Trần Phúc Tâm - Tư tưởng Nam đế Lý Bôn ngàn năm còn soi sáng

  • Bởi Khách
    14/04/2012
    7 phản hồi

    Trần Phúc Tâm

    Lời nói đầu: Ngày này, 9/3/2012 (20 tháng Ba năm Nhâm Thìn), nhằm ngày giỗ của Vạn Xuân Nam đế Lý Bôn. Bài viết dưới đây như một nén nhang tưởng nhớ người anh hùng giải phóng dân tộc và cũng là hoàng đế đầu tiên của nước Việt Nam. Đồng thời, cũng là góp phần suy ngẫm, tìm trong vốn cổ truyền thống lịch sử văn hóa tư tưởng của dân tộc những thông tin, kinh nghiệm hữu ích còn có thể sử dụng được trong công cuộc bảo vệ và dựng xây đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau.

    I- Vạn Xuân Nam đế Lý Bôn

    Năm 541 sau công nguyên, Lý Bôn (Lý Bí) đã lãnh đạo dân Việt nổi lên đánh đổ ách đô hộ của Trung Hoa. Ngay sau khi giành quyền độc lập dân tộc, ông cho tiến hành mấy việc mà ý nghĩa tác dụng của nó vô cùng lớn, cho đến tận bây giờ cũng còn đáng suy ngẫm, ngưỡng mộ và học tập, đó là:

    - Lập đài Vạn Xuân tế thần linh sông núi của dân Việt và đặt tên nước là Vạn Xuân: Các miền khác của Trung Hoa, nhân lúc chính quyền trung ương suy yếu, nếu có nổi lên giành quyền tự chủ thì thường là lấy lại tên cũ theo sử Trung Hoa như là Tần, Hán, Tề... Với việc đánh đổ ách thống trị của Trung Hoa ở Giao Châu, không dùng các tên cũ mà dùng một tên mới, Lý Bôn và triều đại của ông đã thể hiện ý chí quyết tâm tách hẳn cõi Việt ra khỏi Trung Hoa, đoạn tuyệt quá khứ, không thèm luyến lưu dính líu gì nữa.

    - Dựng chùa Trấn Quốc và thờ Bà Triệu: Mặc dù là một người Việt gốc Hoa, là quan của chế độ quận thú cai trị Giao Châu, nhưng sau khi lập quốc, Lý Bôn đã không dựng miếu thờ Khổng Tử, Lão Tử hay một vị thánh thần nào đó của người Hoa.

    Ông và các cộng sự của ông chắc hẳn đã hiểu rằng, dân Việt muốn độc lập không phụ thuộc vào đế chế Trung Hoa thì phải có một nền tảng văn hóa khác biệt mới có thể không bị nhập nhòa đồng hóa. Thời đó, ngoài văn hóa truyền thống của người Việt (đã không đủ sức mạnh so với văn hóa Trung Hoa) thì chỉ có đạo Phật có thể mang đến một sức mạnh văn hóa khả dĩ đối địch được sức mạnh văn hóa Tàu. Cái hay ở đây là nhà nước Vạn Xuân ngày đó đã biết gắn sức mạnh văn hóa Phật giáo với tinh thần dân tộc bằng việc cụ thể là thờ nữ vương Triệu Thị Trinh cùng với Phật trong chùa Trấn Quốc (nay vẫn còn). Nữ vương Triệu Thị Trinh là người đã lãnh đạo dân Việt khởi nghĩa chống ách đô hộ Trung Hoa vào cuối thế kỷ 3 - CN, người đã nói câu nói nổi tiếng "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người" .

    - Xây Tô Lịch giang thành: Theo đề nghị của đại tướng Phạm Tu (quê ở huyện Thanh Trì bây giờ), Lý Bôn đã cho tiến hành xây dựng một tòa thành ở ven sông Tô Lịch, gọi là Tô Lịch giang thành. Tòa thành này chính là khởi đầu cho sự phát triển của vùng đất giữa sông Hồng và sông Tô Lịch dần dần trở thành trung tâm đô hội, hành chính, văn hóa, kinh tế, tâm linh và về sau đã nổi danh với những cái tên Đại La - Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. (Công của Phạm Tu như thế mà cho đến nay Hà Nội chưa có con đường nào mang tên ông thì thật là thiếu sót).

