Trương Đình Trung - Đạo luật Y tế mới của Mỹ sẽ đi về đâu?

  • Bởi Khách
    11/04/2012
    38 phản hồi

    Trương Đình Trung

    Mỹ tuy là cường quốc số một trên thế giới, nhưng hệ thống y tế lại không bằng các quốc gia tiên tiến khác. Từ lâu người Mỹ đã nỗ lực để cải cách hệ thông y tế đó. Đỉnh cao của nổ lực đó thể hiện bằng đạo luật Affordable Care Act, được Quốc Hội thông qua và Tổng Thống Mỹ ký ban hành năm 2010. Nhưng từ đó đến nay sự chống đối những cải cách của Đạo luật vẫn còn mạnh; chuyển từ mặt trận lập pháp qua mặt trận tố tụng.Kể từ ngày ban hành, Đạo luật đã liên tiếp bị kiện, và nay thì đang được đưa ra trước Toà Án Tối Cao. Toà này đã nghe xong phần tranh luận và sẽ công bố phán quyết cho số phận của Đạo luật vào tháng Sáu tới.<br />
    <br />
    Vụ kiện không chỉ đơn thuần là vấn đề hệ thống y tế và những cải cách đối vói hệ thống đó, mà còn bộc lộ một số vấn đề rất căn bản của sự phân quyền trong nền dân chủ Mỹ, đáng được chú ý tìm hiểu và học hỏi; nhất là cho những ai đang quan tâm tìm kiếm một mô hình DC cho Việt Nam.

    Sau nhiều thập niên với nổ lực của nhiều đời tổng thống, rồi trải qua hơn 14 tháng tranh luận căng thẳng tại diễn đàn Quốc Hội và trên các diễn đàn công cộng khác, mải đến tháng Ba năm 2010 một đạo luật cải cách y tế với quy mô rộng lớn cho toàn nước Mỹ mới chính thức ra đời. Tên chính thức của đạo luật được ký ngày 23/3/2010 là The Patient Protection and Affordable Care Act, thường được gọi là Affordable Care Act (ACA). Nhưng từ khởi sự chính giới Mỹ đã không đạt được sự đồng thuận cao đối với nội dung của cuộc cải cách y tế, vì vậy tuy Đạo luật đã được thông qua, sự chống đối vẫn không kết thúc, trái lại càng mạnh mẽ hơn và chuyển hẳn qua một bình diện khác: bình diện pháp lý. Ngay từ sau ngày đạo luật ACA được chính thức ban hành, nhiều vụ kiện chống lại Đạo luật, ở nhiều cấp độ khác nhau, đã được tiến hành. Phần đông các vụ kiện ấy không thành, bị các toà án ở cấp thấp bác bỏ, chỉ riêng vụ của bang Florida, đại diện nhiều tiểu bang khác, là được đưa lên tới Toà Án Tối Cao (TATC). Trong ba ngày 26,27 và 28 Tháng Ba vừa rồi, TATC đã chấp thuận nghe luật sư đôi bên - đại diện của Chính Phủ Liên Bang và đại diện của 26 tiểu bang - trình bày quan điểm của mình. Sau đó, ngày Thứ Sáu 30 Tháng Ba, chín vị Thẩm phán( Justices) của TATC đã họp kín, bỏ phiếu sơ bộ cho phán quyết cuối cùng đối với Đạo luật. Kết quả của cuộc bỏ phiếu đó vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Phải đợi đến Tháng Sáu, phán quyết cuối cùng của TATC mới được công bố. Từ đây cho đến đó, không một ai có thể đoán định được chắc chắn là phán quyết của TATC sẽ như thế nào. Đạo luật y tế mới của Mỹ, ACA, rồi sẽ đi về đâu là một câu hỏi lớn đeo đẳng trong lòng nhiều người trong những tháng tới.

    CƠ CẤU HỆ THỐNG BẢO HIỂM Y TẾ HIỆN NAY CỦA MỸ:

    Hệ thống y tế hiện nay của Mỹ là một hổn hợp của cả 4 thành phần như sau:

    A. Đối với những người trên 65 tuổi thì thuộc hệ thống Medicare, do chính phủ Liên bang điều hành, là một hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát áp dụng cho mọi công dân trên 65 tuổi. Chính phủ chi trả cho tất cả mọi chi phí y tế cho các thành viên của chương trình Medicare. Số người trên 65 tuổi chiếm khoảng 13%, tức chừng 40 triệu (con số năm 2007).

    B. Người Da đỏ, Quân nhân và Cựu chiến binh thì được hưởng bảo hiểm y tế do Chính phủ Liên bang đảm nhiệm cả việc cung cấp dịch vụ y tế lẫn việc chi trả cho các dịch vụ đó. Các trạm xá và bệnh viện đều là của chính phủ Liên bang; các bác sĩ là nhân viên của chính phủ.

    C. Những người trong độ tuổi lao động thì các chủ nhân và các công ty cùng với công nhân, viên chức chia nhau chi phí mua bảo hiểm. Và công nhân sẽ phải bỏ tiền túi trả một phần cho một số dịch vụ y tế (hình thức cùng thanh toán, "co-payment"). Các hãng bảo hiểm y tế hoàn toàn là tư nhân, là những tổ chức có mục đích kiếm lời (for profit entity). Nhóm này chiếm đại đa số dân chúng, đến khoảng 160 triệu người.

    D. Cuối cùng là những người không có bảo hiểm y tế. Thành phần này phải dùng tiền riêng của mình để trả cho toàn bộ những chi phí y tế do họ phát sinh. Hiện nay có chừng hơn 47 triệu người Mỹ thuộc vào nhóm này!

    NHỮNG BẤT CẬP HIỆN NAY CỦA HỆ THỐNG Y TẾ MỸ

    • Phẩm chất của nền y tế kém so với chi phí cao và gia tăng nhanh. Mỹ là nơi quy tụ các bác sĩ, chuyên gia y tế, y cụ và phương pháp điều trị tối tân vào bậc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, một cách tổng quát thì phẩm chất của nền y tế, xét theo các tiêu chuẩn quốc tế, lại không cao so với các quốc gia khác và so với mức chi phí. Có đến gần 47 triệu người không có bảo hiểm, khoảng 25 triệu với bảo hiểm giới hạn và hàng năm có đến cả trăm ngàn người chết chỉ vì lý do đơn giản là không có bảo hiểm để được gặp bác sĩ, được chẩn đoán và điều trị.

    • Chi phí săn sóc y tế hàng năm của Mỹ cao hơn các nước khác; chẳng hạn gấp đôi Canada, chiếm đến gần 17% tổng sản phẩm nội địa (GDP). Và mức chi phí y tế gia tăng quá nhanh; gần gấp đôi chỉ trong vòng chưa đầy một thập niên.

    • Các hãng bảo hiểm khống chế thị trường, đẩy giá bảo hiểm lên cao khiến nhiều người không mua nổi. Có trường hợp hãng bảo hiểm từ chối bảo hiểm khi bệnh xảy ra cho những người đã có mầm bệnh, hoặc những chứng liên quan, trước khi mua bảo hiểm, nhưng không ghi trong hợp đồng bảo hiểm; tiếng Mỹ gọi là pre-existing conditions.

    • Tất cả các hãng bảo hiểm ở Mỹ đều thuộc loại doanh nghiệp có mục đích kiếm lời, for-profit organization; lý do tồn tại của các hảng bảo hiểm là lợi nhuận, chứ không phải vì sức khoẻ của khách hàng. Quyền lợi kinh tế của hảng bảo hiểm và quyền lợi y tế của khách hàng luôn mâu thuẫn và tiêu trừ lẫn nhau. Một trong những thủ thuật thông thường của các hảng bảo hiểm là từ chối, hoặc trì hoãn, chi trả phí tổn dịch vụ y tế cho khách hàng (deny or delay customer’s claim payments). Họ mướn những chuyên viên để lo việc này (gọi là các claim adjusters), hoặc thiết lập các hệ thống computer tối tân để tự động hoá việc từ chối chi trả. Họ cũng tưởng thưởng cho những nhân viên nào thực hiện được tốt những sự từ chối hoặc trì hoãn như vậy. Theo National Association of Insurance Commissioner thì chỉ riêng trong năm 2008 có đến hơn 195,000 khiếu nại của khách hàng về việc bị các hảng bảo hiểm từ chối chi trả dịch vụ y tế. Có trường hợp khách hàng đã chết rồi mà sự khiếu nại vẫn chưa giải quyết.

    • Ngoài ra còn có trường hợp huỷ bỏ hồi tố hợp đồng bảo hiểm (retroactive cancellations/ after-the-fact policy cancellations) nếu hảng bảo hiểm khám phá ra là khách hàng trước đó, khi ký hợp đồng bảo hiểm, đã cố ý hay vô tình không khai một chi tiết bệnh lý nào đó trong hồ sơ cá nhân của mình. Ngay cả những người vì không biết mà không khai cũng chịu sự chế tài đó. Và sự huỷ bỏ này có thể áp dụng cho cả gia đình dù chỉ một thành viên trong gia đình sai phạm. Chẳng hạn một phụ nữa ở Texas bị phát hiện có bướu trong vú. Ngay lúc đó hảng bảo hiểm điều tra và tìm ra là trước đó người phụ nữ này đã mắc chứng rỗng xương (osteoporosis) mà không khai khi lập hợp đồng bảo hiểm. Tuy rằng chẳng có mối liên hệ gì giữa hai căn bệnh, hảng bảo hiểm vẫn lấy lý do đó để huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm!

    • Sự an toàn của các dịch vụ y tế là một vấn đề khác. Hàng năm có đến gần 100,000 người chết trong các bệnh viện gây ra do các nhầm lẫn có thể tránh được trong dịch vụ y tế (preventable medical errors), nhiều hơn thương vong do tai nạn xe cộ hay do bệnh AIDS! Vấn đề này dẩn đến việc giới cung cấp dịch vụ y tế: bác sĩ, dược sĩ, bệnh viện, v.v… phải trả bảo hiểm nghề nghiệp cao hơn nhiều lần so với đồng nghiệp ở các quốc gia khác. Nó cũng làm gia tăng các vụ kiện tụng giữa bệnh nhân và các bác sĩ. Tất cả những vấn đề này góp phần không nhỏ vào việc đẩy chi phí y tế nói chung lên cao rất nhanh; hơn gấp đôi chỉ trong một thập niên.

    • Một thiếu sót khác liên quan đến vấn đề phòng bệnh (preventive care). Khác với các quốc gia tiên tiến khác, như Anh Quốc chẳng hạn, hệ thống y tế của Mỹ không chú ý đúng mức đến công tác phòng bệnh. Những bệnh trạng đứng đầu trong danh sách gây tử vong hàng năm như các chứng tim mạch, tiểu đường, ung thư phổi, ung thư vú, v.v… là những chứng bệnh có thể ngăn ngừa được với hiệu quả cao nếu như sự phòng bệnh được thực hiện chu đáo và người dân có bảo hiểm y tế đầy đủ. Sự thiếu chú trọng đến vấn đề phòng bệnh phản ảnh trong hiện tượng thiếu thốn bác sĩ gia đình.Một số ước tính trong năm 2008 cho thấy nước Mỹ thiếu đến 14,000 bác sĩ gia đình. Hiện nay bác sĩ tổng quát chỉ chiếm 35% tổng số bác sĩ; so với Anh Quốc là 60%.Thu nhập trung bình của một bác sĩ tổng quát là chừng 200,000 dollars/năm; của một bác sĩ giải phẩu chừng 350,000 dollars/năm. Tỉ lệ sinh viên y khoa chọn đi chuyên ngành rất cao so với số chọn đi toàn khoa. Học phí tại các trường Y khoa rất đắt, trung bình một sinh viên y khoa tốt nghiệp nợ từ 60,000 cho đến 100,000 dollars!

    • Sự thiết lập hạn mức dịch vụ y tế (healthcare rationing): Trước hết là sự giới hạn việc đi khám bác sĩ. Thông thường hảng bảo hiểm buộc bệnh nhân chỉ được đến khám ở những bác sĩ có tên trong một mạng nhất định (in network); hảng bảo hiểm sẽ không chi trả nếu người bệnh tự ý đi khám ở những bác sĩ ngoài mạng (out-of network). Việc phải trả co-payment hoặc deductible cũng là những hình thức buộc người bệnh phải tự hạn định mình trong việc đi khám bác sĩ hoặc chữa trị. Kế đến là hảng bảo hiểm từ chối không chi trả cho những sự chữa trị hoặc các dược liệu nào đó đối với bệnh nhân (như CT scan, làng răng gỉa, niền răng, chiropractice, thuốc mới…). Các bác sĩ chỉ có quyền đề nghị sự chữa trị hay các xét nghiệm; còn người quyết định cuối cùng trong mọi trường hợp, ngoài bệnh nhân ra, là hảng bảo hiểm với quyền chi trả của mình.

    Ngay cả bảo hiểm của chính phủ, như Medicare hay Medicaid, cũng có sự hạn định nêu trên. Sự khác biệt là những hạn định của bảo hiểm chính phủ không vì mục đích kiếm lời, như của bảo hiểm tư nhân, mà thường là để dành một số dịch vụ nào đó cho những trường hợp cần thiết hơn.

    NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG ĐẠO LUẬT ACA

    Sau đây là vắn tắt những điểm chính trong Luật cải cách y tế ACA:

    • Sẽ thiết lập một quỹ tạm thời để tài trợ việc mua bảo hiểm cho những người thuộc nhóm có rủi ro cao nhất, đã mang trọng bệnh trong người và đang thất nghiệp.

    • Con cái sẽ được hưởng theo bảo hiểm của cha mẹ cho đến 26 tuổi, thay vì 24 tuổi như hiện nay.

    • Tính đến năm 2016, khi những điều khoản chính của Luật được thực thi hoàn toàn, sẽ mở rộng bảo hiểm cho thêm 32 triệu người nữa, những người hiện nay chưa có bảo hiểm.

    • Các hãng bảo hiểm không được từ chối bảo hiểm cho những trẻ em đã mang trọng bệnh (pre-existing conditions). Đến năm 2014 trở đi yêu cầu này áp dụng phổ quát cho cả người lớn.

    • Luật buộc mọi người: công dân và cư dân hợp pháp phải mua bảo hiểm sức khoẻ (individual mandate), ở mức thiết yếu tối thiểu (minimal essential coverage) cho bản thân và con cái. Họ có thể mua qua chủ hãng nơi làm việc hoặc ở các thị trường mới do chính phủ lập ra gọi là Health Benefit Exchanges. Đối với những người gặp khó khăn tài chánh, và không có Medicaid hoặc Medicare, sẽ được tài trợ (subsidy) để mua bảo hiểm.

    • Những cá nhân hoặc gia đình có lợi tức đồng niên dưới 44,000$/ người hay 88,000$/ gia đình sẽ được chính phủ tài trợ để họ không bao giờ phải trả đến 10% lợi tức của mình cho việc có một bảo hiểm y tế đúng tiêu chuẩn. Nguyên tắc căn bản là lợi tức càng thấp, càng được tài trợ nhiều.

    • Kể từ năm 2014 ai không mua bảo hiểm y tế sẽ bị phạt 695$/ người và tối đa là 2,805$/ gia đình, hoặc 2.5% lợi tức của gia đình.Ngoại lệ cho sự chế tài trên đây là những người vì lý do tôn giáo, người thổ dân da đỏ, di dân bất hợp pháp và tù nhân.

    • Những cá nhân và gia đình có mức lợi tức từ 133% đến 400% Giới hạn Nghèo (Federal poverty Line, FPL) của Liên Bang, nếu muốn mua bảo hiểm, sẽ được chính phủ tài trợ (subsidies) để mua tại những cơ quan Trao Đổi của các tiểu bang (state-based Exchanges), và tuỳ theo mức lợi tức mà họ sẽ đóng góp nhiều hay ít, theo một thang ấn định, vào phần bảo hiểm phí (premium).

    • Mở rộng chương trình Medicaid (Medical ở California) để bao gồm những gia đình có mức lợi tức đồng niên đến 133% Giới hạn Nghèo FPL, nghĩa là đến 29,327$ cho một gia đình 4 người. Đến năm 2014 thì chương trình Medicaid bao gồm luôn cả những người lớn không con nhỏ nhưng có lợi tức thấp như vừa nói. Năm 2016 trở đi, Liên Bang sẽ trả 100% chi phí bảo hiểm cho những người hưởng Medicaid.

    • Phát động một quốc sách cải thiện phẩm chất nền y tế đặt ưu tiên cho các dịch vụ săn sóc y tế sơ cấp (primary care services) cung cấp bởi bác sĩ gia đình, bác sĩ tổng quát và nhi khoa. Các biện pháp phòng bệnh sẽ rất được đề cao. Hội đồng Phòng Bệnh Quốc gia,Thăng tiến Sức khỏe, và Y tế Công cộng ( National Prevention, Health Promotion and Public Health Council) sẽ đươc thành lập để phối hợp các hoạt động y tế nhằm phòng chống bệnh và tăng cường sức khoẻ công cộng. Song song với việc đề cao sự phòng bệnh là các biện pháp nhằm gia tăng tỉ số bác sĩ tổng quát và bác sĩ gia đình trong cơ cấu y sĩ đoàn toàn quốc. Cho đến nay, tỉ số những loại bác sĩ đó rất thấp, khoảng 35%.

    CON ĐƯỜNG DẨN ĐẾN TOÀ ÁN TỐI CAO (TATC)

    Tổng cộng lớn nhỏ, từ sau ngày luật y tế ACA, có người còn gọi là Obamacare, được ban hành cho đến nay, có chừng hơn 20 vụ kiện quanh tính chất hợp hiến của luật đó.

    Đầu tiên là vụ Mac Kenzie v. Shaheen, ngày 30/4/2010; nghĩa là chỉ hơn một tháng sau ngày luật ACA ban hành. Trong vụ này, nguyên đơn là William Mac Kenzie đưa đơn kiện, tại toà án Liên Bang ở New Hampshire, các vị Thượng Nghị Sĩ Jeanne Shaheen, Dân Biểu Carol Shea Porter, Dân Biểu Paul Hodes, và Chính phủ Liên Bang với lý do là vì đã thông qua và ban hành luật y tế ACA vi phạm hiến pháp bang New Hampshire, Hiến Pháp Mỹ và các đạo luật khác. Toà Sơ thẩm Liên Bang ở New Hampshire đã bãi miễn vụ kiện này ngày 7/5/2010 vì không có thẩm quyền tư pháp đối với các Dân Biểu và Nghị Sĩ bị đơn, là những người được hưởng quyền đặc miễn lập pháp (legislative immunity) trong khi thi hành nhiệm vụ lập pháp của họ.

    Vụ kế tiếp đáng chú ý là vụ Virginia v. Sebelius, trong đó bang Virginia là nguyên đơn và Bộ trưởng Bộ Y tế Kathleen Sebelius là bị đơn. Nội dung chính của vụ kiện là cho rằng đạo luật ACA, với điều khoản cưỡng bách công dân phải mua bảo hiểm y tế (Individual mandate), là vi hiến, và rằng việc mua hay không mua bảo hiểm y tế không thuộc thẩm quyền của Liên Bang, mà là của tiểu bang, nên Quốc Hội Liên Bang không có quyền làm luật để can thiệp vào. Toà Sơ thẩm Liên Bang (Federal District Court) đã xử cho bên nguyên đơn, quyết định rằng việc cưỡng bách công dân mua bảo hiểm y tế là vi hiến (unconstitutional). Vụ này sau đó được đệ lên toà kháng án Liên Bang (the US Court of Appeals of the fourth Circuit Court), và toà này, vào ngày 8 tháng 9 năm 2011, đã bải bỏ vụ kiện vì cho rằng không đủ cơ sở.

    Vụ kiện chính yếu, trong loạt các vụ kiện chống lại đạo luật ACA, là vụ Florida v. Sebelius. Đây là vụ tiểu bang Florida, cùng với đại diện của 25 tiểu bang khác, kiện chính phủ Liên Bang, do Bộ Trưởng Y tế Sebelius đại diện, về đạo luật ACA, cho rằng đạo luật đó vi hiến. Phía nguyên đơn, lý luận rằng điều khoản 1501 của Đạo luật về Cưỡng bách Bảo hiểm Y tế là vượt quá quyền hạn của Quốc Hội đã được quy định trong Hiến Pháp. Hơn nữa, Chánh án Toà Sơ thẩm LB ((the Judge of Federal District Court) ở Florida còn phán quyết rằng không những chỉ điều khoản 1501 là vi hiến, mà toàn bộ đạo luật ACA đều vi hiến và nên được tiêu huỷ (nullified). Toà Kháng Án LB số 11 (Eleventh Circuit Court of Appeal), vào ngày 20/8/2011 đã y án với Toà Sơ Thẩm. Cuối cùng Bị đơn, tức Chính phủ LB, đã kháng án lên TATC. Ngày 14/11/2011 TATC đã ban án lệnh phê chuẩn (the writ of certiorari) thỉnh cầu kháng án của Bị đơn, ấn định cho đôi bên Nguyên-Bị được trình bày lập trường của mình trước mặt 9 vị Thẩm Phán Tối Cao (justices) vào tháng 3/2012.

