Trương Đình Trung - Các mô hình bảo hiểm y tế trên thế giới

  • Bởi Hồ Gươm
    17/04/2012
    1 phản hồi

    Trương Đình Trung

    Để bổ sung cho bài viết Đạo Luật Y tế Mới Của Mỹ Đi Về Đâu? vừa rồi, sau đây xin được trích đăng lại phần của một bài đã được viết ra cách đây vài năm, mô tả sơ lược một số mô hình bảo hiểm y tế tiêu biểu trên thế giới, nhằm giúp những độc gỉa quan tâm có dịp so sánh, không những chỉ là những khác biệt về tổ chức, mà còn cả về ưu-khuyết của mỗi mô hình, cùng quan điểm về an sinh xã hội làm nền tảng cho những mô hình đó.

    A. Mô hình Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ, v.v..: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for profit); với luật lệ chặt chẻ về dịch vụ và lệ phí. Mô hình này do cố thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trông nổ lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.

    B. Mô hình Beveridge: là mô hình của Anh quốc, theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.

    C. Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ thông qua hảng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.

    D. Mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Camphuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng tiền túi của bệnh nhân (từ hơn 47 triệu người không có bảo hiểm).

    BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VÀI QUỐC GIA TIÊU BIỂU:

    PHÁP: Carte vitale

    Nước Pháp có hệ thống bảo hiểm y tế cho mọi người (universal health care).

    Giá cả dịch vụ y tế được niêm yết ngay tại các phòng mạch bác sĩ cũng như các tại các trung tâm y tế. Bệnh nhân được thông báo trước bách phân chi phí họ sẽ được hoàn trả từ hảng bảo hiểm. Toàn bộ tiểu sử y tế (medical history) của mỗi người được nhị phân hoá (dìgitzed) và bỏ vào trong một tấm thẻ plastic gọi là Carte Vitale. Mọi công dân Pháp tuổi trên 15 đều được cấp Carte vitale; tiểu sử y tế của trẻ em được ghi trên carte vitale của người mẹ. Chính nhờ loại thẻ này mà các văn phòng bác sĩ, trạm xá hay bệnh viện của Pháp không cần phải có hồ sơ bệnh nhân bằng giấy chứa trong các dãy kệ dài đựng hồ sơ như hiện nay vẫn có ở Mỹ.

    Có cả bảo hiểm của các công ty bảo hiểm tư lẫn của chính phủ. Công nhân được bảo hiểm thông qua công ty nơi họ làm việc hoặc vùng họ cư trú; họ không có tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm; chủ nhân và công nhân chia nhau đóng tiền bảo hiểm.

    Đặc điểm là Caisse d’assurance maladie (sickness insurance funds): Quỹ bảo hiểm bệnh tật là những định chế bất vụ lợi (not for profit) với mục đích duy nhất, không phải là kinh doanh, mà là giúp chi trả chi phí chữa bệnh cho mọi người. Người Pháp không bị các quỹ này từ chối bảo hiểm vì bất cứ lý do gì, và khi mất việc làm, họ không bị mất bảo hiểm y tế, chính phủ tiếp tục trả cho họ trong thời gian thất nghiệp. Chi phí điều hành của các Quỹ này rất thấp chỉ chừng 5%; so với chi phí đó của các hảng bảo hiểm Mỹ là 20%.

    Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization, WHO) xếp hạng nền y tế của Pháp là số một của Thế giới về khả năng chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo (mortality amenable to healthcare), về tử suất trẻ sơ sinh và tuổi thọ của người lớn tuổi.

    Người Pháp khi đi khám bác sĩ không phải lo vấn đề trong hay ngoài network như ở Mỹ, cũng không phải qua sự giới thiệu của bác sĩ gia đình (family doctors, primary physicians) khi đi gặp bác sĩ chuyên môn (specialists).