    Cũng cần phải nói thêm rằng, mặc dù có ý thức độc lâp tự chủ tách hẳn khỏi Trung Hoa, không dùng lễ giáo Khổng Mạnh làm nền tảng tư tưởng chính thống, nhưng, Lý Bôn vẫn dùng trí thức Nho học, bổ nhiệm Tinh Thiều (một nhà Nho) làm người đứng đầu hàng quan Văn. Việc này thể hiện rõ quan điểm "văn hóa Trung Hoa thì kiên quyết bỏ nhưng tinh hoa tri thức Trung Hoa thì vẫn dùng".

    - Mở rộng ảnh hưởng, tiến về phương Nam để có hậu phương vững chắc: Mặc dù đã giành được chính quyền ở trung ương nhưng nửa phía nam của Giao châu vẫn do quan đô hộ Trung Hoa cai quản. Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, thứ sử La châu là Ninh Cự, thứ sử An châu là Úy Trí, thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán cũng hợp binh đánh Lý Bôn. Nhưng Lý Bôn đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía nam, làm chủ toàn bộ Giao châu. Năm 543 CN, nhân lúc quân Vạn Xuân đang phải đương đầu với phương Bắc, vua Lâm Ấp đem quân đánh phá vùng Cửu Đức (Hà Tĩnh). Đại tướng Phạm Tu nhận lệnh cầm quân xuống đánh tan quân Lâm Ấp, ổn định biên giới phía Nam. Kể từ đây, bờ cõi nước Việt kéo dài đến dãy Hoành Sơn (Đèo Ngang).

    - Chủ động tiến công phá thế mạnh của địch: Cuối năm 542, Lương Vũ Đế sai thứ sử Giao châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân châu là Lư Tử Hùng sang đàn áp. Được tin quân Trung Hoa lại tiến sang, Lý Bôn chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đón đánh, quân Lương 10 phần chết đến 6-7 phần, hoàn toàn tan rã. Chiến thắng này giúp Lý Bôn kiểm soát toàn bộ Giao châu, tức là miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, cộng thêm quận Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc). Như vậy, tính cho đến nay, trong lịch sử Việt Nam chỉ có triều Tiền Lý và triều Hậu Lý là dám đem quân đánh Trung Hoa ngay trên đất Trung Hoa và đều giành được thắng lợi.

    * * *

    II- Điểm lược lịch sử 15 thế kỷ tiếp theo

    Thế nước chưa kịp ổn định thì quân xâm lược Trung Hoa lại kéo sang. Nước Vạn Xuân non trẻ mặc dù chống trả quyết liệt và cũng đã giành được những thắng lợi nhất định. Nhưng rồi, trước thế giặc mạnh, lại thêm thiếu may mắn (thời tiết bất ngờ xấu), quân dân Vạn Xuân không chống đỡ nổi. Pham Tu, Tinh Thiều và nhiều tướng lĩnh khác bị tử trận. Lý Bôn ốm nặng, trước khi mất, ông giao lại toàn quyền cho tướng trẻ Triệu Quang Phục. Đây lại thể hiện một điểm sáng nữa trong tư tưởng của vị hoàng đế đầu tiên của nước Việt - Chọn người tài năng kế vị chứ không truyền cho người trong họ theo lễ giáo Khổng Nho.

    Sự chọn lựa của Lý Nam Đế là hoàn toàn đúng đắn. Triệu Việt Vương đã lãnh đạo quân dân Vạn Xuân kháng chiến chống quân xâm lược Trung Hoa đi đến thành công, kéo dài nền độc lập tự chủ thêm được 50 năm nữa. Tri ân Lý Nam Đế đã nhường ngôi cho mình, Triệu Việt Vương đã không ngần ngại chia cho con cháu Lý Bôn một nửa nước.