    Đến đây, xin mở ngoặc để lướt qua những nét chính của hệ thống toà án ở Mỹ nhằm giúp những vị chưa quen với hệ thống pháp lý Mỹ có một cái nhìn khái quát về hệ thống ấy để dùng vào việc theo dõi vụ án về luật ACA đang được bàn đến trên đây.

    Một cách khái quát thì đó là một hệ thống đôi (dual court system) giữa tiểu bang và Liên Bang.

    Đa số mỗi tiểu bang đều có một hệ thống toà án từ toà sơ thẩm (trial courts), toà kháng án (appellate courts, courts of appeal), và toà án tối cao (state supreme courts). Mỗi tiểu bang có hệ thống tư pháp riêng biệt, độc lập đối với nhau và với hệ thống toà án Liên Bang, có thẩm quyền tài phán đối với những vấn đề của tiểu bang. Toà sơ thẩm, là toà xử (trial court), thường mỗi quận hạt (county) có một toà với một quan toà (judge). Tại nhiều tiểu bang, như California chẳng hạn, loại toà sơ thẩm này được gọi là superior courts, là nơi khởi sự cho mọi vụ xét xử cả về hình sự lẫn dân sự. Các toà kháng án tiểu bang có từ một đến ba thẩm phán (justices), và toà án tối cao tiểu bang thường có bảy thẩm phán. Các toà này không đảm nhận việc xét xử mà chỉ tái thẩm phán quyết của toà xử, vì vậy tại các toà này không có sự hiện diện của bồi thẩm đoàn và nhân chứng, và thường có thủ tục khác với các toà xử ở dưới. Số lượng các toà kháng án của mỗi tiểu bang được phân bố tuỳ theo điều kiện địa lý và dân số của từng bang.

    Hệ thống toà án Liên bang cũng có những nét cấu trúc chính tương tự. Cũng gồm có toà xử sơ thẩm, danh xưng chính thức là The US District Courts. Tổng cộng trên toàn LB có 94 toà district courts loại này; đảm trách tất cả những vụ thuộc thẩm quyền tài phán (jurisdiction) của Liên Bang. Các toà US District Courts này được phân bổ theo địa lý, tối thiểu sẽ có một toà cho một tiểu bang. Riêng bang Florida, nơi khởi diễn vụ kiện về đạo luật y tế ACA này, có 3 US District Courts: Northern, Middle, và Southern US District Courts. Về toà kháng án Liên Bang thì tên gọi chính thức là The US Court of Appeal, và tuỳ theo khu vực sẽ có thêm số vùng ở sau; chẳng hạn như bang Florida thuộc về khu vực 11 thì tên gọi chính thức của toà kháng án LB là The US Court of Appeal for the Eleventh Circuit; hoặc bang California và một số bang khác thì thuộc về The US Court of Appeal for the Ninth Circuit. Chữ Circuit có nguồn gốc lịch sử là vì lúc sơ khai các thẩm phán của TATC phải mỗi người phụ trách đi xét xử lưu động (circuit riding) một vùng. Về sau, do gặp trở ngại trong việc di chuyển và do nhu cầu pháp lý gia tăng theo đà phát triển của quốc gia, các toà kháng án Circuit Courts cố định cho từng vùng ra đời.Các toà kháng án LB này phân bổ trên toàn nước Mỹ như trong bản đồ sau:

    Riêng TATC (US Supreme Court) thì ngoài việc tái thẩm tối cao các phán quyết của các toà án LB cấp dưới (US Districts và Circuit Courts), toà còn có một thẩm quyền pháp lý quan trọng gọi là quyền tái thẩm tư pháp (judicial review), được suy diễn từ Điều III, khoản 1 của Hiến Pháp và từ án lệ (case law) nổi tiếng trong vụ Marbury v. Madison năm 1803, theo đó TATC có quyền xét tính cách hợp hiến của tất cả các đạo luật lập pháp (statutory law) của Quốc Hội LB, cũng như của tiểu bang, và các sắc luật hành chánh của chính phủ. Bất cứ một đạo luật, hay một bộ phận của đạo luật, nếu bị TATC tuyên phán là bất hợp hiến thì bộ phận hay đạo luật đó sẽ đương nhiên bị tiêu huỷ, trở nên vô giá trị về mặt pháp lý và không còn hiệu lực áp dụng. Chính là thẩm quyền này đang được đem ra áp dụng trong vụ kiện về đạo luật y tế ACA. Một điểm cũng cần lưu ý là không phải mọi vụ kháng án đều cuối cùng lên đến TATC, trái lại chỉ có rất ít những vụ đặc biệt liên quan đến các vấn đề của Hiến Pháp, ở tầm mức Liên Bang, hoặc đến Dân quyền mới được Toà nhận xem xét. TATC có toàn quyền để quyết định tái thẩm, hay không tái thẩm, đối với mọi kháng cáo. Để chấp nhận tái thẩm một vụ án, TATC sẽ ban một án lệnh gọi là Writ of Certiorari đối với đơn kháng án của vụ đó.

    VẮN TẮT NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC TRANH LUẬN TẠI TATC

    Những vấn đề sau đây đã được đưa ra trước TATC trong ba ngày 26,27 và 28 tháng Ba vừa qua quanh vụ kiện đạo luật y tế ACA.

    Ngày đầu tiên, sự tranh luận quay quanh đề tài có tính chất thủ tục; đó là xét xem đạo luật Anti-Injunction Act (AIA) ra năm 1867 có trở nên một trở ngại về mặt thẩm quyền tài phán (Jurisdiction) đối với TATC trong vụ kiện này không. Lý do là vì trong luật y tế ACA có khoản quy định rằng những ai vi phạm luật, không mua bảo hiểm , sẽ phải chịu một khoản thuế phạt tính theo bách phân lợi tức. Điều khoản đó sẽ bắt đầu áp dụng vào năm 2014. Trong khi đó thì, để tránh gây trở ngại cho việc thu thuế của chính quyền LB, đạo luật Anti-Injunction Act lại quy định rằng các sai phạm về thuế của chính phủ LB sẽ không bị kiện ra toà ít nhất 6 tháng sau khi thuế đã đóng xong và IRS đã được thông báo về sự sai sót. Như vậy có nghĩa rằng nếu đem áp dụng luật AIA vừa nói, thì TATC ngay bây giờ chưa có thẩm quyền để xét xử vụ này, mà phải chờ cho đến năm 2014 khi việc áp dụng khoản thuế phạt của đạo luật y tế ACA được thi hành. Kết thúc tranh luận, các thẩm phán TATC cho rằng vì mấu chốt của vụ kiện là tính chất cưỡng bách của việc mua bảo hiểm, chứ không phải chỉ là khoản thuế phạt, cho nên luật AIA không áp dụng cho trường hợp này, và TATC vẫn có đủ thẩm quyền để tiếp tục xét xử.

    Qua ngày thứ hai, cuộc tranh luận tập trung vào tính chất cưỡng bách của đạo luật y tế ACA. Đây là yếu huyệt của Đạo luật, theo đó luật buộc mọi cá nhân phải mua bảo hiểm y tế cho mình (individual mandate). Ông Donald B. Verrilli, Solicitor General của Bộ Tư Pháp, luật sư đại diện của phía Bị đơn. Phía bên Nguyên đơn do các luật sư Paul D. Clement và Michael A. Carvin đại diện.

    Ngay từ đầu trong ngày thứ hai này, Chánh thẩm phán TATC, ông John Roberts, và các thẩm phán Samuel Alito, và Anthony Kennedy, đã đặt những câu hỏi rất khó cho bên Bị. Chẳng hạn họ đem so bảo hiểm y tế với bảo hiểm mai táng vào hạch hỏi tại sao Chính phủ-Quốc hội chỉ quan tâm điều tiết thị trường bảo hiểm y tế và cưỡng bách công dân mua bảo hiểm đó, mà không làm như vậy đối với bảo hiểm mai táng (burial insurance)! Các thẩm phán đó còn ngờ vực rằng việc cưỡng bách mua bảo hiểm là hình thức trong đó người khoẻ mạnh, đa số là giới trẻ, phải gián tiếp tài trợ cho người bệnh hoạn, đa số là giới lớn tuổi, và như vậy là không công bằng!

    Bên Bị, tức phía Chính phủ, dựa vào mệnh đề Commerce (Commerce clause) thuộc Điều I, khoản 8 của Hiến Pháp để biện minh cho quyền của Quốc Hội trong việc điều tiết mọi hoạt động liên quan đến Commerce giữa các tiểu bang. Lập luận căn bản biện minh cho lý do tồn tại hợp pháp của đạo luật ACA, đặc biệt là khoản bó buộc mọi người phải mua bảo hiểm, là Quốc Hội có quyền hạn, được quy định trong Hiến Pháp, để điều tiết thị trường bảo hiểm y tế, cũng như các hoạt động commerce khác, vì lợi ích chung.

    Bên Nguyên, trái lại, cho rằng việc cưỡng bách công dân phải mua bảo hiểm (individual mandate) là một việc xâm phạm đến quyền tự do cá nhân, một quyền đã được long trọng ghi trong HP. Luật sư Clement của bên Nguyên còn lập luận rằng, bằng việc thực hiện sự cưỡng bách, Quốc Hội đã tạo ra thị trường để rồi từ đó tự cho mình quyền điều tiết vượt quá giới hạn cho phép của mệnh đề Commerce đã ghi trong HP. Nói cách khác, theo ông Clement, nếu việc cưỡng bách được thông qua thì quyền hạn của Quốc Hội sẽ trở nên vô giới hạn.

    Các thẩm phán có khuynh hướng bảo thủ như ông Samuel Altio, Antonin Scalia, John Roberts tập trung các câu hỏi của mình cho bên Nguyên hơn là bên Bị, họ cho rằng quyền hạn của Quốc Hội không phải là vô giới hạn. Thẩm phán Anthony Kennedy, vẫn thường được xem là thẩm phán " lưng chừng" (swing voter) cũng đã cho rằng bên Bị có trách nhiệm phải biện minh được cho quyền hạn quá lớn của Quốc Hội khi đặt ra vấn đề cưỡng bách mua bảo hiểm y tế(" a heavy burden of justification” ) và đòi bên Bị phải thưà nhận những giới hạn của mệnh đề Commerce (“some limits on the commerce clause”). Thái độ của hai ông Alito và Scalia có vẻ tỏ ra thù địch đối với Đạo luật. Riêng ông Chánh thẩm phán Roberts thì có phần chừng mực hơn.

    Trong khi đó thì 4 vị thẩm phán thuộc khuynh hướng cấp tiến (liberal): Justices Ruth Bader Ginsburg, Stephen G. Breyer, Sonia Sotomayor và Elena Kagan lại tỏ ra ủng hộ cho Đạo luật; một điều không nằm ngoài dự đoán của dư luận. Các thẩm phán này dành phần lớn những câu hỏi của mình nhắm vào bên Nguyên, tìm cách phơi bày những nhược điểm trong lập luận của phía đó, và cho rằng đây không phải là lần đầu Quốc Hội thiết lập một sự cưỡng bách đối với công dân, và đã có những cưỡng bách tương tự ở nhiều lãnh vực khác, phát sinh vì lợi ích chung của xã hội.

    Ngày cuối, 28/3, TATC tập trung nghe tranh luận về hai vấn đề. Một là liệu xem có thể tách rời (severability) việc cưỡng bách (individual mandate) riêng ra khỏi Đạo luật như một đề tài độc lập được hay không. Nói cách khác là xét xem liệu toàn bộ Đạo luật có thể vẫn tồn tại được hay không nếu như điều khoản về cưỡng bách mua bảo hiểm y tế bị tuyên bố là vi hiến.

    Vấn đề thứ hai liên quan đến điều khoản về Mở rộng Chương trình Medicaid. Luật ACA quy định rằng đến năm 2014 sẽ khuyến khích tất cả các tiểu bang mở rộng chương trình Medicaid ra cho những người lớn tuổi nghèo không có con nhỏ. Để thực hiện, Liên Bang sẽ tài trợ đến 90% chi phí về sự mở rộng này cho tiểu bang. Tiểu bang nào không thực hiện sự mở rộng chương trình Medicaid theo như quy định của Đạo luật có thể sẽ bị Bộ Trưởng Y tế LB cắt các khoản tài trợ LB khác.
    Bên Nguyên, luật sư Clement, đã lý luận rằng điều khoản Mở rộng Chương trình Medicaid của đạo luật ACA là một hình thức ép buộc (coercion) của Liên Bang đối với tiểu bang, khiến tiểu bang không còn lựa chọn nào khác hơn là thực hiện yêu cầu của LB; là một sự xâm phạm đến quyền tự trị hiến định của tiểu bang; và vì vậy là một sự vi hiến. Những câu hỏi của các thẩm phán Alito, Kennedy, Scalia, và Roberts gây ấn tượng rằng các vị nghiêng về lập luận của phía bên Nguyên.

    Bên Bị, với thái độ ủng hộ của các thẩm phán có khuynh hướng cấp tiến, lại cho rằng sự Mở rộng Chương trình Medicaid của luật ACA là một mối lợi cho các tiểu bang, vì LB chịu gánh nặng tài chánh lớn nhất cho tiểu bang,90%, vì vậy đó không phải là một sự ép buộc (coercion). Hơn nữa từ trước đến nay việc các tiểu bang hợp tác với LB để đổi lấy việc nhận được ngân sách tài trợ là một thông lệ, được áp dụng trong nhiều chương trình thuộc nhiều lãnh vực. Điều đó có nghĩa là những điều kiện đặt ra cho tiểu bang trong điều khoản về Mở rộng Medicaid của luật ACA lần này không phải là một ngoại lệ, và không là một sự vi hiến.

    Như đã trình bày ở phần trước là luật ACA, với khoản Mở Rộng Medicaid, đòi hỏi các tiểu bang mở rộng Medicaid ra cho những người lớn tuổi dưới 65 tuổi không có con nhỏ và có lợi tức thấp dưới 133% mức nghèo của LB ( Federal poverty level, FPL), tức khoảng dưới $ 24,352 cho một gia đình 3 người (giá năm 2010) hoặc dưới $15,000 cho một người độc thân.Các tiểu bang phải đệ trình kế hoạch mở rộng đó trước đầu năm 2014.

    Sự mở rộng Medicaid như vậy là một lợi ích thiết thực cho một số lớn người Việt gốc Mỹ nói riêng và các sắc dân thiểu số nói chung. Bởi vì theo một vài nghiên cứu, có đến chừng 30% người Việt gốc Mỹ có mức thu nhập dưới mức FPL. Một báo cáo mới đây của Sở Y tế quận hạt Santa Clara bang California cho biết có đến 26% người Mỹ gốc Việt trong hạt không có bảo hiểm sức khỏe. Cũng theo báo cáo đó thì các chứng ung thư phổi, gan, và ung thư tử cung đứng hàng đầu trong việc gây tử vong trong CĐ người Việt; bách phân trẻ em bị nhiễm vi trùng lao cũng khá cao. Tỉ lệ những người bị cao huyết áp, mức cholesterol cao, và bị bệnh tim mạch cũng khá cao so với nhiều sắc dân khác. Tỉ lệ người Mỹ gốc Việt bị thất nghiệp trong những năm gần đây cũng cao hơn so với các sắc dân khác. Người Việt chiếm 12% trong tổng số dân Á Châu ở bang California, nhưng lại chiếm đến 31.7% trong tổng số đơn khai thất nghiệp.

    Những số liệu vừa nêu nói lên nhu cầu y tế khẩn thiết của đa số người Việt gốc Mỹ trong tình hình hiện nay, đặc biệt là ở những người có thu nhập thấp nhưng chưa đến tuổi hưu trí, và tầm mức quan trọng của đạo luật y tế ACA đối với họ.

    NHỮNG DỰ ĐOÁN VỀ PHÁN QUYẾT CỦA TATC ĐỐI VỚI LUẬT ACA

    Ba ngày tranh luận ở TATC đã tạo nên nhiều ước đoán khác nhau về phán quyết sắp đến của toà án đó đối với số phận của đạo luật ACA. Phần nhiều các dự đoán bị chi phối bởi quan hệ đảng phái và chính kiến. Một số dự đoán tương đối khách quan hơn. Nhưng nhìn chung không một ai dám có một sự đoan chắc nào về nội dung của phán quyết cả.
    Phía lạc quan cho rằng TATC sẽ có phán quyết ưu đãi cho Đạo luật. Có người ngay cả còn đoán rằng tỉ số phiếu sẽ là 8-1 cho bên Bị. Theo dự đoán này thì ngoại trừ Thẩm phán Clarence Thomas, được TT Bush đề cử năm 1991, là người mà trong suốt 3 ngày tranh luận đã không hề nêu một câu hỏi nào, sẽ bỏ phiếu chống lại Đạo luật. Bốn vị có khuynh hướng cấp tiến chăc chắn là sẽ bỏ phiếu cho Đạo luật. Còn thẩm phán Kennedy, tuy là người lưng chừng, nhưng do Ông ít bày tỏ ý kiến về những vấn đề liên quan đến mạnh đề Commerce và do Ông thường " phù thịnh", nghĩa là ngã về phía trào lưu mạnh của xã hội, cũng như thái độ chú trọng đến những quyền căn bản của Ông, người ta đoán là Kennedy sẽ bỏ phiếu theo với nhóm cấp tiến. Riêng thẩm phán Scalia thì người ta nhớ lại trước đó khi bỏ phiếu cho đạo luật Control Substances Act, Ông đã viết rằng :" Congress may regulate even noneconomic local activity if that regulation is a necessary part of a more general regulation of interstate commerce."; nghĩa là Scalia đồng ý việc Quốc Hội điều tiết ngay cả những hoạt động không kinh tế miễn là những điều tiết đó là phần cần thiết cho một sự điều tiết tổng quát hơn của hoạt động thương mại liên bang. Còn lại hai vị thẩm phán kia: Alito và Roberts có lẽ cũng sẽ bỏ theo đa số.
    Trên đây là một dự đoán lạc quan nhất, nhưng cũng ít sức thuyết phục nhất.

    Một dự đoán khác tuy cũng có phần lạc quan, nhưng ở mức độ vừa phải, chú ý nhiều nhất đến Chánh Thẩm phán Roberts và nội dung những câu hỏi Ông đặt ra cho hai bên Nguyên-Bị trong ba ngày tranh luận. Theo dự đoán này thì có khả năng ông Roberts sẽ bỏ phiếu có lợi cho Đạo luật; nghĩa là Ông sẽ cùng đi với nhóm 4 vị có khuynh hướng cấp tiến, hình thành một tỉ số 5-4 cho bên Bị. Tác giả của dự đoán này cho rằng Chánh Thẩm Phán Roberts, do cương vị của mình và do mối quan tâm đến vai trò lịch sử của TATC, sẽ rất thận trọng để tránh ảnh hưởng chính trị trong việc đưa ra phán quyết đối với Đạo luật lần này. Bởi vì đây là lần đầu tiên sau hơn 70 năm qua, kể từ thời New Deal của TT Roosevelt, TATC lại có phán quyết đối với một đạo luật tầm cỡ như đạo luật ACA này. Theo giới thân cận thì Roberts không chủ trương rằng TATC có quyền hạn để áp đặt chính sách lên cho Quốc Hội, mà chỉ có nhiệm vụ bảo đảm một giới hạn đúng đắn đối với quyền hạn của chính quyền LB (the court was not in a position to impose a policy choice on Congress but rather to ensure the proper boundaries of federal power). Tác giả của dự đoán này cũng cho rằng có khả năng Thẩm phán Kennedy sẽ đi với ông Roberts.

    Tác giả khác lại dự đoán theo hướng bi quan cho bên Bị theo đó sẽ có phán quyết với tỉ số 5-4 có lợi cho bên Nguyên; chống lại Đạo luật. Tác giả này đã phân tích kỹ lưỡng cuộc tranh luận và nhận ra rằng điểm yếu nhất của bên Bị là vấn đề cưỡng bách mua bảo hiểm (individual mandate) được phản ảnh qua số lượng các câu hỏi của nhóm các Thẩm phán có khuynh hướng bảo thủ dành cho vấn đề, tập trung vào bên Bị. Tác giả này đặc biệt chú ý đến thái độ và các câu hỏi của Thẩm phán Kennedy đối với vấn đề Individual Mandate.