    Bảo hiểm y tế là một sự cưỡng bách; mọi người đều phải có bảo hiểm y tế, tự ý bỏ bảo hiểm y tế là một hành vi phi pháp. Mọi người trả tiền mua bảo hiểm tuỳ theo lợi tức của mình. Chẳng hạn một người thu nhập 20,000 dollars/năm phải trả chừng 150 dollars/năm cho bảo hiểm y tế.

    Chi phí y tế bình quân đầu người hàng năm của Pháp là chừng $3165, và mọi người đều được bảo hiểm; trong khi Mỹ thì đến $7000/người, nhưng có đến hơn 47 triệu người không được bảo hiểm! Lợi tức của các bác sĩ Pháp rất thấp so với các bác sĩ Mỹ; trung bình một bác sĩ toàn khoa ở Pháp chỉ kiếm được chừng 80, 000 dollars/năm.

    Pháp chi gần 10% của GDP, tổng sản phẩm nội điạ quốc gia (general domestic products) cho y tế; trong lúc Mỹ chi đến 17% của GDP!

    ĐỨC:

    Người Đức xử dụng thẻ Die elektronischen Gesundheitskarte, the digital heath card (Thẻ Y tế điện tử) tương tự như Carte Vitale của Pháp, giúp giảm chi phí về quản lý hồ sơ và thanh toán y phí.

    Hệ thống bào hiểm y tế của Đức dựa vào Luật Bảo Hiểm Bệnh tật ra đời từ năm 1883 dưới thời của thủ tướng “sắt" Otto Von Bismarck. Người Đức, bị bắt buộc theo luật, mua bảo hiểm từ hơn 200 quỹ bệnh tật Krankenkassen trên toàn quốc. Các qũy bệnh tật này, tương đương với hãng bảo hiểm y tế ở Mỹ, là những tổ chức không kiếm lời, nghĩa là không phải chạy đua theo lợi nhuận để thoả mãn yêu cầu của giới đầu tư (investors) như các hảng bảo hiểm ở Mỹ. Lệ phí bảo hiểm hàng tháng ấn định dựa trên lợi tức cá nhân. Trung bình một công nhân Đức hiện nay đóng 15% tiền lương cho bảo hiểm y tế; chủ nhân sẽ chịu một phần tương đương cho mỗi công nhân. Khác với công nhân Mỹ, người công nhân Đức có thể lựa chọn bất kỳ Krankenkassen nào và thay đổi bất kỳ lúc nào. Khi bị thất nghiệp, tự động chính phủ sẽ trả chi phí bảo hiểm cho người thất nghiệp.

    Các quỹ bệnh tật Krankenkassen là bất vụ lợi, không từ chối bảo hiểm cho bất kỳ ai cần cũng không từ chối chi trả cho bất cứ dịch vụ y tế nào được cung cấp bởi các bác sĩ và bệnh viện. Chi phí điều hành của các Krankenkassen này trung bình chỉ bằng chừng 1/3 chi phí của các hảng bảo hiểm Mỹ. Tuy bất vụ lợi, nhưng các Krankenkassen cạnh tranh nhau ráo riết để thu hút người mua bảo hiểm, nâng cao uy tín và thu nhập cho nhân viên điều hành. Các Krankenkassen này cung cấp bảo hiểm cho hầu hết người Đức, 93%. Còn lại chừng 7% những người giàu nhất xã hội, được miễn bị bắt buộc phải mua bảo hiểm từ Krankenkassen, chọn mua bảo hiểm từ các hảng bảo hiểm tư khác; tất nhiên với giá cả cao hơn rất nhiều.

    Bác sĩ ở Đức chỉ phải trả một số tiền nhỏ hàng năm cho bảo hiểm sai lầm nghề nghiệp (malpractice insurance), khoảng $1400/năm; tương đương với lệ phí một tuần của bác sĩ ở Mỹ. Nhưng đồng thời, thu nhập của bác sĩ ở Đức cũng thấp hơn nhiều, trung bình từ $ 100, 000 đến $150,000/ năm.