    Tiếc thay, con cháu Lý Bôn không được như tiền nhân của họ. Cho rằng, mình mới là dòng đích, mới thật đáng giữ ngôi vua, nhân khi Triệu Việt Vương già yếu, Lý Phật Tử đã lập mưu lừa đảo rồi đánh bại Triệu Việt Vương, giành toàn quyền kiểm soát lãnh thổ. Thế nước bị suy yếu, quân Tàu nhân đó lại kéo sang đánh. Nước Việt lại thành châu quận của Tàu.

    ...

    Gần 500 năm sau, khi đế chế Trung Hoa bị suy yếu, rối loạn, dân Việt lại nổi lên giành quyền độc lâp tự chủ. Trải qua những biến động thăng trầm của các chính quyền Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi tiếp bước theo con đường sáng của Nam đế Lý Bôn thuở trước chuyển kinh đô ra Đại La và đổi tên là Thăng Long, lấy Phật giáo làm nền tảng tư tưởng chính thống. Từ ấy, thế nước ổn định và ngày càng đi lên phát triển rực rỡ huy hoàng.

    Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần đều có sự chuyển đổi hoán vị theo lề thói ai thực giỏi và được quần hùng bái phục thì lên ngôi chứ không câu nệ truyền ngôi chỉ có theo tộc họ. Các triều đại này cũng vẫn dùng tinh hoa tri thức Trung Hoa trong đào tạo nhân tài cũng như trong tổ chức quản lý và bảo vệ quốc gia. Thế nước cũng nhờ đó mà thịnh trị và giữ được độc lâp tự chủ liên tục suốt gần 500 năm (910 - 1406).

    Nhưng rồi, sai lầm lại lặp lại khi từ cuối triều Trần lề thói Trung Hoa ảnh hưởng lan tràn khắp từ triều nội đến ngoài dân chúng, vua Trần Nghệ Tông cố dẹp mà không được. Cũng như các triều đại khác, Trần triều rồi cũng suy bại, đó là lẽ tự nhiên. Tiếc rằng, khác với các lần trước - lực lượng kế nghiệp hoán vị thường là nghiệp võ (Lê Hoàn, Lý Công Uẩn) hay võ kết hợp kinh tế (Trần gia), kế nghiệp hoán vị triều Trần lại là một ông quan văn với tham vọng, mưu mô tranh quyền đoạt vị thì nham hiểm có thừa nhưng tài kinh bang tế thế, chính trị yên dân và sự dũng cảm xông pha trận mạc thì vừa yếu lại vừa thiếu. Giặc Trung Hoa nhân khi Việt suy yếu lại kéo sang, Việt lại thua và bị đô hộ 20 năm, thành quả kinh tế - văn hóa rực rỡ huy hoàng dựng xây suốt năm thế kỷ bị xóa sạch.

    ...

    Sau khi kháng chiến chống quân Minh (Trung Hoa) giành độc lập tự chủ thành công (năm 1427 CN). Triều Hậu Lê đã không dùng văn hóa Phật giáo làm tư tưởng chính thống của quốc gia. Thay vào đó lại dùng Nho giáo làm tư tưởng chính thống. Lễ nhạc cung đình cũng học tập, bắt chước như hệt Trung Hoa mặc cho Nguyễn Trãi đã hết mình can ngăn.

    Nho giáo đã giúp triều Hậu Lê đạt được những thành công võ bình văn trị, đặc biệt hoành tráng dưới triều Lê Thánh Tôn. Tuy nhiên, lịch sử cũng đã chứng minh rõ ràng rằng Nho giáo đã không giúp được Uy Mục đế, một người cháu nội của Lê Thánh Tông, trở thành minh quân nhân từ, trái lại ác như quỷ dữ. Nho giáo cũng không giúp được một người cháu nội khác của Lê Thánh Tông là Tương Dực đế tránh khỏi thói hoang dâm, xa hoa, lãng phí. Nho giáo cũng không giúp được vợ của Lê Thánh Tông - hoàng thái hâu Ngọc Huyên thoát khỏi cái chết tức tưởi bởi chính cháu nội mình (Uy Mục đế giận bà nội không ủng hộ mình làm vua. Sau khi lên ngôi đã đánh thuốc độc giết bà nội). Nho giáo cũng không giúp được Khổng Nho tiến sĩ Nguyễn Trãi tránh khỏi tội tru di ba họ, thảm án lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam tính cho đến thời điểm này.

