GS Tương Lai - "Vòng tròn nhỏ" trong "vòng tròn lớn"

  • Bởi Admin
    31/03/2012
    71 phản hồi

    GS Tương Lai

    Đứng trước những bậc đàn anh thâm niên trong ngày giáo dục, tôi rất xấu hổ là mình đã chuyển nghề từ dạy học sang Viện nghiên cứu, cho dù thỉnh thoảng có đến giảng bài theo chuyên đề ở một vài trường Đại học, cho nên hôm nay, tôi không dám phát biểu thẳng vào giáo dục mà phải đi đường vòng.

    Đúng hơn, là từ cái "vòng tròn lớn" để nói về cái "vòng tròn nhỏ" nằm trong cái "vòng tròn lớn" đó. Bởi lẽ, sẽ không thể nào hiểu, không thể nào tìm giải pháp chiến lược cho hệ thống giáo dục và đào tạo khi không đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn mà giáo dục đào tạo là một bộ phận của cái toàn thể ấy.

    Vì thế, tôi phải bắt đầu từ xã hội. Nhưng, “Xã hội-cho dù nó có hình thức gì đi nữa- là cái gì? là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không, C.Mác đặt ra câu hỏi để rồi trả lời: Tuyệt đối là không” [C.Mác& PhAngghen Toàn tập, Tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 657]. Lọt lòng mẹ, con người đã có sẵn một xã hội mà nó không có quyền chọn lựa, cũng giống như đứa trẻ không chọn lựa được nơi nó sinh ra, không thể lựa chọn cha mẹ. Bức tường xã hội đã có trước khi chúng ta sinh ra, chúng ta bị giam hãm trong những bức tường đó bởi chính sự hợp tác tự nguyện hay không tự nguyện của chúng ta, cũng có nghĩa là chúng ta cũng góp phần củng cố những bức tường đó hay đập phá nó đi. “Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta” [Berger]

    Sự tác động qua lại trong mối quan hệ giữa người và người đã xây đắp nên những bức tường xã hội ấy hay làm rạn nứt, sụp đổ cũng những bức tường đó. Bức tường theo ý nghĩa trừu tượng. Nhưng cũng có những bức tường theo nghĩa đen trần trụi của nó: “Bức tường Berlin” chẳng hạn. Đây là “bức tường ý thức hệ”! Muôn hiểu về sự xuống cấp và quá lạc hậu của hệ thống giáo dục đào tạo phải đi sâu vào vấn đề "ý thức hệ" này. Đấy chính là "vấn đề của vấn đề", nhưng cũng là mấp mé với khả năng quy kết là "phản cách mạng, chống Đảng" đây, nhẹ hơn là mất quan điểm lập trường, và thời thượng là có biểu hiện "diễn biến hóa bình". Nhưng đây là Hội nghị khoa học, mà khoa học thì phải để cho giới khoa học được "mở miệng ra". Cho nên tôi xin được "mở miệng" trước anh Vũ Ngọc Hoàng.

    Căn bệnh của não trạng và hành vi lấy một lý luận chính trị, xã hội làm chân lý tuyệt đối và duy nhất, loại trừ và thủ tiêu mọi lý luận, mọi tư tưởng chính trị khác đã là một căn bệnh lâu đời của loài người. Từ khoảng đầu thế kỷ XX căn bệnh ấy được gọi là căn bệnh tôn sùng “ý thức hệ”, sống và đấu tranh với nhau vì “ý thức hệ”. Cái tên gọi ấy có xuất xứ từ Tây Âu. Căn bệnh ấy phân chia cả loài người và từng dân tộc, từng quốc gia, cho đến từng gia đình thành phe ý thức hệ này đối lập sống chết vơí phe “ý thức hệ” khác.

    Tình hình này rõ nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong chiến tranh lạnh. Bệnh ý thức hệ ấy ở Mỹ, Âu không kém gì ở Liên Xô và Trung Quốc thời ấy. “Chủ nghĩa Mắc Cácty” ở Mỹ, một quái thai ghê tởm, là một ví dụ. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bệnh “ý thức hệ” vẫn còn rất nặng ở quy mô cả loài người, từng quốc gia, thậm chí từng gia đình chứ không hết và chưa chắc đã nhẹ bớt đi. Ví như cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ “tân tự do” với “ý thức hệ”, đúng hơn, với những lợi ích dân tộc và cá nhân, chống lại ý thúc hệ “tân tự do” là rất sâu và không kém phần đối nghịch.

    Nêu lên điều này để nói rằng, không phải những người cộng sản khởi xướng ra bệnh “ý thức hệ”, mà là đưa thêm vào trong khái niệm đó những biến thái mới. Ở ta cũng từng có những mong muốn chuyển “ý thức hệ Mác-Lênin thành ý thức hệ của toàn dân! Từ Đại hội VI, với tư duy “Đổi Mới”, chúng ta thấy rõ đó là một sản phẩm duy ý chí, lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Bởi thế mới có được Cương Lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam được biểu quyết thông qua tại Đại hội VI của Mặt Trận năm 2004 với sự khẳng định: “đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đầt nước vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.

    Xác lập được điều này chính là một bước đột phá quan trọng, đưa nhận thức trở lại đúng với quy luật vận động của cuộc sống, từ đấy mà mở ra một cục diện mới, rất mới. Bởi lẽ, phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Tiến hóa qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tư nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, chứ không chịu tìm cách thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm được khả năng cùng thắng.

    Nhưng đã một thời, “ai thắng ai” là một nguyên lý có ý nghĩa định hướng cho cách tư duy, không chỉ của một nhóm người, mà là tác động đến toàn xã hội. Mọi sinh hoạt trong đời sống chính trị của đất nước đều nằm trong “vùng phủ sóng” của kiểu tư duy “ai thắng ai” trong cuộc đấu tranh giai cấp vốn được xem là động lực của phát triển xã hội. “Ai thắng ai” ngay khi chính quyền đã thuộc về nhân dân, mọi người dân đều được xác lập vị trí làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

    Vậy thì, “ai” đây là “ai”, ai thắng ai trong một đất nước mà nhân dân đã phải trả cái giá cho quyền làm chủ vừa giành được ấy bằng máu và nước mắt trong hy sinh chiến đấu của nhiều thế hệ Việt Nam.. Vì có chuyện “ai thắng ai” đó, mà phải kiên trì mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường; mới có cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế mà ngày nay được xác lập là lực lượng xung kích trong hội nhập và phát triển. Giờ đây thì đã có thể nói rõ sai lầm của chuyện “quay lưng lại với biết bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những cái giá đắt nhất phải trả” ấy mà Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra trong “Văn hóa và Đổi mới” xuất bản năm 1994.

    Cái giá đắt nhất chính là kéo lùi đất nước lại cả một thập kỷ, để vuột mất những cơ hội của hội nhập và phát triển. Thậm chí khi đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, nền kinh tế và các nhà doanh nghiệp của ta vẫn còn phải gánh chịu những bất lợi do vẫn bị xem là “nền kinh tế phi thị trường”, và rồi phải phấn đấu thêm 12 năm nữa, những bất lợi ấy mới được bước đầu xóa bỏ. Chẳng hạn như, khi chưa được xem là nền kinh tế thị trường thực thụ, thì Hiệp định về bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO sẽ chưa cho chúng ta cơ hội để cứu vãn tình thế bất lợi. Thế là sẽ còn “mất công mười mấy năm thừa ở đây”! Nhưng dù sao thì cũng chỉ là 12 năm chứ không đến nỗi “đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”!

    Quả là, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, nếu không dứt bỏ kiều tư duy “ai thắng ai” đó, thì không thể nào chân thành đoàn kết và xác định rõ “đồng thuận” chính là động lực của phát triển. Nhưng xem ra không phải là cái di lụy của “ai thắng ai” không còn gây ảnh hưởng chỗ này chỗ kia, lúc này lúc khác khiến cho công cuộc đổi mới không tránh khỏi những trắc trở gập ghềnh, đã có lúc “bước đi một bước, giây giây lại dừng”. Đúng là cất bỏ gánh nặng tư tưởng của một thời quả là không đơn giản.

    Không đơn giản, song nếu không sòng phẳng về mặt lý luận để có sự tường minh trong nhận thức thực tiễn, trong việc hoạch định các giải pháp phù hợp với một thời kỳ mới mà vận nước đang thôi thúc mỗi một người Việt Nam muốn góp phần mình vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Nếu không sòng phẳng về lý luận, khẳng định rõ đồng thuận là động lực, đại đoàn kết là động lực chứ không phải đấu tranh giai cấp là động lực như trước đây, thì không thể thúc đây sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để và toàn diện được. Mà trong thực tế, lực cản của Đổi Mới là quá lớn. Không thể tiếp tục Đổi Mới, nếu không chỉ rõ cội nguồn của lực cản ấy.

    Xin hãy dừng lại ở một ví dụ sau đây:

    Đã từng một thời có những câu thơ bốc lửa giục giã con người đi làm cách mạng “Đi đi em can đảm bước chân lên / Ừ đói khổ phải đâu là tội lỗi!”. Đúng vậy, và rồi “Nuôi đi em cho đến lớn, đến già ? Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu / Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu” thì giờ đây ngẫm lại có cái gì không ổn! Mà không ổn từ chính logic của hệ tư tưởng:

    Xin giải thích bằng một câu chuyện trong “Thế giới phẳng”, một cuốn sách bán chạy nhất của người đã đoạt giải thưởng Pulizer, và theo nhận xét của J. E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế: “Đặc điểm của một cuốn sách hay là nó khiến bạn nhìn nhận mọi thứ theo một nhãn quan mới, và xét theo tiêu chí này thì Friedman đã thật sự thành công”. Chuyện rằng: “Một người bạn Hồi giáo vùng Nam Á của tôi đã có lần kể cho tôi nghe câu chuyện như sau: Gia đình Hồi giáo Ấn Độ của anh ta bị chia ly vào năm 1948, một nửa sang Pakistan và một nửa ở lại Mumbai. Khi lớn lên, anh ta hỏi cha mình tại sao một nửa gia đình ở Ấn Độ lại có vẻ làm ăn tốt hơn nửa gia đình ở Pakistan. Cha anh nói: “Con ạ, khi một người Hồi giáo lớn lên ở Ấn Độ và trông thấy một người sống trong một tòa biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi sẽ có ngày con sẽ như ông ta”. Còn khi một người Hồi giáo lớn lên ở Pakistan và thấy một người sống trong một biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi có ngày con sẽ giết ông ta.” …Khi bạn không tìm được lối ra, bạn thường tập trung vào sự phẫn nộ và gắm nhắm ký ức của mình”. Kể câu chuyện này, Thomas L. Friedman nhằm minh họa cho luận điểm “cho con người một môi trường mà trong đó mọi lời than phiền hay ý tưởng đều có thể được đăng tải trên báo chí, cho họ một môi trường mà trong đó mỗi người đều có thể ứng cử vào một chức vụ- và thử đoán xem điều gì sẽ đến? Họ thường không muốn làm nổ tung thế giới này. Họ muốn trở thành một phần của thế giới”.[tr. 798]

    Sự bất an trong tâm hồn khiến người ta dễ dàng manh động theo bản năng. Phúc âm viết: “Kẻ nào rút gươm ra, kẻ ấy đã mở lối điạ ngục”. Nhưng trước khi rút gươm, tâm thức của anh ta đã chứa đầy hờn căm và những nghĩ suy hiểm ác. Nhìn nhận một sự kiện văn hoá, đạo đức, có thể thấy những nguyên nhân trực tiếp, song thực ra, phải nhìn lùi vào bề dày của những hệ luỵ do nhiều nguyên nhân đã gây ra. Bề dày đó có khi phải tính bằng độ dài của sự ra đời và trưởng thành của mấy thế hệ.

    Cho nên, văn hoá phải đi trước một bước thì mới tạo ra được nền tảng tinh thần của xã hội, và đánh giá một hiện tuợng phản văn hoá lại phải lùi lại phía sau nhiều bước thì mới thấu tỏ được nguyên nhân. Có vậy mới đưa ra được giải pháp đúng. Tạo ra một hoàn cảnh “có tính người”, tức là tạo ra một môi trường xã hội trong đó “người với người là bạn”, “thương người như thể thương thân” chính là sứ mệnh cao cả của văn hóa.

    Đương nhiên, một môi trường như vậy không tự trên trời rơi xuống, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng chính là để hướng tới một môi trường như vậy. Nhưng nếu nung nấu trong “lồng xương, ống máu” một “mầm hận” cho “đến lớn, đến già” thì rồi cái gì sẽ đến khi cách mạng đã thành công? Và nếu tính bài thơ ra đời tháng 2 năm 1938, thì chỉ 7 năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cậu bé “len lét, cúi đầu, tay xách gói” chắc đã trở thành một người giữ trọng trách với cái “mầm hận ấy trong lồng xương ống máu” thì khủng khiếp quá cho những việc anh ta sẽ làm!

    Thì chẳng phải cái “mầm hận” ấy vẫn còn trong não trạng của không ít người đang giữ những vị thế đòi hỏi một tư tưởng cởi mở để thật sự có thể hòa hợp dân tộc trên một đất nước mà không một gia đình nào là không phải chịu đựng những vết thương chiến tranh. Và chắc là trong đó có không ít người nằm trong số còn “lướng vướng” với việc thúc đẩy sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để với tâm thế “cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra”!