    NHẬT BẢN:

    Là một hệ thống bảo hiểm tư nhân với ít nhiều tài trợ từ chính phủ. Hệ thống bảo hiểm của Nhật bắt chước theo khuôn mẫu Bismarck của Đức, được thiết lập ra từ hồi cuối thế kỷ 19 trong quá trình nước Nhật canh tân hóa theo Tây Phương. Người Nhật bắt chước cách tổ chức hải quân theo mẫu của người Anh; luật pháp thì theo mẫu Luật Napoleon của Pháp; còn lục quân, hệ trung học và an sinh xã hội thì theo mô hình của Đức.

    Mọi người bắt buộc (personal mandate) phải đăng ký với một chương trình bảo hiểm y tế.Tổng cộng Nhật Bản có chừng 3,500 chương trình bảo hiểm y tế khác nhau, có thể gộp chung thành 3 loại:

    1.- Loại của các đại công ty và các cơ quan chính phủ lớn, trong đó công ty trả 55% lệ phí bảo hiểm (premium), công nhân trả 45% còn lại. Loại này không nhận bất kỳ sự trợ cấp tài chánh nào từ chính phủ trong vấn đề bảo hiểm y tế. Những công ty như Honda, Toyota có bệnh viện lớn riêng cho công nhân của họ.

    2. - Công nhân làm cho các hảng nhỏ đóng một nửa lệ phí bảo hiểm, chủ nhân đóng nửa còn lại. Nhưng các hảng nhỏ này được chính phủ trung ương trợ cấp 14% lệ phí bảo hiểm y tế.

    3. - Chương trình Bảo hiểm Y tế Công dân: dành cho những người về hưu và các tiểu chủ, tiểu thương. Trong chương trình này cá nhân và chính quyền địa phương cùng nhau chia đều lệ phí bảo hiểm y tế.

    Thông thường bệnh nhân phải trả 30% co-payment, hảng bảo hiểm trả 70% cho các dịch vụ y tế. Nhưng mỗi người không phải trả quá 650$/tháng cho các dịch vụ này.

    Các công ty bảo hiểm y tế Nhật là những công ty không vì lợi nhuận (not for profits); lý do tồn tại của họ là giúp thanh toán chi phí y tế, chứ không phải để kiếm lợi nhuận.

    Bộ Y tế và An sinh (Ministry of Health and Welfare) của Nhật thỏa thuận với giới cung cấp dịch vụ y tế (providers) một Biểu đồ giá cả (Fee Schedule) áp dụng chung cho tất cả bác sĩ, bệnh viện, trạm y tế trên toàn quốc, và một hướng dẩn tổng quát về quy trình y tế cùng giá thù lao kèm theo có tên là Shiryo Tensu Hyakumihyo (Quick reference Guide to Medical treatment points), dày như một cuốn niên giám điện thoại, liệt kê chi tiết các dịch vụ với phần thù lao đi kèm. Chẳng hạn: gặp bác sĩ gia đình giá 5$, một đêm tại bệnh viện 90$ (gồm cả thức ăn), v.v…

    Trung bình một bác sĩ gia đình ở Nhật có thu nhập chừng 120,000$/ năm; các bác sĩ chuyên môn (specialists) thì chừng 200,000$/năm. Các bác sĩ hàng năm chỉ phải trả chừng 1200$ cho bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice). Học phí của các trường y khoa rất rẽ chỉ chừng 1500 $/năm và sinh viên y khoa thường được chính quyền địa phương trợ cấp học phí, vì vậy không sinh viên nào mắc nợ khi tốt nghiệp bác sĩ cả.

    Ngoài ra các bác sĩ Nhật, do ảnh hưởng của văn hoá Đông phương, không xem bác sĩ như là một nghề để làm giàu mà cho rằng cứu nhân độ thế là thiên chức của người thầy thuốc, vì vậy đa số họ bằng lòng với mức thu nhập nêu ở trên. Mặt khác, bác sĩ vẫn là giới rất được trọng vọng trong xã hội Nhật.

