với xã hội trên diện rộng, thì những ngụy trí thức này sẽ hiện nguyên hình là kẻ đạo đức giả hoặc “lưu manh giả danh trí thức”.

    Vai trò xã hội của trí thức

    Nếu chỉ xét mối tương quan giữa cá nhân và xã hội, trí thức chính là người bị chèn ép nhiều nhất vì có khả năng nhất trong việc chỉ ra những yếu kém của xã hội. Tuy nhiên, người trí thức có những vũ khí mà xã hội không thể tước đoạt, đó là tự do nội tại và những giá trị phổ quát. Người trí thức sẽ dùng chính vũ khí này để thực hiện sứ mệnh của mình, qua đó khẳng định sự tồn tại của mình, đối với xã hội. Vậy sứ mệnh của trí thức, hay vai trò xã hội của trí thức, là gì?

    Dưới góc độ chuyên môn, trí thức chính là người tìm kiếm và sáng tạo ra những tri thức mới, và sau đó là truyền bá và sử dụng những tri thức này để nâng cao đời sống của xã hội, cả về vật chất lẫn tinh thần. Chiếm lĩnh được tri thức, người trí thức có sức mạnh, và do đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội. Sự đóng góp của người trí thức đối với xã hội, trước hết nằm ở khía cạnh này.

    Tuy nhiên, những tìm kiếm và sáng tạo tri thức cần phải dựa trên những giá trị phổ quát, hướng đến việc thúc đẩy, hoặc ít nhất là vô hại, sự phát triển của xã hội. Nếu một sáng tạo hoặc tìm kiếm tri thức mục đích của nó là nhằm thống trị hay hủy diệt con người, hoặc hủy hoại những thành tựu văn hóa của con người, thì người sáng tạo ra tri thức đó không thể được gọi là trí thức, mà là tội phạm hoặc kẻ khủng bố. Trong các cuộc chạy đua vũ trang trên thực tế, đặc biệt là trong các nghiên cứu liên quan đến vũ khí hóa học, sinh học, nguyên tử, rất khó phân định đâu là sự tìm kiếm tri thức nhằm thống trị và đâu là để tự vệ. Đó chính là lý do vì sao các hoạt động tìm kiếm và sáng tạo tri thức cần phải chịu sự giám sát chặt chẽ của các tiêu chuẩn đạo đức, cả ở mức chuyên biệt và phổ quát. Nếu không, dưới sự thúc giục của lòng tham và nhu cầu quyền lực, sẽ có những tội ác nhân danh sự tìm kiếm tri thức mà kẻ thực hiện chúng là những tội phạm giả danh trí thức. Trong những trường hợp đặc biệt này, lương tri và đạo đức cần phải được đặt cao hơn tri thức, mà ví dụ điển hình là việc nhiều nhà khoa học đồng thanh yêu cầu dừng sử dụng năng lượng nguyên tử làm vũ khí hủy diệt, dù trước đó họ có đóng góp trong việc khám phá ra thứ năng lượng này.

    Bên cạnh việc tìm kiếm, sáng tạo và truyền bá tri thức, do lợi thế về am hiểu chuyên môn, trí thức cần là người lên tiếng cảnh báo những nguy cơ và hiểm họa đến từ tự nhiên và xã hội. Những hiểm họa đến từ tự nhiên có thể được cảnh báo nhờ máy móc thiết bị, nhưng hiểm họa đến từ xã hội thì không thể. Do đó, việc có chính kiến, và gióng lên hồi chuông cảnh báo công luận trước những hiểm họa , đặc biệt là hiểm họa nhân tạo, là vai trò của trí thức.

    Đây là sự cảnh báo nhân danh những giá trị phổ quát, chứ không phải là nhân danh cá nhân người trí thức. Vì thế, sự cảnh báo thường có tính độc lập và khách quan tương đối. Sức mạnh của cảnh báo, đặc biệt là những cảnh bảo xã hội, phụ thuộc chủ yếu vào bộ giá trị phổ quát mà nó dựa vào, chứ không phải ở vị trí xã hội của người đưa ra cảnh báo hoặc số người tham dự. Chính nhờ vai trò cảnh báo này mà người trí thức thường được coi là lương tri của xã hội.

    Sự cảnh báo, nếu chỉ giới hạn vào các hiểm họa nhân tạo có thể xảy đến từ các chính sách thiếu cơ sở của nhà cầm quyền, thì thường được hiểu như là sự phản biện chính sách, hay phản biện xã hội khi mở rộng ra các lĩnh vực khác. Sự phản biện này chỉ xuất hiện khi một chính sách đã hoặc sắp hình thành, nên có phạm vi tác động nhỏ hơn sự cảnh báo. Vì thế, phản biện không thể thay thế được cảnh báo.

    Bên cạnh hai vai trò đã nêu trên, trí thức cũng chính là người định chuẩn trong xã hội, sao cho xã hội được lành mạnh, vận hành hiệu quả, phát triển bền vững. Sự định chuẩn này cũng cần phải dựa trên cơ sở là những giá trị phổ quát, chứ không phải là những kiến thức chuyên biệt hay ý muốn của bất cứ cá nhân hoặc nhóm người nào. Chỉ khi nào việc định chuẩn dựa được trên những giá trị phổ quát, đã được kiểm chứng ở nhiều nơi trong suốt chiều dài lịch sử, thì mới có thể giảm thiểu được những sai sót và ấu trĩ về nhận thức gây ra. Ngược lại, nếu sự định chuẩn này chỉ dựa trên ý muốn chủ quan của một vài cá nhân, hoặc tri thức chuyên môn của một nhóm người, thì khả năng gặp phải sai sót do sự ấu trĩ, thiển cận, hạn hẹp tầm nhìn, là rất lớn.
    Việc định chuẩn này không phải là đưa ra một giải pháp cụ thể, do đó không thể đòi hỏi trí thức phải đưa ra giải pháp cho từng vấn đề riêng biệt. Đưa ra giải pháp là công việc của các nhà chuyên môn, còn ban hành chính sách là công việc của các chính trị gia. Người trí thức chỉ dùng các giá trị phổ quát, như Chân, Thiện, Mỹ, Tự do, Bình đẳng, Dân chủ, Nhân quyền… để định chuẩn cho mọi hoạt động của xã hội, bất kể đó là các hoạt động văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục v.v.

    Các giá trị phổ quát là kết tinh của các kinh nghiệm hoạt động của con người trong suốt chiều dài lịch sử, nên mang trong mình tính kế thừa, cả trong thời gian lẫn không gian. Vì thế, nếu sử dụng các giá trị phổ quát làm cơ sở cho việc định chuẩn cho xã hội thì sẽ tránh được những đổ vỡ, xáo trộn do sự mâu thuẫn và va đập giữa các thang giá trị của các thế hệ và các nền văn hóa khác nhau. Nếu sự định chuẩn này đặt cơ sở trên các giá trị mới chưa được kiểm chứng, hình thành nên do sự mò mẫm hoặc ý muốn chủ quan với mong muốn tạo ra những nhảy vọt lớn, hay những ảo tưởng thiếu cơ sở, thì việc tạo ra các đứt gãy, làm phá vỡ sự bền vững của xã hội, gây nên nhiều tai họa cho dân chúng là điều khó tránh khỏi. Cuộc cách mạng văn hóa tàn khốc ở Trung Quốc những năm 1958-1968 là minh chứng rõ rệt cho điều này.