    Chúng ta đã có những trải nghiệm đau đớn với “cải cách ruộng đất”. với đấu tranh chống “Nhân văn-Giai phẩm”, với đấu tranh ai thắng ai bằng “cải tạo tư sản” và “công tư hợp doanh” , rồi quá trình “kế hoạch hóa tập trung, bao cấp”, “hợp tác hóa bậc cao” ngăn sông cấm chợ, khước từ kinh tế thị trường …đã đẩy đất nước đến bên bờ vực sụp đổ. Trước và trong Đại hội XI, người ta chiếu bộ phim “Bí thư tỉnh ủy” thật có ý nghĩa và cũng thật bạo gan. Tôi nghĩ, nếu mỗi đại biểu Đại hội mà xem nghĩ, hiểu kỹ và tự vấn lương tâm của người cộng sản chân chính và đích thực, chắc sẽ đưa được vào Đại hội một luồng gió mới. Nếu soi kỹ vào những sai lầm kéo dài hàng thập kỷ ấy sẽ thấy “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt chính là cái “mầm hận” đã thấm sâu vào trong “lồng xương ống máu” nhằm đẩy tới cuộc đấu tranh giai cấp được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.

    Xin hãy nhớ lại hình ảnh ông Đình, thường vụ Tỉnh ủy, ông Bao, phái viên của TƯ, rồi cao nhất là ông Trung Chính. Riêng tôi, tôi cứ nhớ lại nét mắt chân tình của ông Trung Chính khi ông ấy dặn với theo xe cấp cứu đưa ông Kim đi bệnh viện: “cẩn thận, đưa ngay vào bệnh viện Việt Xô, tôi sẽ gọi điện thoại bảo điều ngay những bác sĩ giỏi nhất chữa trị cho anh ấy”. Liệu ông Trung Chính có hiểu rằng chính ông là nguyên nhân trực tiếp đẩy ông Kim bị bục dạ dày? Ông Kim, người đồng chí trung thành và dũng cảm, người dám chống lại cả một thế lực khủng khiếp đang đẩy nông dân Miền Bắc nói riêng và cả dân tộc vào thảm họa, chính là người được ông Trung Chính “giác ngộ” và kết nạp vào Đảng thời kỳ hoạt động gian khổ trong vòng vây của kẻ thù!

    Sự chu đáo, nhân từ nhưng lại cực kỳ cứng rắn trong giữ vững “lập trường quan điểm” của ông TC càng được khắc họa sắc nét bao nhiêu thì càng làm nổi rõ hơn sự khủng khiếp của một cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc của chiếc mũ kim cô giáo điều và “tả khuynh”. Một trong những di lụy đáng sợ là chính chiếc mũ kim cô ấy trói buộc những đầu óc sáng tạo và những nhân cách trung thực nhưng lại dung dưỡng cho sự tác oái tác quái của đám dòi bọ của cách mạng.

    Từ “dòi bọ” tôi nói đấy là dùng lại cách nói của C.Mác: “Có thể Các Mác vui lòng nhắc lại một câu nói mà tôi luôn luôn ghi nhớ trong ký ức của mình: “Tôi đã gieo những con rồng và tôi đã gặt được những con bọ”. Thật có đúng như vậy, song cũng có những con rồng…” [Phạm Văn Đồng. “Hồ chí Minh. Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”NXB Sự Thật. 1991, tr. 98].

    Vậy thì, gọi đúng tên cúng cơm của cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc đó chính là chủ nghĩa giáo điều Maoít phản Mácxít từng xem “đấu tranh với người là niềm vui lớn” đem áp đặt vào một xã hội mà tinh thần dân tộc là “động lực lớn nhất của đất nước” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ năm 1924 để khẳng định rằng: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất ” ấy!

    Từ những năm 30, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng: “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” [Văn kiện Đảng (Từ 10.8.1935 đến 1939) Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1964, tr.25].

    Ngay từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi hỏi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đến năm 1937, Người lại nhắc nhở:”Các đồng chí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết những người ấy mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp khác, quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực. Các đồng chí trong Đảng cần phải hiểu rằng: Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp vô sản mà thôi, mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho toàn thể dân chúng nữa. Đảng phải làm tròn vai trò ấy.” [Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NSB Sự Thật, Hà Nội, 1984. tr. 491]

    Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một sự thật không thể bác bỏ là: lúc nào lấy dân tộc làm động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng, lúc ấy cách mạng giành được thắng lợi, còn lúc nào nống đấu tranh giai cấp lên làm động lực, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn. Đặt vấn đề ý thức hệ giai cấp lên trên quyền lợi của tổ quốc, lấy vấn đề trung thành với ý thức hệ đó làm điểm quy chiếu cho đường lối tổ chức và đánh giá, tuyển chọn cán bộ, đã đẩy tới những hệ lụy khó lường. Đã đến lúc cần phải nghiêm cẩn và thẳng thắn chỉ ra.

    Một trong những vấn đề ấy là vấn đề chuyên chính vô sản.

    Xin gơi ra đây những ý kiến của đồng chí Võ Văn Kiệt đề cập tới vấn đề gay cấn này qua đoạn viết về đồng chí Lê Duẩn: “Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước XHCN Đông Au, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.

    Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe XHCN và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước “chuyên chính vô sản” khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể “vô sản” lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về “làm chủ tập thể” mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

    Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM. Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức, song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp...

    Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới như tôi đã nói ở trên.

    Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa. Ở cương vị cao nhất của Đảng, gánh vác những công việc lớn lao của đất nước sau khi Bác Hồ qua đời, đồng chí Lê Duẩn không thể không chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng, làm chậm sự phát triển của đất nước mà Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra. Cho đến hôm nay, tôi vẫn băn khoăn suy nghĩ về một số vấn đề lớn được Đại hội IV quyết định. Đành rằng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thoát ra khỏi những lối mòn đã định hình quá lâu trong đầu óc của những nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định đường lối không hề là chuyện đơn giản. Nhưng ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm những gì và như thế nào. Để làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lớn ấy trong lịch sử Đảng nhằm đúc kết những bài học cho những thế hệ hôm nay và mai sau, không thể là những phát biểu tùy tiện, mà phải là những nghiên cứu nghiêm túc với tinh thần trung thực và khách quan.

    Năm tháng đã trôi qua, khi viết những dòng này, lòng tôi vẫn bồi hồi xúc động nghĩ đến một hình ảnh đang chiếm giữ trong tim óc tôi một vị trí thật thiêng liêng và gần gũi. Sau Bác Hồ vĩ đại và kính yêu, hình ảnh thân thiết nhất, cảm phục nhất, có sức động viên và nâng tôi lên chính là hình ảnh của đồng chí Lê Duẩn, Anh Ba Duẩn kính mến.

    Thế nhưng sau khi bài này vừa đăng lên thì 2 hôm sau trên báo Sài Gòn Giải phóng của một người từng nắm công tác lý luận đã lên tiếng bác bỏ. Trong lập luận, bài viết ấy vẫn khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Tôi vẫn giữ lại tờ báo có đăng bài ấy nhưng xin miễn nêu ra ở đây.

    Vì sao vậy?

    Đây là vấn đề cực kỳ phức tạp và nhạy cảm. Sự định hình của nguồn mạch tư duy, nhất là đối với những người đã cao tuổi, vốn sống với hào quang của quá khứ, thật khó mà dứt bỏ khỏi đầu óc mình những cái vốn đã ăn vào máu thịt và là niềm kiêu hãnh lớn , một giá trị được xây đắp vun quén trong cả một đời. Những người từng gánh vác trách nhiệm cao, từng vào tù ra tội, từng chịu đựng mưa bom bão đạn sẽ lại càng khó dứt bỏ những ngộ nhận và sai lầm. Tự vượt lên chính mình là thử thách khó nhất đối với bản lĩnh một con người. Đấy là chưa nói sự lạc hậu với tình hình, không kịp thời nắm bắt thong tin, chỉ quen sống với những giá trị đã định hình cho dù những giá trị bị ngộ nhận hoặc đã “quá đát” trở thành vật cản cho tư duy.

    Phải chăng ở đây có thể mượn ý Nguyễn Du qua lời của bóng ma Đạm Tiên nói với nàng Kiều “Rỉ rằng nhân quả dở dang. Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao” cho dù là “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Thật ra, một khi mà “Một giây một buộc ai giằng cho ra” thì “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong” nếu không tự mình giải phóng cho chính mình mà ngay đến khi đã có thể “Đoạn trường sổ rút tên ra” thì vẫn cứ “Cuộc vui gãy khúc đoạn trường” [ấy chi ]! Mà có chuyện đó vì nó có nguồn mạch từ trong quá trình vận động cách mạng.

    Xin gợi lại vài tư liệu lịch sử để thấy rằng chính Hồ Chí Minh cũng đã từng là nạn nhân của sự “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết” từ những cấp rất cao khi kiên định quan điểm về dân tộc, không tán thành thổi phồng vấn đề giai cấp. Chẳng hạn, vì lý do ấy mà Staline không tiếp Hồ Chí Minh, chưa chịu công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến năm 1950 sau cuộc gặp ở Matxcơva.

    Một tài liệu cho biết cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh. Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chí hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình hình cơ bản về Đảng Cộng sản Đông Dương, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam và đề nghị Liên Xô giúp đỡ… Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:

    - Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đồng chí tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đồng chí lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào (có ý trách là không xin ý kiến).

    - Chính phủ các đồng chí là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế? (ý nói không phải chính quyền công nông).

    - Tại sao đến nay các đồng chí không tiến hành cải cách ruộng đất? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đồng chí ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường giai cấp còn mơ hồ ).

    - Về vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline nói: Cách mạng Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm của cách mạng châu Á, từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm, vì sát với Việt Nam. Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời Staline cũng nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc.

    Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững. Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “Liên Xô trên công trường”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa những đồng chí cộng sản với nhau”?.

    [Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp Việt Nam chống Pháp”, đăng trên Tạp chí Viêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995.]

    Hiểu sự kiện này có ý nghĩa như thế nào mới thấy ra được bản lĩnh của Hồ Chí Minh, những khó khăn mà Hồ Chí Minh phải vượt qua như thế nào. Gay gắt nhất là khó khăn do các đồng chí của mình gây ra. Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc!

    Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú đã phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nóí phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng” [Văn kiện Đảng Toàn Tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1998, t. 2, tr. 110-112]. Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức cách mạng cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối Quốc tế Cộng sản (do thiếu một chính sách giai cấp),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927” [Tài liệu lưu trữ tại Phòng QTCS, nay là Trung tâm bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, viết tắt là R.C. ký hiệu 495.154.462.]

    Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”. [Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204]

    Ngay cả khi được tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà Quốc tế Cộng sản đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”. [Bài đăng trên Tạp chí Bônsêvích (Cahier du Bolchévisme) số 8, tháng 12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery: Ho Chi Minh, De l’Indochine au Viet Nam , p. 73].

    Cái logic của định hướng tư tưởng ấy sẽ đẩy cuộc sống đi tới theo chiều hướng cực tả. Mà vì vậy, muốn là người cách mạng kiên định thì phải đi theo hướng ấy. Đây chính là điểm quy chiếu của lập trường quan điểm và chỉ đạo đường lối chính sách cũng như hành động thực tiễn. Từ trước Đổi Mới, đây là điểm tựa cơ bản. Hiểu điều này, mới hiểu được bản lĩnh của Hồ Chí Minh vào năm 1951, khi Đảng có điều kiện để ra công khai đã đổi tên Đảng là Đảng Lao Động Việt Nam: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” 1. Chỉ rõ “Đảng phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, khẳng định dân tộc, lợi ích của dân tộc là mục tiêu chiến đấu, quan điểm ấy, ý chí ấy nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ đầu chí cuối. Ngay từ 1924, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước ... Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Chính vì vậy, “Chính cương và Sách lược” do Nguyễn Ái Quốc nêu nổi bật tư tưởng “mặt trận toàn dân” và “thống nhất dân tộc” để đánh đổ thực dân và phong kiến để rồi phải gánh chịu cái tội: “mang hệ tư tưởng quốc gia cách mạng pha trộn với tư tưởng cải lương và duy tâm chủ nghĩa” vì không quán triệt quan điểm của Staline “giai cấp đấu tranh là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” rất xa lạ với quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc. Chính vì thế “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” . Trong thư “Kính cáo đổng bào” viết ngày 6.6.1941, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy…Hiện thời muốn đánh Pháp đuổi Nhật ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết.”

    Trong bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, viết năm 2005 Võ Văn Kiệt giải thích: “Đoàn kết đồng thời có nghĩa là phải khoan dung. Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương xóa bỏ mọi hận thù và chia rẽ do chế độ cũ để lại, sẵn sàng thu dụng những người có tài, có năng lực, có tâm huyết, mà không kể đến quá khứ…Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đầu năm 1951, vấn đề đại đoàn kết được đặt ra và nhìn nhận trong những hoàn cảnh khác. Đã có không ít ý kiến xung quanh vấn đề này. Bác kết luận: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Lời giải thích đó của Bác có sức thuyết phục mạnh mẽ trong Đại hội Đảng.