    Một điểm đặc biệt là bảo hiểm y tế Nhật không bảo hiểm cho phụ nữ có thai. Người Nhật quan niệm rằng thai nghén là một quá trình tự nhiên, không phải là một bệnh tật nên không nằm trong sự che chở của bảo hiểm y tế. Tuy nhiên mỗi thai phụ lại được chính quyền địa phương hay thành phố trợ cấp 3000$/lần (maternity grant).

    Những biện pháp khống chế giá cả y tế như trên đã góp phần hạ thấp chi tiêu y tế ở Nhật, tổng chi phí y tế chỉ chiếm 8% GDP, thấp hơn cả Đức quốc (11%). Nhưng sự khống chế chặt chẽ giá cả này cũng tạo ra những nhược điểm cho nền y tế; đó là sự xuống cấp trầm trọng của các bệnh viện, bệnh xá, trang thiết bị, và đời sống của các bác sĩ, chuyên viên y tế cũng ngày càng khó khăn hơn.

    ANH QUỐC: Bảo hiểm y tế phổ quát.

    Cơ quan British National Health Service (NHS), do vương công William Beverdige khởi xướng trước đây 60 năm, đảm trách việc bảo hiểm y tế cho mọi người ở Anh. Công dân Anh không phải trả lệ phí bảo hiểm (premium). Trẻ em; người già trên 60, người có bệnh kinh niên và thai phụ không phải trả 10$ copayments tiền thuốc; khoảng 85% thuốc cho bệnh nhân là miễn phí. Tuy cũng có bảo hiểm y tế tư nhân, nhưng tuyệt đại đa số, 97%, dân Anh không ai mua bảo hiểm y tế cả, họ xem việc đi khám bác sĩ hay vào bệnh viện không phải trả tiền là điều bình thường.

    Cơ quan NHS nói trên có tổng cộng hơn 1 triệu nhân viên, hơn 2000 bệnh viện.

    Nền y tế trên đem đến cho Anh quốc một tử suất trẻ em rất thấp, tuổi thọ trung bình rất cao, và mức độ bình phục cho các chứng bệnh hiểm nghèo cao hơn ở Mỹ.

    Một đặc điểm của y tế Anh quốc là không có hoá đơn đòi tiền đối với các dịch vụ y tế như vẫn thấy ở Mỹ (no medical billing in England).

    Chính phủ Anh đã dùng mức thuế cao thay cho lệ phí bảo hiểm y tế. Thuế bán lẽ (sale taxes) ở Anh là từ 15-17.5%, thuế lợi tức và an sinh xã hội cũng cao hơn ở Mỹ rất nhiều. Chẳng hạn một gia đình thu nhập 150,000$ phải trả thuế lợi tức đến 50%!

    Nhược điểm là thời gian chờ đợi để gặp bác sĩ chuyên khoa, để được chẩn đoán hoặc điều trị phức tạp thường khá lâu. Vấn đề hạn định (rationing) đối với một số dịch vụ y tế là một nhược điểm lớn khác của nền y tế Anh.

    Ở Anh, mọi người được yêu cầu phải đăng ký với một bác sĩ tổng quát, như một y sĩ đầu tiên, vị bác sĩ này (General Practices) có thẩm quyền giới thiệu đến các chuyên khoa hay những chữa trị phức tạp. Đây là hình thức ở Mỹ gọi là giữ cửa (gatekeeping), trong đó bác sĩ gia đình có thẩm quyền trong việc giới thiệu (recommendation) những xét nghiệm hoặc chẩn đoán chuyên môn cho bệnh nhân; bệnh nhân không được phép tự mình gặp thẳng các bác sĩ chuyên môn mà không có sự đồng ý của bác sĩ gia đình.

    Sự hạn định đó thuộc về NHS. NHS ,thông qua cơ quan NICE, có thẩm quyền khống chế khá rộng đối với các xét nghiệm, chẩn đoán, các dịch vụ y tế dành cho bệnh nhân. Sự hạn định này cũng có ở Mỹ, nhưng khác ở chỗ là ở Mỹ các hảng bảo hiểm tư nhân kiểm soát sự hạn định này thường do động cơ lợi nhuận, còn ở Anh, cơ quan NICE (national institute for Health and Clinical Excellence) lại dựa trên hiệu quả thiết thực của dịch vụ y tế cho từng trường hợp bệnh nhân trong tương quan với tài nguyên của xã hội.