    Một số dư luận khác lại cho rằng có thể có một phán quyết gồm nhiều phần, trong đó sẽ có phần bác bỏ điều khoản Individual Mandate, bắt buộc mọi người mua bảo hiểm; nhưng giữ nguyên các phần còn lại của đạo luật y tế ACA. Tuy nhiên dư luận này có vẻ kém thuyết phục bởi vì Individual Mandate là điều cốt lõi của Đạo luật, việc bác bỏ nó cũng đồng nghĩa với việc tiêu huỷ toàn bộ Đạo luật.

    Tóm lại, tất cả những điều trên đây chỉ là những ước đoán, và mọi người phải chờ đến tháng Sáu để biết chắc phán quyết của TATC đối với đạo luật ACA, một đạo luật cải cách y tế lớn nhất cho đến nay ở Mỹ, sẽ ra sao. Quyền lực của nhân dân, thông qua Quốc Hội do mình bầu lên, thể hiện ra trong Đạo luật, cùng với số phận của hàng triệu người, trớ trêu thay, đang nằm trong bàn tay quyết định của một nhóm nhỏ 9 vị Thẩm phán không do dân bầu, mà do các đời Tổng Thống bổ nhiệm và Thượng Viện phê chuẩn. Và đây không phải là lần đầu 9 vị Thẩm phán lại có một quyền lực lớn lao như vậy. Năm 2000, TATC, qua vụ Bush v.Gore, cũng đã vượt lên trên quyền đầu phiếu của hàng trăm triệu cử tri Mỹ để có quyết định cuối cùng xem, giữa Gore hay Bush, ai là Tổng Thống nước Mỹ. Mới trong năm 2010 vừa rồi, ngay trước mùa bầu cử Quốc Hội, cũng chín vị Thẩm phán này với tỉ số 5-4, trong vụ Citizens United v. Federal Election Commission, 558 U.S. 08-205 (2010), đã ra phán quyết chấm dứt những giới hạn, đã có từ suốt 20 năm trước đó, đối với các đại công ty trong việc đóng góp tiền bạc ủng hộ, hay chống lại, các ứng cử viên ra tranh cử. Phán quyết này thả lỏng cho các nhóm đặc lợi (special interests) tha hồ tự do tung tiền ra để thao túng các cuộc tranh cử ở mọi cấp, tạo điều kiện cho giới giàu có và các corporations dùng ưu thế tài chánh của mình để áp đặt những chính sách có lợi cho mình và lấn át tiếng nói của đa số dân chúng của giai cấp trung lưu và người nghèo. Ngay cả TT Obama trong một diễn văn trước Quốc Hội cũng đã công khai bày tỏ sự bất đồng đối với phán quyết đó của TATC.

    Nhưng 9 vị Thẩm phán trong TATC là ai? Thưa họ gồm 5 người, có khuynh hướng bảo thủ, được đề cử bởi các Tổng Thống của đảng Cộng Hoà, từ Ronald Reagan, George H. Bush và Gerogre W.Bush : John G. Roberts, Antonin Scalia, Anthony M. Kennedy, Clarence Thomas, và Samuel Anthony Alito. Còn lại 4 vị ,có khuynh hướng cấp tiến, do các Tổng Thống của đảng DC đề cử: Ruth Bader Ginsburg, Stephen G. Breyer, Sonia Sotomayor, và Elena Kagan. Do với thành phần thẩm phán như vậy, nhiều người ngờ rằng TATC lúc này là một toà án bảo thủ.

    Ở đây ngoài mối ưu tư về số phận của đạo luật ACA, một nổ lực cải cách y tế lớn trong lịch sử của Mỹ, còn có câu hỏi là liệu những trạng huống vừa nêu có đi ngược lại nguyên tắc chủ quyền thuộc về toàn dân trong một chế độ DC chân chính hay không. Không lẽ nền DC Mỹ, vốn nổi tiếng là mẫu mực cho toàn thế giới, đang có những khuyết tật tự thân?

    Sunnyvale, 30/3/2012
    Trương Đình Trung

    Thư Mục tham khảo:

    http://www.moneyandmarkets.com/health-care-war-35069.

    http://patients.about.com/od/empowermentbasics/a/iom-err.htm.
    http://www.cejkasearch.com/compensation/amga_physician_compensation_survey.htm

    http://www.justice.gov/healthcare/docs/mackenzie-v-shaheen-motion-dismiss-support.pdf

    http://healthcarelawsuits.org/detail.php?c=2171285&t=Commonwealth-of-Virginia-v.-Sebelius
    http://healthcarereform.procon.org/sourcefiles/florida_v_us_dhhs.pdf

    http://www.uscourts.gov/court_locator.aspx
    http://www.supremecourt.gov/oral_arguments/argument_audio_detail.aspx?argument=11-398-Monday

    http://www.thevncoc.org/VNCOC_toolkit.pdf

    http://www.sccgov.org/sites/sccphd/en-us/Partners/Data/Documents/VHA%20Full%20Report,%202011.pdf

    http://www.asianpacificfund.org/files/Outlook_2010.pdf

    http://www.wnyc.org/blogs/its-free-blog/2012/mar/30/opinion-supreme-court-will-uphold-health-care-law-8-1/

    http://www.reuters.com/article/2012/03/29/us-usa-court-roberts-idUSBRE82S1EE20120329

    http://themonkeycage.org/blog/2012/03/29/predicting-the-health-care-decision-from-the-oral-arguments/

    http://www.youtube.com/watch?v=k92SerxLWtc&feature=fvwrel

    http://www.supremecourt.gov/about/biographies.aspx

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    38 phản hồi

    Phí tổn cao ngất trời của y tế Mỷ viết:

    Bác Ngự,

    Tại sao chính phủ Mỹ không can thiệp sao cho giá cả bác sĩ + thuốc ở bệnh viện không cao ngất trời ?
    Nếu bảo là do KTTT thì không đúng đâu vì chính phủ Mỹ vẫn can thiệp hỗ trợ các công ty nhỏ SME.

    Can thiệp bằng cách nào ?
    Theo tôi nên ấn định giá trần (giá khung) cho bác sĩ và thuốc, sau khi bàn bạc thỏa thuận với các công đoàn bác sĩ. Giá quy định này sẽ tính lại hàng năm theo lạm phát

    Các bệnh viện công bắt buộc phải áp dụng giá khung này cho thuốc và bác sĩ cho một số dịch vụ như "khẩn cấp" và một số thời khóa biểu. Ví dụ bác sĩ A phải lấy giá quy định cho 60% giờ làm việc, ngoài ra có thể lấy giá biểu khác, ghi rõ trên thời khóa biểu

    Ở bệnh viện tư thì lấy giá tùy ý nhưng có thể giới hạn như tối đa gấp 10 lần giá khung và đặc biệt dịch vu "khẩn cấp" tối đa chỉ là gấp 3 lần giá khung

    Bây giờ để giá bác sĩ cao ngất trời, nếu quy định lại để phù hợp với nhu cầu dân, sẽ bị phản đối là bác sĩ bỏ đi nước khác ! Nhưng không lo vì nhìn chung quanh, khó có nước nào bác sĩ hái ra tiền như ở Mỹ

    Nguyễn SG

    Bác Nguyễn SG,

    Mỷ theo KTTT nên không can thiệp vào luơng bổng của bác sỉ hay bất cứ một ai, ngoài việc ấn định mức lương tối thiểu (hiện nay là $7.25/giờ) để bảo vệ công nhân khỏi bị bóc lột. Việc chính quyền hổ trợ các công ty nhỏ là để giúp họ làm ăn kiếm lời, nhưng chính sách ở Mỹ là không giới hạn việc người ta kiếm tiền, trừ khi có gian lận.

    Ngoài ra, chính sách ở Mỷ là để cho các hội chuyên ngành quản lý hội viên của họ (self-regulation). Các người làm trong ngành y, dược, luật, hay các ngành chuyên môn các sẻ tuân thủ các nguyên tắc đaọ đức và kỷ luật nghề nghiệp trong ngành của mình, chính quyền chỉ can thiệp khi nào có vi phạm luật pháp.

    Nều muốn quản lý các ngành nghề chuyên môn thì phải làm ra luật, mà cái đó thì . . . khó lắm. Các nhà làm luật mở Mỷ do dân bầu lên, nhưng trong thực tế thường bị các nhóm lợi ích (interest goups) ảnh hưởng qua việc "vận động hành lang." Hai nhóm lợi ích mạnh nhất ở Mỷ hiện nay là American Medical Association và National Rifle Assocation, tiếp theo là American Pharmaceutical Association. Với tiền do hội viên đóng, các nhóm này mạnh mẽ vận động với cả lưỡng viện để có luật và chính sách thuận lợi cho công việc làm ăn của họ.

    VN2006A viết:
    Tuy nhiên phải thống nhất thế nào là bác sỹ? Ở Đức học y 6 năm xong thì mới chỉ được làm Assistenzarzt thôi, chưa chính thức, phải làm trong bệnh viện. Muốn thành Facharzt thì lại mất thêm 5-6 năm nữa, lúc ấy có thể mở phòng mạch riêng. Thu nhập cao hơn, khoảng 100000-300000 euro /năm. Đại loại thế.

    Ở Mỷ muốn trở thành bác sỉ tổng quat thì phải mất tổng cộng là 9 năm (sau trung học) gồm có:
    - 4 năm đại học (thường là có cử nhân-bachelor)
    - 3 năm trong trường y khoa
    - 2 năm internship

    Nếu muốn đi chuyên ngành thì phải mất tối thiểu từ 2 tới 4 năm tùy theo chuyên ngành, như vậy tổng cộng là 11-13 năm. Nhửng người này được gọi là medical doctor (professional - không cần luận án tiến sĩ).

    Ngoài ra, còn có một hướng nửa là có bachelor (4 năm đại học) rồi học lên Ph.D về ngành y để dạy trong các trường y khoa và đồng thời có thể làm bác sỉ chửa trị (clinical). Theo cách này cần tối thiểu là 5 năm hậu đại học (graduate studies) và phải hoàn thành luận án tiến sỉ. Sau đó phải đi làm internship ở bệnh viện tối thiểu là 2 năm. Như vậy tổng cộng thời gian tối thiểu là 11 năm (có chuyên ngành hay không thì tôi không rỏ). Chi phí cho một năm graduate studies về y khoa ở Stanford là $55,000 ($22,000 cho chi phí ăn ở và sách vở) và $33,000 tiền học phí. Như vậy phí tổn cho 5 năm học là $275,000. Khi làm internship thì được trả luơng khoảng $30,000-$45,000 một năm, tùy theo bệnh viện (thuộc các trường đại học y khoa).

    FromSG viết:
    NiMarxNiJesus viết:
    FromSG viết:

    Cung cấp một vài số liệu về Y tế của Mỹ để những ai quan tâm có thể biết thêm (*)

    2- Lương bác sỹ rất cao so với các nước phát triển khác:
    Annual Average Income of Physicians
    Us: $199,000; Germany: $104,700; Canada: $100,781; Japan: $62,273; France: $62,007; Denmark: $58,416; Australia: $55,944; UK: $52,547; Sweden:$40,774
    (Data: OECD Health Data)
    .

    Tôi cho là không chính xác !

    http://www.discoveryfinance.com/national-average-income-for-medical-doctors-canada.html

    Đúng là Số liệu rất khác nhau; có thể do cách tính khác nhau(?). Ví dụ ở đây: http://economix.blogs.nytimes.com/2009/07/15/how-much-do-doctors-in-other-countries-make/
    hoặc ở đây: http://www.bls.gov/ooh/healthcare/home.htm

    Trung bình là 86300 euros/ năm ở Pháp
    Thay đổi tùy theo chuyên môn

    Trích dẫn:
    Médecins: revenu moyen de 86.300€, en 2007

    Les radiologues, avec un revenu moyen de 202.800 euros en 2007, les anesthésistes (171.800 euros), les chirurgiens (126.900 EUR), les ophtalmologues (124.900 EUR) et les cardiologues (108.600 EUR), sont les spécialités les mieux rémunérées.

    Les généralistes, avec un revenu moyen de 66.800 euros en 2007, les pédiatres (68.500 euros), les psychiatres (57.900 EUR) et les dermatologues (57.700 EUR), sont en bas de l'échelle des revenus établie par la Drees.

    http://www.lefigaro.fr/flash-actu/2009/04/23/01011-20090423FILWWW00476-medecins-revenu-moyen-de-86300.php

    NiMarxNiJesus viết:
    FromSG viết:

    Cung cấp một vài số liệu về Y tế của Mỹ để những ai quan tâm có thể biết thêm (*)

    2- Lương bác sỹ rất cao so với các nước phát triển khác:
    Annual Average Income of Physicians
    Us: $199,000; Germany: $104,700; Canada: $100,781; Japan: $62,273; France: $62,007; Denmark: $58,416; Australia: $55,944; UK: $52,547; Sweden:$40,774
    (Data: OECD Health Data)
    .

    Tôi cho là không chính xác !

    http://www.discoveryfinance.com/national-average-income-for-medical-doctors-canada.html

    Đúng là Số liệu rất khác nhau; có thể do cách tính khác nhau(?). Ví dụ ở đây: http://economix.blogs.nytimes.com/2009/07/15/how-much-do-doctors-in-other-countries-make/
    hoặc ở đây: http://www.bls.gov/ooh/healthcare/home.htm

    FromSG viết:
    Cung cấp một vài số liệu về Y tế của Mỹ để những ai quan tâm có thể biết thêm (*)

    2- Lương bác sỹ rất cao so với các nước phát triển khác:
    Annual Average Income of Physicians
    Us: $199,000; Germany: $104,700; Canada: $100,781; Japan: $62,273; France: $62,007; Denmark: $58,416; Australia: $55,944; UK: $52,547; Sweden:$40,774
    (Data: OECD Health Data)
    .

    Tôi cho là không chính xác !

    http://www.discoveryfinance.com/national-average-income-for-medical-doctors-canada.html

    Đó là thống kê 2005 và lương bác sĩ hầu hết các nơi ở Canada là trên 200K/ năm . Mỹ thì còn cao hơn nhất là khi tỷ giá Mỹ bằng 1,5 Canada, nhiều bác sĩ ở Canada bỏ qua Mỹ hành nghề .

    1 bác sĩ khám nhanh và đông bệnh nhân thì chỉ cần làm 3-6 tháng là đụng giới hạn thu nhập và họ có thẻ nghỉ hè, làm thêm cũng không có lương đâu , mục đích của giới hạn là để tránh các bác sĩ chỉ giỏi lắc thẻ mà không giỏi chữa bệnh , khi chưa có giới hạn này, nhiều bác sĩ gia đình đến nhà khám bệnh xin bệnh nhân quen biết chà luôn thẻ bảo hiểm của cả nhà ...

    Theo tôi quan sát, các bác sĩ già VN ở đây có " tài " khám nhanh như tên bắn, 1 giờ 15 bệnh nhân nhẹ nhàng và như thế, 1 giờ được khoảng 450 $ ; cũng có bác sĩ lại khám rất chậm, 1 giờ chỉ được 4 bệnh nhân ..

    Tâm lý con bệnh cũng lạ, ngồi chờ thì cứ hay phàn nàn việc bác sĩ khám chậm ! Tôi thì rất ghét bác sĩ khám nhanh, có ông lại còn xem .. tử vi rồi phán bệnh mới ớn !

    Tran Thi Ngự viết:
    [

    Về lương bổng của nhân viên y tế, bác sỉ gia đình ở Mỷ mới ra trường luơng tối thiểu là khoảng $100,000. Các bác chuyên khoa lương tối thiểu khi ra trường là $200,000. Nhiều bác sỉ "chạy sô" nhiều bệnh viện có thể kiếm từ $400,000-$8000,000 là bình thường, chưa kể các bác sỉ nổi tiếng. Trong khi đó, ở Nhật, bệnh viện không được phép kiếm lời, và lương bác sỉ so với các đồng nghiệp ở Mỷ thì rất thấp. Phim "Sick Around the World" củng cho thấy bác sỉ ở Đức lương thấp hơn hiểu so với bác sỉ ở Mỷ (nhờ bác Sáu và cô Maile xác nhận xem có đúng không). Luơng bổng cao cộng với lợi nhuận của của các công ty bảo hiểm, theo ý tôi, là hai yếu tố quan trọng giải thích phí tổn cao ngất trời của y tế Mỷ.

    .

    Em cũng chưa kiểm tra lại xem thu nhập của bác sỹ bên Đức thế nào. Nhưng theo như bạn bè em biết bên ngành y thì thu nhập thấp hơn bên Mỹ.

    Tuy nhiên phải thống nhất thế nào là bác sỹ? Ở Đức học y 6 năm xong thì mới chỉ được làm Assistenzarzt thôi, chưa chính thức, phải làm trong bệnh viện. Muốn thành Facharzt thì lại mất thêm 5-6 năm nữa, lúc ấy có thể mở phòng mạch riêng. Thu nhập cao hơn, khoảng 100000-300000 euro /năm. Đại loại thế.

    Nói như bác Ngự chắc là đúng: phí tổn y tế cao chủ yếu là do lương bổng của bác sỹ, lợi nhuận của bảo hiểm y tế và có thể là chi phí cho R&D và lợi nhuận của ngành dược phẩm nữa.

    Lương bổng của bác sỹ thì có lẽ tạm chấp nhận, cao quá như ở Mỹ thì cũng có khi phải điều chỉnh.

    Lợi nhuận của bảo hiểm y tế và dược phẩm thì nên điều chỉnh!!! Mỗi khi lợi nhuận sụt giảm thì thấy bọn bảo hiểm tăng ngay mức bảo hiểm lên. Nhưng những lúc thừa ra, như ở Đức năm vừa rồi hình như 3 hay 4 tỷ euro gì đó, thì không thấy chúng nó đả động gì đến việc giảm múc cho người đóng cả?!

    PS: em 20 năm nay không thèm đi bác sỹ, hầu như chẳng ốm bao giờ, ốm thì cũng tự khỏi. Hôm rồi đi khám răng, bọn bạn đồng nghiệp mới bảo là mày phải đi khám thường xuyên, nhỡ có gì phải chạy chữa, thì bảo hiểm nó giảm giá cho!!!

    Chết thật, hóa ra mình chẳng biết mô tê gì cả!!! :-)

    CÁC MÔ HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TRÊN THẾ GIỚI

    Để bổ sung cho bài viết Đạo Luật Y tế Mới Của Mỹ Đi Về Đâu? vừa rồi, sau đây xin được trích đăng lại phần của một bài đã được viết ra cách đây vài năm, mô tả sơ lược một số mô hình bảo hiểm y tế tiêu biểu trên thế giới, nhằm giúp những độc gỉa quan tâm có dịp so sánh, không những chỉ là những khác biệt về tổ chức, mà còn cả về ưu-khuyết của mỗi mô hình, cùng quan điểm về an sinh xã hội làm nền tảng cho những mô hình đó.

    A. Mô hình Bismarck: Đức, Nhật, Pháp, Thụy sĩ, v.v..: Giới cung cấp dịch vụ và người chi trả cho các dịch vụ y tế hoàn toàn là tư nhân, trên căn bản từ thiện, không kiếm lời (not for profit); với luật lệ chặt chẻ về dịch vụ và lệ phí. Mô hình này do cố thủ tướng Von Bismarck của Đức đưa ra vào năm 1883, nằm trông nổ lực thống nhất quốc gia, xây dựng một dân tộc khỏe mạnh làm nền tảng cho một đội lục quân tinh nhuệ. Trong mô hình này, chủ và thợ cùng chia nhau trách nhiệm về bảo hiểm y tế. Chính phủ đảm trách việc giúp chi phí y tế cho người nghèo; còn những người giàu có nhất được miễn khỏi mua bảo hiểm y tế.

    B. Mô hình Beveridge: là mô hình của Anh quốc, theo đó Chính phủ cung cấp toàn bộ dịch vụ y tế cho người dân qua National Health Services. Có bệnh viện và bác sĩ tư, nhưng đa số còn lại nằm trong tay của chính quyền. Ý, Tây Ban Nha, Na Uy, Đan Mạch, Thuỵ Điển, Hong Kong theo mẫu này. Mô hình này cung cấp bảo hiểm y tế phổ quát cho mọi người.

    C. Mô hình Bảo Hiểm Y tế Quốc gia: Dịch vụ y tế do khu vực tư nhân cung cấp, nhưng người trả phí tổn là chính phủ thông qua hảng bảo hiểm y tế do chính phủ kiểm soát. Chính phủ là người quyết định dịch vụ y tế nào nên được làm và thời gian chờ đợi. Canada, và ở mức độ nào đó, Đài Loan, Nam Hàn là những nước theo mô hình này.