    Chính vì thế, nếu xem xét xã hội như một tiến trình liên tục, tiến lên được nhờ những đấu tranh biện chứng, cả trong nhận thức và hành động, thì các giá trị phổ quát sẽ đóng vai trò là các trung giới của các quá trình đấu tranh biện chứng này, đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trong mọi mặt của đời sống. Người trí thức với tư cách là người nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá những giá trị phổ quát, vì lẽ đó, cũng đã tự đặt mình vào vị trí trung giới của các quá trình vận động biện chứng của xã hội. Họ chính là người tạo điều kiện cho sự ra đời và nâng đỡ cái mới tiến bộ, và loại bỏ cái cũ đã lạc hậu, giúp cho xã hội đổi mới và phát triển không ngừng.

    Thay lời kết

    Trí thức là một sản phẩm đặc biệt của xã hội. Sự xuất hiện của người trí thức gắn liền với việc hình thành xã hội. Do đó, ý nghĩa của khái niệm trí thức, và sâu xa hơn là vai trò của người trí thức, chỉ có thể được hiểu đầy đủ khi đặt vào mối liên hệ với xã hội. Chính nhờ việc đặt vào mối liên hệ này, những đặc trưng của người trí thức mới được xuất lộ. Trong số những đặc trưng này, quan trọng nhất là tìm kiếm, sáng tạo và truyền bá tri thức - gọi là đặc trưng tri thức; cảnh báo các hiểm họa cho xã hộ - gọi là đặc trưng cảnh báo; và định chuẩn cho xã hội – gọi là đặc trưng định chuẩn. Tất cả các hoạt động liên quan đến ba đặc trưng này của người trí thức đều phải dựa trên những giá trị phổ quát mà họ nuôi dưỡng, bảo vệ và truyền bá.

    Có thể biểu diễn ba đặc trưng này và mối quan hệ giữa chúng trên một hình tam giác, tạm gọi là tam giác đặc trưng, như sau:

    Tùy theo năng lực cá nhân và tính cách mà mỗi người trí thức có một tam giác đặc trưng, với kích thước và hình dạng khác nhau. Kích thước của tam giác đặc trưng phụ thuộc trước hết vào tài năng cá nhân của người trí thức, sau đó là độ lớn của chiều kích các giá trị phổ quát mà người trí thức theo đuổi. Còn hình dạng của tam giác đặc trưng phụ thuộc vào tỷ lệ đóng góp của người trí thức trên ba phương diện “Tri thức – Định chuẩn – Cảnh báo” đối với xã hội. Các tỷ lệ này gia giảm tùy theo đặc thù , ưu tiên công việc và cá tính của mỗi người, nhưng không được biến mất hoàn toàn. Nếu không, tam giác đặc trưng sẽ suy biến thành một đoạn thẳng hoặc điểm. Trong trường hợp suy biến thành đoạn thẳng, người trí thức sẽ không còn là một điển hình mẫu mực. Còn trong trường hợp suy biến thành điểm, người trí thức bị suy thoái thành nhà chuyên môn thuần túy nếu chỉ tập trung vào tri thức, hoặc kẻ quấy rối nếu chỉ tập trung vào cảnh báo, hoặc kẻ đạo đức giả nếu chỉ tập trung vào định chuẩn.

    Cũng qua tam giác đặc trưng này, thấy rằng: các giá trị phổ quát đóng vai trò trung tâm trong đời sống tinh thần, là bảng giá trị và vũ khí tối hậu của người trí thức. Buông bỏ chúng, người trí thức không chỉ trắng tay, mà còn xóa bỏ luôn các đặc trưng nhận dạng của mình, do đó xóa bỏ sự tồn tại của mình dưới góc nhìn xã hội.

    Ở đỉnh thứ nhất của tam giác đặc trưng, thông qua việc chiếm giữ tri thức chuyên môn, người trí thức sẽ có được sức mạnh của sự hiểu biết, tư duy độc lập, sự sáng tạo, tức sức mạnh của lý tính. Với vai trò này, người trí thức được coi như bộ não của xã hội.

    Ở đỉnh thứ hai của tam giác đặc trưng, thông qua việc cảnh báo những hiểm họa có thể xảy đến, đặt biệt là các hiểm họa nhân tạo do xã hội tạo ra, vai trò xã hội của trí thức được xuất lộ. Thông thường, sự cảnh báo này thường liên quan đến việc bảo vệ sự lành mạnh của xã hội, lên án sự chà đạp của cường quyền lên nhân tính, sự đồng cảm với những người kém may mắn, người thấp cổ bé họng, người đang chịu áp bức bất công, nên ở vai trò này, người trí thức thường được coi là lương tâm của xã hội.

    Ở đỉnh thứ ba của tam giác đặc trưng, thông qua việc sử dụng những giá trị phổ quát để định chuẩn cho xã hội, người trí thức đã tự đặt mình vị trí gương mẫu cho đại chúng. Việc sử dụng những giá trị phổ quát như những trung giới của các quá trình đấu tranh biện chứng, hầu tạo ra sự đổi mới và phát triển của xã hội, ngưới trí thức đã tự đặt mình vào vị trí trung giới của sự phát triển. Vì thế, ở vai trò này, người trí thức được coi là người dẫn dắt sự phát triển của xã hội.

    Cả ba vai trò này của người trí thức đều chỉ xuất lộ và phát huy tác dụng khi xét người trí thức trong mối quan hệ với xã hội. Chính ở trong mối quan hệ này, người trí thức tìm được cơ sở tồn tại của mình.

    Nếu coi xã hội là một cơ thể sống, tương tự như một cá nhân, thì trí thức chính là phần tự do nội tại của cơ thể đó. Nếu tự do nội tại của cá nhân là nơi trú ngụ của lương tri con người, thì trí thức chính là nơi trú ngụ của lương tri xã hội. Tự do, vì thế là không khí để thở của trí thức. Thiếu tự do, trí thức sẽ chết. Khi đó, những giá trị phổ quát mà người trí thức nuôi dưỡng và bảo vệ cũng sẽ chết theo, dẫn đến sự chậm tiến của xã hội do thiếu tri thức, sự hỗn loạn do mất cảnh báo và thiếu chuẩn mực. Hậu quả của nó là sự tàn phá trên diện rộng, có thể đến mức gây sụp đổ, cho toàn xã hội.

    _________________

    Bài đã đăng trên Tạp chí Tia Sáng, số ra ngày 20/4/2012. Bản điện tử: phần 1, phần 2.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    33 phản hồi

    Khái niệm và tranh luận

    Thưa quý bác,
    Đọc thấy nhiều câu hỏi gấp gáp và ráo riết quá thành ra cũng đâm cuống luôn; Dù sao, „kiên trì và nhẫn nại“ thì cũng thu được chút gì lợi lạc. Tôi thấy rất thú vị khi đọc câu giải ngắn và rõ của bác Khách Qua Đường (56604): Có đội ngũ mang tên „khoa bảng“.

    Thực ra, đi đến thống nhất một định nghĩa, một khái niệm cũng cần thiết để trao đổi là bước quan trọng trong sinh hoạt trí thức. Dù thế nào, bài của tác giả Giáp Văn Dương cũng như chiếc „rìu“ để chúng ta nấu chung nồi cháo; tôi cảm ơn tác giả trong tinh thần đó.
    Có chút khác về nội dung, nhưng quan niệm (định nghĩa) của tôi về „(người) trí thức“ là:
    Người trí thức là người làm công việc chủ yếu của đời mình trên lĩnh vực bảo lưu, truyền trao và phát triển tri thức.
    Chữ „tri thức“ trong vai trò danh từ thì nghĩa là „kiến thức“; Trong vai trò động từ, nó bao gồm 2 quá trình là „tri“ – nhân biết qua các giác quan và „thức“ - luận lý để nhận ra những tương quan giữa các sự vật, sự việc. („Nhận thức luận“ mà bác slinkee đề cập là vấn đề dài, khó nhưng thú vị vì đó chính là công cụ cho sinh hoạt tri thức – Tư duy.) Người học có bằng cấp công nhận số vốn tri thức cần thiết tối thiểu nào đó thì đứng trong hàng ngũ „khoa bảng“. Khi những người này dùng vốn tri thức có được đó để phục vụ mưu sinh (tất nhiên là phải tích tụ thêm vì tri thức luôn tiến tới) thì không được gọi là „trí thức“ vì thiếu 2 yêu cầu „truyền trao và phát triển“. Hơn một bậc trong „khoa bảng“ là những người làm việc giảng dạy thì có „truyền trao“, nhưng không đầu tư tư duy để „phát triển“ thì họ cũng chỉ ở mức „khoa bảng mưu sinh" thôi.