    Để bù lại, nền y tế Anh quốc đặt trọng tâm vào việc phòng bệnh (preventive care), tỉ lệ bác sĩ gia đình chiếm đến 60%, cao hơn ở Mỹ. Lợi tức trung bình của một bác sĩ gia đình là chừng 125,000$/năm, thu nhập này thay đổi dựa vào số bệnh nhân đăng ký đối với mỗi bác sĩ. Ngoài ra cơ quan NHS còn trao phần thưởng tay nghề (performance bonus) hàng năm cho những bác sĩ có thành tích giúp duy trì sức khoẻ tốt cho số bệnh nhân của mình.

    Lệ phí bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice) là khoảng 4,200$/năm; rất thấp so với ở Mỹ. Học phí tại các trường y khoa khá rẻ chỉ chừng 4,000$/năm, vì vậy đa số các bác sĩ mới tốt nghiệp không phải mắc nợ khi ra trường.

    CANADA

    Trước hết vào năm 1944, thống đốc Tommy Douglas của tỉnh Saskatchewan thành lập một hệ thống bảo hiểm y tế do chính quyền điều hành cho toàn thể 1 triệu dân trong tỉnh. Hệ thống ấy thành công rực rỡ đến độ từ năm 1961 trở đi chính phủ Canada đã thành lập hệ thống National Health Insurance, hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát toàn quốc, phỏng theo mô hình của Douglas, với dịch vụ y tế được cung cấp bởi tư nhân và chính phủ là người chi trả cho các dịch vụ ấy. Năm 1965 chính phủ Mỹ tiếp nhận hình thức bảo hiểm này của Canada cho công dân trên 65 tuổi, và cho ra đời chương trình Medicare.

    Tuy 10 tỉnh và 3 lãnh thổ của Canada có các chương trình bảo hiểm y tế riêng với ít nhiều khác biệt; chẳng hạn có nhiều tỉnh trả 100% chi phí khám bác sĩ, có tỉnh thì bệnh nhân phải trả chút ít co-payment. Nhưng nhìn chung thì chính quyền Liên bang là người cung cấp ngân sách và quy định luật lệ bảo hiểm cho các địa phương, đứng ra thương lượng về giá cả cho việc chữa trị, thiết bị y tế và thuốc men. Giá thuốc ở Canada rẽ hơn, chỉ bằng ¼ hoặc ½ giá ở Mỹ.

    Đạo luật Canada Health Act 1984 quy định vấn đề bảo hiểm y tế như sau:

    • Chương trình bảo hiểm của mỗi tỉnh phải do một cơ quan công cộng điều hành, không có mục đích kiếm lời (non-profit public body).
    • Các chương trình bảo hiểm phải trả cho mọi dịch vụ y tế cần thiết (medically necessary services) được liệt kê trong danh sách của chính phủ Liên Bang.
    • Bảo hiểm y tế của các tỉnh phải phổ quát, bảo đảm cho mọi công dân cơ hội đồng đều được chữa trị và cấp thuốc men theo quy định của kế hoạch. Các bác sĩ và bệnh viện phải tiếp nhận và chữa trị cho mọi bệnh nhân, không phân biệt, với cùng một mức giá cả.
    • Bảo hiểm phải trả ở mọi nơi trên lãnh thổ Canada.

    Với hệ thống bảo hiểm y tế như vậy, người Canadian không phải trả tiền cho việc khám bác sĩ, cho việc cấp cứu, nằm bệnh viện, bệnh tâm thần, chích ngừa, các xét nghiệm, MRI, v.v… Nhưng nha khoa thông thường thì không được bảo hiểm chi trả, chỉ có giải phẩu nha khoa tại bệnh viện thì khỏi trả tiền. Tại phần lớn các tỉnh, bệnh nhân phải trả tiền thuốc. Riêng người nghèo, già cả và bệnh kinh niên thì được miễn trả tiền thuốc.