    Suốt mấy trăm năm sau đó, xã hội Việt chịu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Trung Hoa, dùng Nho giáo làm tư tưởng chính thống cũng là quãng thời gian người Việt luôn chia rẽ, bất hòa. Thế nước không mạnh lên được, không làm sao thoát được khỏi sự kiềm tỏa của đế chế Trung Hoa.

    ...

    Cuối thế kỷ 19, người Pháp bảo hộ Việt Nam, gạt bỏ sự kiềm tỏa của Trung Hoa đối với nước Việt, đồng thời, văn hóa Âu-Tây từng bước đả lui lề thói Nho Tàu. Đặc biệt từ sau năm 1945, với khẩu hiệu "trí phú đia hào đào tận gốc trốc tận rễ", nền nếp văn hóa ảnh hưởng Nho Tàu bị văn hóa cộng sản quét sạch. Khoảng thời gian này cũng là khoảng thời gian tinh thần Việt thăng hoa, ý chí Việt mạnh mẽ, tâm tính Việt dũng cảm. Người Việt giành được độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

    Nhưng cái lề thói mà dân Việt đã gắn bó ngàn năm thì không dễ gì bỏ được, cái tham vọng muôn đời muốn nuốt Việt Nam của đế chế Trung Hoa vì thời thế tạm ẩn chứ cũng không triệt hẳn đi. Khi có điều kiện là nó lại trở lại kiềm tỏa người Việt, lấn chiếm lãnh thổ Việt. Từ sau năm 1990, văn hóa Trung Hoa ngày càng thâm nhập và thống trị xã hội Việt. Cùng với đó, Việt Nam luôn bị Trung Hoa lấn ép, ức hiếp. Chính trường bị thao túng; dân chúng bị đánh đập, trấn lột; lãnh thổ bị cướp đoạt, thu hẹp; tài nguyên bị vơ vét; môi trường bị tàn phá.

    Cũng từ khi lề thói Nho giáo sống lại và văn hóa Tàu ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam thì cũng là lúc con người Việt Nam ngày càng yếu hèn, quan chức ngày càng tha hóa đến vô liêm sỉ, giáo dục xuống cấp, tham nhũng lạm quyền lan tràn và kỷ cương luân lý xã hôi rối loan (con giết cha, cháu giết bà, mẹ bán con, chị lừa em .v.v...).

    Đến bây giờ, Trung Hoa lộ nguyên hình là kẻ thù nguy hiểm nhất của Việt Nam. Văn hóa Trung Hoa, lề thói Nho Tàu là thứ rất độc hại đối với người Việt tương tự như lòng lợn ôi, chân gà thối vậy.

    * * *

    III - Vận dụng tư tưởng của Vạn Xuân Nam đế Lý Bôn trong thời đại ngày nay

    Điểm lược lịch sử dân tộc suốt 15 thế kỷ như trên cho ta thấy rõ những vấn đề căn bản mà Lý Bôn và nhà nước Vạn Xuân đã thiết lập vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận bây giờ. Để giữ vững độc lâp dân tộc và toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, để thoát khỏi ảnh hưởng của đế chế Trung Hoa và phát triển đi lên, rõ ràng, chúng ta rất nên vận dụng sáng tạo những nguyên tắc cơ bản mà Lý Bôn đã làm từ gần 1500 năm trước. Cụ thể là:

    1/ Kiên quyết tách rời, không lưu luyến vấn vương gì với cái quá khứ ảnh hưởng Trung Hoa nữa.