    Xét như thế thì tất cả quý vị tham gia trao đổi mọi vấn đề trên diễn đàn đều là trí thức vì đang tham gia „định hình và phát triển tri thức“. Chúng ta cũng không ngại ngần gì mà không nhận tên gọi này vì đang làm công việc của nó. Trong tu học giáo lý Buddha, các thày thường dạy: Nếu tôi tu theo hạnh của một vị Bồ-tát nào đó thì tôi vẫn có thể xác nhận mình mang tên vị Bồ-tát đó; Thí dụ nói: Tôi là Địa tạng vương, Tôi là Quán thế âm Bồ-tát. Etc.
    Tất nhiên việc xác định vị trí và tư thế là để có chính kiến trong trao đổi và học hỏi; Chẳng phải là cái gì làm ta sợ hay đáng để đem ra khoe mẽ.

    Thân mến.

    Chủ đề này mãi vẫn chưa dứt cơ à???

    Trí thức có nhiều định nghĩa lắm, không thống nhất thì cãi nhau đến Tết Công gô???!!!

    Hỏi thế này cho dễ hơn này:

    - Trí thức thì đóng góp gì cho XH???
    - Không trí thức có đóng góp gì cho XH không??? Ví dụ đám kỹ sư, bác sỹ, chuyên viên...v...v...

    - Dùng kiến thức để mưu sinh có đóng góp gì cho XH không??? Ví dụ chế tạo 1 chi tiết máy nào đó, tất nhiên được hãng trả tiền (lương), có được xếp vào hàng đóng góp cho XH không???

    - Bill Gates, Steve Jobs... hiển nhiên là làm giầu (riêng tư) rồi, nhưng họ có đóng góp gì cho XH không???

    Có lẽ giá trị của 1 người nằm ở chỗ họ đóng góp gì cho XH, hay chính xác hơn, cho sự phát triển của XH!!!???

    Longdan viết:
    Về cơ bản em đồng ý nhận định về trí thức của bạn, nhưng ở đoạn trích dẫn trên bạn mắc sai lầm..
    Mưu cầu hạnh phúc CÁ NHÂN là chính đáng là đúng (người ta sinh ra có quyền mưu cầu hạnh phúc..) chỉ có mưu cầu hạnh phúc VỊ KỶ như cha con Nguyễn Tấn Dũng, Tô Huy Rứa.. mới là sai, là tội ác mà thôi.

    Tớ không phê bình, không đánh giá cái quyền tự nhiên của con người là mưu cầu hạnh phúc cá nhân . Tớ không so sánh cách mưu cầu hạnh phúc cá nhân của mỗi người.

    Ý của tớ là: Khi đem thí dụ về vị bác sỹ, vị này chỉ là một người có bằng cấp đại học, một người như muôn ngàn người tốt nghiệp đại học khác (kỹ sư, chuyên viên....) dùng kiến thức trong trường để mưu sinh, chứ không phải là một TRÍ THỨC.

    Vấn đề ông Nguyễn Tấn Dũng, Tô Huy Rứa.....lại là vấn đề khác, bác ơi.

    Ô, tô hô!! Từ nay các kỹ sư bác sĩ không gọi là trí thức nữa mà gọi là "chuyên viên", "dân nhà nghề", "khoa bảng" theo sáng kiến của những người "dân nhà nghề" hay "chuyên viên" hay "khoa bảng" hay "TRÍ THỨC đây"? Hồi kỷ niệm một nghìn năm Thăng LOng, giá như không kẻ khu dành riêng cho các kỹ sư, bác sĩ, thạc sĩ tiến sĩ làm ở các cục vụ viện...là "CHUYÊN VIÊN" hay "DÂN NHÀ NGHỀ" hay "KHOA BẢNG" thì các ông kỹ sư, bác sĩ... không biết mình đứng ở chỗ nào? Lại có khu "TRÍ THỨC" thì không biết những ai sẽ đứng đấy, hay các bác sĩ, kỹ sư... vào đấy mà đứng, rồi có người phải chỉ dẫn sang khu:"KHOA BẢNG" cho đúng chỗ. Hay những người đưa ý kiến không thừa nhận kỹ sư, bác sĩ là trí thức đều không phải trí thức, cũng chẳng phải "khoa bảng" hay "dân nhà nghề" mà cũng chỉ là anh nông dân quèn như tôi đây. Trước đây có người (tôi không nhớ tên) bảo tôi không phải là nông dân, vậy người chuyên sống ở nông thôn từ lúc sinh ra bởi nông dân và lớn lên thì cũng cổ cầy vai bừa, vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu, làm bạn với trâu thì gọi là gì? Sáng tác ra từ gọi kỹ sư bác sĩ thì cũng nên sáng tác ra từ gọi dân nhà quê chuyên bám lấy ruộng đất mà sống.

    Một bác sỹ tốt nghiệp đại học, phải thề thốt trước ông Tổ ngành Y, nhưng sau đó điều trị bệnh nhân trên cơ sở tiền và tiền, không trên cơ sở Người thì vị bác sỹ đó không phải là trí thức, ông ta chỉ là một công cụ cho chính bản thân ông ta, một cái máy kiếm tiền, để sinh sống, mưu cầu hạnh phúc cá nhân.

    Về cơ bản em đồng ý nhận định về trí thức của bạn, nhưng ở đoạn trích dẫn trên bạn mắc sai lầm..
    Mưu cầu hạnh phúc CÁ NHÂN là chính đáng là đúng (người ta sinh ra có quyền mưu cầu hạnh phúc..) chỉ có mưu cầu hạnh phúc VỊ KỶ như cha con Nguyễn Tấn Dũng, Tô Huy Rứa.. mới là sai, là tội ác mà thôi.

    Bác Lê Đăng Thích hỏi tôi có phải là trí thức không? tôi xin chịu không trả lời được. Như tôi đã nói trong bài phản biện, ở xứ tôi ở, trong số 65 triệu dân 7 triệu người có bằng cấp như bác Lê Đăng Thích kể và mỗi năm 50% mỗi lứa tuổi tốt nghiệp đại học nên nếu chỉ căn cứ vào bằng cấp,thì hầu như ai cũng là trí thức, kể cả những người thợ: vì muốn có Chứng chỉ khả năng nghề nghiệp (CAP) phải học xong lớp 10 cộng 3 năm học việc. Bởi vậy có lẽ lần đầu tiên tôi đồng ý với bác Slinkee: Beethoven là trí thức và ở Việt Nam Việt Khang (tôi xin thêm, Paul Lê Sơn, Người buôn gió, Điếu Cày...) là những người trí thức. Thời Pháp thuộc, đa số các vị được coi là trí thức cũng chỉ có bằng Thành Chung (diplome) tương đương với lớp 9, Như các cụ Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh, Vương Hồng Sển... nhưng chắc chắn là hơn gấp 10 các vị tiến sĩ nhà ta bây giờ.