    Tuy hệ thống bảo hiểm y tế của chính phủ bao trùm phổ quát như vậy, nhưng bên cạnh vẫn có một số chương trình bảo hiểm tư nhân, dù rằng chiếm một bách phân rất nhỏ, dành cho các dịch vụ nha khoa hoặc những dịch vụ y tế mà bảo hiểm của chính phủ không đãm nhận. Các chương trình bảo hiểm tư nhân này rất rẽ so với Mỹ.

    Một nhược điểm của bảo hiểm y tế Canada là thời gian chờ đợi cho một số các dịch vụ y tế đặc biệt thường kéo dài khá lâu. Chẳng hạn một ca giải phẫu cột sống phải chờ trung bình một năm; giải phẫu thay xương bả vai (shoulder arthroplasty) mất chừng 18 tháng chờ đợi; hoặc mổ thay cổ xương đùi phải chờ hằng 10 tháng!

    Cùng với sự chờ đợi lâu như trên là sự thiếu hụt bác sĩ. Trung bình ở Canada có 2.2 bác sĩ/1000 dân, trong khi ở Mỹ là 2.4/1000. Hiện nay chính phủ Canada đang nỗ lực gia tăng ngân sách để thu hút thêm bác sĩ và giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân đối với các dịch vụ điều trị phức tạp và đặc biệt.

    Ưu điểm của hệ thống Canada là chi phí điều hành của hệ thống bảo hiểm y tế thấp, phía cung cấp dịch vụ y tế, như bác sĩ hay bệnh viện, không phải gởi bills cho bệnh nhân, họ nhận thù lao thẳng từ các văn phòng bảo hiểm y tế của chính phủ. Ngoài ra, người dân Canada không ai phải khai phá sản vì chi phí y tế và cũng không ai chết vì lý do là không có bảo hiểm sức khoẻ và; do đó, đã không được chữa trị. Tử suất trẻ sơ sinh là 5.4 so với ở Mỹ là 7.0 (trên 1000 trẻ). Khả năng chữa trị những bệnh hiểm nghèo của nền y tế Canada, gọi là avoidable mortality, của Canada được WHO xếp hạng 7 trong số 19 quốc gia cao nhất thế giới (Mỹ được xếp hạng 15/19) .

    VIỆT NAM:

    Cho đến nay tuổi thọ trung bình (life expectancy) của người Việt là 72.2 năm, tuổi thọ sống khoẻ mạnh (healthy life expectancy) là 60.2 năm, xếp hạng 116 trên tổng số 174 quốc gia được thống kê. Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch Gia đình thì có đến 1.5% trong tổng số 85.8 triệu dân thuộc về dạng chậm trí; 1.5-3% trẻ sinh ra có khuyết tật; Việt Nam hiện có 5.3 triệu người tật nguyền. Dân số gia tăng hàng năm là 947,000 người tương đương với tăng suất 1.2%, có giảm so với tăng suất 1.7% của năm 1999.

    Trung bình có 5 bác sĩ cho 10,000 dân (Xin nhớ rằng tỉ số bác sĩ/dân ở Mỹ là 2.4/1000). Theo thống kê năm 2001 thì chi phí y tế bình quân đầu người hằng năm của VN là 134 dollars/người (so với Philippine 169$, Trung Quốc 224$, Nhật 2131$ và Úc 2532$). Cũng theo thống kê đó thì tổng chi phí y tế của VN chỉ chiếm 5.1% GDP (tổng sản lượng quốc gia).