    Về phần mình, trải qua bao năm tháng suốt từ trước Cánh mạng Tháng 8 năm 1945 đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi, tôi đã bao lần được đồng bào che chở cưu mang, đã chứng kiến bao tấm gương hy sinh của những người thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi…tôi càng thấm thía những bài học lớn đó của Hồ Chí Minh. Tiếc rằng một số năm sau đó, tư tưởng đại đoàn kết đã bị coi nhẹ, quan điểm giai cấp đã được vận dụng một cách máy móc, một chiều…Tư tưởng thành phần chủ nghĩa đã dẫn tới hai hậu quả: làm mất đi nhiều tài năng của một bộ phận đáng kể trong dân tộc, đồng thời đưa một cách gượng ép những nhân tố tuy rất cơ bản về chính trị nhưng lại không đủ chất lượng vào quản lý và xây dựng ”.

    Xin hãy chỉ gợi lên một chuyện mà theo người kể là “ít người biết” trong Mậu Thân 1968: Khi bàn về các mục tiêu phải tiến công, một số anh lãnh đạo không đề ra mục tiêu tòa Đại sứ Mỹ”, với tư cách là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, ông Sáu Dân khẳng định: “Không đúng. Đánh vào đô thị là đánh vào đầu não chiến tranh của địch. Đầu não của chế độ Sài Gòn là Dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ. Phải khẳng định đây là hai mục tiêu hàng đầu phải tiến công vì ý nghĩa chính trị của nó… Kháng chiến tức là phải đánh giặc, phải có quân đội, có vũ khí, có ý chí gang thép; nhưng nếu không hiểu khía cạnh chính trị của cuộc chiến đấu thì không thể hiểu gì về cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta cả”. Chính con người có ý chí gang thép đó, con người từng thường trực nơi dầu sôi lửa bỏng trong cả hai cuộc kháng chiến, con người đó hiểu rõ ý nghĩa chính trị của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước nên từ đỉnh cao của chiến thắng 30 tháng 4 lịch sử đã dám thẳng thắn chỉ ra: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu… Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp.”

    Không có một bản lĩnh chính trị vững vàng để hiểu rõ ý nghĩa chính trị cao cả của sự nghiệp chiến đấu với bao hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam, sẽ không thể đưa ra được tư tưởng mà nhất thời có thể chưa là cách nghĩ của số đông. Không có một sự tường minh về mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, sẽ không dám đặt ra những vấn đề gai góc và dễ động chạm trong đời sống tinh thần của cả xã hội như vậy. Phải có một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng vĩ đại mà vì nó dám chấp nhận mọi hy sinh như bản thân mình đã từng trải nghiệm, mới có được bản lĩnh dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mang tính đột phá có ý nghĩa mở đường theo kiểu ấy. Nếu không có bản lĩnh như vậy, sẽ không thể công khai và thẳng thắn đặt ra những vấn đề gai góc và nhạy cảm mà ông hiểu rằng tất yếu sẽ gặp không ít lực cản, mà lực cản ấy sẽ không nhỏ, thậm chí là dai dẳng. Nhưng rồi cuộc sống đã cho thấy, những ý tưởng như vậy của Võ Văn Kiệt đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận, đặc biệt là đối với những đầu óc ưu thời mẫn thế.

    Ấy thế mà cũng có những lúc những đầu óc “ưu thời mẫn thế” cũng bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc để đưa ra những thông điệp mà tỉnh táo ngẫm nghĩ lại không khỏi không có những băn khoăn. Xin được dẫn ra vài câu thơ của những tác giả tên tuổi đã từng một thời được đưa vào sách giáo khoa và hiện nay vẫn là những tên tuổi lớn được xã hội trân trọng. Nhằm tụng ca những thành tựu của chế độ, nhà thơ khẳng định: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng…Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả” [Chế Lan Viên]. Từ trong sự thăng hoa của cảm xúc đó để nhìn nhận về ông cha mình như sau: “Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời / Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” [Chế Lan Viên].. Bởi vậy, “Một câu hỏi lớn không lời đáp / Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”![Huy Cận].

    Trong “hội chứng tụng ca” ấy, những bước đi quá đà đã vô tình để lại những hậu quả rất lớn nhưng không dễ nhận ra nếu không thật tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật và không tránh né những vấn đề “nhạy cảm” rất dễ bị quy kết về “lập trường, quan điểm” của lối “độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết”. Lối “độc quyền” ấy đẻ ra cái khẩu khí quen thuộc khi bàn về lịch sử “do chưa có được cái này cái nọ soi sáng cho nên…” với sự tự mãn một cách lố bịch rằng chỉ “từ khi có cái này cái nọ” thì lịch sử mới vượt khỏi những hạn chế.

    Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh lùng, sắc sảo của Gustave le Bon trong “Tâm lý học đám đông”: “Chẳng gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người”! Bởi vậy ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha.

    Ông cha ta đâu có “bế tắc”, cái “câu hỏi lớn” mà nhà thơ cho là “không lời đáp” là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử không thể bác bỏ. Nếu không biết cách trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử, của thời đại mà các cụ sống thì làm sao đất nước này, dân tộc này có thể hiên ngang trụ vững bên cạnh anh láng giềng chỉ chực có cơ hội là nuốt gọn mình. Chính vì biết cách trả lời những "câu hỏi lớn" của lịch sử mà biết chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, biết cách chế ngự cái thế "trứng chọi đá" để có thể ra Tuyên ngôn "Nam quốc sơn hà, nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư"".

    Những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha dẫn ra ở trên, xét cho cùng, là bị chi phối bởi lối tư duy và lập luận rất cực đoan rằng chỉ từ 1930, dân tộc mới thật sự biết ngẩng cao đầu! Cho nên, chỉ những gì được ra đời từ cột mốc ấy mới có một giá trị được xếp trên tất cả, hơn tất cả.“Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ…Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”* . Mà không thấy được “Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”* [Việt Phương] để có sự thấu đáo và tỉnh táo trong giáo dục và đào tạo con người.

    Sai lầm nguy hại nhất là chỉ tập trung vào giáo dục lý tưởng mà lơ là xây đắp cái nền tảng nhân văn trong định hình nhân cách cho thế hệ trẻ để từ đó mà giáo dục lý tưởng. Lý tưởng đương nhiên là quan trọng, song không nên cho rằng lý tưởng của Lý Tử Trọng của thế kỷ XX là cao hơn lý tưởng của Trần Quốc Toản thế kỷ XIII. Và lại càng phải thấy cho rõ phạm trù lý tưởng gắn liền với mục đích và ý nghĩa của cuộc sống con người. Tùy thuộc vào sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của từng người, từng nhóm xã hội mà có sự định hình lý tưởng . Khi Trần Quốc Toản ghi trên lá cờ của mình sáu chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân” thì đó là sự thể hiện lý tưởng trung quân ái quốc của chàng tuổi trẻ quý tộc đời nhà Trần. Đừng nghĩ rằng lý tưởng “trung quân ái quốc” là thấp hơn lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân” mà không thấy mỗi giai đoạn lịch sử có những đòi hỏi mang tính đặc thù. Người ta quên rằng “mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó…Một khi cuộc sống đã vuợt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối". Đây là sự phân tích của Các Mác [C.Mác và Ph.Angghen toàn tập. NXBCTQG Tập 23.1993. tr. 34].

    Quả thật chân lý vốn đơn giản, nhưng nhận thức cho được sự đơn giản đó hóa ra không đơn giản chút nào. Ông Võ Văn Kiệt đã có lần lập luận về những vấn đề hết sức gay cấn một cách rất dung dị: “Cách mạng tháng 8 năm 45 đánh đổ thực dân phong kiến là chuyện tất yếu phải làm để giành lại độc lập cho đất nước và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng rồi theo trớn đó mà chửi phong kiến tùm lum thì vô tình đã chửi cha ông mình chứ còn gì nữa! Thử hỏi các vua Trần cùng Trần Hưng Đạo ba lần đánh tan quân Nguyên, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi diệt quân Minh xâm lược và lên ngôi vua thì đều là “phong kiến” cả chứ gì? Liệu có ai dung túng cho chuyện xúc phạm đến ông cha? Thế mà cứ thoải mái chửi phong kiến thì khoa học cái nỗi gì?”. Chẳng phải chỉ đối với chuyện của tiền nhân, ngay cả chuyện đang diễn ra cũng vậy thôi.

    Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, phải đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.

    Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng theo định hướng ấy, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ , và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn.

    Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này. Những "siêu đám cưới", "hội chứng lấy chồng ngoại", những cảnh bạo lực học đường, các clip quay nữ sinh đánh nhau một cách dã man giữa đường phố dưới con mắt bình thản của người chứng kiến, thậm chí còn cổ vũ và tranh thủ quay video...được mọc lên từ môi trường xã hội ấy.

    Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đã có một khuyến cáo thật đáng suy ngẫm khi bàn về giáo dục và đào tạo con người: “Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ” . “Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu” trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Đó sẽ là đảm bảo cho việc “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”. Chủ nghĩa nhân văn ấy đang được nâng lên trong bối cảnh của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI. Trong nền văn minh đó,“sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục”.

    Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể "để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó" trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính cái nền tảng đó. Thiếu cái nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.

    Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ, và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn. Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này.

    Chỉ xin gợi ra đây đôi dòng về sự xáo trộn đó do thiếu một tầm nhìn văn hóa trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Chắc nhiều người không để ý đến hai chữ "đại gia" đang là ngôn từ thời thượng. Tệ hại hơn nữa, gắn liền với "đại gia" , là tiền, thật nhiều tiền, nhất là đô la. Đến nỗi báo chí rất hào phóng cho việc lăng xê tên tuổi của một chàng trai vô công rồi nghề sống trên đống tiền của mẹ để có thể thay đổi xoành xoạch kiểu xe ô tô đời mới nhất, xịn nhất có biệt hiệu là "Đô La". Mùi mẩn hơn nữa là chàng 'Đô La" lại "đôi lứa xứng đôi" với một nàng "siêu sao" ca nhạc, rồi đứa con của "đôi lứa xứng đôi" ấy cũng được các cây bút có nghề xưng tụng nửa kín nửa hở trên nhiều trang báo!

    Và các nhà quản lý văn hóa quên mất rằng, đây là cách cổ vũ cho một lối sốngchạy theo đồng tiền, treo một "tấm gương sống động", thúc đẩy một thị hiếu dung tục nếu chưa muốn nói là thấp hèn cho giới trẻ. Trong lúc đó, lại ra sức chê trách, dè bỉu, đe dọa, đàn áp và bắt bỏ tù, bị đạp vào mặt những thanh niên, sinh viên có bản lĩnh dám xuống đường biểu thị lòng yêu nước và tinh thần bất khuất quyết không chịu cúi đầu trước những hành động ăn cướp và xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh. Một nghịch lý đang được đóng dấu và tuyên truyền rộng khắp!

    Và rồi, từ cực đoan này lại nhảy sang một cực đoan khác, những biểu tượng "phong kiến" từng bị đào sâu chôn chặc nay hình như lại có sức hấp dẫn nên người ta đua nhau đắt tên bằng những "tước hiệu" tưởng đã vĩnh viễn chôn dưới đất đen: cho sang thì khách sạn phải mang tên là "Hotel Hoàng Đế," cho quý thì công ty phải là "Công ty Hoàng Gia", cho oai thì quán ăn thời thượng phải là "Quán Ngự Thiện", cho giàu sức vẫy gọi thì khu nghỉ mát phải là "Resort Quý Tộc"....

    Có thể là nhà quản lý có tầm nhìn bao dung và cởi mở nhằm cất cánh cho những ý tưởng sáng tạo, nhưng cũng có thể người ta bận cho việc kiểm tra tầm soát chặt chẽ những "biểu hiện nguy hiểm" khác như thủ đoạn "diễn biến hòa bình" chẳng hạn, mà tạm buông cho những cực đoan xô bồ kia. Và rồi người ta cũng quên luôn những điều vừa kể là hết sức đối nghịch với những chuẩn mực trong "ý thức hệ" mà họ có sứ mệnh thiêng liêng" là phải giữ vững. Thế đó!

    Gợi lên những điều không lấy gì thoải mái, ngược lại, hình như gọi dậy một cảm giác xấu hổ về những hiện tượng đang dày vò lương tâm của chúng ta. C.Mác có nói “Hãy làm cho sự nhục nhã càng thêm nhục nhã bằng cách công bố nó lên”, xin được thay từ nhục nhã bằng từ “xấu hổ” để bớt đi sự gay gắt. Đừng quên rằng chính sự xấu hổ làm cho chúng ta có thêm dũng khí để vượt lên chính mình. Trong “Sáng thế ký ” có chuyện Adam và Eve sau khi ăn trái cấm thì bỗng nhiên phát hiện ra sự trần truồng của mình.Cảm giác xấu hổ xuất hiện. Và cả hai đều bứt chiếc lá vả để che đi bộ phận sinh dục. Chiếc lá vả ấy, theo Franz Werfel, một nhà văn Đức, là “tài liệu văn hóa đầu tiên của loài người! Không là chiếc lá vả đang nằm trên cây, mà là chiếc lá vả được con người sử dụng để biểu thị nhận thức và cảm xúc của mình, là biểu tượng của con người tự ý thức được về mình. Cái cảm giác “biết xấu hổ” là một thuộc tính người.

    Chính vì biết xấu hổ khiến chúng ta trở thành người trí thức, mà cũng do vậy khiến cho tâm hồn chúng ta bất an. Thì chính Nguyễn Trãi đã từng đúc kết điều này đấy thôi: “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn”. Nhưng cũng chính vì vậy mà ông trở thành anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới. Đôi lúc tôi thầm nghĩ “So với ưu tư và hoạn nạn của con người vĩ đại ấy thì những ưu tư và hoạn nạn chúng ta có thể gặp phải nào có ý nghĩa gì”!