    Bác Lê Đăng Thích công nhận :"Từ trí thức là biểu thị chỉ những người có học...", tức là chỉ con người cụ thể, thì làm sao có thể là 1 khái niệm được? Khái niệm là 1 từ ngữ triết học dịch từ chữ "Concept" trong tiếng Anh tiếng Pháp, chỉ có nghĩa trừu tượng (xin mời bác tra từ điển). Còn cái lạ nữa không biết bác lấy ở đâu ra, khi khẳng định: "bất cứ 1 Từ nào cũng biểu thị 1 khái niệm". Xin hỏi bác từ "nông dân" biểu thị người nông dân hay khái niệm nông dân? và từ "khái niệm" biểu thị khái niệm nào? Không có lẽ bác trả lời Từ khái niệm biểu thị khái niệm "khái niệm"? Bác lộn "khái niệm" với "định nghĩa" rồi bác ơi ! 37 năm nay miền Nam không còn được học triết đã đưa tới tình trạng như vậy. Tôi cũng xin miễn bàn khi bác đem Staline ra làm dẫn chứng: Dưới thời Staline, bất cứ 1 từ nào thốt ra từ miệng của 1 người bị nghi ngờ cũng có thể bị coi là 1 "khái niệm" phản động. Tôi không nhớ ai đã nói "muốn kết tội 1 người dễ lắm, chỉ cần người ấy nói 1 câu, thế nào cũng tìm thấy trong câu đó 1 chữ để kết tội"

    Khách Lê Đăng Thích viết:
    Slinkee bảo rằng "bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ...không phải là trí thức", vậy xin cho biết xếp họ vào loại nào? Tên gọi là gì? Hiện nay thì trong thực tế tôi thấy cả xã hội vẫn gọi họ là trí thức, mặc dù trong số họ có người thế này, có người thế kia, thậm chí có người thuộc loại dốt so với người không có bằng cấp ấy về một số lĩnh vực thông thường.

    Xin nhắc lại một lần nữa là nếu không gọi nhữmg người có bằng kỹ sư bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ là trí thức thì gọi họ là gì? Ai biết xin trả lời, đơn giản thế thôi, đỡ mất thời gian tranh luận.

    Tớ xin trả lời câu này của bác.

    Bác sỹ, kỹ sư, tiến sỹ....... là những người tốt nghiệp đại học về chuyên môn nào đó. Họ được đào tạo trong nhà trường về kiến thức chuyên môn, và sau đó sử dụng kiến thức chuyên môn để làm việc, kiếm tiền sinh sống.
    Tất cả mọi người, từ khi sinh ra, đến khi trưởng thành, nếu có điều kiện sống như nhau đều có khả năng trở thành bác sỹ, kỹ sư......Nhưng vì điều kiện sinh sống không như nhau nên mỗi người phải tự, bị đưa vào những con đường khác nhau trong đời.

    Như thế, bác sỹ, kỹ sư.... không phải là TRÍ THỨC, họ chỉ là người có bằng cấp. Có may mắn hơn người khác trên đường đời, nên tạo ra được bằng cấp đó.

    Định nghĩa của tớ rất là đơn giản: TRÍ là bộ óc, THỨC là nhận ra, nghiệm ra, đâu là đúng, đâu là sai theo lương tâm, trên căn bản NHÂN trong xã hội. Có trách nhiệm và hành sử theo sự nghiệm ra, nhận ra của bộ óc.

    Đối với cá nhân tớ, ông Cù Huy Hà Vũ là một trí thức, có những khuyết điểm cá nhân như chửi thề... nhưng ông hành sử theo những gì đã nghiệm ra, nhận ra của bản thân ông đối với xã hội, có trách nhiệm cho những gì ông đã làm.

    Một bác sỹ tốt nghiệp đại học, phải thề thốt trước ông Tổ ngành Y, nhưng sau đó điều trị bệnh nhân trên cơ sở tiền và tiền, không trên cơ sở Người thì vị bác sỹ đó không phải là trí thức, ông ta chỉ là một công cụ cho chính bản thân ông ta, một cái máy kiếm tiền, để sinh sống, mưu cầu hạnh phúc cá nhân.

    slinkee viết:
    Tôi trả lời rồi, tại bác đọc không kỹ, họ là chuyên viên hay chuyên môn trong ngành nghề của họ, tức là họ có kiến thức, có thể rất cao, trong ngành của họ .

    Nhắc tới Đức, tôi sẽ lấy ví dụ Beethoven, ông sáng tác bản giao hưởng Eroica để tặng Napoleon thì ông vẫn là composer, sáng tác gia -tức nghề nghiệp của ông . Nhưng khi nghe tin Napoleon lên ngôi hoàng đế, ông xé tên Napoleon ra khỏi lời đề tặng . Theo ý riêng của tôi, đó là hành động của một trí thức .

    Nguyễn Nhất Huy hay Việt Anh chỉ là một ca khúc gia (song writer), nhưng Việt Khang là trí thức, mặc dù tuổi nghề Việt Khang rõ ràng ít hơn Nguyễn Nhất Huy . Quốc Bảo là trí thức đột xuất và ngắn hạn, có 1 vài bài đáng mặt anh hùng đăng trên Tiền Vệ, sau đó tịt ngúm, trở về với thân phận ca khúc gia của mình .

    Hiện tượng có kiến thức nhưng không thành trí thức có quá nhiều, các bác cứ đối chiều lấy . Đôi khi nhận định trí thức rõ ràng nhất không gì bằng nhận ra những hiện tượng phản trí thức và suy luận từ đó ra .

    Đồng ý!
    Việc sử dụng kiến THỨC như thế nào sẽ quyết định người đó có phải TRÍ thức hay không.

    Khách Lê Đăng Thích viết:
    Slinkee bảo rằng "bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ...không phải là trí thức", vậy xin cho biết xếp họ vào loại nào? Tên gọi là gì?

    Họ được xếp chung vào loại khoa bảng. Tên gọi chung của họ là các nhà khoa bảng. Họ có thể là trí thức (chân chính). Nhưng cũng có thể không phải là trí thức. Họ chỉ là khoa bảng vì có bằng cấp đại học, nhưng thái độ sống của họ thì tùy theo mỗi người với nhân cách của họ.

    Theo tôi, Giáo sư Ngô Bảo Châu là một thí dụ của một nhà khoa bảng VN nổi tiếng, nhưng cho đến hôm nay, chưa xứng đáng được coi là người trí thức (chân chính). Trong tương lai, ông có thể trở nên một nhà trí thức nếu ông biết suy nghĩ lại về những thiếu sót của mình trong quá khứ và dấn thân cho xã hội (VN cũng như Mỹ hay Pháp, nơi ông đang sinh sống) thay vì an phận trong tháp ngà và ngủ quên trên thành tích cá nhân của ông.

    Khách Slinkee trả lời luẩn quẩn quá, phải là trí thức mới hiểu nổi, còn những người như tôi chỉ cần trả lời ngắn gọn "CÓ' hoặc "KHÔNG" thì hiểu ngay. Mấy người đọc trả lời của Slinkee thì bảo ông này không phải là trí thức, nhưng lại khoe kiến thức, toàn nói những điều người ta không cần biết, cái đơn giản nhất thì ông ấy không biết.
    Theo quan niệm của Slinkee thì Việt Nam không có trí thức, thế nhưng hôm làm đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng LOng thì do đến hàng trăm trí thức đến dự, nhưng người viết khu vực dành cho trí thức thì viết sai chính tả là "CHÍ THỨC", trong khu vực này thì toàn bác sĩ, kỹ sư và nhiều vị giảng dạy ở các trường Cao đẳng và đậi học...Ở nước ta hiện nay từ "chuyên viên" không dành cho các kỹ sư, bác sĩ thông thường mà chỉ những người bậc cao chuyên ngành nào đó và cả những người có bậc lương nào đó như hết bậc cán sự thì lên bậc chuyên viên (còn chia ta chuyên viên một hoặc hai, hoặc ba...). Cũng chẳng ai gọi các bác sĩ ,kỹ sư là "chuyên môn trong ngành nghề..." vừa khó nghe, vừa khó hiểu mà cứ xếp vào đội ngũ trí thức. Người Việt thì phải dùng tiếng Việt, chứ không dùng tiếng Đức. Có lẽ cả dân tộc Việt Nam có một kiểu nói giống nhau, riêng mình Slinkee có kiểu nói khác, lai căng kiểu Đức. Hiện nay chưa có từ gọi bác sĩ, kỹ sư... theo quan niệm của Slinkee trong từ điển tiếng Việt.Ai có tài thì sngs tác ra từ đó cho toàn dân chấp nhận. NHưng phải theo quy luật của ngôn ngữ, cái áng tạo cá nhân này sẽ thất bại, kể cả cụ Hồ đấy.