    2/ Xây dựng một nền văn hóa mới trên cơ sở kết hợp nền nếp văn minh khoa học kỹ thuật với văn hóa tâm linh tổng hòa giữa văn hóa Việt truyền thống (thờ tổ tiên, thờ mẫu, thờ các anh hùng dân tộc, người có công với nước với làng) và văn hóa Phật giáo, văn hóa Ki-tô giáo. Kiên quyết bỏ lề thói Nho Tàu đồng thời tích cực khai thác tinh hoa tri thức Trung Hoa, kết hợp cùng tri thức văn minh khoa học kỹ thuật để tạo ra sản phẩm trí tuệ mới.

    3/ Giữ nguyên các cơ quan đầu não của quốc gia ở trong phạm vi giữa sông Hồng, Hồ Tây và sông Tô Lịch.

    4/ Tăng cường liên thủ chặt chẽ với các nước ASEAN.

    5/ Việt nam yếu, trong tình hình hiện nay, để có thể giành thế chủ động phá tan sự o ép của Trung Hoa thì chắc chắn không còn đường nào hay hơn là liên kết với các nước Âu, Nga, Mỹ, Ấn, Nhật, thật lòng tham gia vào một liên minh bao vây kiềm chế sức mạnh Trung Hoa đang dần hình thành do Mỹ khởi xướng và đứng đầu.

    Tráng Việt - Vĩnh Phúc tháng 4 năm 2012

    Trần Phúc Tâm

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    RTC viết:
    Xin lỗi bạn Thích. Ban mới chính là kẻ nói gấu. Rất là láo (bạn nói tôi trước tôi đành đạp lại)...

    Tôi xin chấm dứt tranh luận ở đây. Từ nay về sau không bao giờ dính tranh luận với bạn Thích hay ban Nịt nữa.

    Không nên nổi nóng khi tranh luận với dân vùng cao!!!

    Lê Đăng Thích hay Bùi văn Nịt hay Tôn Thất Khanh aka Tôn Thất Đảng aka Đặng Quốc Long aka Khách Ven Đê aka Lê Đinh Mác aka Phong Minh aka PM aka mỏi cả tay...

    Tất cả chỉ là 1 chú dân vùng cao mà thôi!!!

    - Hoặc là tranh luận, gom ráo cả vào thành 1!
    - Hoặc là không tranh luận, kệ nó đi!

    Xin lỗi bạn Thích. Ban mới chính là kẻ nói gấu. Rất là láo (bạn nói tôi trước tôi đành đạp lại).
    RTC phê phán Nịt là vì Nịt viết "Thực chất ta chỉ độc lập từ sau khi Liên xô tan rã vào năm 1991". Viết như thế nầy trên DL mà không sợ bị cười thối mũi à! bây giờ đang như là bắc thuộc lần hai (hoặc ba, tính cả 20 năm Minh đô hộ) mà còn bảo là độc lập thực chất (!)
    Nịt cũng viết "tôi không tán thành với ý của tác giả "kiên quyết tách rời, không lưu luyến vấn vương những gì với quá khứ ảnh hưởng Trung Hoa nữa." Đây là ý kiến cực đoan, điều này không thể thực hiện được, ta nên nhớ là tổ tiên ta đã dùng chữ Hán của người Trung Hoa hàng nghìn năm do ông Sĩ Nhiếp mở trường dạy ở Luy Lâu (Bắ Ninh) từ cuối thế kỷ II, nhiều sách của ta trước kia đều dùng chữ Hán, chữ nôm cũng là do chữ Hán cải tiến. Mãi đến đầu thế kỷ XX thì ta mới có chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán. Nghĩa là ta mới có chữ quốc ngữ thông dụng như ngày nay khoảng trên nửa thế kỷ (sau 1945). Nền văn hóa của ta với Trung quốc cũng có nhiều nét giống nhau mà chủ yếu là ta ảnh hưởng của người Trung Hoa, ... và nhiều phong tục của ta cũng có cái na ná Trung quốc".
    Mịa, Nhật Bản cũng đã từng ảnh hưởng nhiều từ Tàu đấy, vẫn đang dùng nhiều chữ xuất phát từ chữ Tàu đấy. Nhưng một khi theo văn minh khoa học phương Tây là họ bỏ luôn lề thói văn hóa ảnh hưởng Tàu, ví dụ bỏ luôn âm lịch, ăn tết Tây lịch. Thế mà có ai biểu họ mất bản sắc văn hóa đâu? Còn VN ta, suốt ngày kêu gào không được ảnh hưởng Tây bỏ văn hóa truyền thống (thực chất là văn hóa Tàu) nhưng kết quả là dân ta thuộc sử Tàu hơn sử Ta. Đến thế mà vẫn cãi chày bửa bênh nhau được, lại còn chê người khác là gấu láo.