    D. Mô hình trả tiền túi (out-of-pocket model): Đa số hơn 150 quốc gia trên thế giới không có hệ thống chi trả cho chi phí y tế. Bệnh nhân phải tự trang trãi cho các chi phí y tế bằng tiền túi của mình; không có những chương trình bảo hiểm do tư nhân hay chính phủ điều hành. Chẳng hạn, ở Camphuchia, 91% chi phí y tế trong nước được trả bằng tiền túi; 85% ở Ấn Độ và 73% ở Ai Cập. Trong khi đó ở Anh, có chừng 3% và Mỹ có chừng 17% dịch vụ y tế được trả bằng tiền túi của bệnh nhân ( từ hơn 47 triệu người không có bảo hiểm).

    BẢO HIỂM Y TẾ CỦA VÀI QUỐC GIA TIÊU BIỂU:

    PHÁP: Carte vitale

    Nước Pháp có hệ thống bảo hiểm y tế cho mọi người (universal health care).
    Giá cả dịch vụ y tế được niêm yết ngay tại các phòng mạch bác sĩ cũng như các tại các trung tâm y tế. Bệnh nhân được thông báo trước bách phân chi phí họ sẽ được hoàn trả từ hảng bảo hiểm. Toàn bộ tiểu sử y tế (medical history) của mỗi người được nhị phân hoá (dìgitzed) và bỏ vào trong một tấm thẻ plastic gọi là Carte Vitale. Mọi công dân Pháp tuổi trên 15 đều được cấp Carte vitale; tiểu sử y tế của trẻ em được ghi trên carte vitale của người mẹ. Chính nhờ loại thẻ này mà các văn phòng bác sĩ, trạm xá hay bệnh viện của Pháp không cần phải có hồ sơ bệnh nhân bằng giấy chứa trong các dãy kệ dài đựng hồ sơ như hiện nay vẫn có ở Mỹ.

    Có cả bảo hiểm của các công ty bảo hiểm tư lẫn của chính phủ. Công nhân được bảo hiểm thông qua công ty nơi họ làm việc hoặc vùng họ cư trú; họ không có tự do lựa chọn chương trình bảo hiểm; chủ nhân và công nhân chia nhau đóng tiền bảo hiểm.

    Đặc điểm là Caisse d’assurance maladie (sickness insurance funds): Quỹ bảo hiểm bệnh tật là những định chế bất vụ lợi (not for profit) với mục đích duy nhất, không phải là kinh doanh, mà là giúp chi trả chi phí chữa bệnh cho mọi người. Người Pháp không bị các quỹ này từ chối bảo hiểm vì bất cứ lý do gì, và khi mất việc làm, họ không bị mất bảo hiểm y tế, chính phủ tiếp tục trả cho họ trong thời gian thất nghiệp. Chi phí điều hành của các Quỹ này rất thấp chỉ chừng 5%; so với chi phí đó của các hảng bảo hiểm Mỹ là 20%.

    Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization, WHO) xếp hạng nền y tế của Pháp là số một của Thế giới về khả năng chữa khỏi những bệnh hiểm nghèo (mortality amenable to healthcare), về tử suất trẻ sơ sinh và tuổi thọ của người lớn tuổi.

    Người Pháp khi đi khám bác sĩ không phải lo vấn đề trong hay ngoài network như ở Mỹ, cũng không phải qua sự giới thiệu của bác sĩ gia đình (family doctors, primary physicians) khi đi gặp bác sĩ chuyên môn (specialists).

    Bảo hiểm y tế là một sự cưỡng bách; mọi người đều phải có bảo hiểm y tế, tự ý bỏ bảo hiểm y tế là một hành vi phi pháp. Mọi người trả tiền mua bảo hiểm tuỳ theo lợi tức của mình. Chẳng hạn một người thu nhập 20,000 dollars/ năm phải trả chừng 150 dollars/ năm cho bảo hiểm y tế.

    Chi phí y tế bình quân đầu người hàng năm của Pháp là chừng $3165, và mọi người đều được bảo hiểm; trong khi Mỹ thì đến $7000/người, nhưng có đến hơn 47 triệu người không được bảo hiểm! Lợi tức của các bác sĩ Pháp rất thấp so với các bác sĩ Mỹ; trung bình một bác sĩ toàn khoa ở Pháp chỉ kiếm được chừng 80, 000 dollars/ năm.

    Pháp chi gần 10% của GDP, tổng sản phẩm nội điạ quốc gia (general domestic products) cho y tế; trong lúc Mỹ chi đến 17% của GDP!

    ĐỨC:
    Người Đức xử dụng thẻ Die elektronischen Gesundheitskarte, the digital heath card (Thẻ Y tế điện tử) tương tự như Carte Vitale của Pháp, giúp giảm chi phí về quản lý hồ sơ và thanh toán y phí.

    Hệ thống bào hiểm y tế của Đức dựa vào Luật Bảo Hiểm Bệnh tật ra đời từ năm 1883 dưới thời của thủ tướng “ sắt “ Otto Von Bismarck. Người Đức, bị bắt buộc theo luật, mua bảo hiểm từ hơn 200 quỹ bệnh tật Krankenkassen trên toàn quốc. Các qũy bệnh tật này, tương đương với hảng bảo hiểm y tế ở Mỹ, là những tổ chức không kiếm lời, nghĩa là không phải chạy đua theo lợi nhuận để thoả mãn yêu cầu của giới đầu tư (investors) như các hảng bảo hiểm ở Mỹ. Lệ phí bảo hiểm hàng tháng ấn định dựa trên lợi tức cá nhân. Trung bình một công nhân Đức hiện nay đóng 15% tiền lương cho bảo hiểm y tế; chủ nhân sẽ chịu một phần tương đương cho mỗi công nhân. Khác với công nhân Mỹ, người công nhân Đức có thể lựa chọn bất kỳ Krankenkassen nào và thay đổi bất kỳ lúc nào. Khi bị thất nghiệp, tự động chính phủ sẽ trả chi phí bảo hiểm cho người thất nghiệp.

    Các quỹ bệnh tật Krankenkassen là bất vụ lợi, không từ chối bảo hiểm cho bất kỳ ai cần cũng không từ chối chi trả cho bất cứ dịch vụ y tế nào được cung cấp bởi các bác sĩ và bệnh viện. Chi phí điều hành của các Krankenkassen này trung bình chỉ bằng chừng 1/3 chi phí của các hảng bảo hiểm Mỹ. Tuy bất vụ lợi, nhưng các Krankenkassen cạnh tranh nhau ráo riết để thu hút người mua bảo hiểm, nâng cao uy tín và thu nhập cho nhân viên điều hành. Các Krankenkassen này cung cấp bảo hiểm cho hầu hết người Đức, 93%. Còn lại chừng 7% những người giàu nhất xã hội, được miễn bị bắt buộc phải mua bảo hiểm từ Krankenkassen, chọn mua bảo hiểm từ các hảng bảo hiểm tư khác; tất nhiên với giá cả cao hơn rất nhiều.

    Bác sĩ ở Đức chỉ phải trả một số tiền nhỏ hàng năm cho bảo hiểm sai lầm nghề nghiệp (malpractice insurance), khoảng $1400/năm; tương đương với lệ phí một tuần của bác sĩ ở Mỹ. Nhưng đồng thời, thu nhập của bác sĩ ở Đức cũng thấp hơn nhiều, trung bình từ $ 100, 000 đến $150,000/ năm.

    NHẬT BẢN:

    Là một hệ thống bảo hiểm tư nhân với ít nhiều tài trợ từ chính phủ. Hệ thống bảo hiểm của Nhật bắt chước theo khuôn mẫu Bismarck của Đức, được thiết lập ra từ hồi cuối thế kỷ 19 trong quá trình nước Nhật canh tân hóa theo Tây Phương. Người Nhật bắt chước cách tổ chức hải quân theo mẫu của người Anh; luật pháp thì theo mẫu Luật Napoleon của Pháp; còn lục quân, hệ trung học và an sinh xã hội thì theo mô hình của Đức.

    Mọi người bắt buộc (personal mandate) phải đăng ký với một chương trình bảo hiểm y tế.Tổng cộng Nhật Bản có chừng 3,500 chương trình bảo hiểm y tế khác nhau, có thể gộp chung thành 3 loại:

    1.- Loại của các đại công ty và các cơ quan chính phủ lớn, trong đó công ty trả 55% lệ phí bảo hiểm (premium), công nhân trả 45% còn lại. Loại này không nhận bất kỳ sự trợ cấp tài chánh nào từ chính phủ trong vấn đề bảo hiểm y tế. Những công ty như Honda, Toyota có bệnh viện lớn riêng cho công nhân của họ.

    2. - Công nhân làm cho các hảng nhỏ đóng một nửa lệ phí bảo hiểm, chủ nhân đóng nửa còn lại. Nhưng các hảng nhỏ này được chính phủ trung ương trợ cấp 14% lệ phí bảo hiểm y tế.

    3. - Chương trình Bảo hiểm Y tế Công dân: dành cho những người về hưu và các tiểu chủ, tiểu thương. Trong chương trình này cá nhân và chính quyền địa phương cùng nhau chia đều lệ phí bảo hiểm y tế.

    Thông thường bệnh nhân phải trả 30% co-payment, hảng bảo hiểm trả 70% cho các dịch vụ y tế. Nhưng mỗi người không phải trả quá 650$/ tháng cho các dịch vụ này.
    Các công ty bảo hiểm y tế Nhật là những công ty không vì lợi nhuận (not for profits); lý do tồn tại của họ là giúp thanh toán chi phí y tế, chứ không phải để kiếm lợi nhuận.

    Bộ Y tế và An sinh ( Ministry of Health and Welfare) của Nhật thỏa thuận với giới cung cấp dịch vụ y tế ( providers) một Biểu đồ giá cả (Fee Schedule) áp dụng chung cho tất cả bác sĩ, bệnh viện, trạm y tế trên toàn quốc, và một hướng dẩn tổng quát về quy trình y tế cùng giá thù lao kèm theo có tên là Shiryo Tensu Hyakumihyo (Quick reference Guide to Medical treatment points), dày như một cuốn niên giám điện thoại, liệt kê chi tiết các dịch vụ với phần thù lao đi kèm. Chẳng hạn: gặp bác sĩ gia đình giá 5$, một đêm tại bệnh viện 90$ (gồm cả thức ăn), v.v…

    Trung bình một bác sĩ gia đình ở Nhật có thu nhập chừng 120,000$/ năm; các bác sĩ chuyên môn (specialists) thì chừng 200,000$/năm. Các bác sĩ hàng năm chỉ phải trả chừng 1200$ cho bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice). Học phí của các trường y khoa rất rẽ chỉ chừng 1500 $/năm và sinh viên y khoa thường được chính quyền địa phương trợ cấp học phí, vì vậy không sinh viên nào mắc nợ khi tốt nghiệp bác sĩ cả.

    Ngoài ra các bác sĩ Nhật, do ảnh hưởng của văn hoá Đông phương, không xem bác sĩ như là một nghề để làm giàu mà cho rằng cứu nhân độ thế là thiên chức của người thầy thuốc, vì vậy đa số họ bằng lòng với mức thu nhập nêu ở trên. Mặt khác, bác sĩ vẫn là giới rất được trọng vọng trong xã hội Nhật.

    Một điểm đặc biệt là bảo hiểm y tế Nhật không bảo hiểm cho phụ nữ có thai. Người Nhật quan niệm rằng thai nghén là một quá trình tự nhiên, không phải là một bệnh tật nên không nằm trong sự che chở của bảo hiểm y tế. Tuy nhiên mỗi thai phụ lại được chính quyền địa phương hay thành phố trợ cấp 3000$/lần (maternity grant).

    Những biện pháp khống chế giá cả y tế như trên đã góp phần hạ thấp chi tiêu y tế ở Nhật, tổng chi phí y tế chỉ chiếm 8% GDP, thấp hơn cả Đức quốc (11%).Nhưng sự khống chế chặt chẻ giá cả này cũng tạo ra những nhược điểm cho nền y tế; đó là sự xuống cấp trầm trọng của các bệnh viện, bệnh xá, trang thiết bị, và đời sống của các bác sĩ, chuyên viên y tế cũng ngày càng khó khăn hơn.

    ANH QUỐC: Bảo hiểm y tế phổ quát.

    Cơ quan British National Health Service (NHS), do vương công William Beverdige khởi xướng trước đây 60 năm, đảm trách việc bảo hiểm y tế cho mọi người ở Anh. Công dân Anh không phải trả lệ phí bảo hiểm (premium). Trẻ em; người già trên 60, người có bệnh kinh niên và thai phụ không phải trả 10$ copayments tiền thuốc; khoảng 85% thuốc cho bệnh nhân là miễn phí. Tuy cũng có bảo hiểm y tế tư nhân, nhưng tuyệt đại đa số, 97%, dân Anh không ai mua bảo hiểm y tế cả, họ xem việc đi khám bác sĩ hay vào bệnh viện không phải trả tiền là điều bình thường.

    Cơ quan NHS nói trên có tổng cộng hơn 1 triệu nhân viên, hơn 2000 bệnh viện.

    Nền y tế trên đem đến cho Anh quốc một tử suất trẻ em rất thấp, tuổi thọ trung bình rất cao, và mức độ bình phục cho các chứng bệnh hiểm nghèo cao hơn ở Mỹ.
    Một đặc điểm của y tế Anh quốc là không có hoá đơn đòi tiền đối với các dịch vụ y tế như vẫn thấy ở Mỹ (no medical billing in England).

    Chính phủ Anh đã dùng mức thuế cao thay cho lệ phí bảo hiểm y tế. Thuế bán lẽ (sale taxes) ở Anh là từ 15-17.5%, thuế lợi tức và an sinh xã hội cũng cao hơn ở Mỹ rất nhiều. Chẳng hạn một gia đình thu nhập 150,000$ phải trả thuế lợi tức đến 50%!

    Nhược điểm là thời gian chờ đợi để gặp bác sĩ chuyên khoa, để được chẩn đoán hoặc điều trị phức tạp thường khá lâu. Vấn đề hạn định (rationing) đối với một số dịch vụ y tế là một nhược điểm lớn khác của nền y tế Anh.

    Ở Anh, mọi người được yêu cầu phải đăng ký với một bác sĩ tổng quát, như một y sĩ đầu tiên, vị bác sĩ này (General Practices) có thẩm quyền giới thiệu đến các chuyên khoa hay những chữa trị phức tạp. Đây là hình thức ở Mỹ gọi là giữ cửa (gatekeeping), trong đó bác sĩ gia đình có thẩm quyền trong việc giới thiệu (recommendation) những xét nghiệm hoặc chẩn đoán chuyên môn cho bệnh nhân; bệnh nhân không được phép tự mình gặp thẳng các bác sĩ chuyên môn mà không có sự đồng ý của bác sĩ gia đình.

    Sự hạn định đó thuộc về NHS. NHS ,thông qua cơ quan NICE, có thẩm quyền khống chế khá rộng đối với các xét nghiệm, chẩn đoán, các dịch vụ y tế dành cho bệnh nhân. Sự hạn định này cũng có ở Mỹ, nhưng khác ở chỗ là ở Mỹ các hảng bảo hiểm tư nhân kiểm soát sự hạn định này thường do động cơ lợi nhuận, còn ở Anh, cơ quan NICE (national institute for Health and Clinical Excellence) lại dựa trên hiệu quả thiết thực của dịch vụ y tế cho từng trường hợp bệnh nhân trong tương quan với tài nguyên của xã hội.

    Để bù lại, nền y tế Anh quốc đặt trọng tâm vào việc phòng bệnh (preventive care), tỉ lệ bác sĩ gia đình chiếm đến 60%, cao hơn ở Mỹ. Lợi tức trung bình của một bác sĩ gia đình là chừng 125,000$/năm, thu nhập này thay đổi dựa vào số bệnh nhân đăng ký đối với mỗi bác sĩ. Ngoài ra cơ quan NHS còn trao phần thưởng tay nghề (performance bonus) hàng năm cho những bác sĩ có thành tích giúp duy trì sức khoẻ tốt cho số bệnh nhân của mình.
    Lệ phí bảo hiểm sai sót nghề nghiệp (malpractice) là khoảng 4,200$/năm; rất thấp so với ở Mỹ. Học phí tại các trường y khoa khá rẻ chỉ chừng 4,000$/năm, vì vậy đa số các bác sĩ mới tốt nghiệp không phải mắc nợ khi ra trường.

    CANADA

    Trước hết vào năm 1944, thống đốc Tommy Douglas của tỉnh Saskatchewan thành lập một hệ thống bảo hiểm y tế do chính quyền điều hành cho toàn thể 1 triệu dân trong tỉnh. Hệ thống ấy thành công rực rỡ đến độ từ năm 1961 trở đi chính phủ Canada đã thành lập hệ thống National Health Insurance, hệ thống bảo hiểm y tế phổ quát toàn quốc, phỏng theo mô hình của Douglas, với dịch vụ y tế được cung cấp bởi tư nhân và chính phủ là người chi trả cho các dịch vụ ấy. Năm 1965 chính phủ Mỹ tiếp nhận hình thức bảo hiểm này của Canada cho công dân trên 65 tuổi, và cho ra đời chương trình Medicare.

    Tuy 10 tỉnh và 3 lãnh thổ của Canada có các chương trình bảo hiểm y tế riêng với ít nhiều khác biệt; chẳng hạn có nhiều tỉnh trả 100% chi phí khám bác sĩ, có tỉnh thì bệnh nhân phải trả chút ít co-payment. Nhưng nhìn chung thì chính quyền Liên bang là người cung cấp ngân sách và quy định luật lệ bảo hiểm cho các địa phương, đứng ra thương lượng về giá cả cho việc chữa trị, thiết bị y tế và thuốc men. Giá thuốc ở Canada rẽ hơn, chỉ bằng ¼ hoặc ½ giá ở Mỹ.

    Đạo luật Canada Health Act 1984 quy định vấn đề bảo hiểm y tế như sau:
    • Chương trình bảo hiểm của mỗi tỉnh phải do một cơ quan công cộng điều hành, không có mục đích kiếm lời (non-profit public body).
    • Các chương trình bảo hiểm phải trả cho mọi dịch vụ y tế cần thiết (medically necessary services) được liệt kê trong danh sách của chính phủ Liên Bang.
    • Bảo hiểm y tế của các tỉnh phải phổ quát, bảo đảm cho mọi công dân cơ hội đồng đều được chữa trị và cấp thuốc men theo quy định của kế hoạch. Các bác sĩ và bệnh viện phải tiếp nhận và chữa trị cho mọi bệnh nhân, không phân biệt, với cùng một mức giá cả.
    • Bảo hiểm phải trả ở mọi nơi trên lãnh thổ Canada.

    Với hệ thống bảo hiểm y tế như vậy, người Canadian không phải trả tiền cho việc khám bác sĩ, cho việc cấp cứu, nằm bệnh viện, bệnh tâm thần, chích ngừa, các xét nghiệm, MRI, v.v… Nhưng nha khoa thông thường thì không được bảo hiểm chi trả, chỉ có giải phẩu nha khoa tại bệnh viện thì khỏi trả tiền. Tại phần lớn các tỉnh, bệnh nhân phải trả tiền thuốc. Riêng người nghèo, già cả và bệnh kinh niên thì được miễn trả tiền thuốc.

    Tuy hệ thống bảo hiểm y tế của chính phủ bao trùm phổ quát như vậy, nhưng bên cạnh vẫn có một số chương trình bảo hiểm tư nhân, dù rằng chiếm một bách phân rất nhỏ, dành cho các dịch vụ nha khoa hoặc những dịch vụ y tế mà bảo hiểm của chính phủ không đãm nhận. Các chương trình bảo hiểm tư nhân này rất rẽ so với Mỹ.

    Một nhược điểm của bảo hiểm y tế Canada là thời gian chờ đợi cho một số các dịch vụ y tế đặc biêt thường kéo dài khá lâu. Chẳng hạn một ca giải phẩu cột sống phải chờ trung bình một năm; giải phẩu thay xương bả vai (shoulder arthroplasty) mất chừng 18 tháng chờ đợi; hoặc mổ thay cổ xương đùi phải chờ hằng 10 tháng!

    Cùng với sự chờ đợi lâu như trên là sự thiếu hụt bác sĩ. Trung bình ở Canada có 2.2 bác sĩ / 1000 dân, trong khi ở Mỹ là 2.4/ 1000. Hiện nay chính phủ Canada đang nổ lực gia tăng ngân sách để thu hút thêm bác sĩ và giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân đối với các dịch vụ điều trị phức tạp và đặc biệt.