    Ông cha ta thật là vĩ đại, không chỉ một Nguyễn Trãi, cách nay cả nghìn năm mà thiền sư Vạn Hạnh đã từng chỉ ra: Thân như điện ảnh hữu toàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.[Thân người như bóng chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].

    Một cái nhìn vượt lên không gian và thời gian. Chẳng những thế, bản lĩnh của ông cha mình thật là kỳ diệu. Cũng một nhà sư khác, thiền sư Quảng Nghiêm cách đây ngót vẫnmột thiên niên kỷ đã dám viết: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí . Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” [Làm trai phải có chí xung trời thẳm, Việc gì cứ phải lẽo đẽo theo bước chân Như Lai]. Xuất gia đi tu mà lại nói không phải lẽo đẽo lần theo bước chân Phật tổ, hàm ý triết lý “Phật tại tâm”, mỗi người có cách tiếp cận chân lý theo cách riêng của mình, không nhất nhất làm theo người khác thì quả là đã chống giáo điều từ gốc.

    Vậy thì, nêu lên những bức xúc đang làm chậm bước phát triển của đất nước, và do đó, trong cái "vòng tròn" lớn đó mà cái "vòng tròn nhỏ" là hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đang suy thoái, đang lạc hậu, không hề làm nhụt ý chí của chúng ta. Ngược lại, chúng ta hiểu rằng và tin rằng “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Đây là một học giả Pháp nói với chúng ta , ông Eduard De Penguilly.[Kỷ yếu Hội thảo về “Nhà ở, Kiến trúc đô thị và môi trường truyền thống và hiện đại”.] Vấn đề đặt ra là phải dám đối diện với sự thật và sòng phẳng nói lên sự thật đó bất chấp những quy kết tùy tiện và có khi khá tai ác.

    Nói lên sự thật vì chúng ta tin vào "khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải". Khả năng đó đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng đang còn câm lặng để giấu kín những khát vọng kiểu Đoàn Văn Vươn.

    Và vì chúng ta đều thuộc lớp người xưa nay hiếm cả rồi, nên cũng đừng gay gắt quá, có khi gây tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim thì gay nên để kết thúc một cách có hậu, tôi xin kể lại một Câu chuyện thật của thế kỷ 21 để suy nghĩ thêm về cảm xúc con người trong xã hội.

    Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút . Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm.

    Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn. Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại.

    Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn, sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả.

    Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cà là 32 đô la.

    Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã trình diễn những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn đưọc nữa, đàn hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.

    Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…

    Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?

    Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này.

    30-3-12

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    71 phản hồi

    Các bác cứ giở trang "tư duy lô gíc" và trang "tư duy phản biện" thì trong đó đầy đủ tất cả, nhưng viết lại không cụ thể và dễ hiều như mấy ý kiến phản hồi. "Tư duy lô gíc là nền tảng của mọi tri thức", là một nhánh của triết học đúng như có khách đã nói là phạm trù triết học. Phải biết cách tư duy thì mới hiểu biết tất cả, cái môn này quan trọng là nó cần cho tất cả các môn tự nhiên, khoa học kỹ thuât, toán học vi tính...và cả các môn xã hội. Rất tiếc là nền giáo dục của ta còn coi nhẹ môn này, lại còn lảng tránh tư duy phản biện, đất nước chậm tiến là phải. Hiện nay đã có cả sách nói về tư duy lô gíc. Hóa ra nhiều người bàn tán mà lại chưa đọc sách hoặc khai thác trên mạng.

    Trước đây tôi chỉ biết học môn gì tì gọi là giáo dục môn ấy, đại khái là như vậy, ví dụ dạy toán thì là giáo dục toán, dạy văn thì là giáo dục văn...nay mới đọc được ít trang báo mạng, chưa hình dung rõ nét về giáo dục tư duy, chỉ hiểu mơ mơ màng màng thôi, nhưng lại thấy nói đây là "cho cái cần câu" tức là dạy cách học để hiểu biết, nhưng chưa rõ nội dung dạy những cái gì thật cụ thể và tỷ mỉ và chính cái phương pháp dạy cái môn này như thế nào? Tra cứu trên net cũng không thấy. Tôi có hỏi mấy ông nhà giáo toàn TS nhưng cũng chẳng ông nào biết. Nhưng họ đều nói "nếu không biết phương pháp học, tức là phương pháp tư duy thì khó tiến, chính phương pháp học khó hơn cả nội dung học>" Thế là thế nào? Ai biết thì xin nói rõ hơn.

    Càng đi sâu tìm hiểu và khám phá thì càng thấy vấn đề giáo dục tư duy ( cho chiếc cần câu) càng hay và nó giải quyết được nhiều vấn đề, nếu chủ trương khai dân trí, khai sáng mà không giáo dục phương pháp tư duy thì không giải quyết được cá vấn đề. Trước đây đã có người chủ trương ra website khai sáng, nhưng bản thân mình còn tối thì khai sáng thế nào được. Đúng là nhà nước ta không để tự do tư duy thì đất nước còn chậm tiến vì không phát huy được khả năng sáng tạo. Trước đây đã có nhà thơ phát biểu "Bắt tình càm ngược xuôi theo luật đi đường nhà nước", đây là thứ trói buộc và cũng là định hướng và cũng có thể nói gò bó, bao cấp về tư tưởng. Cổ nhân đã nói "thằng anh nó lú, thằng chú nó khôn", có thế mớí tránh được sai lầm, nay nhà nước chủ trương cái gì cũng "để nhà nước lo", nhưng nhà nước có lo được đâu, hoặc lo nhưng mà hỏng. Cấm tự do tư tưởng, luôn luôn tìm cách tạo ra bức tưởng lửa để ngăn chặn thông tin, làm cho dân bớt suy nghĩ thì khả năng tư duy bị teo đi. Rất tiếc là nhiều vị chỉ bàn về những vấn đề ngọn mà không bàn về vấn đề gốc trong việc mở mang dân trí là phải phát huy sáng tạo bằng tự do tư duy. Các cụ ngày xưa cũng đã nói "một người lo bằng kho người làm", không lo đề ra nhưng chủ trương đúng đắn mà cứ làm bừa, làm ẩu, làm sai thì tai hại còn nhiều. Tại sao không lo phát triển dân trí trước như cụ Phan Chu Trinh đã nói "khai dân trí" mà cứ lo vơ vét để rồi lĩnh đủ các tai họa, xuống cấp đủ mọi thứ. Mong rằng đề tài này (giáo dục cách tư duy) sẽ được nhiều người góp ý hơn nữa.

    Trước kia có một ông người Việt là Phạm Tất Đắc viết cuốn "Phân tích ngữ pháp và lô gíc" bằng tiếng Pháp, dĩ nhiên đối tượng nghiên cứu của ông ấy là tiếng Pháp. Người Việt lại dạy tiếng Pháp cho người Pháp, kể cũng hay, nhưng cái hay đến nay ta cần học tập là ông đã đưa vấn đề lô gíc lồng vào vấn đề ngôn ngữ, vì hai thứ này có quan hệ máu thịt. Nếu không có tư duy lô gíc thì diễn đạt (dùng ngôn ngữ) sẽ sai, ta thì có nhiều cái sai lô gíc cả diễn đạt lẫn việc làm, giống như một người vừa bán thuốc ho, vừa bán thuôc lào mốc.
    Một mặt ta vẫn khẳng định nước ta là một nước XHCN, nhưng lại nằng nặc đòi Mỹ công nhận nền kinh tế nước ta là kinh tế thị trường, tức là kinh tế tư bản. Chính trị XHCN thì kinh tế cũng phải XHCN chứ. Lại có cái thứ Chính trị XHCN (thượng tầng kiến trúc) còn kinh tế (hạ tầng cơ sở) là tư bản, thật lạ kỳ. Nay còn một mâu thuẫn nữa là nhiều thành phần kinh tế, nhưng lại chỉ có một thành phần tư tưởng, nhà nước áp đặt như thế, đó là trên lý thuyết. Như vậy có nghĩa là có hiện tượng hành vi thì làm giầu, bóc lột, còn tư tưởng thì vô sản. Thế là một con người vừa chống bóc lột (XHCN) lại vừa bóc lột (làm kinh tế thị trường). Giống hệt mấy ông cốp vừa hô hào chống tham nhũng lại vừa tham nhũng.
    Kiểu nói của CS rất buồn cười, việc làm cũng thế thôi, kiểm lâm thì phá rừng, hải quan thì buôn lậu, công an thì đi ăn cướp và đánh, giết người, tòa án thì vi phạm pháp luật ngay trên công đường, mấy ông lãnh tụ cộng sản thì bắt tay xoắn xuýt với các trùm tư bản, quân đội trông thấy giặc thì chạy bỏ cha bỏ mẹ. Đảng viên đảng CS thì giầu nứt đố đổ vách, chống sùng bái cá nhân thì tôn sùng cụ Hổ như ông thánh. Trên thế giới chẳng có nước nào học tập đạo đức của các ông lãnh đaọ đã chết, nhưng họ tiến như diều. Mỹ có học tư tưởng đạo đức tổng thống nào đâu, Pháp cũng thế, Đức, Anh, Nhật cũng thế. Thực ra thì họ văn minh, họ vẫn nghiên cứu những cái hay của thế hệ trước để tiếp thu, nhưng họ không tổ chức thành phong trào theo kiểu thần thánh hóa lãnh tụ như ta. Mấu chốt của cấn đề là kết quả họ thu được tốt hơn ta là xã hội của họ ngày càng văn minh, còn xã hội ta ngày càng xuống cấp, đảng lãnh đạo thì có cả "bầy sâu". Sâu lãnh đạo người, trước kia các cụ đã nói "sâu bọ lên làm người". Doan Dũng Trọng Sang Hùng...có nói ba lăng nhăng lít nhít cũng chẳng sao, đó là "sâu bọ lên làm người" nên đó là sự tất nhiên.
    Ta cần giáo dục tư duy trong nếp nghĩ để có tác phong làm việc khoa học thì nước ta mới tiến lên được. Vấn đề tư duy còn cần phải bàn thêm nhiều hơn nữa. Ta mới đề cập đến 3 khía cạnh của tư duy, thế là chưa hoàn chỉnh. Không hiểu sao không thấy ccs GS TS nổi tiếng không lên tiếng về vấn đề này?

    Vấn đề tư duy là vấn đề rất khó, nằm trong phạm trù triết học (khoa học của các khoa học). Đáng lẽ các ông cốp trong Hội đồng lý luận TƯ phải lên tiếng đề cho mọi người biết, tức là phải dạy cho người ta, khốn nỗi cái nhà anh trùm sò của cái hội đồng này lại là một anh Đầu Đinh (Đinh Thế Huynh), còn các vị GS và TS nổi tiếng khác cũng im lặng, điều này chứng tỏ nền giáo dục cuả ta đã đào tạo ra những người có học hàm học vị nhưng lại không có trình độ tư duy. Xem trên mạng thì thấy nhiều vị chỉ hay tranh luận về những vấn đề dễ, còn những vấn đề khó thì cũng không thấy vị nào lên tiếng (cả trong và ngoài nước). Điều này càng chứng tỏ vấn đề tư duy là vấn đề cực kỳ khó. Khi phát biểu về vấn đề này mấy người chúng tôi phải tự nhủ "với tinh thần dũng cảm của người lính", điếc không sợ súng, "đánh trống qua cửa nhà sấm", cứ nói đại xem sao, trúng hay không trúng không thành vấn đề. Biết đâu đó, may ra thì trúng.
    Có mấy vị khách nêu ra những vấn đề tư duy, có vị nói về về ĐỘC LÂP TƯ DUY và TỰ DO TƯ DUY, còn vị Nịt thì nói về TƯ DUY LÔ GÍC. Xin bàn về cái TƯ DUY LÔ GÍC trước. Đây là kiểu tư duy hợp lý, hợp với quy luật tự nhiên, không chỉ thấy trên lời nói (hay viết), trên các bài phát biểu (diễn đạt) mà nó chi phối cả trong nhiều hành động, chủ trương, chính sách của con người, có tư duy đúng, hợp với quy luật, không mâu thuẫn thì mới có hành động đúng. Còn kiểu tư duy của ta thì nhiều khi là kiểu ông sư vừa tụng kinh vừa ăn thịt chó, đó là do cách tư duy sai chứ không phải là nói đến hạng người thù đoạn "khẩu phật tâm xà", cũng có một vài trường hợp thì là do cố tình thủ đoạn, lúc thề này lúc thề khác. Cụ thể là trong luật pháp thì ta thấy có nhiều điều chồng chéo nhau, mâu thuẫn nhau, kiểu vừa xả nước, vừa chống lụt, vừa "kinh tế thị trường" lại vừa "định hướng XHCN", vừa thực hiện dân chủ, vừa Đảng lãnh đạo, vừa chống sùng bái cá nhân vừa xây tượng đài ca ngợi ông nọ ông kia, rõ nhất là vừa chống tham nhũng vừa bảo các ông nhà báo là viết vừa vừa thôi để giữ trách nhiệm công dân và lại bỏ tù nhà báo viết bài chống tham và cho ông có thành tích chống tham nhũng về vườn sớm.
    Nay trở lại vấn đề giáo dục tư duy lô gíc. Trước đây trên trang chúngta.com có nhiều bài viết về tư duy lô gíc, nhưng chỉ bàn về lý luận mà không thấy có ví dụ nào về tư duy thiếu lô gíc, đến nỗi có độc giả phải đưa ra thí dụ về tư duy thiếu lô gíc bổ sung cho bài viết làm cho độc giả khác hiểu. Đọc cái thí dụ độc đáo và có phần hơi độc địa này làm tôi nhớ mãi: "Ông tôi khoe với cả làng là ông tôi không có vợ, nhưng khi ông tôi chết thì không thấy ai đến khám xem ông tôi có còn trinh hay không."
    Rõ ràng là tư duy thiếu lôgic thì nói ra (diễn đạt) thiếu lô gíc. Người ta chỉ biết tư duy (suy nghĩ, ý tưởng) của một người qua ngôn ngữ (diễn đạt) của người ấy. Đây là mối quan hệ giữ tư duy và diễn đạt. Khi rèn luyện diễn đạt hợp lô gíc thì phải rèn luyện tư duy lô gíc trước đã. Khốn nỗi cả hai lĩnh vực này cộng lại thì là vấn đề khó, những ông (và cả bà) bằng thật còn chưa đáp ứng được thì nói chi đến các ông, bà bằng giả, thế là họ bỏ qua. Lối tư duy thiếu lô gíc này chính là biểu hiện của sự thoái hóa tư duy, nghĩa là làm cho con người ta ngu đi. Rất tiếc đây là kết quả của nền giáo dục áp đặt, không làm cho đầu óc con người phát triển mà chỉ thực hiện kiểu nhồi nhét.
    Vấn đề này còn cần bàn thêm, tôi sẽ suy nghĩ để viết tiếp. Trước khi kết thúc phần viết này, tôi xin kể một câu chuyện vui (do sưu tầm) về tư duy thiếu lô gíc: Một cô nhà báo phỏng vấn một nhà du lịch đã chu du khắp nơi và đề nghị nhà du lịch nêu lên một kỷ niệm đáng nhớ nhất. Nhà du lịch kể lại:
    - Hôm ấy tôi đang đi trong rừng một mình thì gặp một con thú dữ đuổi. Tôi sợ quá, chạy bạt mạng, bỗng ngã xuống một cái vực sâu.
    Vừa nghe đến đây, cô nhà báo liền ngắt lời, hỏi:
    - Thế lúc ấy ông có chết không?