    Tôi xin chấm dứt tranh luận ở đây. Từ nay về sau không bao giờ dính tranh luận với bạn Thích hay ban Nịt nữa.

    Ôi kiểu phê phán của khách RTC không khác gì cách phê phán của mấy ông TS cộng sản, nghĩa là mình bịa ra cái sai gán cho người ta rồi phê bình, cũng có nghiã là mình phê bình mình dưới danh nghĩa phê bình người khấc. Còm của khách NỊt không hề nói ta phụ thuộc Tàu thì khách RTC viết: "Kể từ năm 1945, chưa bao giờ ta phụ thuôc vào Tàu như từ 1991 đến nay." Thực ra ngay chiến thắng biên giới 1950 ta đã phụ thuôc Tàu rất nhiều, xin dẫn chứng ngay: Có người mình sang Tàu học lớp pháo binh đầu tiên nay còn sống, lại còn có rất nhiều cụ trước đây là du học sinh của mình sang trung quốc học tại Quế Lâm, nói chung ta cử người sang Trung quốc học nhiều lắm, chính trong "trận Điện Biên chấn động điạ cầu" thì có nhiều chuyên gia quân sự làm cố vấn mà nổi bật là La Vĩnh Thanh. Còn một điều này nữa, chẳng biết RTC có sinh sau 1954 hay không và có tra cứu tài liệu lịch sử hay không để biết: khi đoàn quân Việt MInh vào tiếp quản thủ đô Hà Nội thì bộ đội toàn đeo súng trường Trung quốc có cái lưỡi lê dài ngoẵng, lại đi trên những chiếc xe tải Motoba cũng do Tàu sản xuất. Vậy ta có phụ thuộc vào Tàu không? Nhưng ý nầy khách Nịt cũng không nêu ra.
    Ý của khách Nịt là ta bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thì RTC phê như sau: "Hãy xem những cái vẫn gọi là nền nếp cỏ truyền của ta thực chất là gì? Phần lớn là học lễ giáo Trung Hoa." Kiểu phê bình người ta thế này là vừa "uống rượu rởm với thịt chó điên" nên mới viết thế, nó giống với kiều nói của một người hay bị dân mạng phê là "láo như gấu" ở nước ngoài nhưng lại nói giống hệt kiểu người bị ảnh hưởng của nền giáo dục CS.

    Quá chán với kiểu nói lấy được rằng khẩu hiệu “Trí phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” được nêu trong CCRĐ, tôi xin trích dẫn ở đây tài liệu chỉ ra khi nào thì khẩu hiệu này được dùng (1931, đó là thời kì Xô Viết Nghệ Tĩnh do Trần Phú và bộ sậu của ông ta (sau khi loại bỏ không thương tiếc Chính cương Sách lược vắn tắt của Nguyễn Ái Quốc) chỉ đạo. Cũng vì cuộc khởi nghĩa này mà ông ta đã bị bắt:

    Trích dẫn:
    http://btxvnt.org.vn/cms/?m=16&act=view&id=124

    Năm 1931, trước âm mưu khủng bố trắng của thực dân Pháp và phong kiến, đáng tiếc thay Xứ ủy Trung Kỳ đã phạm một số sai lầm tả khuynh. Dù thời gian xảy ra yếu điểm đó rất ngắn ngủi (khoảng một tháng) nhưng nó đã gây ra tổn thất cho phong trào bấy giờ: Chỉ thị thanh Đảng của Xứ ủy Trung Kỳ ra đời đầu tháng 4-1931. Trong chỉ thị này có câu “Trí phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” “Đuổi sạch sành sanh ra ngoài hết thảy những bọn trí phú địa hào. Nếu đồng chí nào muốn làm cách mạng, tự nguyện đứng về phía giai cấp vô sản mà phấn đấu cũng không cho đứng trong Đảng.” Sau khi nhận được chỉ thị thanh Đảng, các đảng viên thuộc thành phần lớp trên không tránh khỏi đột ngột.

    Bạn Nịt phê bình hay như đảng TA phê và bình vậy.
    1/ Phê người ta rằng sau 1945 ta phụ thuộc Nga. Rồi sau đó tương luôn từ năm 1991 mới thực sự độc lập. Có lẽ bạn Nịt theo phái thân Tàu nên mới nói thế. Kể từ 1945 , chưa bao giờ VN lại phụ thuộc vào Tàu như từ sau 1991 đến nay, cái này là sự thật từ lề phải (kê kinh tế) đến lề trái (kê chính trị) đều nói nhiều rồi.
    2/Bạn Nịt phê bình người ta cực đoan nhưng té ra bạn đếch đọc kỹ đoạn dưới "Kiên quyết bỏ lề thói Nho Tàu đồng thời tích cực khai thác tinh hoa tri thức Trung Hoa, kết hợp cùng tri thức văn minh khoa học kỹ thuật để tạo ra sản phẩm trí tuệ mới". Bạn Nịt đừng có nhầm lẫn giữa văn hóa và tri thức. Văn hóa hiểu chuẩn theo xuất phát ngôn từ Hán-Việt là lễ giáo, là lề thói sống. Lấy lễ giáo để cảm hóa người ta theo mình gọi là văn hóa. Hãy xem những cái vẫn gọi là nến nếp cổ truyền của ta thực chất là gì? Phần lớn là học lễ giáo Trung Hoa cả đấy. Tết nguyên đán, Thanh minh, Táo quân, thần tài, tam đa, tiên học lễ hậu học văn, dâng sao giải hạn, vàng mã, sớ, bùa, cúng 49, cúng bách nhật .v.v. và .v.v... của ta chắc ?????

    Tài năng, kỹ thuật, nền nếp kỷ luật, tinh thần đoàn kết, sự chịu khó chịu khổ và tiết kiệm, độ rộng lãnh thổ, dân số, văn học, lịch sử (có chứng cớ rõ ràng) hoành tráng, mưu mô thâm hiểm sâu sa ... đã thua Tàu rồi. Đến văn hóa lối sống cũng (cùng hay cùng dở) như Tàu nữa thì lại thành châu quận Giao Chỉ Man di An Nam đô hộ phủ mà thôi.