    Về tương quan giữa vật chất và ý thức, bác đọc lại phần thực tế 1 và thực tế 2, sau đó đọc thêm Wittgenstein để biết sự nguy hiểm của từ ngữ, đó là chưa kể đến sự khác nhau của nhiều hệ thống ngôn ngữ .

    http://danluan.org/node/8488

    Qua rồi thời của những tuyên cáo "chân lý thường đơn giản và dễ hiểu". Những câu kiểu đó chỉ có thể nằm ở tuyên truyền, đem ra thảo luận, lịch sự lắm thì mọi người "ráng giữ" im lặng .

    Để lấy 1 ví dụ, hồi thuyết hỗn độn (Chaos Theory) bắt đầu được các nhà khoa học NASA giới thiệu, giới thần học xem đó là công thức để Thượng Đế sáng chế và vận hành thế giới . Các khoa học gia phản pháo lại, sai số quá lớn so với sự hoàn thiện tuyệt đối của Thượng Đế .

    Tôi có là trí thức không, tôi đã trả lời . Câu trả lời chính xác không nằm ở tôi mà ở mọi người nhận định về tôi .

    Tôi trả lời rồi, tại bác đọc không kỹ, họ là chuyên viên hay chuyên môn trong ngành nghề của họ, tức là họ có kiến thức, có thể rất cao, trong ngành của họ .

    Nhắc tới Đức, tôi sẽ lấy ví dụ Beethoven, ông sáng tác bản giao hưởng Eroica để tặng Napoleon thì ông vẫn là composer, sáng tác gia -tức nghề nghiệp của ông . Nhưng khi nghe tin Napoleon lên ngôi hoàng đế, ông xé tên Napoleon ra khỏi lời đề tặng . Theo ý riêng của tôi, đó là hành động của một trí thức .

    Nguyễn Nhất Huy hay Việt Anh chỉ là một ca khúc gia (song writer), nhưng Việt Khang là trí thức, mặc dù tuổi nghề Việt Khang rõ ràng ít hơn Nguyễn Nhất Huy . Quốc Bảo là trí thức đột xuất và ngắn hạn, có 1 vài bài đáng mặt anh hùng đăng trên Tiền Vệ, sau đó tịt ngúm, trở về với thân phận ca khúc gia của mình .

    Hiện tượng có kiến thức nhưng không thành trí thức có quá nhiều, các bác cứ đối chiều lấy . Đôi khi nhận định trí thức rõ ràng nhất không gì bằng nhận ra những hiện tượng phản trí thức và suy luận từ đó ra .

    Slinkee bảo rằng "bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ...không phải là trí thức", vậy xin cho biết xếp họ vào loại nào? Tên gọi là gì? Hiện nay thì trong thực tế tôi thấy cả xã hội vẫn gọi họ là trí thức, mặc dù trong số họ có người thế này, có người thế kia, thậm chí có người thuộc loại dốt so với người không có bằng cấp ấy về một số lĩnh vực thông thường.

    Xin nhắc lại một lần nữa là nếu không gọi nhữmg người có bằng kỹ sư bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ là trí thức thì gọi họ là gì? Ai biết xin trả lời, đơn giản thế thôi, đỡ mất thời gian tranh luận.

    Lại có khách bảo trí thức là con người cụ thể chứ không phải khái niệm. Xin nhắc lại ý kiến đúng của Staline "Từ là vỏ vật chất của khái niệm", từ "trí thức" là biểu thị khái niệm chỉ những người có học ở một chừng mực nào đó, tức là "trí thức". Bất kỳ một từ nào đó cũng biểu thị một khái niệm, có khái niệm cụ thể, có khái niệm trừu tượng. Đây là kiến thức sơ đẳng của môn ngôn ngữ học.

    Xin hỏi thẳng nhé và cũng xin trả lời ngắn gọn chỉ cần trả lời "có" hoặc "không" thôi, Slinkee và Phong Uyên có phải là trí thức không? có thì nói "có", không thì nói "không". Cám ơn.

    @ efacx, ai cũng phải tương tác với môi trường mình đang sống, trong đó có cả thiên nhiên nếu muốn tồn tại. Một lần nữa, mới là kiến thức chứ chưa là tri thức . Mưa thì kiếm chỗ trú, hoặc mặc áo mưa, đó mới là kiến thức chứ chưa phải tri thức . Thậm chí làm ở đài khí tượng vẫn chưa phải là trí thức theo định nghĩa của efacx vì phải lộng ngôn lắm mới dám nói con người "đã" biết hết quy luật của thiên nhiên . Thậm chí những gì được xem là "đã" biết rồi cũng vẫn bị nghi ngờ aka chủ nghĩa xét lại . Và chống đến cùng chủ nghĩa xét lại chính là chống tri thức, nếu bác muốn biết . Câu hỏi đáng giá nhất trong tri thức học "Làm thế nào chúng ta biết những gì chúng ta biết" (How do we know what we know?} vẫn để ngỏ, chưa có lời giải sau 3000 năm . Theo ý riêng của mình, những ai vẫn suy ngẫm trực tiếp hay gián tiếp về câu hỏi đó xứng đáng được gọi là trí thức . Còn những người nào tuyên bố đã tìm ra lời giải đang dọn 1 chỗ riêng cho mình trong thùng rác lịch sử .

    @ Lê Đăng Thích, chỉ để trả lời câu hỏi "Bác sĩ, kỹ sư, cử nhân, tiến sĩ có phải là trí thức không". Câu trả lời của tôi là không, và đưa ra lý lẽ bảo vệ từ tri thức học nhập môn (epystemology 101). Ô Đặng Quốc Long có đồng ý hay không, hoặc xài được cái gì là tùy ở ông .

    Tôi và các bác có phải là người trí thức không?? dĩ nhiên là người trí thức rồi, mà ở mức độ nào thôi..

    Ngược dòng lịch sử, thấy rằng: khi con người còn ở giai đoạn săn bắt hái lượm thì chắc chắn khái niệm trí thức chưa xuất hiện. Lý do là trong hoàn cảnh đó, một khái niệm như vậy là hoàn toàn vô nghĩa.

    Hahaha! vài chục ngàn năm sau, người lúc đó cũng nói cái thời internet, lúc đó chưa có trí thức!!!

    Tôi nghĩ tác giả cũng chưa rõ trí thức rồi. Chưa cần tới thời con người, lúc đó con khỉ nào biết trái cây nào ăn được, đi đâu kiếm thức ăn, mùa nào đi nơi nào.. đó là trí thức rồi! và dĩ nhiên những con khỉ khác nể nó.

    Thời cộng sản việt nam, miệng bô bô xưng là công nhân, nông dân; nhưng đám này đã tự đánh bóng, tự diễn như họ là thành phần hiểu biết nhất!!! có thể họ không hiểu là họ muốn là kẻ trí thức.

    Trí thức xã hội, quốc gia là thành phần thông minh, hiểu biết nhất của một xã hội, quốc gia ngay thời điểm đó. Một xã hội mà không có sự đóng góp, hướng dẫn bỡi giới trí thức thì xã hội đó sẽ bị diệt vong!