    " Tính Đảng " là một cái mớ hỏa mù của đảng cai trị và nó khá hữu hiệu (để bịp ) trong tình trạng dân trí như dân Việt chúng ta , chẳng có cái gọi là sự tương thích theo nghĩa tích cực giữa " tính đảng " và giáo dục : tính đảng tràn đầy xã hội thì giáo dục đi chỗ khác chơi !

    Từ "ông cốp" là dùng để giễu cợt các quan chức cao cấp của CS vừa ngu dốt vừa hống hách, vừa quê mùa, tức là loại "đầy tớ mặc áo gấm". Nay thì lại thêm khá nhiều quan chức cái cao cấp cũng ngu dốt, nhưng ít hống hách, không biết dùng từ gì để gọi, hay là gọi là "bà cốp".
    Các ý kiến bàn luận về phương pháp giáo dục rất bổ ích, cần nhiều người lên tiếng, ai biết gì nói nấy, sau đó bác nào có khả năng (như Trí Luận, Nguyễn Ngọc Già hay Lê Quốc Trinh... hoặc bác nào đó) thì tổng kết thành một bài. Tôi xin góp thêm ý kiến về vấn đề này như sau (chẳng biết có đúng không): ta không giáo dục cách tư duy (suy nghĩ) nhưng lại xuất hiện rất nhiều câu nói mà chứa đựng mâu thuẫn, rồi cứ thế bắt người ta phải vẹt, đây không phải là tình trạng nói một điều làm một nẻo, nói thì hay, làm thì dở, mà là kiểu nói "vừa đốt lửa, vừa té nước", ví dụ "Phản biện có định hướng", hay những khẩu hiểu "cổ điển" như " nước ta độc lập (trong phe XHCN) do Liên xô lãnh đạo", "nền kinh tế của nước ta là kinh tế thị trường định hướng XHCN". Cái kiểu mâu thuẫn này có khi nó xẩy ra tách xa nhau thì thấy có vẻ hợp lý, nhưng nếu để gần nhau thì nó mâu thuẫn và lại mang tính hài hước, ví dụ trong một công trình văn hóa có hai phòng họp, một phòng thì vinh danh các chiến sĩ cộng sản, một phòng khác gần kề lại vinh danh doanh nhân (tức tư bản) và bên kia bờ tường là một lớp học chính trị cuả các ông cốp, một vị GSTS đang rao giảng về chủ nghiã Mác "giai cấp vô sản là người đào mồ chôn chủ nghãi tư bản". Trong thực tế nước ta hiện nay có tình trạng có con người "hai trong một", nghĩa là có quan chức vừa là nhà người cộng sản lại vừa là tư bản (giám đốc một cônt ty lớn, bóc lột công nhân). Còn hiện tượng đạo đức giả thì đầy rẫy, vừa hô hào chống tham nhũng, vừa là ông cốp tham nhũng cỡ bự, vừa ca ngợi giai cấp công nhân trên giảng đường đại học, vừa khinh công nhân ra mặt, vừa đề ra chính sách xóa đói giảm nghèo, vừa cướp ruộng đất của bà con nông dân, bộ đội thì vừa phục vụ nhân dân vừa đem súng ống đi cướp đất phá nhà của dân, vừa tự do ngôn luận vừa cấm báo tư nhân...những mâu thuấn này nó xuất hiện từ lâu, nhưng có hiên tượng nhìn mà không thấy, thấy mà không dám nói. Phải chăng những kiểu mâu thuẫn này là do nền giáo dục thiếu lô gíc và bằng giả thay cho bằng thật cộng với chế độ "dùi cui trị"?

    Thanks bác Khanh cho giải thích về "phương pháp giáo dục (giáo dục tư duy tức giáo dục cách học, cách làm việc) không phải là phương pháp sư phạm đơn thuần mà nó là một một quan điểm"

    Nếu rảnh, bác tổng hợp và viết một bài về "phương pháp giáo dục".

    Tôi có thắc mắc về chữ "ông cốp", tôi hiểu là ám chỉ "quan chức". Bác giải thích thêm về chữ "ông cốp"

    Khách Tôn Thất Khanh viết:
    Qua thảo luận, mỗi người góp một ý thì vấn đề phương tháp giáo dục sẽ được "khám phá" dần dần. Khách Sư phạm đã nêu lên một vài ý, theo tôi là đúng với điều người ta đang thắc mắc, cũng đồng thời thấy hai phương pháp giáo dục khác nhau của hai chế độ.
    Trước hết phương pháp giáo dục (giáo dục tư duy tức giáo dục cách học, cách làm việc) không phải là phương pháp sư phạm đơn thuần mà nó là một một quan điểm, một nét khác biệt của hai nền giáo dục. Nói phương pháp sư phạm tức là nói phương pháp giảng dạy, thì mỗi môn có một cách giảng dạy riêng, trong các trường sư phạm thì đó là giáo học pháp bộ môn, tức là phương pháp giảng cho từng bài ở từng bộ môn, nói tỷ mỉ tức là bài toán này (trong chương trình toán ) thì giảng thế nào cho học sinh, sinh viên dễ hiểu, bài văn này (trong môn văn) thì cần giảng thế nào, cần chú trọng chỗ nào, cấn nhấn mạnh chỗ nào.
    Còn các nước khác chú trong giảng triết học, xã hội và pháp luật quyền công dân cũng thuộc nội dung giảng dạy, không phải phương pháp tư duy.
    Còn phương pháp giáo dục cách tư duy ở đây như khách Sư phạm viết là "thầy giảng ý chính, học sinh tự tìm tòi...không học tủ" thì nó khác hẳn kiểu giáo dục của ta là giáo điều, nhồi nhét, thầy giảng trò nghe, cứ vẹt là được. Rõ ràng phương pháp giáo dục của nước ngoài nó khuyến khích và cho phép con người ĐỘC LẬP TƯ DUY, TẠO CHO CON NGƯỜI TA HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ TỰ TÌM TÒI SÂU HƠN và hứng thú hơn. Một điều khác nữa mà khách Sư phạm nêu lên ở nước ngoài nó khác ta là "quan trong là ý tưởng mình trình bày theo ý mình" tức là nó giải phóng tư duy cho con người, con người được TỰ DO TƯ DUY, giáo dục ở nước mình làm gì có điều gì, chính vì thế ta KHÔNG CÓ SÁNG TẠO MÀ CHỈ RẬP KHUÔN MÁY MÓC, BẮT CHƯỚC. Tóm tắt hai điều về phương pháp giáo dục thì có thể nói kiểu giáo dục ở nước ngoài nó làm cho con người động não và thông minh hơn nhờ não luôn luôn được "tập thể dục" chứ không trì trệ như ở ta, ở ta đi học là đi tập hô khẩu hiệu, con người sẽ biến thành cái máy, nhiều nhi biết sai cũng cứ phải hô, dần dần tư duy bị teo, bị thoái hóa. Trong môn xã hội học thì quá rõ, khi những người làm đề tài về triết học thì không có gì sáng tạo, không được tự do tư duy nên không phản biện mà chỉ cần phát triển thêm diễ giải thêm những tư tưởng của các nhà triết học mấc xít đã có sẵn. Nay ở nước mình đố ai giảng dạy trên bụ mà dám phê phán ông Hồ, ông Duẩn, ông Mác, ông Lê nin..., thậm chí các ông ấy nói sai cũng phải theo, phải ca ngợi. Ngay cuộc cách mạng tháng Tám của ta cũng là bắt nguồn từ nước ngoài
    mà các ông cốp đã thừa nhận "không có CM tháng Mười thì không có CM tháng Tám", ông Hồ tự thú nhận là mình theo chân ông Lênin để làm CM. Trong khi đó năm 1945 nhiều nước cùng làm CM như Ấn độ, PHi lipin, Indonexia thì chẳng cần nhờ nước nào cả.
    slinkee viết:
    Ý chính của bài: Muốn thực hiện giáo dục nhân văn hay gì đi nữa, nếu không phi Đảng hóa trong giáo dục, đừng hòng thành công . Phan Sơn muốn dạy nhân văn nhưng vẫn để vòng kim cô của Đảng ngõ hầu tạo ra những con người vừa có tính đảng vừa có nhân văn . Good Luck! Tính Đảng tự nó loại bỏ tri thức thì chỉ cho ra người máy chứ không thể ra người thường .

    Mà tại sao PS mê tính Đảng thế nhỉ ? Rõ mười mươi, thiên hạ ngoảnh mặt làm ngơ với tất cả hệ thống giá trị do đảng CS aka Cướp (từ của PS, không phải tớ), thì tại sao không quẳng phứt nó đi ? Hay đụng tới nồi cơm nhà bác ?

    Các bác mê tính Đảng, như Phan Sơn chẳng hạn, mặc dù không bình thường nhưng không sao vì đó là quyền tự do của bác ấy.
    Cái vấn đề nghiêm trọng là các bác ấy lại áp đặt bằng bạo lực cái tính Đảng cho tất cả mọi người, cho toàn xã hội, việc này không thể chấp nhận được vì, sorry, tôi cứ lầm tưởng rằng họ bị điên rồ

    Một trong những lý do, chính là nồi cơm của họ. Tôi có hai tên bạn, phong cách nó thay đổi hẳn khi bắt đầu có chức có quyền (trong EVN và hiệu phó). Khi hai tên bạn bắt đầu có nhiều đặc quyền thì né tránh bạn bè vì sợ bị nhờ vả, bị chỉ trích

    Không dám „vung vít“

    Thưa quý bác,
    Tôi thích tiêu đề của Dân Luận lắm: „Không gian mở bày tỏ quan điểm“; Cho nên tôi cố gắng để có một cái „quan điểm“ trước khi bày tỏ. Sợ rằng cứ vung vít lên thì „yêu nhau mà lại hơn mười hại nhau“!
    Đảng Cộng sản Việt Nam không phải toàn những vị … ngố. Ban „Tuyên Giáo“ (Tuyên truyền và Giáo dục) có bề dày kinh nghiệm và làm việc nghiêm túc. Nội dung thông thường của một bài nói chuyện gồm 3 phần:
    * Tình hình thế giới;
    * Âm mưu của địch;
    * Chủ trương hành động và nhiệm vụ của ta.
    Việc nói cộc lốc là rất hiếm; trừ khi … nói đùa!

    Muốn kể lại chuyện „chiến tranh“, muốn bàn về việc của „hòa bình“ thì nên suy nghĩ thêm về tính chất từng thời điểm. Tôi không chấp nhận những câu vô nghĩa (và cũng không „cố chấp“) nên rất cẩn trọng để tránh nói/viết ra „những câu vô nghĩa“.

    Xin lỗi vì ý kiến ngắn này,
    Thân mến.