    Tôi có hai ý kiến nhỏ không tán thành với tác giả bài này:
    1- TÁc giả viết: "Đặc biệt từ sau 1945...khoảng thời gian này là khoảng thời gian tinh thần Việt Thăng hoa, ý chí Việt mạnh mẽ, tâm tính Việt dũng cảm. Người Việt giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước." Tôi cho đây là ý kiến không chính xác. Sau năm 1945 các vị lãnh đạo của nhà nước ta đã tuyên bố một cách rất tự hào: "Ta độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo". Trước 1975 thì nửa nước (tức là chỉ có miền Bắc) độc lập do Liên xô lãnh đạo, sau 1975 thì cả nước độc lập ...do Liên xô lãnh đạo. Thực chất ta chỉ độc lập từ sau khi Liên xô tan rã vào năm 1991. Giở lại Hiến pháp 1982 thì còn thấy ghi ta hợp tác toàn diện với Liên xô. Bản hiến pháp này cũng ghi Trung quốc là kẻ thù, nhưng nay chẳng mấy ai nhắc tới, mà người ta cố tình quên đi hai điều trên.
    2- Điều thứ hai tôi không tán thành với ý của tác giả "kiên quyết tách rời, không lưu luyến vấn vương những gì với quá khứ ảnh hưởng Trung Hoa nữa." Đây là ý kiến cực đoan, điều này không thể thực hiện được, ta nên nhớ là tổ tiên ta đã dùng chữ Hán của người Trung Hoa hàng nghìn năm do ông Sĩ Nhiếp mở trường dạy ở Luy Lâu (Bắ Ninh) từ cuối thế kỷ II, nhiều sách của ta trước kia đều dùng chữ Hán, chữ nôm cũng là do chữ Hán cải tiến. Mãi đến đầu thế kỷ XX thì ta mới có chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán. Nghĩa là ta mới có chữ quốc ngữ thông dụng như ngày nay khoảng trên nửa thế kỷ (sau 1945). Nền văn hóa của ta với Trung quốc cũng có nhiều nét giống nhau mà chủ yếu là ta ảnh hưởng của người Trung Hoa, đến nay nhiều danh ngôn xuất xứ từ Trung Hoa vẫn được dân ta vận dụng. Ngay câu nói của cụ Hồ "vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" cũng là có xuất xứ từ Trung quốc. Nếu tôi nhớ không nhầm thì đây là câu của Quản Trọng trả lời vua Tề: "Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc (kế sách một năm là trồng lúa), thập niên chi kế mạc như thụ mộc (kế sách mười năm là trồng cây), bách niên chi kế mạc như thụ nhân (kế sách trăm năm là phải trồng người)". Rồi "tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng", còn biết bao câu khác và nhiều phong tục của ta cũng có cái na ná Trung quốc. Sau 1945 thì chính cụ Hồ có công vun đắp cho ta càng gần gũi Trung quốc hơn. Cần tách biệt những cái ta chịu ảnh hưởng cuả Trung Quốc kia với những điều cụ Hồ cố tình vun đắp tình hữu nghị Việt-Trung để dẫn tới nguy cơ mất nước.
    Ta chiu ảnh hưởng của văn hóa Trung quốc không có nghĩa là ta lệ thuộc vào Trung quốc. Nền văn hoá Trung quốc có ảnh hưởng đến nhiều nước ở Châu Á, nhưng các nước đó vẫn độc lập. Thậm chí dân số Singapore thì đại đa số là người Hoa, nhưng Singapore có mất độc lập vào tay Trung quốc đâu. Nhiều nước ở châu Âu cũng dùng chung mẫu tự La tinh, nhưng các nước châu Âu vẫn độc lập.
    Đến thời điểm hiện nay thì nước ta chịu sự chi phối của mấy nền văn hóa: Trung quốc, Tây Âu, Đức (chủ nghĩa Mác) và Liên xô (chủ nghiã Mác và Liên xô có thể nói chung là CS). Người Trung quốc thì cái gì vào nước họ cũng bị Hoa hóa, ngay cả CNCS cũng mang mầu sắc Trung quốc. Còn ta cũng đang "cải tiến" và biến hóa nó qua quá trình "đổi mới", đồng thời lại bắt chước anh Tàu, để nó thành thứ tả pí lù nửa dơi nửa chuột, chẳng ra làm sao, làm đất nước chậm tiến.

    Ông và các cộng sự của ông chắc hẳn đã hiểu rằng, dân Việt muốn độc lập không phụ thuộc vào đế chế Trung Hoa thì phải có một nền tảng văn hóa khác biệt mới có thể không bị nhập nhòa đồng hóa.

    Tư tưởng Nam đế Lý Bôn có phần cởi mở, thích khám phá hơn là tư tưởng của TBT Nguyễn Phú Trọng
    Có thể là do tuổi tác, Trọng hơi già, lẩm cẩm hơn ?
    Có thể là do gen + giáo dục, tạo tư tưởng thích phụ thuộc, lệ thuộc của Trọng ?