    Ưu điểm của hệ thống Canada là chi phí điều hành của hệ thống bảo hiểm y tế thấp, phía cung cấp dịch vụ y tế, như bác sĩ hay bệnh viện, không phải gởi bills cho bệnh nhân, họ nhận thù lao thẳng từ các văn phòng bảo hiểm y tế của chính phủ. Ngoài ra, người dân Canada không ai phải khai phá sản vì chi phí y tế và cũng không ai chết vì lý do là không có bảo hiểm sức khoẻ và; do đó, đã không được chữa trị. Tử suất trẻ sơ sinh là 5.4 so với ở Mỹ là 7.0 (trên 1000 trẻ). Khả năng chữa trị những bệnh hiểm nghèo của nền y tế Canada, gọi là avoidable mortality, của Canada được WHO xếp hạng 7 trong số 19 quốc gia cao nhất thế giới ( Mỹ được xếp hạng 15/19) .

    VIỆT NAM:

    Cho đến nay tuổi thọ trung bình (life expectancy) của người Việt là 72.2 năm, tuổi thọ sống khoẻ mạnh (healthy life expectancy) là 60.2 năm, xếp hạng 116 trên tổng số 174 quốc gia được thống kê. Theo thống kê của Tổng cục Dân số và Kế hoạch Gia đình thì có đến 1.5% trong tổng số 85.8 triệu dân thuộc về dạng chậm trí; 1.5-3% trẻ sinh ra có khuyết tật; Việt Nam hiện có 5.3 triệu người tật nguyền. Dân số gia tăng hàng năm là 947,000 người tương đương với tăng suất 1.2%, có giảm so với tăng suất 1.7% của năm 1999.

    Trung bình có 5 bác sĩ cho 10,000 dân (Xin nhớ rằng tỉ số bác sĩ/ dân ở Mỹ là 2.4/1000). Theo thống kê năm 2001 thì chi phí y tế bình quân đầu người hằng năm của VN là 134 dollars/ người (so với Philippine 169$, Trung Quốc 224$, Nhật 2131$ và Úc 2532$). Cũng theo thống kê đó thì tổng chi phí y tế của VN chỉ chiếm 5.1% GDP (tổng sản lượng quốc gia).

    Chi tiêu cho săn sóc y tế của chính phủ không được phân phối đồng đều giữa các thành phần dân cư và khu vực. Mức độ chi tiêu của nhà nước cho săn sóc y tế cũng rất thấp, chỉ chiếm chừng 1% của GDP. 80% chi phi y tế là do tiền túi của người dân (out-of-pocket).Mức chi tiêu quá ít này của nhà nước cho lãnh vực y tế hoàn toàn trái ngược với danh xưng Xã hội Chủ nghĩa của VN; nó là kết quả của “đổi mới để sống còn” để duy trì sự độc quyền của đảng CS và của áp lực từ các định chế quốc tế IMF, World Bank và WTO cũng như từ các quốc gia Tây phương đối với VN trong việc cắt giảm chi tiêu công ích, chuyển hướng hẳn về kinh tế thị trường, mở ngõ lãnh vực y tế nội địa cho quá trình tư nhân hoá và tư bản bên ngoài .

    Những năm gần đây, Quỹ Y tế cho Người Nghèo (Health Care Funds for the Poor, HCFP) được thành lập, chỉ cấp rất khiêm tốn 70,000 đồng/người (gần 5dollars); trong đó trung ương cung cấp 76%, số còn lại do địa phương đóng góp. Số tiền đó được dùng hoặc để trả chi phí y tế cho những bệnh nhân nghèo, hoặc để giúp thêm vào việc mua bảo hiểm. Có chừng 11 triệu người hưởng sự giúp đỡ từ HCFP. Hiện Bộ Y tế VNCS đang có chương trình gia tăng gấp đôi ngân sách cho quỹ HCFP này.

    Việc xữ dụng thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa trở nên phổ biến, đa số các giới cung cấp dịch vụ y tế vẫn duy trì thói quen thu tiền mặt từ bệnh nhân, không tỏ ra tích cực trong việc chấp nhận thẻ bảo hiểm. Kể từ 1992, chính quyền VNCS đưa ra những chương trình bảo hiểm y tế cưỡng bách và tự nguyện do cơ quan, đại diện của Bộ Y tế, là Bảo Hiểm Y tế VN điều hành. Có 3 chương trình:

    1. Cưởng bách: Dành cho công nhân viên trong biên chế nhà nước và trong các công ty tư nhân có từ 10 người trở lên. Lệ phí là 3% tiền lương, trong đó phía chủ nhân đóng 2%, công nhân đóng 1%.

    2. Tự nguyện: Là chương trình dành cho học sinh, sinh viên và các nông dân. Thường nông dân đóng 30%, chính quyền cấp tỉnh đóng 70%.

    3. Những chương trình dành cho người nghèo do nhà nước tài trợ.

    Tóm lại hệ thống bảo hiểm y tế VN, trong bước đầu hướng theo kinh tế thị trường, vẫn còn thuộc về mô hình out-of-pocket của các nước thứ ba, trong đó 80% chi phi y tế được trang trãi bằng tiền túi của người dân. VN chưa có một hệ thống bảo hiểm y tế thống nhất, được tổ chức chặt chẻ với những luật lệ rõ ràng như các nước phát triển.

    THƯ MỤC:
    The Healing of America, T.T.Reid, Penguin Press, New York 2009.
    WHO, the World Health Report 2000.
    http://en.wikipedia.org/wiki/Taxation_in_the_United_Kingdom

    http://en.wikipedia.org/wiki/Comparison_of_Canadian_and_American_health_care_systems.
    Health Affairs, May/June 2001.
    http://www.presscenter.org.vn/en/content/view/924/89/.
    Susan Adam, Vietnam healthcare system, IMF-Hanoi, 2005.

    Cung cấp một vài số liệu về Y tế của Mỹ để những ai quan tâm có thể biết thêm (*)

    1- Chi phí quản lý rất cao: khoảng 31% toàn bộ chi phí y tế.
    Administrative costs are very high; about 31% of U.S. health care dollars
    (Source: "Costs of Health Administration in the U.S. and Canada", Woolhandler, NEJM 349(8) Sept. 21, 2003)

    2- Lương bác sỹ rất cao so với các nước phát triển khác:
    Annual Average Income of Physicians
    Us: $199,000; Germany: $104,700; Canada: $100,781; Japan: $62,273; France: $62,007; Denmark: $58,416; Australia: $55,944; UK: $52,547; Sweden:$40,774
    (Data: OECD Health Data)
    3- Mỹ chi cho y tế nhiều nhất, nhưng chỉ xếp hạng 37 trên thế giới.
    The U.S. spends more on health care than any other nation in the world, but only ranks 37th out of 191 nations on performance. (World Health Organization 2006)
    Per capita expenditure: $USA: 6,096; Germany: $3,171; France: $3,040 ; Canada; $3,173; Australia: $ 3,123
    (World Health Organization: Core Health Indicators)

    4- Chi phí bảo hiểm tăng khoảng 12% hàng năm.
    Insurance premiums are rising at rates of 12 percent annually.
    (Office of the Actuary in the Centers for Medicare & Medicaid Services, 2008)
    5- Khoảng 45 triệu người Mỹ không có bảo hiểm y tế, bao gồm 8.7 triệu trẻ em.
    45 million Americans, including 8.7 million children are without health insurance. (World Health Organization: Core Health Indicators)
    6- 18000 người chết hàng năm do không có bảo hiểm y tế.
    18000 people who are uninsured die each year because of lack of coverage (Gardner, Wakefield, & Gardner, 2007 p. 603.)

    (*) Số liệu sưu tập vào mùa Xuân năm 2008 nên có thể không hoàn toàn chính xác. Do không có thời gian tìm mới nên lấy ra xài tạm.

    Tran Thi Ngự viết:
    ...
    Theo phim tài liệu "Sick Around the World" do chương trình Frontline của PBS Boston thực hiện, một lần Castscane (?) ở Mỷ tốn khoảng $3,000, trong khi ở Nhật hay Taiwan tốn khoảng $300 (một phần mười). Tôi biết tổn phí cho một colonoscopy test ở Mỷ là hơn $3,000 (do mới làm xong), trong đó: phí tổn bác sỉ chuyên khoa là $1,700 (lao động trong 30 phút), Bác sỉ gây mê $800 (lao động trong 45 phút), và thuê mướn phòng lab là $600 (chổ thực hiện cái test). Môt viên Aspirin bán ở tiêm thuốc giá có vài xu, nhửng nếu được dùng trong bệnh viện cho bệnh nhân thì giá của nó tăng gấp mấy chục lần.

    Về lương bổng của nhân viên y tế, bác sỉ gia đình ở Mỷ mới ra trường luơng tối thiểu là khoảng $100,000. Các bác chuyên khoa lương tối thiểu khi ra trường là $200,000. Nhiều bác sỉ "chạy sô" nhiều bệnh viện có thể kiếm từ $400,000-$8000,000 là bình thường, chưa kể các bác sỉ nổi tiếng. Trong khi đó, ở Nhật, bệnh viện không được phép kiếm lời, và lương bác sỉ so với các đồng nghiệp ở Mỷ thì rất thấp. Phim "Sick Around the World" củng cho thấy bác sỉ ở Đức lương thấp hơn hiểu so với bác sỉ ở Mỷ (nhờ bác Sáu và cô Maile xác nhận xem có đúng không). Luơng bổng cao cộng với lợi nhuận của của các công ty bảo hiểm, theo ý tôi, là hai yếu tố quan trọng giải thích phí tổn cao ngất trời của y tế Mỷ.
    ...

    Bác Ngự,

    Tại sao chính phủ Mỹ không can thiệp sao cho giá cả bác sĩ + thuốc ở bệnh viện không cao ngất trời ?
    Nếu bảo là do KTTT thì không đúng đâu vì chính phủ Mỹ vẫn can thiệp hỗ trợ các công ty nhỏ SME.

    Can thiệp bằng cách nào ?
    Theo tôi nên ấn định giá trần (giá khung) cho bác sĩ và thuốc, sau khi bàn bạc thỏa thuận với các công đoàn bác sĩ. Giá quy định này sẽ tính lại hàng năm theo lạm phát

    Các bệnh viện công bắt buộc phải áp dụng giá khung này cho thuốc và bác sĩ cho một số dịch vụ như "khẩn cấp" và một số thời khóa biểu. Ví dụ bác sĩ A phải lấy giá quy định cho 60% giờ làm việc, ngoài ra có thể lấy giá biểu khác, ghi rõ trên thời khóa biểu

    Ở bệnh viện tư thì lấy giá tùy ý nhưng có thể giới hạn như tối đa gấp 10 lần giá khung và đặc biệt dịch vu "khẩn cấp" tối đa chỉ là gấp 3 lần giá khung

    Bây giờ để giá bác sĩ cao ngất trời, nếu quy định lại để phù hợp với nhu cầu dân, sẽ bị phản đối là bác sĩ bỏ đi nước khác ! Nhưng không lo vì nhìn chung quanh, khó có nước nào bác sĩ hái ra tiền như ở Mỹ

    Nguyễn SG

    NiMarxNiJesus viết:
    Nhưng để xoay cho đủ tiền, chắc chắn cũng phải bắt dân đóng góp thuế thêm và Hoa Kỳ sẽ chạm phải quyền lợi của các giới làm ăn khấm khá , có 1 điều dễ tiên đoán là người đi làm thường ít khi đi khám bệnh hơn người thất nghiệp ... đơn giản là lại phải xin nghỉ mà nghỉ thì bị trừ lương ; trong khi anh thất nghiệp thì đã ít bị đóng thuế mà lại hưởng dịch vụ y tế nhiều hơn ...

    Không nhất thiết là như thế đâu bác NiNi. Ỡ Mỹ đi làm có "sickly days" (6-8 ngày). Nếu hết "sickly days" thì lấy vào phép (2-4 tuần). Tôi không sẳn có số liêu trong tay, nhưng nhửng tài liệu tôi từng đọc cho thấy người nghèo thường nhiều bệnh và bệnh thường nặng hơn vì họ không được điều trị kịp thời khi có bệnh do không có bảo hiểm, mà thường chờ cho đến khi quá nặng thì mới đi vào emergency.

    Trích dẫn:
    Tôi không ở Hoa Kỳ nhưng khi qua biên giới Mexico thì thấy dọc theo đường vào thành phố, đủ các " chòi " chữa bệnh để người Mỹ không có bảo hiểm qua đó chữa cho rẻ, như vậy thì tôi đoán là tiền đi bác sĩ ở HK chắc là tốn kém lắm ; lại còn - điều này xin chị Ngự cho ý kiến vì chỉ là cảm tưởng cá nhân - dường như có một sự cấu kết giữa giới lờ sờ vời đốc tờ để đôi bên lưỡng lợi ! Như 1 lần qua Cali thăm anh bạn, lạc đường phải đi vào mượn điện thoại nhà người ta gọi cho anh bạn để hỏi đường đến , khi đi ra thì bị con chó của chủ nhà cắn rách cái quần, chả bị trầy trụa gì cả nhưng khi gặp anh bạn là dân lờ sờ thì anh ta bảo : Ông cứ ở đây, tôi kiện cho và kiếm được ít nhát ... ba ngàn ! May cho anh chủ nhà tốt bụng vì tôi chỉ thích chòng chọi với trẻ con chứ không thích đi kiện tụng mấy chuyện vớ vẩn dựa vào giấy khám của bác sĩ .

    Cái vụ người Mỷ phải "vượt biên" để chửa bệnh là có thật và đúng là do phí tổn chửa bệnh ở Mỷ quá cao. Có một nghịch lý là trước phong trào "vượt biên" chửa bệnh thì môt số công ty ở Mỷ lại củng "vuợt biên" sang Mể để mở clinic dể xử dụng "nhân công" rẻ (bác sỉ, y tá và nhân viên hành chánh), thuốc rẻ vả kỷ thuật rẻ.

    Theo phim tài liệu "Sick Around the World" do chương trình Frontline của PBS Boston thực hiện, một lần Castscane (?) ở Mỷ tốn khoảng $3,000, trong khi ở Nhật hay Taiwan tốn khoảng $300 (một phần mười). Tôi biết tổn phí cho một colonoscopy test ở Mỷ là hơn $3,000 (do mới làm xong), trong đó: phí tổn bác sỉ chuyên khoa là $1,700 (lao động trong 30 phút), Bác sỉ gây mê $800 (lao động trong 45 phút), và thuê mướn phòng lab là $600 (chổ thực hiện cái test). Môt viên Aspirin bán ở tiêm thuốc giá có vài xu, nhửng nếu được dùng trong bệnh viện cho bệnh nhân thì giá của nó tăng gấp mấy chục lần.

    Về lương bổng của nhân viên y tế, bác sỉ gia đình ở Mỷ mới ra trường luơng tối thiểu là khoảng $100,000. Các bác chuyên khoa lương tối thiểu khi ra trường là $200,000. Nhiều bác sỉ "chạy sô" nhiều bệnh viện có thể kiếm từ $400,000-$8000,000 là bình thường, chưa kể các bác sỉ nổi tiếng. Trong khi đó, ở Nhật, bệnh viện không được phép kiếm lời, và lương bác sỉ so với các đồng nghiệp ở Mỷ thì rất thấp. Phim "Sick Around the World" củng cho thấy bác sỉ ở Đức lương thấp hơn hiểu so với bác sỉ ở Mỷ (nhờ bác Sáu và cô Maile xác nhận xem có đúng không). Luơng bổng cao cộng với lợi nhuận của của các công ty bảo hiểm, theo ý tôi, là hai yếu tố quan trọng giải thích phí tổn cao ngất trời của y tế Mỷ.

    Còn chuyện gian lận như bác NiNi thí dụ thì cũng có, nhưng tôi không nghỉ nó phổ biến bởi vì trong các vụ kiện thương tích
    có cả luật sư của cả hai bên (bên muốn kiếm tiền và bên bảo hiểm), mà ăn được tiền của bảo hiểm cũng trầy da sứt vẩy.

    Trích dẫn:
    Đến giờ này thì đi bệnh viện là một cực hình vì chờ đợi và rồi tuy gọi là miễn phí, bệnh nhân muốn nhanh lại phải đóng tiền .. mà là tiền mặt đấy, 1 hình thức đút lót rõ ràng và ai cũng biết , chưa kể là bác sĩ vẫn tính thêm tiền bên bảo hiểm chứ chả tha .. mà để được nhanh, được đóng tiền đã là may cho nên cũng chả ai đi kiện.

    Tôi củng có nghe nhiểu người ở bên Canada than phiền về dịch vụ y tế bên ấy, nhưng hình như việc chờ đọi chỉ xảy ra với bệnh không nguy kịch mà bác sỉ cho là có thể đợi được, còn nhửng trường hợp cần làm ngay thì bệnh nhân củng được điều trị kịp thời. Tôi có một người bạn ở Montreal (thất nghiệp ở nhà đả lâu) và chồng một đồng nghiệp trong sở (môt ông chủ nhà thờ) cùng bị bệnh rối loại máu (Leukemia) cần phải qua chimo-therapy. So sánh trường hợp của hai người thì tôi thầy người bạn ở Montreal được săn sóc kỷ hơn chồng bà đống nghiệp. Người bạn ở Canada sau khi đưa vào bệnh viện cấp cứu thì được giử ở lại trong bệnh viện một tháng để điều trị bằng chimo, còn ông chủ nhà thờ thì sau khi được đưa vào bệnh viện cấp cứu chỉ được ở đó trong một tuần để tìm bệnh rồi phài vể nghỉ ở nhà trong thời gian chimo. Báo hại bà vợ phải vận động cả học trò giúp tiệt trùng nhà cửa, rồi mổi tuần một lần chở ông chồng vô bệnh viện làm Chimo, ngồi chờ từ sáng đền chiều mới chở ông về nhà nghỉ.

    VN2006A viết:
    NiMarxNiJesus viết:
    ...

    Cứ ngớ ngẩn tính toán, tôi lại thấy về VN chữa bệnh hay đi nha sĩ là ... sướng nhất , cho dù chả cần có thẻ bảo hiểm gì cả vì tiền trả bác sĩ rẻ bằng tiền đậu xe ở bệnh viện lại còn khỏi phải đi ra tiệm thuốc mua, bác sĩ đưa tất và chắc chắn là thuốc tốt, chỉ khi bệnh nặng thì có lẽ mới phải về Canada chữa cho ăn chắc thôi ..

    Thấy VK bên Mỹ vãn về VN làm răng và họ bảo : Coi như lời được cả tiền du lịch vì rẻ quá .

    Thấy các bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ ở VN nói dạo này chị em Việt kiều về nước sửa sang sắc đẹp tương đối nhiều, nhất là từ khi khủng hoảng kinh tế!!!

    Bọn bác sỹ làm việc mệt nghỉ: hút mỡ, làm căng da, khoét má lúm đồng tiền...v...v...Ai mà biết được chị em có những nhu cầu gì???

    Còn có một " mánh " này nữa : Mua bảo hiểm y tế du lịch vài chục bạc, về VN sửa sắc đẹp ở một "bệnh viện" , cái này các bác sĩ thẩm mỹ giúp " phù phép " để thành một bệnh gì đó được cover bởi bảo hiểm , thế là đôi bên lưỡng lợi .

    Nhưng trò này chắc nay hết tác dụng hay khó khăn hơn rồi .

    Tớ chưa " thực tế " nhưng nghe các bà nói chuyện với nhau trên máy bay và cũng chả dám hỏi !!!

    NiMarxNiJesus viết:
    ...

    Cứ ngớ ngẩn tính toán, tôi lại thấy về VN chữa bệnh hay đi nha sĩ là ... sướng nhất , cho dù chả cần có thẻ bảo hiểm gì cả vì tiền trả bác sĩ rẻ bằng tiền đậu xe ở bệnh viện lại còn khỏi phải đi ra tiệm thuốc mua, bác sĩ đưa tất và chắc chắn là thuốc tốt, chỉ khi bệnh nặng thì có lẽ mới phải về Canada chữa cho ăn chắc thôi ..

    Thấy VK bên Mỹ vãn về VN làm răng và họ bảo : Coi như lời được cả tiền du lịch vì rẻ quá .

    Thấy các bác sỹ phẫu thuật thẩm mỹ ở VN nói dạo này chị em Việt kiều về nước sửa sang sắc đẹp tương đối nhiều, nhất là từ khi khủng hoảng kinh tế!!!

    Bọn bác sỹ làm việc mệt nghỉ: hút mỡ, làm căng da, khoét má lúm đồng tiền...v...v...Ai mà biết được chị em có những nhu cầu gì???

    @Maile: mình có qua Thụy sỹ 1 lần, nhưng là đi có nhiệm vụ (công tác), chẳng kịp nhìn thấy gì. Nếu hứng, có lẽ hè đi qua chơi vài hôm xem sao?!

    Maile sống bên Thụy sỹ lâu không? làm việc bên ấy hay theo ông xã (chồng) sang bên ấy???