    Đảng chỉ giáo dục về tính đảng, tính giai cấp, tính đấu tranh chứ không giaó dục tính nhân bản. Thế nhưng nhân loại lại cần tính nhân bản, đây mới là tính vĩnh cửu của mọi thời đại và mới làm nên giá trị của bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào. Trong quân đội thì rõ ràng nhất là giáo dục theo kiểu áp đặt, đừng thắc mắc, không giải đáp mà chỉ biết tuân theo, dĩ nhiên điều này tôi muốn nói lên những đợt sinh hoạt chính trị, chứ không nói đến mệnh lệnh trong chiến đấu. Trong chiến đấu thì quân lệnh như sơn, kỷ luật làm nên sức manh. Trước kia, hồi còn chiến tranh, nhiều khi lính thắc mắc về các vấn đề ý nghiã của cuộc chiến tranh hoặc quan hệ Trung- xô, cấp trên không giải thích được thì trả lời: "Người lính chỉ biết đánh nhau." Nghĩa là biến người lính thành những chiếc máy giết người và đỡ đạn.
    Vấn đề phương pháp giáo dục đã hé mở dần dần rồi, vị nào có ý kiến gì thì bổ sung thêm. Bản thân tôi cũng thấy nhiều khi mình phải chấp nhận những câu nói vô nghĩa, không phù hợp lôgic, rất khó chịu, thế nhưng hỏi chính người nói, nhiều khi họ không trả lời được, họ lại đánh giá mình mắc bệnh tư tưởng. Ví dụ: Hồi cuối những năm 8O thập niên trước, đâu đâu cũng thấy nói đổi mới và đổi cả hệ thôgns chính trị, có người hỏi "Đổi mới thì cho biết cũ thế nào, mới thế nào? Đổi mới hệ thống chính trị thì có thay đổi CNXH sang tư bản không?" Ông cốp không biết trả lời thế nào nhưng không nhận mình là dốt mà có ác cảm với người đưa ra câu hỏi.

    Ý chính của bài: Muốn thực hiện giáo dục nhân văn hay gì đi nữa, nếu không phi Đảng hóa trong giáo dục, đừng hòng thành công . Phan Sơn muốn dạy nhân văn nhưng vẫn để vòng kim cô của Đảng ngõ hầu tạo ra những con người vừa có tính đảng vừa có nhân văn . Good Luck! Tính Đảng tự nó loại bỏ tri thức thì chỉ cho ra người máy chứ không thể ra người thường .

    Mà tại sao PS mê tính Đảng thế nhỉ ? Rõ mười mươi, thiên hạ ngoảnh mặt làm ngơ với tất cả hệ thống giá trị do đảng CS aka Cướp (từ của PS, không phải tớ), thì tại sao không quẳng phứt nó đi ? Hay đụng tới nồi cơm nhà bác ?

    Qua thảo luận, mỗi người góp một ý thì vấn đề phương tháp giáo dục sẽ được "khám phá" dần dần. Khách Sư phạm đã nêu lên một vài ý, theo tôi là đúng với điều người ta đang thắc mắc, cũng đồng thời thấy hai phương pháp giáo dục khác nhau của hai chế độ.
    Trước hết phương pháp giáo dục (giáo dục tư duy tức giáo dục cách học, cách làm việc) không phải là phương pháp sư phạm đơn thuần mà nó là một một quan điểm, một nét khác biệt của hai nền giáo dục. Nói phương pháp sư phạm tức là nói phương pháp giảng dạy, thì mỗi môn có một cách giảng dạy riêng, trong các trường sư phạm thì đó là giáo học pháp bộ môn, tức là phương pháp giảng cho từng bài ở từng bộ môn, nói tỷ mỉ tức là bài toán này (trong chương trình toán ) thì giảng thế nào cho học sinh, sinh viên dễ hiểu, bài văn này (trong môn văn) thì cần giảng thế nào, cần chú trọng chỗ nào, cấn nhấn mạnh chỗ nào.
    Còn các nước khác chú trong giảng triết học, xã hội và pháp luật quyền công dân cũng thuộc nội dung giảng dạy, không phải phương pháp tư duy.
    Còn phương pháp giáo dục cách tư duy ở đây như khách Sư phạm viết là "thầy giảng ý chính, học sinh tự tìm tòi...không học tủ" thì nó khác hẳn kiểu giáo dục của ta là giáo điều, nhồi nhét, thầy giảng trò nghe, cứ vẹt là được. Rõ ràng phương pháp giáo dục của nước ngoài nó khuyến khích và cho phép con người ĐỘC LẬP TƯ DUY, TẠO CHO CON NGƯỜI TA HỨNG THÚ HỌC TẬP VÀ TỰ TÌM TÒI SÂU HƠN và hứng thú hơn. Một điều khác nữa mà khách Sư phạm nêu lên ở nước ngoài nó khác ta là "quan trong là ý tưởng mình trình bày theo ý mình" tức là nó giải phóng tư duy cho con người, con người được TỰ DO TƯ DUY, giáo dục ở nước mình làm gì có điều gì, chính vì thế ta KHÔNG CÓ SÁNG TẠO MÀ CHỈ RẬP KHUÔN MÁY MÓC, BẮT CHƯỚC. Tóm tắt hai điều về phương pháp giáo dục thì có thể nói kiểu giáo dục ở nước ngoài nó làm cho con người động não và thông minh hơn nhờ não luôn luôn được "tập thể dục" chứ không trì trệ như ở ta, ở ta đi học là đi tập hô khẩu hiệu, con người sẽ biến thành cái máy, nhiều nhi biết sai cũng cứ phải hô, dần dần tư duy bị teo, bị thoái hóa. Trong môn xã hội học thì quá rõ, khi những người làm đề tài về triết học thì không có gì sáng tạo, không được tự do tư duy nên không phản biện mà chỉ cần phát triển thêm diễ giải thêm những tư tưởng của các nhà triết học mấc xít đã có sẵn. Nay ở nước mình đố ai giảng dạy trên bụ mà dám phê phán ông Hồ, ông Duẩn, ông Mác, ông Lê nin..., thậm chí các ông ấy nói sai cũng phải theo, phải ca ngợi. Ngay cuộc cách mạng tháng Tám của ta cũng là bắt nguồn từ nước ngoài
    mà các ông cốp đã thừa nhận "không có CM tháng Mười thì không có CM tháng Tám", ông Hồ tự thú nhận là mình theo chân ông Lênin để làm CM. Trong khi đó năm 1945 nhiều nước cùng làm CM như Ấn độ, PHi lipin, Indonexia thì chẳng cần nhờ nước nào cả.

    Khách Tôn Thất Khanh viết:
    NHìn chung thì tình hình gáo dục của ta lạc hậu hơn cả các nước trong khu vực, chứ chưa nói gì đến các nước tiên tiến có nền tảng giáo dục truyền thống. Về nội dung giáo dục thì nhiều người đã bàn rồi, tuy rằng có thể là chưa hoàn chỉnh vì mỗi người chỉ góp một ý nhỏ. NHưng điều cần thiết là phương pháp giáo dục thì chưa thấy ai lên tiếng. Sao lại thế, điều này khó đến nỗi vượt ra khỏi sự hiểu biết của cả người trong nước lẫn ngoài nươc hay sao? Cùng một con người, cùng một chương trình giảng dạy, nhưng vì phương pháp giảng dạy (phương pháp dạy cách tư duy) khác nhau mà người trong nước kém hơn người học ở nước ngoài (vì thế các ông cốp và những người giầu có thường cho con cái ra nước ngoài học tập). Bác nào biết hay bác nào đã ở nước ngoài được học tập với phương pháp giáo dục tốt thì lên tiếng phổ biến cho nhiều người biết. Dạy kiến thức tức là cho con cá, ăn hết thì thôi, dạy phương pháp tư duy là cho cái cần câu, người ta biết cách mà học để nâng cao trình độ, có thể học một thì biết mười. Tìm tất cả những điều này trên mạng đều không thấy và cũng không thấy quyển sách nào ở trong nước nói về vấn đề này. Có lẽ sách nước ngoài thì có nhưng chưa thấy ai dịch sang tiếng nước mình. Người mình hay lý luận những cái không cần, nhưng cái cần thì lại không thấy ai nêu ra.

    Ở đây bác bàn đến phương pháp sư phạm rồi đấy.
    Tôi không phải là nhà sư phạm, chỉ cho vài cảm nhận của riêng tôi.

    Ở nước ngoài nơi mà tôi biết, trung và đại học :
    - thày giảng, học sinh tự chép theo ý mình
    - theo chủ đề : thày giảng ý chính, học sinh tự tìm tòi, theo nhóm hoặc một mình, sau đó thuyết trình (trung học) hoặc làm báo báo (đại học). Cái này coi vậy mà khó, không dễ đâu vì mất rất nhiều thời giờ đấy để tìm tòi
    - giờ lab, phải chuẩn bị kỹ ở nhà trước khi thực tập
    - khi thi, có môn là sách mở, quan trọng là hiểu để giải thích cho thày đồng ý
    - có thể ở nhà, đại học, không đi nghe giảng nhưng nguy hiểm là khi ra thi mấy ông thày hay vặn vẹo mấy câu mà chỉ có khi nào đi nghe thì mới biết vì không có trong sách
    - nặng về xã hội, triết học, quyền và nghĩa vụ công dân hơn là chính trị đảng phái, chủ nghĩa. Thoải mái bình luận theo ý mình miễn là từng bước logic, không có bài mẫu học tủ, không cần tung hô ai là vĩ đại kiệt xuất.
    Quan trọng là ý tưởng mình trình bày theo ý mình, tối kỵ việc bợ đít người khác. Có một lần, trung học, tôi làm bình luận một câu danh ngôn. Do thói quen bợ đít đem từ VN qua, tôi khen tối đa câu này, với dẫn chứng ... Ông thày đọc xong gật gù, sửa một số lỗi chính tả, văn phạm rồi hỏi tôi đây là ý tưởng trung thực sao ? Tôi không có thắc mắc gì sao mà chỉ thấy tuyệt đối "đồng thuận" với tác giả ? Nó có đúng cho mọi người, mọi nơi, mọi lúc và mình có thích nó không ? Tôi suy nghĩ một lúc rồi trình bày thêm ...

    NHìn chung thì tình hình gáo dục của ta lạc hậu hơn cả các nước trong khu vực, chứ chưa nói gì đến các nước tiên tiến có nền tảng giáo dục truyền thống. Về nội dung giáo dục thì nhiều người đã bàn rồi, tuy rằng có thể là chưa hoàn chỉnh vì mỗi người chỉ góp một ý nhỏ. NHưng điều cần thiết là phương pháp giáo dục thì chưa thấy ai lên tiếng. Sao lại thế, điều này khó đến nỗi vượt ra khỏi sự hiểu biết của cả người trong nước lẫn ngoài nươc hay sao? Cùng một con người, cùng một chương trình giảng dạy, nhưng vì phương pháp giảng dạy (phương pháp dạy cách tư duy) khác nhau mà người trong nước kém hơn người học ở nước ngoài (vì thế các ông cốp và những người giầu có thường cho con cái ra nước ngoài học tập). Bác nào biết hay bác nào đã ở nước ngoài được học tập với phương pháp giáo dục tốt thì lên tiếng phổ biến cho nhiều người biết. Dạy kiến thức tức là cho con cá, ăn hết thì thôi, dạy phương pháp tư duy là cho cái cần câu, người ta biết cách mà học để nâng cao trình độ, có thể học một thì biết mười. Tìm tất cả những điều này trên mạng đều không thấy và cũng không thấy quyển sách nào ở trong nước nói về vấn đề này. Có lẽ sách nước ngoài thì có nhưng chưa thấy ai dịch sang tiếng nước mình. Người mình hay lý luận những cái không cần, nhưng cái cần thì lại không thấy ai nêu ra.

    Phan Sơn viết:
    Chủ nghĩa nhân văn và thực tế viết:

    GS Tương Lai viết "trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn". Phan Sơn không đọc câu này sao? Những khái niệm liên quan chặt chẽ với chủ nghĩa nhân văn: tự do, khoan dung (chấp nhận sự khác biệt), độc lập, cởi mở, trí tò mò tìm tòi.

    GS Tương Lai nên triển khai chủ nghĩa nhân văn này với ví dụ cụ thể thành công trong thực tế hơn là viết dài dòng những cái không liên quan và lại đi tung hô thần tượng hóa người khác mặc dù những người này, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, hoàn toàn thất bại trong xây dựng thực tế.

    Việc tung hô thần tượng hóa người khác để áp đặt, tự nó đi ngược lại với tinh thần của tự do, độc lập.

    Muốn khen thì tìm mọi cách để khen, kể cả những cái không đúng, nhưng muốn phủ nhận thì sẽ tìm mọi cách để phủ nhận, kể cả cái tưởng tượng ra.

    Căn cứ vào những gì ông biện luận, tôi thấy điều được ông gọi là “lối ra” cho cuộc canh tân hiện nay chẳng có gì là rõ ràng. Tất cả vẫn chìm ngập trong bãi lầy không lối thoát. Theo ý kiến của ông, với một Nhà nước XHCN thì trông cậy vào sự thay đổi minh bạch là chuyện mò kim đáy biển.

    Một cái nhìn khách quan về đất nước hiện nay là điều thật sự cần thiết, đúng như tác giả mong muốn.

    Giáo dục là của chung đất nước cho nên nó cần sự tham gia, đánh giá của mọi tầng lớp trước khi có quyết định chung.
    Lối ra cho nền giáo dục VN cần có sự hợp tác của các nhà giáo dục VN trong và ngoài nước, cộng thăm dò ý kiến toàn dân.
    Việc đầu tiên nên đánh giá hạ tầng cơ sở trường ốc, số lượng học sinh mọi cấp, số lượng giáo viên, giáo sư, sự phân bổ ra sao ?
    Chi phí để xây dựng thêm, bảo trì, trả lương, cho giáo viên, đào tạo giáo viên.
    Lương giáo viên chắc chắn không thể tăng mãi do giới hạn của ngân sách quốc gia nhưng nhất định phải làm sao cho họ đủ sống một cách bình thường để họ an tâm làm việc

    Chương trình giáo dục là việc nòng cốt, cố gắng giữ ổn định trong vòng 5 năm chứ không nên thay đổi cải tổ hàng năm.