    Chi tiêu cho săn sóc y tế của chính phủ không được phân phối đồng đều giữa các thành phần dân cư và khu vực. Mức độ chi tiêu của nhà nước cho săn sóc y tế cũng rất thấp, chỉ chiếm chừng 1% của GDP. 80% chi phi y tế là do tiền túi của người dân (out-of-pocket). Mức chi tiêu quá ít này của nhà nước cho lãnh vực y tế hoàn toàn trái ngược với danh xưng Xã hội Chủ nghĩa của VN; nó là kết quả của “đổi mới để sống còn” để duy trì sự độc quyền của đảng CS và của áp lực từ các định chế quốc tế IMF, World Bank và WTO cũng như từ các quốc gia Tây phương đối với VN trong việc cắt giảm chi tiêu công ích, chuyển hướng hẳn về kinh tế thị trường, mở ngõ lãnh vực y tế nội địa cho quá trình tư nhân hoá và tư bản bên ngoài .

    Những năm gần đây, Quỹ Y tế cho Người Nghèo (Health Care Funds for the Poor, HCFP) được thành lập, chỉ cấp rất khiêm tốn 70,000 đồng/người (gần 5dollars); trong đó trung ương cung cấp 76%, số còn lại do địa phương đóng góp. Số tiền đó được dùng hoặc để trả chi phí y tế cho những bệnh nhân nghèo, hoặc để giúp thêm vào việc mua bảo hiểm. Có chừng 11 triệu người hưởng sự giúp đỡ từ HCFP. Hiện Bộ Y tế VNCS đang có chương trình gia tăng gấp đôi ngân sách cho quỹ HCFP này.

    Việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa trở nên phổ biến, đa số các giới cung cấp dịch vụ y tế vẫn duy trì thói quen thu tiền mặt từ bệnh nhân, không tỏ ra tích cực trong việc chấp nhận thẻ bảo hiểm. Kể từ 1992, chính quyền VNCS đưa ra những chương trình bảo hiểm y tế cưỡng bách và tự nguyện do cơ quan, đại diện của Bộ Y tế, là Bảo Hiểm Y tế VN điều hành. Có 3 chương trình:

    1. Cưỡng bách: Dành cho công nhân viên trong biên chế nhà nước và trong các công ty tư nhân có từ 10 người trở lên. Lệ phí là 3% tiền lương, trong đó phía chủ nhân đóng 2%, công nhân đóng 1%.

    2. Tự nguyện: Là chương trình dành cho học sinh, sinh viên và các nông dân. Thường nông dân đóng 30%, chính quyền cấp tỉnh đóng 70%.

    3. Những chương trình dành cho người nghèo do nhà nước tài trợ.

    Tóm lại hệ thống bảo hiểm y tế VN, trong bước đầu hướng theo kinh tế thị trường, vẫn còn thuộc về mô hình out-of-pocket của các nước thứ ba, trong đó 80% chi phi y tế được trang trãi bằng tiền túi của người dân. VN chưa có một hệ thống bảo hiểm y tế thống nhất, được tổ chức chặt chẽ với những luật lệ rõ ràng như các nước phát triển.

    Trương Đình Trung

    _____________________

    THƯ MỤC:

    The Healing of America, T.T.Reid, Penguin Press, New York 2009.
    WHO, the World Health Report 2000.
    http://en.wikipedia.org/wiki/Taxation_in_the_United_Kingdom

    http://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_Canadian_and_American_health_....
    Health Affairs, May/June 2001.

    http://www.presscenter.org.vn/en/content/view/924/89/.
    Susan Adam, Vietnam healthcare system, IMF-Hanoi, 2005.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa trở nên phổ biến, đa số các giới cung cấp dịch vụ y tế vẫn duy trì thói quen thu tiền mặt từ bệnh nhân, không tỏ ra tích cực trong việc chấp nhận thẻ bảo hiểm.

    Một trong những lý do là nhận thẻ bảo hiểm y tế đồng nghĩa là bệnh viện sẽ nhận tiền chậm hơn vì phải đợi quỹ bảo hiểm trả lại sau

    Chính phủ VN phải ra luật bắt buộc các giới cung cấp dịch vụ y tế nhận thẻ bảo hiểm y tế