    Đoán mò 1 chút: Maile là dân BW (Baden-Württemberg) gần biên giới đúng không?

    VN2006A viết:

    Chỗ này Maile hình như là nhầm lẫn?!

    Tự nguyện quyết định (Freiwillige Krankenversicherung), chứ không bắt buộc phải vào bảo hiểm tư (Private Krankenversicherung).

    Mình chẳng hạn, vẫn ở lại TK!

    Xin lỗi các bác. Cám ơm bác Sáu đã nhắc nhở.
    Đúng là không bị bắt buộc vô bảo hiểm tư. Ta có quyền ở lại trong bảo hiểm sức khỏe theo quy định của luật pháp. Được mời chứ hoỏng phải " bị ".

    PS: Hôm Phục Sinh em đi Thụy Sỹ. Thụy Sỹ là chùm Khế ngọt thứ ba của em. Đẹp tuyệt vời. Các bác nào chưa đi Thụy sỹ, nên đi một lần cho biết, đến Tessin, vùng nói tiếng Ý của Thụy Sỹ, có Lago Maggiore, Langensee, Lac Majeur. Em quảng cáo không công cho Thụy Sỹ à nha.

    Các đạo luật về an sinh xã hội thường chỉ được coi là tốt đẹp ở vào những giai đoạn đầu, sau đó thì dần dà, thế nào cũng sinh chuyện do con người ích kỷ và lách luật .

    Canada có quy chế bảo hiểm sức khỏe do chính phủ đài thọ 100% kể cả thuốc men ở bệnh viện , người dân chỉ phải tra tiền thuốc nếu đi bác sĩ mà không nằm bệnh viện và nếu thu nhập thấp thì cũng được chính phủ lo hoặc đi làm thì có bảo hiểm riêng lo , mẫu mựac này đã được Clinton cử vợ qua nghiên cứu để áp dụng từ khi ông làm tổng thống .

    Nhưng để xoay cho đủ tiền, chắc chắn cũng phải bắt dân đóng góp thuế thêm và Hoa Kỳ sẽ chạm phải quyền lợi của các giới làm ăn khấm khá , có 1 điều dễ tiên đoán là người đi làm thường ít khi đi khám bệnh hơn người thất nghiệp ... đơn giản là lại phải xin nghỉ mà nghỉ thì bị trừ lương ; trong khi anh thất nghiệp thì đã ít bị đóng thuế mà lại hưởng dịch vụ y tế nhiều hơn ...

    Tôi không ở Hoa Kỳ nhưng khi qua biên giới Mexico thì thấy dọc theo đường vào thành phố, đủ các " chòi " chữa bệnh để người Mỹ không có bảo hiểm qua đó chữa cho rẻ, như vậy thì tôi đoán là tiền đi bác sĩ ở HK chắc là tốn kém lắm ; lại còn - điều này xin chị Ngự cho ý kiến vì chỉ là cảm tưởng cá nhân - dường như có một sự cấu kết giữa giới lờ sờ vời đốc tờ để đôi bên lưỡng lợi ! Như 1 lần qua Cali thăm anh bạn, lạc đường phải đi vào mượn điện thoại nhà người ta gọi cho anh bạn để hỏi đường đến , khi đi ra thì bị con chó của chủ nhà cắn rách cái quần, chả bị trầy trụa gì cả nhưng khi gặp anh bạn là dân lờ sờ thì anh ta bảo : Ông cứ ở đây, tôi kiện cho và kiếm được ít nhát ... ba ngàn ! May cho anh chủ nhà tốt bụng vì tôi chỉ thích chòng chọi với trẻ con chứ không thích đi kiện tụng mấy chuyện vớ vẩn dựa vào giấy khám của bác sĩ .

    Bảo hiểm y tế ở đây vốn tốt như thế nhưng bị lạm dụng nhiều nên rồi càng ngày càng tệ đi, bác sĩ cũng chỉ ham làm đủ mức giới hạn, bệnh nhân thì khi chưa có vụ bắt phải chụp hình trên thẻ bảo hiểm, khối người còn cho nhau mượn thẻ cho nên đã có chuyện 1 bà chị từ VN qua chơi và mượn thẻ của bà em đi khám miễn phí, nào ngờ lại bị chết; thế là bà em còn sống mà bị khai tử .

    Đến giờ này thì đi bệnh viện là một cực hình vì chờ đợi và rồi tuy gọi là miễn phí, bệnh nhân muốn nhanh lại phải đóng tiền .. mà là tiền mặt đấy, 1 hình thức đút lót rõ ràng và ai cũng biết , chưa kể là bác sĩ vẫn tính thêm tiền bên bảo hiểm chứ chả tha .. mà để được nhanh, được đóng tiền đã là may cho nên cũng chả ai đi kiện .

    Cứ ngớ ngẩn tính toán, tôi lại thấy về VN chữa bệnh hay đi nha sĩ là ... sướng nhất , cho dù chả cần có thẻ bảo hiểm gì cả vì tiền trả bác sĩ rẻ bằng tiền đậu xe ở bệnh viện lại còn khỏi phải đi ra tiệm thuốc mua, bác sĩ đưa tất và chắc chắn là thuốc tốt, chỉ khi bệnh nặng thì có lẽ mới phải về Canada chữa cho ăn chắc thôi ..

    Thấy VK bên Mỹ vãn về VN làm răng và họ bảo : Coi như lời được cả tiền du lịch vì rẻ quá .

    Tran Thi Ngự viết:
    ...
    NimarxNiJesus viết:
    Canada và nhiều quốc gia khác với chế độ đại nghị vẫn có tam quyền phân lập đấy chứ, chính phủ và thủ tướng đều nằm trong quốc hội cả và quốc hội vẫn là cơ cấu ban hành luật , giám sát việc làm của chính phủ, thực sự thì tôi thấy VN tổ chức hệ thống nhà nước khá giống các nước này nếu sau này, VN có đa đảng .

    Tôi nghĩ rằng tam quyền phân lập là ở trách nhiệm của các vị lãnh đạo, ông thủ tướng khi ngồi trong quốc hội thì phải quên rằng mình chỉ là đại diện dân cử tại một địa phương nhỏ bé và khi dịa phương của mình có vấn đề thì lại phải trong trách nhiệm đại biểu thật rõ ràng .

    Thí dụ như vụ Tiên Lãng, lẽ ra thủ tướng Dũng lại phải can thiệp mạnh mẽ hơn trong vai trò đại biểu QH giống như ở đây .

    Thưa bác NiNi,

    Tôi đồng ý hoàn toàn với bác là nguyên tắc tam quyền phân lập là vai trò (roles) của ba bộ phận hành pháp, lâp pháp, và tư pháp phải độc lập. Tôi củng đồng ý với bác là ở Canada và các nước theo chế độ đại nghị thủ tướng và đa số trong nghị viện (quốc hội) ở cùng một đảng. Như tại Anh thì thủ lảnh phe đa số trong quốc hội sẽ trở thành thủ tướng.

    Nhưng điều đó không có nghĩa là thủ tướng (hành pháp) củng đóng luôn vai trò đại biểu quốc hội (lập pháp) bởi vì một người không thể cùng một lúc đóng hai vai trò khác nhau trong cùng một lúc. Cái này người ta gọi là conflict of interests - mà đả gọi là có conflict of interest thì không thể nào độc lập đươc. Cái vụ một người đóng hai vai trong một lúc hình như trong tâm lý học người ta gọi là . . . đa nhân cách - multiple personalities hay . . . thần kinh phân liệt . . . bác nào là chuyên gia thần kinh học giúp tôi với.

    Bác cứ tưởng tượng trong các phiên họp quốc hội chất vấn chính phủ, mà đa số các thành phần trong nội các chính phủ ở VN đều là . . . đại biểu quốc hội, thì chẳng lẻ các ông/bà ấy lại chất vần chính mình à, mà tôi thì cho là chỉ có các người có multiple personalities với có thể đóng nổi hai vai một lúc như thế. Cứ tưởng tượng đại biểu quốc hội Nguyền Tấn Dũng, đơn vị Hải Phòng, chất vần thủ tướng Nguyển Tần Dủng về vụ Tiên Lảng, rồi cử tưởng tượng cá nhân Nguyển Tấn Dủng tự hỏi và tự trả lời. Vì thế cho nên tôi thấy cái mô hình chính phủ ở VN không thể gọi là tam quyền phân lập và khác xa vạn dặm với chính thể đại nghị ở Anh hay ở Canada
    ...

    Đồng ý với bác Tran Thi Ngự.

    Benelux cũng theo chế độ đại nghị, vẫn có tam quyền phân lập. Chính phủ và thủ tướng, "đa số" đều "xuất phát" từ quốc hội chứ "không" phải là "nằm trong" quốc hội. Một vài bộ trưởng hoặc thứ trưởng có thể không hề là đại biểu QH.

    Lúc đầu họ có thể là đại biểu QH nhưng sau đó "từ chức" đại biểu khi tham gia chính phủ. Thông thường khi tranh cử quốc hội, mỗi đảng đều có danh sách ứng cử viên đại biểu chính thức và danh sách dự bị (= khoảng 1/5 - 1/3 danh sách chính thức). Khi một đại biểu trong danh sách chính thức từ chức đại biểu quốc hội vì tham gia chính phủ, vì trở thành thẩm phán, vì bị bệnh, ..., một đại biểu trong danh sách dự bị sẽ vào thế chỗ

    Khi nắm chức vụ quan trọng trong nhà nước như thủ tướng, CT QH, chánh án TAND TC, VT VKSND TC, họ đều từ chức lãnh đạo đảng như tổng thư ký, chủ tịch đảng, thủ quỹ đảng.

    Cách tổ chức ở VN là chế độ đại nghị "không độc lập"

    Nguyễn Tấn Dũng lãnh 6 đầu lương :

    đại biểu QH,
    thủ tướng,
    bí thư ban cán sự đảng chính phủ,
    trưởng ban tham nhũng trung ương,
    ủy viên BCT,
    phó chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam

    maile viết:
    Tran Thi Ngự viết:

    Còn cái vụ y tế thì tôi nghĩ mô hình nào củng có ưu và khuyết điểm, và tựu trung có bốn vấn đề thể hiện các quan điểm khác nhau về y tế: 1) một nền y tế với kỷ thuật cao nhưng không đến được với mọi tầng lớp dân chúng; 2) một nền y tế với kỷ thuật thấp hơn (nhưng không tồi) nhưng đến được với mọi người; 3) phúc lợi y tế là một quyền lợi (right) hay là một đạc quyền (privilege); 4) y tế là dịch vụ xã hội (social service) hay một sảm phẩm thương mại (commodity). Mỗi cá nhân khi trả lời các câu hỏi này sẽ tìm ra được đáp số cho mô hình y tế.

    Đoạn này của bác Trần Thị Ngự đúng y chang tình trạng Y Tế ở Đức.

    Nền y tế ở Đức có kỹ thuật cao, rất cao, nhưng không phải ai cũng được hưởng những kỹ thuật cao, rất cao này.
    Tất cả mọi người đều được hưởng một nền y tế không rất cao, nhưng " xài " được.
    Phúc lợi y tế vừa là quyền lợi vừa là đặc quyền vì y tế là dịch vụ xã hội, nhưng cũng là sản phẩm thương mại:

    Những người có lương cao trên 5000 Euro Brutto (trên bản luơng, chưa trừ bất kỳ một khoản nào) sẽ " bị " mời vô bảo hiểm sức khỏe tư.
    Bảo hiểm sức khỏe tư có nhiều đặc quyền hơn, thí dụ như được điều trị trực tiếp từ bác sỹ trưởng khoa. Còn người khác thì chỉ được điều trị bởi bác sỹ của khoa, cao lắm là phó khoa. Muốn được bác sỹ trưởng khoa điều trị thì phải mua thêm, dóng thêm một số tiền nữa. Nằm nhà thương phòng một người. Còn các bệnh nhân khác thì nằm phòng 3 người, tối đa!. Muốn nằm phòng 2 người hay một mình mình thì phải trả thêm tiền cho bảo hiểm. Đi khám bệnh ở phòng mạch, thì người có bảo hiểm tư sẽ có thể có được những loại thuốc, được cho là " tốt hơn ".
    Ngoài ra có một số các phương pháp điều trị khác như châm cứu, thuốc " dân tộc ", trồng cấy răng mới (Implanta) thì phải mua bảo hiểm riêng, mua thêm.

    Ở Đức có cụm từ bệnh nhân hạng 2 là để chỉ tình trạng này.

    Dù sao ở Đức tất cả mọi người (100%) đều có bảo hiểm sức khỏe.
    Nếu không do công việc của mình trả, thì sẽ được sở xã hôi trả suốt đời.

    Các nước Benelux có hệ thống bảo hiểm ý tế không khác Đức nhiều. Có nhà thương công và tư. Nhà thương công thì ai cũng như nhau, không có đặc quyền từ bác sỹ trưởng khoa.

    Tuy nhiên có lẽ tình trạng này khó kéo dài được lâu vì kinh tế suy yếu cộng thêm di dân đến từ các nước khác như Đông Âu, Phi, Á tạo gánh nặng lớn cho bảo hiểm y tế công. Càng lúc càng phải mua thêm bảo hiểm tư nhân

    maile viết:

    Đoạn này của bác Trần Thị Ngự đúng y chang tình trạng Y Tế ở Đức.

    Nền y tế ở Đức có kỹ thuật cao, rất cao, nhưng không phải ai cũng được hưởng những kỹ thuật cao, rất cao này.
    Tất cả mọi người đều được hưởng một nền y tế không rất cao, nhưng " xài " được.
    Phúc lợi y tế vừa là quyền lợi vừa là đặc quyền vì y tế là dịch vụ xã hội, nhưng cũng là sản phẩm thương mại:

    Những người có lương cao trên 5000 Euro Brutto (trên bản luơng, chưa trừ bất kỳ một khoản nào) sẽ " bị " mời vô bảo hiểm sức khỏe tư.
    ...

    Chỗ này Maile hình như là nhầm lẫn?!

    Tự nguyện quyết định (Freiwillige Krankenversicherung), chứ không bắt buộc phải vào bảo hiểm tư (Private Krankenversicherung).

    Mình chẳng hạn, vẫn ở lại TK!

    Tran Thi Ngự viết:

    Còn cái vụ y tế thì tôi nghĩ mô hình nào củng có ưu và khuyết điểm, và tựu trung có bốn vấn đề thể hiện các quan điểm khác nhau về y tế: 1) một nền y tế với kỷ thuật cao nhưng không đến được với mọi tầng lớp dân chúng; 2) một nền y tế với kỷ thuật thấp hơn (nhưng không tồi) nhưng đến được với mọi người; 3) phúc lợi y tế là một quyền lợi (right) hay là một đạc quyền (privilege); 4) y tế là dịch vụ xã hội (social service) hay một sảm phẩm thương mại (commodity). Mỗi cá nhân khi trả lời các câu hỏi này sẽ tìm ra được đáp số cho mô hình y tế.

    Đoạn này của bác Trần Thị Ngự đúng y chang tình trạng Y Tế ở Đức.

    Nền y tế ở Đức có kỹ thuật cao, rất cao, nhưng không phải ai cũng được hưởng những kỹ thuật cao, rất cao này.
    Tất cả mọi người đều được hưởng một nền y tế không rất cao, nhưng " xài " được.
    Phúc lợi y tế vừa là quyền lợi vừa là đặc quyền vì y tế là dịch vụ xã hội, nhưng cũng là sản phẩm thương mại:

    Những người có lương cao trên 5000 Euro Brutto (trên bản luơng, chưa trừ bất kỳ một khoản nào) sẽ " bị " mời vô bảo hiểm sức khỏe tư.
    Bảo hiểm sức khỏe tư có nhiều đặc quyền hơn, thí dụ như được điều trị trực tiếp từ bác sỹ trưởng khoa. Còn người khác thì chỉ được điều trị bởi bác sỹ của khoa, cao lắm là phó khoa. Muốn được bác sỹ trưởng khoa điều trị thì phải mua thêm, dóng thêm một số tiền nữa. Nằm nhà thương phòng một người. Còn các bệnh nhân khác thì nằm phòng 3 người, tối đa!. Muốn nằm phòng 2 người hay một mình mình thì phải trả thêm tiền cho bảo hiểm. Đi khám bệnh ở phòng mạch, thì người có bảo hiểm tư sẽ có thể có được những loại thuốc, được cho là " tốt hơn ".
    Ngoài ra có một số các phương pháp điều trị khác như châm cứu, thuốc " dân tộc ", trồng cấy răng mới (Implanta) thì phải mua bảo hiểm riêng, mua thêm.

    Ở Đức có cụm từ bệnh nhân hạng 2 là để chỉ tình trạng này.

    Dù sao ở Đức tất cả mọi người (100%) đều có bảo hiểm sức khỏe.
    Nếu không do công việc của mình trả, thì sẽ được sở xã hôi trả suốt đời.

    Nguyễn SG viết:

    Tôi lấy nick là "Nguyễn SG", họ Nguyễn, chứ không phải là "Khach SG". Nay bác đã đổi qua nick TuDo, tạm thời tôi sẽ vẫn giữ nick "Nguyễn SG".

    Bác Ngự viết sai là "Khach SG"

    Chào bác Ngự, ở một số nước có luật định rõ là chỉ được làm việc đến một tuổi nhất định nào đó. Sau đó phải nghỉ hưu để nhường chỗ cho người khác. Tôi thấy như vậy hợp lý hơn vì nó công bằng đối với các ứng cử viên khác. Điều này chắc chắn không cấm họ đi làm việc khác như consultant, dạy học, ...
    Ở cấp thẩm phán, chỉ được làm đến 65-67 tuổi mà thôi. Tôi ghi 70 tuổi như một data nào đó để ví dụ. Tại sao 67 tuổi, vì nếu đến 65 tuổi, ông thẩm phán này đang làm một công việc quan trọng nào đó dở dang, luật cho phép ông ta tiếp tục thêm vài năm. Nhưng điều này, sau 65 tuổi, tùy theo tòa án, không cấm ông ta trở thành thẩm phán danh dự (lãnh lương tượng trưng) thêm vài năm, sau khi không còn là thẩm phán chính quy

    Trước hết, tôi xin xin lỗi bác Nguyễn SG và bác TuDo về việc lẩm lẫn tên. Cũng chỉ vì rắng thì là . . . nhiều bác tham gia là với tính cách là Khách, mắt tôi lại . . . quáng gà nên lấy râu ông nọ cắm cầm bà kia.

    Việc ấn định tuổi nghỉ hưu, theo như tôi hiểu, có thể dựa trên ba nguyên tắc:

    1) Sức khoẻ của dân chúng nói chung (đến lúc nào thì được coi là hết xíu quách để phục vụ xả hội nên phải được nghỉ ngơi).

    2) Thị trướng lao động (nghỉ để nhường công việc cho người khác)

    3) Quỉ hưu bổng (Hoa Kỳ tăng tuổi nghỉ hưu chỉ vì con người ta sống dai quá mà quỉ hưu bổng thì cạn kiệt nên bà con ráng làm thêm để đóng thuế và hoãn lảnh phúc lợi. . . đúng là tư bản. . . bóc lột).

    Đối với chức vụ TPTC thì tôi không nghĩ đó là một . . . thị trường lao động như nhửng thị trường lao động khác. Cái mà người ta cần ở chức vụ đó là Wisdom. Ngoài ra, củng vì cái life-time appoitnment mà người ta cân nhắc rất cẩn thận khi lựa chọ nhất là khi ứng viên còn trẻ tuổi (thí dụ cở 40) bời vì khi được chọn rồi thì vị thẩm phán này sẽ ngồi ít ra là 30 năm, trừ khi . . . chết bệnh.

    Tuy vậy, tôi củng đống ý với bác là life-time appointment cho thầm phán TCPV củng gây ra nhiều bất tiện, như trường hợp Justice Thomas, người luôn đưa ra các ý kiến đi ngược lại với trào lưu tiến hoá của nhân loại. Tôi luôn luôn tâm nguyên là khi nghe tin Justice Thomas nghĩ hưu thì tôi sẽ đi mua ngay một con gà đi bộ về trước hết để cúng cảm ơn trời phật, sau là đẻ ăn mừng.

    NimarxNiJesus viết:
    Canada và nhiều quốc gia khác với chế độ đại nghị vẫn có tam quyền phân lập đấy chứ, chính phủ và thủ tướng đều nằm trong quốc hội cả và quốc hội vẫn là cơ cấu ban hành luật , giám sát việc làm của chính phủ, thực sự thì tôi thấy VN tổ chức hệ thống nhà nước khá giống các nước này nếu sau này, VN có đa đảng .