    Cộng sản việt nam đã bị tiêu diệt, họ đang chạy ngược về phong kiến; rồi họ cũng CHẾT!

    " Có bà dốt như bò cái nói "Nước ta dân chủ gấp vạn lần nước tư bản" cũng được phong là giáo sư" --> Giáo sư " nước ta " ( trong trường hợp này ) chưa hẳn là trí thức mà là một nhà " chính trị " chuyên nghiệp.

    Mà sao chưa có ai bàn về " nhà chính trị" là gì nhỉ ? Không biết là gì nhưng
    chắc chắn quyền của " nhà chính trị" (chính xác hơn nhà cai trị) rất to vì đã có "nhà" thẳng thừng khẳng định rằng : trí thức các anh là (không bằng) cục ...c.

    “Người trí thức“ – Bàn … tếu ngày ‚Chủ nhật’“
    “Trí thức“ là người có hình tam giác!

    Lâu mới vào lại được DL; Đọc, thấy chỗ này vui nên xin có ý kiến.

    *
    Tác giả Giáp Văn Dương rất nổi tiếng vì viết nhiều. Tôi không đọc hết ông được, nhưng khảo tiêu đề thì thấy nhiều đề tài rộng lắm; „Sớt“ qua Ba Sàm thì thấy có link „Tiến sỹ Giáp Văn Dương“. Nếu DL có đôi dòng giới thiệu về tác giả ở mỗi bài viết như BBC thì tiện lợi cho việc đọc lắm. Mong thay!

    *
    Ông Dương trả lời „rốt ráo“ câu hỏi „trí thức là gì?“ như sau:
    Trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ, truyền bá những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng chúng như những trung giới trong các quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.
    Có 3 đặc trưng („quan trọng nhất“) „xuất lộ“ người trí thức là:
    - Sáng tạo và truyền bá tri thức - gọi là đặc trưng tri thức;
    - cảnh báo các hiểm họa cho xã hộ - gọi là đặc trưng cảnh báo; và
    - định chuẩn cho xã hội – gọi là đặc trưng định chuẩn.

    Tổng kết lại:
    Có thể biểu diễn ba đặc trưng này và mối quan hệ giữa chúng trên một hình tam giác, tạm gọi là tam giác đặc trưng.
    Như vậy, để trở thành „người trí thức“ là loại người rất có giá trị („Trí thức là một sản phẩm đặc biệt của xã hội.“) và quan trọng („Sự xuất hiện của người trí thức gắn liền với việc hình thành xã hội.“) chúng ta không còn con đường nào khác là phấn đấu để trở thành một hình „tam giác đặc trưng“. – Thật là đơn giản!

    *
    Đúng như các bác nhận xét: Dài và … lòng thòng; Cho nên tôi chỉ dám đọc lướt.
    Có một chỗ vui thế này: „ … ở thời săn bắt hái lượm, những nhu cầu (ăn, uống, ở, mặc, …) này được đáp ứng theo kiểu “tự cung tự cấp”, tức mỗi cá nhân phải tự lo cho mình, …“ – Nhờ „tri thức“ này, tôi biết con người thời xưa CHỈ MỘT MÌNH săn bắt và hái lượm thôi, như nay ta cầm cái que hay hòn gạch ném chết con gà trong vườn của mình để đáp ứng „nhu cầu ăn“ một mình vậy.


    *
    Ý kiến đến đây (tạm cho là) đã mãn; Kính chào bà con và quý vị.

    Thân mến và chúc vui vẻ.

    slinkee viết:
    efacx quá chủ quan, coi con người đã nắm bắt được toàn bộ quy luật thiên nhiên, cũng lại rơi vào "duy ý chí, chủ quan cách mạng" của Marx

    Cảm ơn slinkee phản biện kịp thời.

    Xin đọc lại định nghĩa của tôi là "TRÍ THỨC là người có nhiều hoạt động TƯ DUY hơn trung bình và vượt một ngưỡng nào đó. TƯ DUY là quá trình tương tác giữa não bộ và thiên nhiên"

    Tôi dùng định nghĩa này chủ yếu để phản bác anh Dương, ý của tôi là trí thức tồn tại từ rất xa trước thời săn bắn.

    Xem câu trả lời của Slinkee thì thật buồn cười, buồn cười nhất là người ta hỏi ở Việt Nam, những kỹ sư bác sĩ, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ...không gọi là trí thức thì lại trả lời ở Đức gọi là chuyên viên. Mỗi ngôn ngữ có đặc thù riêng chứ. Ngay ở Việt Nam, cùng một từ nhưng lúc này chỉ một nghĩa, lúc khác chỉ một nghĩa, ví dụ từ "giáo sư" hồi Pháp thuộc chỉ những người dạy từ cấp hai trở lên, nay thì lại là học hàm chỉ những người có đủ tiêu chuẩn gì gì đó. Có bà dốt như bò cái nói "Nước ta dân chủ gấp vạn lần nước tư bản" cũng được phong là giáo sư.
    Còn câu hỏi nữa là "tại sao dạo này người ta hay bàn về trí thức" thì chưa thấy ai trả lời?
    NHưgnx người khác chưa thấy lên tiếng có nhận mình là trí thức hay không. Riêng Slinkee thì chưa dám mạnh dạn thẳng thừng, dứt khoát nhận mình là trí thức.
    Còn hai đề tài nữa rất hay, có người đã nêu trên Dân luận, bác nào thích và có trình độ thì bàn xem sao:
    1- Thế nào là một nền báo chí tiến bộ?
    2- Báo chí và vấn đề dân chủ dân trí.
    Hai đề tài này thuộc lĩnh vực của hia nhà baó nổi tiếng là Trường Duy Nhất và Bùi Tín. Chửng biết hai nhà báo này có "nổ" được không, còn tất cả các GS TS báo chí trong nước đều chịu.

    Để trả lời cho bác Đặng Quốc Long,

    Bác sĩ, kỹ sư ... bên này gọi là chuyên viên hoặc dân nhà nghề (professionals), không được xem là trí thức (theo từ intelligentsia, dịch của Nga).

    Cử nhân, tiến sĩ chỉ là bằng cấp, nói lên mức độ lành nghề có thể đo đếm được, cũng không thể gọi là trí thức .

    Sẽ ráng làm rõ một số khái niệm . Kiến thức (knowledge) chia làm nhiều loại, sinh học (biological) là bản năng và sinh tồn ví dụ như đứa trẻ đói biết tìm tí mẹ, nếu không tìm ra thì khóc, lớn hơn chút nữa, nó học những kiến thức xã hội (social knowledge) để có thể sinh hoạt bình thường trong xã hội, rồi tới kiến thức chuyên môn (professional knowledge) là kiến thức cần có để đi kiếm việc, vì vậy những người làm việc này nọ chỉ có thể là chuyên môn hay chuyên viên chứ không phải là trí thức . Tức là có kiến thức chưa hẳn là trí thức . Toàn bộ những kiến thức trên gọi là functional tức là chỉ thỏa mãn sự tồn tại của cá nhân kể cả vợ con tức là bản năng sinh lý và truyền giống . Ở đây cũng có một điều đặt ra là lòng tham, tức là sau khi bản năng đã được thỏa mãn, lại muốn được thỏa mãn nhiều hơn nữa và thường xuyên hơn nữa .

    Vượt qua sự thỏa mãn của bản năng cho bản thân và đặt dấu hỏi về những vấn đề nằm ngoài bản năng là bắt đầu tiến tới những tiệm cận của trí thức .

    Cái khó của một định nghĩa rõ ràng về trí thức là quan niệm mọi khái niệm tiến hóa đều có khả năng đong đếm, tức là lúc nào có thể gọi là trí thức . Khổ nỗi trí thức là một biểu hiện bề ngoài qua hành động và suy nghĩ, không phải một thứ có thể đong đếm .