    Nếu đặt "trọng tâm là con người" (không phải một chủ nghĩa, một đảng phái nào cả), vài điểm nên cố gắng đạt tới cho giáo dục :

    - Một chất lượng giáo dục tốt và chung cho tất cả mọi người : tránh việc cạnh tranh giữa các trường và giữa các học sinh như trường điểm. Mọi công dân cần có sự bình đẳng trong cơ hội giáo dục

    - Cải tổ và nâng cao chất lượng các trường dạy nghề và kỹ thuật. Trong xã hội cần có thợ giỏi và thật giỏi cho các ngành nghề cần thiết chứ không phải toàn là tiến sĩ, thạc sĩ

    - Tăng cường chất lượng giáo dục sao cho ngăn chặn "việc ở lại lớp" có hiệu quả, không báo cáo gian lận

    - Cải thiện quản lý các trường, cải tổ cấu trúc : phi đảng phái

    ...

    Dạo này lắm me-xừ lề phải nóng mũi nhảy vào DL, cũng thanh minh, cũng châm chích, cũng lập trường này nọ. Cũng vui.

    Phan Sơn viết:

    Một cái nhìn khách quan về đất nước hiện nay là điều thật sự cần thiết, đúng như tác giả mong muốn.

    Bác Phan Sơn nói câu này đúng.

    Tuy nhiên như thế nào là khách quan?. Khách quan, chủ quan là cảm tính. Sự thật thì không có cảm tính. Nó trần trụi, phơi bày ra cho tất cả mọi người thấy,nếu muốn. Nhưng cũng có những người không muốn thấy, nghe sự thật. Sự thật mà bác Sinkee đã viết là " phi chính trị, phi đảng trị trong học đường, giáo dục ". Đặt trọng tâm là Người, làm Người và làm người Việt Nam. Như câu Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín mà giáo dục VN qua bao thời đại (trừ thời CS) đã từng coi là chuẩn.

    Bác đòi hỏi chúng ta cần khách quan. Nhưng chúng ta phải khách quan như thế nào về tình trạng, nền giáo dục tại VN ngày hôm nay?

    Tình trạng chạy trường, chạy lớp, phong bì biếu thầy cô để được " đặc biệt " chú ý đến, bằng giả lan tràn..... Khả năng thật sự của học sinh, SV cần được đánh giá khách quan như thế nào? Khi xin việc làm? Xin đi du học?

    Một câu hỏi khác được đặt ra là: Tại sao đa số thanh niên VN, những người bị hưởng nền giáo dục tại VN thua các bạn người nước ngoài cùng lứa tuổi, cũng có bằng tú tài?

    Em thật tình xấu hổ cho 2 SV từ VN qua, thực tập ở chỗ em làm. Nói tiếng Đức thì kém, khả năng chuyên môn thì không bằng các SV khác. Nhưng khi có mặt em và vài đồng nghiệp người Đức khác thì không chịu nói tiếng Đức, lại nói tiếng Việt với em, làm em đỏ mặt phải chỉnh mấy lần.

    Chủ nghĩa nhân văn và thực tế viết:

    GS Tương Lai viết "trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn". Phan Sơn không đọc câu này sao? Những khái niệm liên quan chặt chẽ với chủ nghĩa nhân văn: tự do, khoan dung (chấp nhận sự khác biệt), độc lập, cởi mở, trí tò mò tìm tòi.

    GS Tương Lai nên triển khai chủ nghĩa nhân văn này với ví dụ cụ thể thành công trong thực tế hơn là viết dài dòng những cái không liên quan và lại đi tung hô thần tượng hóa người khác mặc dù những người này, Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, hoàn toàn thất bại trong xây dựng thực tế.

    Việc tung hô thần tượng hóa người khác để áp đặt, tự nó đi ngược lại với tinh thần của tự do, độc lập.

    Muốn khen thì tìm mọi cách để khen, kể cả những cái không đúng, nhưng muốn phủ nhận thì sẽ tìm mọi cách để phủ nhận, kể cả cái tưởng tượng ra.

    Căn cứ vào những gì ông biện luận, tôi thấy điều được ông gọi là “lối ra” cho cuộc canh tân hiện nay chẳng có gì là rõ ràng. Tất cả vẫn chìm ngập trong bãi lầy không lối thoát. Theo ý kiến của ông, với một Nhà nước XHCN thì trông cậy vào sự thay đổi minh bạch là chuyện mò kim đáy biển.

    Một cái nhìn khách quan về đất nước hiện nay là điều thật sự cần thiết, đúng như tác giả mong muốn.

    Phan Sơn viết:
    GS Tương Lai viết:
    Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể "để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó" trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính nền tảng đó. Thiếu nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoits, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây.

    Tôi thấy trong việc phê phán văn hoá giáo dục của tác giả có nhiều điều không ổn. Gọi là phê phán nhưng thực sự chỉ là đối chiếu về khái niệm để chỉ trích, thiếu hẳn những quy chiếu lịch sử, nhất là khi ông lại căn cứ vào những gì mình chỉ trích.

    Tôi có cảm giác như trong biện luận của ông đã khởi đầu từ một ý tưởng nào đó được cho là đúng, rồi cứ thế mà đẩy đến tận cùng. Bất chấp thời điểm, bất chấp thực tế, ông đã coi việc chọn lựa một tư tưởng chính trị giống như việc chọn hàng ngoài chợ, tuỳ thuộc hoàn toàn vào ý chí của con người, không cần quan tâm đến điều kiện thực hiện! Một thứ biện luận như vậy đã chứng minh thêm rằng lối tư duy của ông chỉ là một lối nói cốt cho lấy được để bảo vệ cho lấy được thái độ rất tuỳ tiện trong nhận định về chính trị trong phát biểu của mình.

    Cần làm, bớt nói

    Nhắc đến giáo dục, hầu như ai cũng thấy mình có thẩm quyền để lên tiếng. Điều đáng tiếc là ngay cả các chuyên gia giáo dục, tại nhiều diễn đàn góp ý cho ngành giáo dục, chỉ nhắc đi nhắc lại các cụm từ quá quen thuộc như “chấn hưng giáo dục”, “triết lý giáo dục”, “đổi mới giáo dục” chứ ít khi đi vào các vấn đề cụ thể. Ngành giáo dục lại thiếu vắng những công trình nghiên cứu làm nền tảng cho những cải cách cần thiết.
    em

    GS Tương Lai viết "trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn". Phan Sơn không đọc câu này sao ?

    Chủ nghĩa con người (nhân văn) nhắm đến :
    - Tài sản văn hóa
    - Con người có giáo dục đúng đắn
    - Con người tự do (tư tưởng, ngôn luận, ...)
    - Con người có hoàn toàn trách nhiệm với những hành động của họ khi lựa chọn

    Những khái niệm liên quan chặt chẽ với Chủ nghĩa nhân văn : tự do, khoan dung (chấp nhận sự khác biệt), độc lập, cởi mở, trí tò mò tìm tòi

    GS Tương Lai nên triển khai chủ nghĩa nhân văn này với ví dụ cụ thể thành công trong thực tế hơn là viết dài dòng những cái không liên quan và lại đi tung hô thần tượng hóa người khác mặc dù những người này, HCM, LD, VVK, hoàn toàn thất bại trong xây dựng thực tế.
    Việc tung hô thần tượng hóa người khác để áp đặt, tự nó đi ngược lại với tinh thần của tự do, độc lập, trí tò mò tìm tòi

    Trích dẫn:
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_nh%C3%A2n_v%C4%83n

    Chủ nghĩa nhân đạo, còn được gọi là chủ nghĩa nhân văn, là một nhánh triết học luân lý lớn cũng như một thế giới quan chuyên chú vào lợi tức, giá trị và phẩm cách của cá nhân. Theo chủ nghĩa nhân đạo, khoan dung, bất bạo động và tự do lương tâm là những nguyên tắc quan trọng cho sự cộng sinh của nhân loại.

    Hiện nay có tình trạng là có những biểu hiện sờ sờ ra đấy, nhưng lại có tình trạng NHÌN MÀ KHÔNG THẤY, THẤY MÀ KHÔNG NGHĨ, NGHĨ MÀ KHÔNG RA. Đó là kết quả của một nền giáo dục cứng nhắc, giáo điều và khiên cưỡng. Hiến pháp quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, nhưng trong thực tế thì chưa tự do ngôn luận mà ngay đến tư duy cũng không được tự do, không tự do tư duy thì không sáng tạo, thế nhưng trong giáo dục thì cũng không cho tự do tư duy mà tư duy cũng bị bao cấp, chỉ biết bảo sao nghe vậy. Chính vì thế hiện nay đang có hiện tượng thoái hóa tư duy, nghiã là tư duy của con người phi logique, mà điều này lại chính do những ông cốp gây ra, nghĩa là con người cứ phải thừa nhận những điều vô lý, không được thắc ắc, biết là sai nhưng không phản biện nên dần dần thành thói quen lười suy nghĩ. Đã lười suy nghĩ thì đầu óc không phát triển được là điều dĩ nhiên. Lấy ngay thì dụ mấy cái mâu thuẫn và mấy cái quẩn mà ta vẫn thấy tồn tại:
    TRước đây thì 1- Ta độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo. Đã độc lập mà lại chịu sự lãnh đạo của nước khác, thế mà vẫn cứ phải thừa nhân đó là đúng.
    2- Ta thừa nhận 5 hình thái ý thức xã hội là quy luật, nhưng lại đốt cháy giai đoạn, bỏ qua thời kỳ tư bản, tiến thẳng lên CNXH. Thế là đúng hay sai quy luật?
    Nay thì: 1- Kinh tế thì trường định hướng XHCN. KTTT là tự do cạnh tranh, theo quy luật cung cầu, còn XHCN là kế hoạch hóa.
    2- Ta muốn làm bạn với các nước nhưng ta lại "cảnh giác trước âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch". Tại sao ta có "các thế lực thù địch" tức là nhiều kẻ thù thế? Tại nó hay tại ta? Vậy làm thế nào để không có kẻ thù, tức không có các thế lực thù địch thì không thấy ai nêu ra? Các nước chống chiến tranh, còn ta thì chống diễn biến hòa bình !!!
    3- Đa phương háo đa diện hóa, nhưng lại khăng khăng giữ vững nguyên tắc một đảng.
    4- Vừa thực hiên dân chủ, nhưng lại chỉ có người này lập ra đảng này và cấm người khác không được lập ra đảng khác. Dân chủ thì phải bình đẳng giữa mọi người với nhau chứ.
    5- Thế rồi lại còn "Ta theo chủ nghãi Mác Lê nin và tư tưởng HCM, tư tưởng HCM là độc lập dân tộc gắn với CNXH". ĐÃ độc lập dân tộc mà lại gắn với CHXH mà không thấy mâu thuẫn hay sao? CNXH là chỉ thấy giai cấp mà xóa nhòa biên giới quốc gia, CNXH là thế giới đại đồng. Vừa đề cao tính dân tộc lại vừa theo chủ nghĩa của hai ông Tây ngoại bang và khi chết cũng về với hai ông Tây chứ không về với tổ tiên mình.
    6- Vừa tôn vinh chiến sĩ cộng sản vừ tôn vinh doanh nhân (tức tư bản). Chống áp bức bóc lột nhưng lại phát triển tư bản trong nước và mời tư bản nước ngoài vào bóc lột công nhân.
    Có nhiều cái mâu thuẫn giữa lý thuyết với thực tế, nhưng lại có cái mâu thuẫn giữa lý thuyết với lý thuyêt. Nhiều ông cốp nói có lời mà không có nghiã, vậy mà toàn dân cứ phải học thuộc lòng. Những cái sai này xuát hiện từ lâu, nhưng chẳng thấy các GS TS, các nhà lý luận phát hiện ra mà chỉ bàn tán những điều đâu đâu ấy. Đó cũng là do kết quả giáo dục, càng học cao càng bị nhồi sọ nhiều và bỏ thói quen độc lập tư duy. Xem ngay bài viết của GS Tương Lai cugnx thấy biểu hiện ý này ở một số đoạn.

    Giáo dục "làm người" nếu dạy ngay từ khi đi nhà trẻ, 4 tháng - 24 tháng, là cụ thể bằng những câu đơn giản như :

    - cám ơn - thanks - merci - danke - bedankt
    - xin vui lòng - please - SVP - Bitte - AUB

    Có giá trị cho cả các quan chức cao cấp

    Khách Lê Đăng Thích viết:
    ...
    Chính ta nặng về giáo dục lý tưởng tôn thờ CNXH và những ông Mác Lênin Hồ Chí Minh mà nhẹ về giáo dục "làm người" nên bỏ qua những cách cư xử của người với người như các cụ ngày xưa đã dạy, rất nhiều tính nhân văn như giáo sư đã nêu trong bài và làm hỏng thế hệ trẻ. Nhiều người đã nhận xét con người hiện nay, kể cả các quan chức đều không biết nhân cách, không biết trọng danh dự, thậm chí còn không biết yêu nước, mà chỉ biết yêu Đảng, đó là giáo dục sai lầm, thực chất có thể nói là thiếu giác ngộ chính trị.
    Chính vì không được giáo dục về nhân cách và danh dự nên con người ngày nay rất "thực dụng", chỉ biết để lợi ích cá nhân lên hàng đầu và làm nhiều điều xỉ nhục mà không biết xấu hổ, ngay cả đội ngũ cán bộ cao cấp cũng vậy thôi, nhiều khi còn nặng nề hơn cả phó thường dân, biểu hiện là hứa hão, nói một đằng, làm một nẻo, giả dối, tham lam, ăn cắp (tham nhũng)... Giá trị đạo đức bây giờ hầu như đảo ngược vì vậy mới có những cách sống đua đòi, hợm hĩnh, phô trương như trong bài GS đã dẫn chứng.
    Về nội dung giáo dục thì đã có những sai lầm như vậy, nhưng phương pháp giáo dục thì lại nhồi nhét, áp đặt, không khuyến khích con người sáng tạo, mà chỉ rập khuôn máy móc, thậm chí làm thui chột cả khả năng phát triển tư duy của con người.