    Tôi nghĩ rằng tam quyền phân lập là ở trách nhiệm của các vị lãnh đạo, ông thủ tướng khi ngồi trong quốc hội thì phải quên rằng mình chỉ là đại diện dân cử tại một địa phương nhỏ bé và khi dịa phương của mình có vấn đề thì lại phải trong trách nhiệm đại biểu thật rõ ràng .

    Thí dụ như vụ Tiên Lãng, lẽ ra thủ tướng Dũng lại phải can thiệp mạnh mẽ hơn trong vai trò đại biểu QH giống như ở đây .

    Thưa bác NiNi,

    Tôi đồng ý hoàn toàn với bác là nguyên tắc tam quyền phân lập là vai trò (roles) của ba bộ phận hành pháp, lâp pháp, và tư pháp phải độc lập. Tôi củng đồng ý với bác là ở Canada và các nước theo chế độ đại nghị thủ tướng và đa số trong nghị viện (quốc hội) ở cùng một đảng. Như tại Anh thì thủ lảnh phe đa số trong quốc hội sẽ trở thành thủ tướng.

    Nhưng điều đó không có nghĩa là thủ tướng (hành pháp) củng đóng luôn vai trò đại biểu quốc hội (lập pháp) bởi vì một người không thể cùng một lúc đóng hai vai trò khác nhau trong cùng một lúc. Cái này người ta gọi là conflict of interests - mà đả gọi là có conflict of interest thì không thể nào độc lập đươc. Cái vụ một người đóng hai vai trong một lúc hình như trong tâm lý học người ta gọi là . . . đa nhân cách - multiple personalities hay . . . thần kinh phân liệt . . . bác nào là chuyên gia thần kinh học giúp tôi với.

    Bác cứ tưởng tượng trong các phiên họp quốc hội chất vấn chính phủ, mà đa số các thành phần trong nội các chính phủ ở VN đều là . . . đại biểu quốc hội, thì chẳng lẻ các ông/bà ấy lại chất vần chính mình à, mà tôi thì cho là chỉ có các người có multiple personalities với có thể đóng nổi hai vai một lúc như thế. Cứ tưởng tượng đại biểu quốc hội Nguyền Tấn Dũng, đơn vị Hải Phòng, chất vần thủ tướng Nguyển Tần Dủng về vụ Tiên Lảng, rồi cử tưởng tượng cá nhân Nguyển Tấn Dủng tự hỏi và tự trả lời. Vì thế cho nên tôi thấy cái mô hình chính phủ ở VN không thể gọi là tam quyền phân lập và khác xa vạn dặm với chính thể đại nghị ở Anh hay ở Canada

    Còn cái vụ y tế thì tôi nghĩ mô hình nào củng có ưu và khuyết điểm, và tựu trung có bốn vấn đề thể hiện các quan điểm khác nhau về y tế: 1) một nền y tế với kỷ thuật cao nhưng không đến được với mọi tầng lớp dân chúng; 2) một nền y tế với kỷ thuật thấp hơn (nhưng không tồi) nhưng đến được với mọi người; 3) phúc lợi y tế là một quyền lợi (right) hay là một đạc quyền (privilege); 4) y tế là dịch vụ xã hội (social service) hay một sảm phẩm thương mại (commodity). Mỗi cá nhân khi trả lời các câu hỏi này sẽ tìm ra được đáp số cho mô hình y tế.

    Phan Sơn viết:
    Trói chân + trói tay viết:
    Bác Ngự, bác Phan Sơn,

    Tôi đang rảnh, đóng góp ý kiến một chút.

    “tam quyền phân lập” vẫn không ngăn được sự việc là một đảng (hiện nay là Cộng hòa) chiếm đa số trong lưỡng viện QH. Đúng vậy và chuyện này tự nhiên. Ở Mỹ, khoảng giữa nhiệm kỳ, có bầu cử lại QH và lúc này đảng nắm hành pháp có thể mất đa số ở một trong hai viện QH hoặc cả hai viện.

    Nhưng từ đó tìm cách thâu tóm quyền lực, dẫn đến trạng huống “two-party duopoly” là do cách tổ chức bầu cử "liên bang" của Mỹ tạo ra kết quả này.

    Ở các nước khác ví dụ như ở Pháp tổ chức hai vòng thì khó có việc chỉ có hai đảng "duy nhất" duopoly. Thông thường chỉ có hai ứng cử viên UMP và PS vào vòng hai nhưng thời ông Chirac, đảng PS bị đảng của Le Pen loại, không vào được vòng hai. Nhưng ở cấp địa phương như tỉnh, quận, kết quả là "đa đảng" UMP, Modem, PS, ...

    Nền dân chủ ở EU (Political Democracy in Europe). Chế độ đa đảng ở EU xem ra lại dễ đem lại sự đồng thuận (consensus). Lối bỏ phiếu theo tỷ lệ (proportional voting) ở EU khiến cho các vị dân cử phải đáp ứng nguyện vọng của cử tri hơn là lối “winner-take-all” của Mỹ.

    Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang đề nghị Chính phủ Đan Mạch và Chính phủ Thụy Điển tư vấn cải cách thể chế theo mô hình của EU.

    Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường. Mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan, nhưng có thể nói, một số lĩnh vực của nền kinh tế còn bị ảnh hưởng của thời kỳ kinh tế tập trung và Hà Nội đang quyết tâm nhanh chóng chuyển sang kinh tế thị trường. Vì vậy, cùng với việc đáp ứng các yêu cầu của một số nước thành viên WTO (không muộn hơn ngày 31/12/2018), việc cải cách thể chế, sửa đổi hiến pháp xóa bỏ sở hữu toàn dân, thay thế bằng các khái niệm khác, cũng là yêu cầu khách quan, nội tại của nền kinh tế.

    Cám ơn chị Ngự đã có cuộc trao đổi thú vị, hẹn gặp lại vào dịp khác.

    Bác Tran Thi Ngự, bác Phan Sơn và các bác,

    Nền dân chủ ở EU (Political Democracy in Europe). Chế độ đa đảng ở EU xem ra lại dễ đem lại sự đồng thuận (consensus). Lối bỏ phiếu theo tỷ lệ (proportional voting) ở EU khiến cho các vị dân cử phải đáp ứng nguyện vọng của cử tri hơn là lối “winner-take-all” của Mỹ.

    Đây là một ưu điểm nhưng nó lại có nhược điểm khác : tìm kiếm liên minh.

    Việc tìm kiếm liên minh các đảng sao cho đủ tỷ lệ để lập chính phủ, có thể làm cho thời gian thành lập chính phủ rất lâu, nếu có vấn đề

    Một vài đảng nhỏ có thể thất hứa với cử tri nếu phải liên minh với các đảng không cùng khuynh hướng

    Nếu tỷ lệ khá gần giữa hai đảng đứng đầu A (33%), B (30%).
    Và các đảng còn lại C (17%), D (15%), E (8%) ... thì việc liên minh giữa A, C, D cho đủ 65% để loại B là hoàn toàn có thể xảy ra và như vậy có phần phản dân chủ ! Nên nhớ B được gần 1/3 cử tri ủng hộ

    Số lượng đảng phái sẽ có thể rất nhiều, cần có giải pháp quản lý tốt

    Tôi thích cách tổ chức bầu cử của Pháp hơn : vừa có cái giống Mỹ (loại trực tiếp theo 2 vòng cho hành pháp), vừa giống Thụy Điển, Đan Mạch (liên minh ở QH)

    Phan Sơn viết:
    Trích dẫn:
    Hoa Kỳ tuy là một siêu cường, nhưng hệ thống y tế lại không bằng các quốc gia tiên tiến khác (EU universal health care). Từ lâu người Mỹ đã nỗ lực để cải cách hệ thông y tế đó. Đỉnh cao của nổ lực đó thể hiện bằng đạo luật Affordable Care Act, được Quốc hội thông qua và Tổng thống ký ban hành năm 2010. Nhưng từ đó đến nay sự chống đối những cải cách của Đạo luật vẫn còn mạnh; chuyển từ mặt trận lập pháp qua mặt trận tố tụng. Kể từ ngày ban hành, Đạo luật đã liên tiếp bị kiện, và nay thì đang được đưa ra trước Tối cao Pháp viện. Tòa này đã nghe xong phần tranh luận và sẽ công bố phán quyết cho số phận của Đạo luật vào tháng Sáu tới.

    Vụ kiện không chỉ đơn thuần là vấn đề hệ thống y tế và những cải cách đối với hệ thống đó, mà còn bộc lộ một số vấn đề rất căn bản của sự phân quyền trong nền dân chủ Mỹ, đáng được chú ý tìm hiểu và học hỏi; nhất là cho những ai đang quan tâm tìm kiếm một mô hình dân chủ cho Việt Nam.

    ...

    Vấn đề đặt ra cho những người thăm dò là khi đặt ra câu hỏi, họ có hiểu người dân suy nghĩ cặn kẽ, thấu đáo đến mức nào về luật cải cách y tế để có câu trả lời có ý nghĩa, hay chỉ nhận xét chung chung và đơn giản như chuyện bắt người dân mua bảo hiểm hay không?

    Bảo hiểm Y tế ra Tòa án Tối cao

    Nó cũng giống như :

    http://danluan.org/node/12318#comment-56162

    Admin gửi lúc 18:05, 14/04/2012 - mã số 56162

    Một bình luận của độc giả VnEconomy mà tôi rất đồng cảm:

    Khi đọc kết quả của cuộc điều tra này, tôi có một phân vân nhỏ. Liệu những người được mời trả lời bản câu hỏi này có thật sự hiểu được định nghĩa chính xác của cụm từ "kinh tế thị trường". Kết quả trái ngược của bản báo cáo dường như chỉ ra rằng việc người Việt yêu thích cụm từ "kinh tế thị trường" là kết quả của việc tuyên truyền thông qua báo chí và các phương tiện truyền thông.

    Tran Thi Ngự viết:
    Phan Sơn viết:
    Tran Thi Ngự viết:
    … Do đó, Tối cao Pháp viện chính là đại diện cho toàn dân trong quá trình thực hiện quyền làm chủ.

    Tôi chưa hiểu tại sao đã là "tam quyền phân lập" mà ở Mỹ thì các Thẩm phán Tối cao Pháp viện (Tư pháp) lại do Tổng thống (Hành pháp) đề cử và phải đợi Lưỡng viện (Lập pháp) thông qua? Chị có thể giải thích thêm.

    Thưa bác Phan Sơn,

    Theo tôi hiểu, "tam quyền phân lập" có nghỉa là tư cách đại diện cho ba quyền này phải độc lập. Thí dụ, một người không thể vưà có chức vụ trong hành pháp như thủ tướng, lại cùng một lúc có chức vụ trong lập pháp như đại biểu quốc hội, bởi vì không thể "thân này ví sẻ làm hai được." Còn việc đề cử (nomination) có lẽ là để tránh việc tổ chức bầu cử tốn kém (tuy nhiên như tôi đả giải thích ở môt post khác, thẩm phán cấp tiểu bang thường được chọn do bầu cử).

    Việc hành pháp để cử và phải có quốc hội chuẩn y là để bảo đảm quân bình quyền lực (check and balance), bởi nếu chỉ có TT bổ nhiệm thôi thì quyền của hành pháp to quá. Nều các bác có theo dỏi các vụ đề cử và chuẩn y thẩm phán TCPV thì sẻ thầy nó rất căng thẳng (như trường hợp Justice Thomas). Trước đó cả tháng trời là báo chí bàn ra, tán vô, rồi có nhửng vị dân cử đe doạ sẻ chống. Trong thơì gian chuẩn y, ứng viên sẻ "được" các thành viên quốc hội "quay như dế." Nhiều người từ chối không muốn đươc đề cử vì không muốn trải qua các "gian khổ" trong việc quốc hội chuẩn y. Nhưng tất cả là để bảo đảm quân bình quyền lực và sự độc lập tư pháp.

    @ Chị Trần thị Ngự .

    Canada và nhiều quốc gia khác với chế độ đại nghị vẫn có tam quyền phân lập đấy chứ, chính phủ và thủ tướng đều nằm trong quốc hội cả và quốc hội vẫn là cơ cấu ban hành luật , giám sát việc làm của chính phủ, thực sự thì tôi thấy VN tổ chức hệ thống nhà nước khá giống các nước này nếu sau này, VN có đa đảng .

    Tôi nghĩ rằng tam quyền phân lập là ở trách nhiệm của các vị lãnh đạo, ông thủ tướng khi ngồi trong quốc hội thì phải quên rằng mình chỉ là đại diện dân cử tại một địa phương nhỏ bé và khi dịa phương của mình có vấn đề thì lại phải trong trách nhiệm đại biểu thật rõ ràng .

    Thí dụ như vụ Tiên Lãng, lẽ ra thủ tướng Dũng lại phải can thiệp mạnh mẽ hơn trong vai trò đại biểu QH giống như ở đây .

    Lạm bàn thêm về bảo hiểm y tế : Hoa Kỳ đang lần mò vào trong khi thực tế cho thấy : hệ thống bảo hiểm y tế ở Canada cũng có nhiều khiếm khuyết vì bị các người hành nghề và bệnh nhân thiếu lương tâm lạm dụng, có những bác sĩ chẩn bệnh với tốc độ " phi thường " 1 giờ ít nhất 12 bệnh nhân và 1 tuần chỉ làm 1,2 ngày vì chính phủ định mức thu nhập tối đa ; kiếm đủ rồi thì họ nghỉ hè .. cả năm, bệnh viện quá tải vì nặng nhẹ gì dân cũng đi , khám nghiệm không hạn chế nhưng giải phẫu thì phải chờ đến lượt và đã có người phải đi xứ khác chữa trị rồi .

    Nói chung, lãnh dạo hay bác sĩ ; ngành nào đi nữa thì con người cũng phải có tâm đi với tài còn điều hành thì vẫn cần các cơ quan kiểm soát không thì con người khó tránh được ... hủ hóa . Tôi nhận thấy ở đây, mấy đảng chiếm đa số phiếu nhiều nhiệm kỳ thì chính phủ ấy thế nào cũng có những lem nhem tài chánh như mấy vị làm thủ tướng nhiều hơn 1 nhiệm kỳ ở Canada trong 30 năm qua .

    Thủ tướng ăn bẩn :

    http://en.wikipedia.org/wiki/Airbus_affair

    Cũng may là dân họ có quyền bỏ phiếu một cách tự do cho nên từng có đảng chiếm đa số tuyệt đối cuối cùng chỉ còn 2 ghế sau bầu cử .

    Không còn là KhachSG viết:
    "Thông Báo:"

    Tôi thường lấy nick là KhachSG (viết liên tục), nhưng gần đây có bạn đọc khác lấy nick là Khach SG (có khoảng trông/space). Để tránh nhầm lẫn, từ giờ tôi sẽ không dùng nick KhachSG nữa. Cảm ơn đã đọc "Thông Báo" này.

    (nick mới) TuDo

    PS: Đã qua giai đoạn "sợ hãi" rồi nên cũng là dịp để đổi nick. (:=

    Chào bác TuDo (nick cũ KhachSG),

    Tôi lấy nick là "Nguyễn SG", họ Nguyễn, chứ không phải là "Khach SG". Nay bác đã đổi qua nick TuDo, tạm thời tôi sẽ vẫn giữ nick "Nguyễn SG".

    Bác Ngự viết sai là "Khach SG"

    Chào bác Ngự, ở một số nước có luật định rõ là chỉ được làm việc đến một tuổi nhất định nào đó. Sau đó phải nghỉ hưu để nhường chỗ cho người khác. Tôi thấy như vậy hợp lý hơn vì nó công bằng đối với các ứng cử viên khác. Điều này chắc chắn không cấm họ đi làm việc khác như consultant, dạy học, ...
    Ở cấp thẩm phán, chỉ được làm đến 65-67 tuổi mà thôi. Tôi ghi 70 tuổi như một data nào đó để ví dụ. Tại sao 67 tuổi, vì nếu đến 65 tuổi, ông thẩm phán này đang làm một công việc quan trọng nào đó dở dang, luật cho phép ông ta tiếp tục thêm vài năm. Nhưng điều này, sau 65 tuổi, tùy theo tòa án, không cấm ông ta trở thành thẩm phán danh dự (lãnh lương tượng trưng) thêm vài năm, sau khi không còn là thẩm phán chính quy

    Trích dẫn:
    Hoa Kỳ tuy là một siêu cường, nhưng hệ thống y tế lại không bằng các quốc gia tiên tiến khác (EU universal health care). Từ lâu người Mỹ đã nỗ lực để cải cách hệ thông y tế đó. Đỉnh cao của nổ lực đó thể hiện bằng đạo luật Affordable Care Act, được Quốc hội thông qua và Tổng thống ký ban hành năm 2010. Nhưng từ đó đến nay sự chống đối những cải cách của Đạo luật vẫn còn mạnh; chuyển từ mặt trận lập pháp qua mặt trận tố tụng. Kể từ ngày ban hành, Đạo luật đã liên tiếp bị kiện, và nay thì đang được đưa ra trước Tối cao Pháp viện. Tòa này đã nghe xong phần tranh luận và sẽ công bố phán quyết cho số phận của Đạo luật vào tháng Sáu tới.

    Vụ kiện không chỉ đơn thuần là vấn đề hệ thống y tế và những cải cách đối với hệ thống đó, mà còn bộc lộ một số vấn đề rất căn bản của sự phân quyền trong nền dân chủ Mỹ, đáng được chú ý tìm hiểu và học hỏi; nhất là cho những ai đang quan tâm tìm kiếm một mô hình dân chủ cho Việt Nam.

    Dân biểu Paul Ryan thuộc tiểu bang Wisconsin, chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ viện, đã đưa ra dự thảo ngân sách 2013-2014, chẳng phải nhằm mục đích cho ngân sách năm tới sớm, mà chỉ để nhắc nhở cho người ta thấy rằng đảng Cộng hòa vẫn là GOP. New York Times đã gọi đó là một “The careless House budget”.

    Tờ Washington Post gọi là “Paul Ryan’s dangerous and intentionally vague plan”. Tóm lại, Paul Ryan chủ trương xây dựng một ngân sách quân bình, bằng cách cắt giảm những khoản Medicare, Medicaid, hủy bỏ đạo luật ACA, kềm chế quyền hạn chính phủ liên bang bằng cách chuyển những khoản này cho tiểu bang, đồng thời, quan trọng nhất đối với những người Cộng hòa, là hạ thấp mức thuế suất cao nhất đánh vào giới tài phiệt (special interests).

    Người ta có thể viết đạo luật Affordable Care Act một cách khác để không đụng tới “điều khoản thương mại” (commerce clause). Thay vì nói: “Mọi người phải có bảo hiểm y tế, nếu không sẽ bị phạt tiền” thì có thể viết rằng: “Những người không có bảo hiểm y tế sẽ phải đóng thêm một thứ thuế.” Viết dưới hình thức mệnh lệnh bắt buộc (individual mandate), câu chuyện trở nên rắc rối.

    Đáng lẽ ông Obama có thể sẽ không lâm vào hoàn cảnh hiện nay, nếu ông cương quyết giữ ý kiến khi ra tranh cử vào năm 2008. Theo Wall Street Journal, tờ báo nghiêng về đảng Cộng hòa, sau khi vào Bạch Cung, ông Obama đã họp một nhóm chuyên gia nghiên cứu vấn đề này. Họ thấy một đạo luật với một mệnh lệnh bắt buộc sẽ có thêm 32 triệu người có bảo hiểm, trong số 46 triệu lúc bấy giờ. Họ nghiên cứu một giải pháp khác, có tính cách tình nguyện không bắt buộc, và thấy sẽ chỉ thêm được 16 triệu người có bảo hiểm. Nhưng, khi nhìn đến chi phí thì lại thấy chương trình thứ hai cũng tốn bằng 3/4 thứ nhất. Thế là, ông Obama tính toán lợi, hại, và thay đổi lập trường, nghiêng về giải pháp “mệnh lệnh.” Nếu đừng tính toán chi phí, nếu ông Obama cứ theo “triết lý chính trị” (political philosophy) của ông lúc ra tranh cử, thì chắc chắn sẽ không có vụ kiện hiện nay.

    Theo thăm dò của ABC News/Washington Post, người Mỹ chống luật này nói chung lên đến 52-41%. Có đến 67% cho rằng Tối cao Pháp viện phải hủy bỏ luật này hay ít nhất là bác bỏ điều khoản bắt buộc mọi người phải có bảo hiểm y tế.