    Những bài viết về dân chủ có đầy đủ trên mạng này, bác nên tự tìm kiếm . Kiến thức không phải là nhà hàng, bác cứ gọi là người ta đem ra nóng sốt . Cái đó gọi là bưng bít kiến thức thì đúng hơn . Kiến thức là cái nhà hàng chỉ đưa cho bác nguyên liệu và bác tự nấu ăn lấy . Tất nhiên là tùy nhà hàng vì tùy theo chất lượng của nhiên liệu . Bác có quyền chọn lựa đó chính là dân chủ vậy .

    Em chỉ tự nhận mình là "trí mất ngủ", tức là bị thức hay thức bất đắc dĩ . Hay nói đúng hơn, em chỉ muốn là "trí ngủ" để chú tâm vào chuyên môn, nhưng rõ ràng không ngủ được vì thực trạng của đất nước mình . Vì thế, chỉ nhận là "bị" thức .

    Thời gian gần đây nở rộ lên chuyện bàn về trí thức, không hiểu lý do vì sao? Chưa thấy ai lên tiếng trả lời. Nhiều người thường bàn về những điều viển vông, cao xa, nhưng cái đơn giản nhất, gần nhất lại không đưa ra ý kiến. Nếu nói về cách viết thì thấy rằng: đáng lẽ phải dùng câu và từ đơn giản, dễ hiểu để cắt nghĩa những cái khó hiểu, phức tạp thì có người làm ngược lại, tức là dùng câu từ khó hiểu cắt nghĩa những cái đơn giản. Chẳng hiểu đây có phải là cái bệnh bị lây từ các nhà triết học Như Mác hay không?
    Nay xin nhắc lại hai câu hỏi rất đơn giản mà không thấy các "bác học" nào đủ khả năngg, đủ trình độ trả lời:
    1-Các kỹ sư, bác sĩ, cử nhân, tiến sĩ...nếu không gọi là trí thức thì GỌI LÀ GÌ?
    2- Các vị bàn về trí thức, vậy bản thân các vị (như Phong Uyên và một số vị khác lấy bút hiệu efacx, sleekee, Thường dân, Nguyễn Nghĩa 11...) có tự nhận mình về trí thức không? Tôi xin gương mẫu trả lời câu này: bản thân tôi không phải là trí thức và mơ cũng chẳng được.
    Xin nhắc lại câu hỏi ngay từ đầu tôi đã nêu ra để vị nào động não trả lời: vì sao thời gian gần đây người ta hay bàn về trí thức?

    Trước đây tôi đánh giá rất cao những vị có tên tuổi, viết nhiều bài trên báo và rất coi trọng những người ở nước ngoài, nhưng gần đây khi đọc ác còm thì tôi lại thấy có hiện tượng chính người bình thường trong nước lại giải đáp được nhiều thắc mắc và có những lý giải chính xác hơn cả các vị GS,TS...Xin dẫn chứng mấy điều mà người bình thường giải đáp và lý giải được những điều khúc mắc:
    1-Có ý kiến hỏi "Biểu hiện của một xã hội dân chủ là gì?" Không một "bác học" naò giải đáp thì người bình thường đưa ra giải đáp. Điều này chứng tỏ các "bác học" thiếu khả năng độc lập tư duy, chỉ biết cái gì có sẵn do có điều kiện đọc nhiều. Nếu cứ như vậy thì không có sáng tạo mà chỉ dập khuôn, giáo điều, đây là căn bệnh của những người CS nước ta. Người không có điều kiện đọc nhiều thì tự mình nhìn nhận và đưa ra nhận xét (cũng có thể đúng, cũng có thể sai).
    2- Khi có ý kiến nêu thắc mắc về các "dạng" (hay loại, hay hình thức gì gì đó) tư duy thì lại không thấy các "bác học" trong và ngoài nước đưa ra lý giải hoàn chỉnh, nhưng có người bình thường trong nước cứ "nặt nhạnh" những ý kiến lẻ tẻ của các vị khác rồi tổng kết lại hoàn chỉnh. Điều này biểu hiện là người ít kiến thức lại tích lũy kiến thức từ người khác, còn người đã biết thì chỉ muốn người khác đọc những điều mình viết ra thôi.
    3- Về giá trị của trí thức thì nhiều người tranh luận sôi nổi nhưng cả hai bên đều chưa ngã ngũ, người thì cho rằng ý GS Ngô Bảo Châu là trí thức không cần phản biển là sai, người cho rằng ý GS Châu là đúng nhưng chưa bên nào thắng bên nào, đến lúc có người bình thường so sánh một cách rất đơn giản mới thuyết phục được rằng ý GS NBC là đúng. Thấy so sánh này giản dị và hay hay nên tôi nhớ và xin nhắc lại: Giá trị của nhà toán học là công trình nghiên cứu toán học, nếu không có công trình nghiên cứu toán học mà cứ phản biện thì không bao giờ được giải Fields, giá trị của người đua ô tô là tốc độ và chính vì tốc độ nên anh ta mới được giải thưởng, giá trị của cô ca sĩ là giọng hát, giá trị của võ sĩ quyền Anh là cú đấm...nhưng tất cả mọi người đều có quyền và có trách nhiệm phản biện về những vấn đề xã hội chưa đúng, vấn đề nào đúng thì thôi, không cần phản biện. Ý kiến này được mọi người thống nhất và không thấy tranh luận nữa.

    Đọc xong không biết trí thức là khái niệm mơ hồ hay là con người cụ thể đây ? Sao dạo này người ta khoái dùng cụm từ "phổ quát" thế nhỉ. Chắc là sau công trình toán học của GS Ngô Bảo Châu.

    Làm trí thức Việt thật kinh,
    Một thằng tinh tướng, chín thằng khinh,
    Phe này tao quyết đi buôn phấn,
    Thiên hạ bao đứa "uống" làm thầy.

    Bài này cũng có một vài kết luận khá chính xác nhưng cách phân tích thì đúng là như Marx, lủng củng và mù mờ. Phần đầu đọc được, nhưng phần sau toàn những thứ trời ơi đất hỡi . Phải chi ô Giáp Văn Dương bỏ được tư duy Marxism như vận động biện chứng ... và phân tích rõ những khái niệm, ta có thể hy vọng . Nên bắt đầu bằng phân tích, rồi để phân tích dẫn ta tới đâu thì tới, thay vì phân tích có định hướng . Phần trí thức bị tha hóa, vì không phải phân tích những khái niệm, khá chính xác, nhưng cách phân định giữa 2 loại không bị tha hóa và tha hóa lại rơi vào lủng củng .

    Trong khi ô Giáp Văn Dương bị khái niệm làm mờ mịt -hay mù mịt về các khái niệm, các phản hồi cũng chả hơn gì . Phong Uyên bị mù mờ giữa kiến thức làm việc (functional knowledge), kiến thức sâu (deep knowledge) và tri thức, Bùi Văn Nịt chứng minh đúng câu "dốt toàn tập là hạnh phúc" (ignorance is bliss), sợ kiến thức như sợ giặc, biết nhiều quá sẽ dẫn tới bất mãn . efacx quá chủ quan, coi con người đã nắm bắt được toàn bộ quy luật thiên nhiên, cũng lại rơi vào "duy ý chí, chủ quan cách mạng" của Marx -có bao giờ tự hỏi tại sao áp dụng Marxism lại rơi vào mấy thứ đó không nhẩy ? Rốt cuộc rơi ngay vào chính tình trạng anh/chị đề cập đến, tức "Nhạt, rườm rà và vô dụng, đó là những sản phẩm của trí thức Việt Nam".