    Cũng có đến 63% người dân chủ ủng hộ luật này, nhưng có đến 75% người cộng hòa muốn hủy bỏ. Trong số những người độc lập, tỷ lệ muốn hủy bỏ so với những người ủng hộ cũng lên đến 51%-43%. Nếu hủy bỏ điều khoản bắt buộc mọi người phải mua bảo hiểm y tế, thì hầu như đạo luật ACA sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

    Vấn đề đặt ra cho những người thăm dò là khi đặt ra câu hỏi, họ có hiểu người dân suy nghĩ cặn kẽ, thấu đáo đến mức nào về luật cải cách y tế để có câu trả lời có ý nghĩa, hay chỉ nhận xét chung chung và đơn giản như chuyện bắt người dân mua bảo hiểm hay không?

    Bảo hiểm Y tế ra Tòa án Tối cao

    "Thông Báo:"

    Tôi thường lấy nick là KhachSG (viết liên tục), nhưng gần đây có bạn đọc khác lấy nick là Khach SG (có khoảng trông/space). Để tránh nhầm lẫn, từ giờ tôi sẽ không dùng nick KhachSG nữa. Cảm ơn đã đọc "Thông Báo" này.

    (nick mới) TuDo

    PS: Đã qua giai đoạn "sợ hãi" rồi nên cũng là dịp để đổi nick. (:=

    Trói chân + trói tay viết:
    Bác Ngự, bác Phan Sơn,

    Tôi đang rảnh, đóng góp ý kiến một chút.

    “tam quyền phân lập” vẫn không ngăn được sự việc là một đảng (hiện nay là Cộng hòa) chiếm đa số trong lưỡng viện QH. Đúng vậy và chuyện này tự nhiên. Ở Mỹ, khoảng giữa nhiệm kỳ, có bầu cử lại QH và lúc này đảng nắm hành pháp có thể mất đa số ở một trong hai viện QH hoặc cả hai viện.

    Nhưng từ đó tìm cách thâu tóm quyền lực, dẫn đến trạng huống “two-party duopoly” là do cách tổ chức bầu cử "liên bang" của Mỹ tạo ra kết quả này.

    Ở các nước khác ví dụ như ở Pháp tổ chức hai vòng thì khó có việc chỉ có hai đảng "duy nhất" duopoly. Thông thường chỉ có hai ứng cử viên UMP và PS vào vòng hai nhưng thời ông Chirac, đảng PS bị đảng của Le Pen loại, không vào được vòng hai. Nhưng ở cấp địa phương như tỉnh, quận, kết quả là "đa đảng" UMP, Modem, PS, ...

    Nền dân chủ ở EU (Political Democracy in Europe). Chế độ đa đảng ở EU xem ra lại dễ đem lại sự đồng thuận (consensus). Lối bỏ phiếu theo tỷ lệ (proportional voting) ở EU khiến cho các vị dân cử phải đáp ứng nguyện vọng của cử tri hơn là lối “winner-take-all” của Mỹ.

    Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang đề nghị Chính phủ Đan Mạch và Chính phủ Thụy Điển tư vấn cải cách thể chế theo mô hình của EU.

    Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường. Mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan, nhưng có thể nói, một số lĩnh vực của nền kinh tế còn bị ảnh hưởng của thời kỳ kinh tế tập trung và Hà Nội đang quyết tâm nhanh chóng chuyển sang kinh tế thị trường. Vì vậy, cùng với việc đáp ứng các yêu cầu của một số nước thành viên WTO (không muộn hơn ngày 31/12/2018), việc cải cách thể chế, sửa đổi hiến pháp xóa bỏ sở hữu toàn dân, thay thế bằng các khái niệm khác, cũng là yêu cầu khách quan, nội tại của nền kinh tế.

    Cám ơn chị Ngự đã có cuộc trao đổi thú vị, hẹn gặp lại vào dịp khác.

    Phan Sơn viết:

    Chào chị Ngự,

    Theo như tôi hiểu, thì “tam quyền phân lập” vẫn không ngăn được sự việc là một đảng (hiện nay là Cộng hòa) chiếm đa số trong lưỡng viện rồi từ đó tìm cách thâu tóm quyền lực, dẫn đến trạng huống “two-party duopoly”?

    Nều như có một đảng chiếm đa số trong lưởng viện (gần như tình hình hiện nay với đa số CH ở Hạ Viện và khít khao đa số DC ở Thương Viện) thì củng không thê "thâu tóm" quyền lực được. Bời lý do là do "tam quyền phân lập" và "check and balance" có nghỉa là dù quốc hội có rất bảo thủ, thì củng còn tổng thống, người có quyền veto các luật do quốc hội làm ra. Nếu tồng thống củng cùng bảo thủ luôn thì củng còn tư pháp (TCPV).

    Trong thực tế, chưa bao giờ TCPV trờ thành hoàn toàn bảo thủ hay hoàn toàn liberal. Trong quá khứ đả hai lần TCPV được dẩn dắt bởi các chief justice do TT bảo thủ bổ nhiệm (Justice Warren do Eisenhower bổ nhiêm và Justice Burger do Nixon bổ nhiêm) nhưng chính trong hai thời kỳ này TCPV đả có nhửng phán quyềt ngoạn mục nhất trong lịch sử tư pháp của Mỹ. Tại sao? Bởi vì các vị phẩm phán này thực sự "độc lập" trong các suy xet của họ.

    Ngoài ra, các bầu cử giửa kỳ (bầu hạ viện và một phần thượng viện) hai năm sau khi bầu TT là cơ hội để điều chỉnh quân bình quyền lực. Hai năm đủ để cho người dân có nhận xét về việc làm của các "đầy tớ nhân đân" và sẻ dùng là phiếu để cho các "đầy tớ" này ra đi hay ngồi tiếp. Thực tế cho thấy lá phiếu của cử tri ở Mỷ nhiều phần biểu lộ phản ứng của người dân đối với các chính sách công (trừ các lá phiều trung thành với CH hay DC). Thực tế Obama thắng cử là nhờ các lá phiếu giận dử (angry votes) của các cử tri bất mản với đường lối của Bush. Thường đây là nhửng lá phiều của các cử tri "undecided" rất quan trọng vì họ có thể nghiêng vế phía CH hay DC tuỳ theo tình hình. Số cử tri này chíếm khoảng 1/3 nhửng ngừoi đi bầu, và càng ngày họ càng đông hơn.

    Khách SG viết:

    Bác Tran Thi Ngự, tôi đồng ý với nhận định của bác "Khách mới" về việc "một Pháp viện tối cao 9 người không thay đổi trong suốt thời gian dài là một nhược điểm".
    Việc làm thẩm phán gần như suốt đời, ad vitam æternam, life-time appointment, là điều vô lý. Bà thẩm phán Ruth Bader Ginsburg 79 tuổi ! Theo tôi nên giới hạn tuổi bắt buộc về hưu là 70 tuổi.

    Để tránh các vị phẩm phán sẻ không phải chịu áp lực từ phiá hành pháp hay lập pháp, có thể tìm solution khác.

    Thưa bác khách,

    Bác có thể giải thích tại sao lifetime appoitnment cho thẩm phán TCPV (hay các thẩm phán liên bang) là vô lý, và tại sao lại giới hạn 70 tuổi là phải về hưu? Hiện nay ở Mỷ, tuồi để được hường phúc lợi xả hội (social security benefits) là 65-66, nhưng không ai bị buộc về hưu bác ạ. Nều không thì sẻ bị coi là "age discrimination." Thực tế là nhiều người trên 65-66 đả hưởng phúc lợi xả hội rồi mà vẩn còn đi làm (như vậy lãnh hai "luơng"). Riêng đối với tôi thì việc phụ nử ở VN vế hưu ở tuổi 55 và nam giới ở tuổi 60 là về hưu "sớm quá."

    Bác có thể đề nghị một solution để tránh áp lực từ hành pháp hay tư pháp không?

    Tam quyền phân lập viết:
    Tôi thấy tốt nhất là nên có một viện cố vấn tư pháp (của ngành tư pháp), họ có một hội đồng chuyên trách việc tổ chức thi tuyển thẩm phán vào các chức vụ. Họ thiết lập một danh sách, có giá trị 3-4 năm, các ứng cử viên thẩm phán cho các loại toà án (tối cao, HP, ...). Như vậy danh sách này, của bên tư pháp, sẽ không do bên hành pháp và lập pháp can thiệp. Sau đó khi nào có thẩm phán của tòa án TC về hưu, tổng thống chỉ lựa một trong các vị ứng cử viên trong danh sách này và đề cử trước QH.

    Thưa bác tam quyền phân lập,

    Tôi không biết có nên "đẻ" ra thêm một cơ quan cố vấn nửa hay không. Trong thực tế, các tổng thống khi mới lên "ngôi" thường làm hàng loạt các đề cử vào các chức vụ tư pháp liên bang và chờ thuơng viện chuẩn y. Thường tổng thống có một ban cố vấn, và ban này sẽ lập danh sách các ứng viên sau khi tham khảo với Hội Đồng Luật Sư Mỷ (American Bar Association). Sở dỉ như vậy vì tất cả các vị muốn được làm thẩm phán thì trước hết phải có giấy hành nghề . . . luật sư (Bar license & membership). Hội Đồng luât sư ở Mỷ có thông tin về "công tác nghiệp vụ" của các "hội viên" nên họ biết ai hay, ai giỏi, ai có vần đề trong nghề nghiệp v.v. Do đó tham khảo với họ là chắc ăn. Ngoài ra, ban cố vấn còn thăm dò dư luận của giới chuyên môn (legal scholars) và "quần chúng nhân dân" qua các cơ quan truyền thông (các cơ quan truyến thông ở Mỷ hay các nước Âu Châu thường mướn các chuyên gia về luât pháp để viết các bài bình luận liên quan đến luật pháp). Làm như vậy để có trong danh sách nhửng người có nghiệp vụ giỏi, không có vần đề gì về đạo đức nghề nghiệp, do đó sẻ không gặp trờ ngại trong việc quốc hội chuẩn y.

    Phan Sơn viết:
    Tran Thi Ngự viết:
    Theo tôi hiểu, "tam quyền phân lập" có nghĩa là tư cách đại diện cho ba quyền này phải độc lập. Thí dụ, một người không thể vừa có chức vụ trong hành pháp như thủ tướng, lại cùng một lúc có chức vụ trong lập pháp như đại biểu quốc hội, bởi vì không thể "thân này ví sẽ làm hai” được. Còn việc đề cử (nomination) có lẽ là để tránh việc tổ chức bầu cử tốn kém (tuy nhiên như tôi đã giải thích ở một post khác, thẩm phán cấp tiểu bang thường được chọn do bầu cử).

    Chào chị Ngự,

    Theo như tôi hiểu, thì “tam quyền phân lập” vẫn không ngăn được sự việc là một đảng (hiện nay là Cộng hòa) chiếm đa số trong lưỡng viện rồi từ đó tìm cách thâu tóm quyền lực, dẫn đến trạng huống “two-party duopoly”?

    Bác Ngự, bác Phan Sơn,

    Tôi đang rảnh, đóng góp ý kiến một chút.

    “tam quyền phân lập” vẫn không ngăn được sự việc là một đảng (hiện nay là Cộng hòa) chiếm đa số trong lưỡng viện QH. Đúng vậy và chuyện này tự nhiên. Ở Mỹ, khoảng giữa nhiệm kỳ, có bầu cử lại QH và lúc này đảng nắm hành pháp có thể mất đa số ở một trong hai viện QH hoặc cả hai viện.

    Nhưng từ đó tìm cách thâu tóm quyền lực, dẫn đến trạng huống “two-party duopoly” là do cách tổ chức bầu cử "liên bang" của Mỹ tạo ra kết quả này.

    Ở các nước khác ví dụ như ở Pháp tổ chức hai vòng thì khó có việc chỉ có hai đảng "duy nhất" duopoly. Thông thường chỉ có hai ứng cử viên UMP và PS vào vòng hai nhưng thời ông Chirac, đảng PS bị đảng của Le Pen loại, không vào được vòng hai. Nhưng ở cấp địa phương như tỉnh, quận, kết quả là "đa đảng" UMP, Modem, PS, ...

    Ngoài ra cho dù là chiếm đa số ở QH, chưa chắc nắm được bên tòa án.
    Và phải hiểu rằng tam quyền phân lập ngoài sự độc lập về hoạt động, về chức năng và về người, họ còn độc lập hoạt động với các đảng phái. Ông Chirac, cựu tổng thống, vẫn bị tòa án kết án cho dù đảng UMP của ông đang nắm hành pháp (tổng thống, thủ tướng) và lập pháp (đa số) và có thể vị chánh án kết án ông Chirac là đảng viên của UMP. Việc nào ra việc nấy, chánh án là chánh án ở tòa án chứ không phải là đảng viên ở tòa án

    Ở các nước có hệ thống bầu cử một vòng như Hòa Lan, khó có đảng nào chiếm được trên 65% để tự thành lập chính phủ. Họ phải liên kết với các đảng khác để có đủ ít nhất 65% đại biểu ở chính phủ trung ương.

    Các cấp địa phương có thể có kết quả bầu cử khác vì có các danh sách "độc lập", "không thuộc đảng nào cả" ở cấp quận (thường là quận nhỏ)

    Ở VN cho dù có các đủ institutions như chính phủ, tòa án, QH, ... nhưng không hề độc lập nhau (vừa đại biểu, vừa thủ tướng) mà mọi sinh hoạt lại phải theo lãnh đạo của đảng CSVN, nhưng không có luật cụ thể cho phép lãnh đạo như thế nào !

    Ví dụ thủ tướng Dũng, đại biểu QH, bí thư ban cán sự đảng !
    Vừa bị cột theo hàng ngang hành-lập, vừa bị trói hàng dọc đảng-hành

    Tran Thi Ngự viết:
    Theo tôi hiểu, "tam quyền phân lập" có nghĩa là tư cách đại diện cho ba quyền này phải độc lập. Thí dụ, một người không thể vừa có chức vụ trong hành pháp như thủ tướng, lại cùng một lúc có chức vụ trong lập pháp như đại biểu quốc hội, bởi vì không thể "thân này ví sẽ làm hai” được. Còn việc đề cử (nomination) có lẽ là để tránh việc tổ chức bầu cử tốn kém (tuy nhiên như tôi đã giải thích ở một post khác, thẩm phán cấp tiểu bang thường được chọn do bầu cử).

    Chào chị Ngự,

    Theo như tôi hiểu, thì “tam quyền phân lập” vẫn không ngăn được sự việc là một đảng (hiện nay là Cộng hòa) chiếm đa số trong lưỡng viện rồi từ đó tìm cách thâu tóm quyền lực, dẫn đến trạng huống “two-party duopoly”?

    Tran Thi Ngự viết:
    Phan Sơn viết:
    Tran Thi Ngự viết:
    … Do đó, Tối cao Pháp viện chính là đại diện cho toàn dân trong quá trình thực hiện quyền làm chủ.

    Tôi chưa hiểu tại sao đã là "tam quyền phân lập" mà ở Mỹ thì các Thẩm phán Tối cao Pháp viện (Tư pháp) lại do Tổng thống (Hành pháp) đề cử và phải đợi Lưỡng viện (Lập pháp) thông qua? Chị có thể giải thích thêm.

    Thưa bác Phan Sơn,

    Theo tôi hiểu, "tam quyền phân lập" có nghỉa là tư cách đại diện cho ba quyền này phải độc lập. Thí dụ, một người không thể vưà có chức vụ trong hành pháp như thủ tướng, lại cùng một lúc có chức vụ trong lập pháp như đại biểu quốc hội, bởi vì không thể "thân này ví sẻ làm hai được." Còn việc đề cử (nomination) có lẽ là để tránh việc tổ chức bầu cử tốn kém (tuy nhiên như tôi đả giải thích ở môt post khác, thẩm phán cấp tiểu bang thường được chọn do bầu cử).

    Việc hành pháp để cử và phải có quốc hội chuẩn y là để bảo đảm quân bình quyền lực (check and balance), bởi nếu chỉ có TT bổ nhiệm thôi thì quyền của hành pháp to quá. Nều các bác có theo dỏi các vụ đề cử và chuẩn y thẩm phán TCPV thì sẻ thầy nó rất căng thẳng (như trường hợp Justice Thomas). Trước đó cả tháng trời là báo chí bàn ra, tán vô, rồi có nhửng vị dân cử đe doạ sẻ chống. Trong thơì gian chuẩn y, ứng viên sẻ "được" các thành viên quốc hội "quay như dế." Nhiều người từ chối không muốn đươc đề cử vì không muốn trải qua các "gian khổ" trong việc quốc hội chuẩn y. Nhưng tất cả là để bảo đảm quân bình quyền lực và sự độc lập tư pháp.

    Các bác Tran Thi Ngự, Phan Sơn,

    "tam quyền phân lập" có nghỉa là tư cách đại diện cho ba quyền này phải độc lập và họ chỉ tuân theo nguyên tắc hoạt động trong ngành của họ mà thôi.

    Ví dụ :
    - thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hành pháp, không thể chỉ đạo hoặc yêu cầu tòa án Hải Phòng hoặc chánh án TAND TC Trương Hòa Bình. Ông ta, TT Dũng phải từ chức đại biểu QH.

    - chánh án TAND TC Trương Hòa Bình, tư pháp, không được tuân theo nghị quyết của bất kỳ đảng phái nào. Hơn nữa ông ta phải từ chức tướng công an + đại biểu QH.

    Việc tổng thống (hành pháp) đề cử hoặc chỉ định thẩm phán thì tùy theo HP của mỗi nước.

    Nếu trong HP có ghi chức năng của tổng thống giám sát việc nhà nước tôn trọng HP thì tổng thống có thể chỉ định thẩm phán vì sau đó ông ta không can thiệp vào công việc của tòa án (tư pháp). Đôi khi tổng thống chỉ có các chức vụ nghi thức, nghi lễ mà thôi như ở Đức

    Tôi thấy tốt nhất là nên có một viện cố vấn tư pháp (của ngành tư pháp), họ có một hội đồng chuyên trách việc tổ chức thi tuyển thẩm phán vào các chức vụ. Họ thiết lập một danh sách, có giá trị 3-4 năm, các ứng cử viên thẩm phán cho các loại toà án (tối cao, HP, ...). Như vậy danh sách này, của bên tư pháp, sẽ không do bên hành pháp và lập pháp can thiệp. Sau đó khi nào có thẩm phán của tòa án TC về hưu, tổng thống chỉ lựa một trong các vị ứng cử viên trong danh sách này và đề cử trước QH.

    Khách mới viết:
    Tôi muốn cám ơn tác giả Trương Đình Trung vì bài viết rất chất lượng, rõ ràng, nhiều thông tin. Những lời bình cũng là những lời tranh luận có giá trị.

    Tôi xem lại wiki về Supreme Court của Mỹ và thấy nó bất hợp lý ở chỗ, các thẩm phán có nhiệm kỳ vô hạn định cho đến khi họ từ chức, nghỉ hưu hoặc phạm luật nên bị Quốc hội bãi chức. Xem lại lịch sử PVTC sẽ thấy có những lúc thẩm phán được bổ nhiệm rất nhiều (do người khác mất chức, hoặc ốm chết chẳng hạn) nhưng có lúc cả chục năm không thay đổi. Như vậy giả sử các thẩm phán được bầu lên vào thời kỳ Tổng thống và Thượng viện do Đảng cộng hòa chiếm đa số thì nước Mỹ sẽ có một Pháp viện Tối cao mang tư tưởng bảo thủ, phải không ạ? Bởi vì rõ ràng các thẩm phán có thiên kiến chính trị của riêng họ và diễn giải luật theo tư tưởng ấy, dù họ có cố gắng công chính như thế nào chăng nữa.

    Theo tôi, việc một Pháp viện tối cao 9 người không thay đổi trong suốt thời gian dài là một nhược điểm. Họ có thể không đại diện được cho ý nguyện của người dân vào thời điểm sau này nữa, và người dân cũng không thể bầu người khác thay thế họ. Vậy phải tìm cách hạn chế cái nhược điểm đó đi chứ.

    Dĩ nhiên người Mỹ hiểu nhiều hơn tôi về cái hệ thống của chính họ và có thể họ có những lý do khác để không thay đổi. Tôi chỉ dám lạm bàn chút trong khuôn khổ những gì mình thấy mà thôi.

    Thanks bác Trương Đình Trung cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình hình bảo hiểm sức khỏe của Mỹ.

    Bác Tran Thi Ngự, tôi đồng ý với nhận định của bác "Khách mới" về việc "một Pháp viện tối cao 9 người không thay đổi trong suốt thời gian dài là một nhược điểm".
    Việc làm thẩm phán gần như suốt đời, ad vitam æternam, life-time appointment, là điều vô lý. Bà thẩm phán Ruth Bader Ginsburg 79 tuổi ! Theo tôi nên giới hạn tuổi bắt buộc về hưu là 70 tuổi.

    Để tránh các vị phẩm phán sẻ không phải chịu áp lực từ phiá hành pháp hay lập pháp, có thể tìm solution khác

    Pages