    Nhạt, rườm rà và vô dụng, đó là những sản phẩm của trí thức Việt Nam. Bài viết này cố gắng vay mượn tạm nham những khái niệm Tây Tàu để tạo sức nặng.

    Tôi có 1 định nghĩa đơn giản sau: "TRÍ THỨC là người có nhiều hoạt động TƯ DUY hơn trung bình. TƯ DUY là quá trình vận hành các QUY LUẬT THIÊN NHIÊN trong não bộ. QUY LUẬT là sự lặp lại".

    Với định nghĩa của tôi, trí thức tồn tại ÍT NHẤT từ hồi con người còn là những sinh vật cực kì giản đơn ở dưới nước. Có những sinh vật cảm nhận được các quy luật tự nhiên tốt hơn sinh vật khác, chúng có thể thông tin cho nhau hoặc giữ cho riêng mình. Chúng là các trí thức.

    Nếu đồng ý với định nghĩa của tôi, thì đoạn sau của anh Dương là sai: "Ngược dòng lịch sử, thấy rằng: khi con người còn ở giai đoạn săn bắt hái lượm thì chắc chắn khái niệm trí thức chưa xuất hiện. Lý do là trong hoàn cảnh đó, một khái niệm như vậy là hoàn toàn vô nghĩa. Khi chỉ cần với tay thu lượm các sản phẩm của tự nhiên để phục vụ cuộc sống còn nặng bản năng tự nhiên, theo kiểu tự cấp tự túc, người ta chỉ quan tâm đến những thứ có thể ăn được còn hay hết, chứ không quan trọng việc có trí thức hay không trí thức." Sự thực là thời săn bắt hái lượm, luôn có những người giỏi săn bắt hái lượm hơn người khác nhờ có kinh nghiệm hay tri thức hơn. Họ chính là trí thức.

    Xin thưa, người Việt ngoài việc nhắc lại như vẹt các tri thức của nhân loại, thì không giỏi lắm trong việc áp dụng hay tạo ra tri thức. Tất nhiên là không giỏi lắm so với các dân tộc người khác.

    Chứ nếu so với cây cỏ hay động vật đơn bào, thì người Việt khá là có trí tuệ. Hố hố.

    Ông Giáp văn Dương tự đặt câu hỏi trí thức là gì? rồi tự trả lời ngay câu nhập đề: "trí thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ những giá trị phổ quát của nhân loại và sử dụng nó như những những trung giới trong quá trình vận động biện chứng nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội... khái niệm trí thức chỉ có ý nghĩa khi xem xét dưới lăng kính xã hội".

    Với tư cách một độc giả đã có đủ kiên nhẫn đọc hết bài ông viết, tôi xin ông thứ lỗi phải nói là tôi thấy bài viết quá rườm rà, quá ôm đồm, có nhiều đoạn lạc đề, nhiều đoạn khác cùng một ý được nhắc đi nhắc lại, nhiều từ ngữ thiếu chính xác không kể có những từ ngữ ông tự đặt ra như "trung giới", "vận động biện chứng", "xuất lộ", "tự do nội tại"... khiến người đọc phải đoán ý ông muốn nói. Tôi hi vọng không làm ông quá phật lòng vì phải đưa ra một tối thiểu nhận xét sau đây :

    1) Định nghĩa người trí thức (les intellectuels)của ông có vẻ thích hợp với vai trò một nhà canh tân xã hội (un réformiste) hay một nhà cách mạng (un révolutionnaire), hay quá lắm là giới Inteligentsia dưới thời Sa Hoàng. Chắc chắn là ở Việt Nam những người trí thức nằm trong định nghĩa này chỉ đếm trên đầu ngón tay.

    2)Trí thức không phải là một khái niệm, vì khái niệm là một từ ngữ triết học trừu tượng còn trí thức là con người bằng xương bằng thịt.

    Có nhiều từ ngữ khác ông dùng cũng không chính xác: chẳng hạn như "tri thức" (connaissances)chỉ chớm nở trong óc con người khi loài người bắt đầu biết suy nghĩ và phải mấy ngàn năm sau mới tạo ra được triết học ở Ấn Độ và ở Hi Lạp cách đây 3000 năm. Sự thông thái (la science = le savoir), thuật ngữ bắt đầu từ thời Trung cổ với sự tiến triển trở thành Khoa học (les sciences). Khoa học mới là đặc trưng của nhũng người trí thức. Nói tóm lại, cái giới gọi là trí thức chỉ hiện hữu thật sự và có ảnh hưởng tới xã hội từ thế kỷ thứ 18 ở Âu châu.

    3)"Sản phẩm đặt biệt của xã hội". Tại sao chỉ những người trí thức mới là sản phẩm đặt biệt của xã hội còn những thành phần khác trong xã hội là những sản phẩm gì? Và xã hội nào? Bắt đầu từ thời nào?

    4)Chân (la Vérité),Thiện (le Bien), Mỹ (la Beauté) là những khái niệm triết học chứ không phải là những giá trị phổ quát(valeurs universelles). Những khái niệm triết học này có từ thời Platon, Socrate cách đây 2500 năm và mỗi trường phái triết học lại đưa ra một khái niệm khác nhau về Chân, Thiện, Mỹ. Cái "trung quân" của Khổng giáo Đại Hán không thể coi là 1 giá trị phổ quát: "quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" là một mệnh lệnh sát nhân, không thể coi là một giá trị phổ biến được, trừ bá quyền Trung Quốc dưới bất cứ thời đại nào, kể cả bây giờ.

    5)"Tự do", "Bình đẳng ","Dân chủ", "Công lý" là những quyền của mỗi cá nhân con người, gọi chung là Nhân quyền, được các triết gia Khai sáng Pháp Jean jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot... đưa ra cách đây 3OO năm và được viết thành văn bản trong bản Tuyên Ngôn Nhân quyền Cách mạng 1789 Pháp, chứ không phải mới đây. Cái mà ông Giáp văn Dương đặt tên là "tự do nội tại" chỉ là tự do tư tưởng.

    6)Về sự thành hình xã hội, "từ khi chuyển từ vượn thành người", ông GVD vẫn quá phụ thuộc vào biện chứng lịch sử của Marx, trong khi đây chỉ là một giả thiết. Ông có thể tham khảo trên Internet và nếu có thì giờ ông cũng nên đọc lại vụ án Dreyfus để sẽ thấy là vụ án Dreyfus bị coi là gián điệp cho Đức à được bênh vực bởi những người êu chuộng công lý, chả dính dáng gì đến chuyện định nghĩa thế nào là trí thức cả.

    7)Tôi xin nói thêm: 2 cái định nghĩa về trí thức:

    a) Có bằng cấp đại học: lấy thí dụ nước Pháp:50% mỗi lớp tuổi tốt nghiệp đại học. 7, 5 triệu người/ 65 triệu dân có học lực cao hơn bậc cử nhân. Với sốba82ng cấp nhiều như vậy định nghĩa này coi là bỏ đi.
    b) Lao động trí óc : nghề nào cũng cần phải lao động trí óc cả vì người thợ (học bắt buộc đến lớp 10 cộng 3 năm học nghề) muốn điều khiển Robot vặn ốc cho mình cũng cần phải biết gõ máy tính.

    Rút cục ai cũng là trí thức.

    Tôi xin dừng tại đây vì nếu cứ tiếp tục, sẽ thành 1 bài viết dài bằng bài của tác giả. Tôi chỉ xin có một lời khuyên : Khi viết một bài ra ngoài sở trường của mình thì cứ nghĩ là bài viết của mình có thể được dịch ra bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh vì 1 lí do nào đó (nước ngoài muốn biết trình độ của trí thức Việt Nam chẳng hạn), nên những từ ngữ bằng tiếng Việt, tác giả nên tự dịch ra tiếng Anh tiếng Pháp coi có chính xác không.

    Pages