    Chắc bác Phan Sơn là giảng viên chính trị phổ cập cấp mẫu giáo nên lồng lộn lên trước đề nghị phi chính trị hóa -thật ra là phi đảng hóa- xã hội và giáo dục của ông Tương Nai .

    Lách cỡ ông này thuộc loại thượng thừa nên tôi không biết thật sự ông hiểu hay ông không hiểu một số khái niệm như chuyên chính ... Benefits of the doubt, tôi bỏ qua .

    1 baby step at a time. Tôi mong ông hiểu được “Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta” [Berger]

    Gửi Phan Sơn!
    Cảm ơn bạn đã hồi đáp, nhưng có gì trí trá (плутовск|́ой прил) trong đó không khi tôi hỏi: Bạn nghĩ rằng chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện bán phá giá" thôi sao? - Tức là tôi hỏi bạn, ngoài ý nghĩa trong các vụ kiện bán phá giá, chế độ phi thị trường còn có ý nghĩa nào khác không? - Thì bạn lại đi giải thích về chế độ phi thị trường và các quy định trong việc kiện bán phá giá?
    Xin lỗi Sơn! Nếu không biết kiến thức trong việc này hoặc việc nào đó, tôi sẽ hỏi anh "Ngukhờ" hoặc hỏi cái giá sách của tôi chứ đâu đần độn đi hỏi bạn, bởi những kiến thức của bạn là không thể so sánh với anh "Ngukhờ".. được.
    Nhưng cái mà anh "Ngukhờ" và giá sách không thể có chính là suy nghĩ, tư duy, chính kiến của cá nhân bạn, là phẩm chất người của bạn để phân biệt với cái giá sách, để khẳng định cái tôi của mỗi cá nhân (người) tự do độc lập không nô lệ thuộc vào ai hết, dù thằng đó có "vĩ đại" đến đâu.. Vậy mà bạn luôn hạ thấp phẩm chất người.. bằng "phong cách" tầm chương trích cú trong những còm với độc giả ở diễn đàn DL này.
    Điều đó là có lý do của nó.
    Bởi, hạ thấp phẩm chất người.. chính là văn hoá triết lý giáo dục của "đảng" và nhà nước xhcn, mà có lẽ theo PHan Sơn là đã có tính tới những quy chiếu của lịch sử, phù hợp với thời điểm, thoả mãn được thực tế là đã biến những THẦN DÂN của chế độ Thực dân Phong kiến.., thành những NÔ LỆ cho "đảng" và nhà nước xhcn hiện nay..
    Tởm!

    Đồng kính gửi Tôn Thất Khanh!
    Động cơ của chính thể toàn trị của "đảng" và nhà nước xhcn vận hành được đòi hỏi phải có sự phục tùng.., vậy nhân phẩm và danh dự không những là không cần thiết mà còn hết sức nguy hiểm cho chế độ toàn trị này..
    Tôi đồng ý với bạn, việc giáo dục danh dự nhân phẩm là cần thiết, nó là không gian tương đối độc lập và đẹp đối với tâm hồn mỗi cá nhân, nhưng lại không đủ chỗ cho một xh văn minh hơn, bởi bản chất danh dự nhân phẩm cũng là một dục vọng hướng tới đòi hỏi ưu đãi hơn người..
    Nên, giáo dục của chế độ văn minh dân chủ mà chúng ta hướng tới, cần làm được nhiều hơn việc chỉ giáo dục nhân phẩm danh dự cho mọi CÔNG DÂN của mình..
    Trân trọng!

    GS Tương Lai viết:
    Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể "để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó" trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính nền tảng đó. Thiếu nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoits, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây.

    Tôi thấy trong việc phê phán văn hoá giáo dục của tác giả có nhiều điều không ổn. Gọi là phê phán nhưng thực sự chỉ là đối chiếu về khái niệm để chỉ trích, thiếu hẳn những quy chiếu lịch sử, nhất là khi ông lại căn cứ vào những gì mình chỉ trích.

    Tôi có cảm giác như trong biện luận của ông đã khởi đầu từ một ý tưởng nào đó được cho là đúng, rồi cứ thế mà đẩy đến tận cùng. Bất chấp thời điểm, bất chấp thực tế, ông đã coi việc chọn lựa một tư tưởng chính trị giống như việc chọn hàng ngoài chợ, tuỳ thuộc hoàn toàn vào ý chí của con người, không cần quan tâm đến điều kiện thực hiện! Một thứ biện luận như vậy đã chứng minh thêm rằng lối tư duy của ông chỉ là một lối nói cốt cho lấy được để bảo vệ cho lấy được thái độ rất tuỳ tiện trong nhận định về chính trị trong phát biểu của mình.

    Cần làm, bớt nói

    Nhắc đến giáo dục, hầu như ai cũng thấy mình có thẩm quyền để lên tiếng. Điều đáng tiếc là ngay cả các chuyên gia giáo dục, tại nhiều diễn đàn góp ý cho ngành giáo dục, chỉ nhắc đi nhắc lại các cụm từ quá quen thuộc như “chấn hưng giáo dục”, “triết lý giáo dục”, “đổi mới giáo dục” chứ ít khi đi vào các vấn đề cụ thể. Ngành giáo dục lại thiếu vắng những công trình nghiên cứu làm nền tảng cho những cải cách cần thiết.
    em

    Bài viết về giáo dục, nhưng lại có vài người lại bàn luận về kinh tế, có điều rất sơ đẳng về kinh tế mà cứ phải tranh luận, trong khi đó lại bỏ qua bàn về giáo dục. Thôi thì có một vài ý kiến ngắn về kinh tế xem có chấm dứt được việc bàn luận lạc đề được không, rồi sẽ bàn ngay về giáo dục. KTTT là kinh tế tư bản, tức là có cạnh tranh, Mỹ không công nhận nền kinh tế của ta là KTTT, vì chính ta cũng nói nửa vời như thế, tức là "KTTT định hướng XHCN", đã XHCN tức là có bao cấp, nhà nước dúng tay vào.
    Còn GS Tương Lai cũng nêu lên vấn đề giáo dục lý tưởng và giáo dục về "những phẩm chất người". Điều này thì GS có một vài kiến giải đúng. Ta nặng về giáo dục lý tưởng, thực chất là giáo dục chính trị, nhưng lại giáo dục sai lầm và mơ hồ. Chính điều này mà cả hai phe đều phê ta thiếu giác ngộ chính trị. Ta giáo dục lý tưởng là bồi dưỡng hay nhồi nhét cho con người (chủ yếu là thanh thiếu nhi) một mớ hỗn tạp về đấu tranh giai cấp, xây dựng một xã hội không có giai cấp, không có bóc lột và thế giới đại đồng, tình hữu nghị của giai cấp vô sản, một thời thì ca ngợi Liên xô và Trung quốc, một thời lại tẩy chay và lên án Trung quốc, rồi lại "16 chữ vàng". Điều này thì rõ ràng "vòng tròn nhỏ" mâu thuẫn với "vòng tròn lớn" và nhiều khi hai "vòng tròn" quay ngược chiều nhau. Lấy thí dụ cho dễ hiểu: thời trước thì trong nhà trường và báo chí cứ nêu cao "tình hữu nghị của giai cấp vô sản" nhưng trong các mít tinh chào đón các quan lớn cảu các nước XHCN sang thăm ta thì trên khác đài hai quan chức cấp cao của ta và của nước ngoài ôm hôn nhau thắm thiết, nhưng nếu ở dưới, người mình mà nói chuyện với người nước ngoài thì công an đến hỏi người mình chứng minh thư rồi ghi sổ và theo dõi. Cái mâu thuẫn hai vòng tròn này thì nay quá rõ, vừa giáo dục lòng yêu nước, yêu Tổ quốc, vừa bỏ tù người yêu nước biểu tình chống Trung quốc, rồi nhà nước tỏ thái độ hèn nhát trước thái độ hung hăng của Trung quốc ở biển Đông.
    Chính ta nặng về giáo dục lý tưởng tôn thờ CNXH và những ông Mác Lênin Hồ Chí Minh mà nhẹ về giáo dục "làm người" nên bỏ qua những cách cư xử của người với người như các cụ ngày xưa đã dạy, rất nhiều tính nhân văn như giáo sư đã nêu trong bài và làm hỏng thế hệ trẻ. Nhiều người đã nhận xét con người hiện nay, kể cả các quan chức đều không biết nhân cách, không biết trọng danh dự, thậm chí còn không biết yêu nước, mà chỉ biết yêu Đảng, đó là giáo dục sai lầm, thực chất có thể nói là thiếu giác ngộ chính trị.
    Chính vì không được giáo dục về nhân cách và danh dự nên con người ngày nay rất "thực dụng", chỉ biết để lợi ích cá nhân lên hàng đầu và làm nhiều điều xỉ nhục mà không biết xấu hổ, ngay cả đội ngũ cán bộ cao cấp cũng vậy thôi, nhiều khi còn nặng nề hơn cả phó thường dân, biểu hiện là hứa hão, nói một đằng, làm một nẻo, giả dối, tham lam, ăn cắp (tham nhũng)... Giá trị đạo đức bây giờ hầu như đảo ngược vì vậy mới có những cách sống đua đòi, hợm hĩnh, phô trương như trong bài GS đã dẫn chứng.
    Về nội dung giáo dục thì đã có những sai lầm như vậy, nhưng phương pháp giáo dục thì lại nhồi nhét, áp đặt, không khuyến khích con người sáng tạo, mà chỉ rập khuôn máy móc, thậm chí làm thui chột cả khả năng phát triển tư duy của con người.

    Phan Sơn viết:
    Longdan viết:
    Gửi Phan Sơn!

    Bạn nghĩ rằng chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện bán phá giá" thôi sao?

    Nền kinh tế phi thị trường (non-market economy) được dùng để chỉ các nền kinh tế nơi chính phủ có độc quyền hoặc gần như độc quyền về thương mại và ấn định giá cả nội địa. Mỗi nước điều tra có quy định riêng về các tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường. Khi một nước xuất khẩu bị xem là có nền kinh tế phi thị trường thì các nguyên tắc tính toán Giá thông thường sẽ không được sử dụng và nước nhập khẩu có thể sử dụng các phương pháp tính toán khác mà mình cho là hợp lý.

    Trên thực tế, quy định này tạo ra bất lợi rất lớn cho các nhà sản xuất/xuất khẩu từ nước bị xem là có nền kinh tế phi thị trường. Pháp luật một số nước để ngỏ khả năng từng nhà sản xuất/xuất khẩu có thể chứng minh rằng hoạt động kinh doanh của mình hoàn toàn tuân theo các nguyên tắc thị trường dù cho nền kinh tế nước xuất khẩu bị xem là phi thị trường.

    Bài này viết về giáo dục. Không viết về kinh tế. Nhưng bác Phan Sơn đưa ra một phản biện, em thấy cần phải đối thoại nên em trả lời, nhưng em sẽ không tiếp tục viết về kinh tế. Em sẽ viết về kinh tế trong một topic về kinh tế. Voila?

    Nền kinh tế phi thị trường - non-market economy- chỉ là một cụm từ khác của nền kinh tế CN Xã Hội. Vì chỉ ở trong nền kinh tế CN Xã Hội, một nơi không có sự cạnh tranh trên thị trường, nhà nước gần như độc quyền trên thị trường..... nên là phi thị trường, là kinh tế chủ nghĩa xã hội! Và đã là phi thị trường, là kinh tế chủ nghĩa xã hội thì sẽ không được công nhận là KTTT. Vậy thôi. Nói nhiều chi cho mệt.

    Phan Sơn viết:
    khach đọc chơi viết:
    Trong mô hình kinh tế thị trường không chỉ có thị trường, chính vì vậy Việt Nam mới cố gắng kêu gọi các nước công nhận mình là KTTT nhưng vẫn chưa được công nhận.

    Rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là vấn đề luật và thực thi luật. Trong đó, nổi bật nhất là thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Một vấn đề nữa cũng khiến Việt Nam chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường chính là vấn đề phân biệt quyền sở hữu đối với các công ty trong và ngoài nước. Đây là một điều không được chấp nhận trong nền kinh tế thị trường.

    Làm cách nào để khắc phục, vượt qua cái " Rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là vấn đề luật và thực thi pháp luật . Trong đó, nổi bật nhất là thực thi quyền sở hữu trí tuệ. "?.
    Bác Phan Sơn (và đảng CS VN) nhận ra điều này, vậy đảng và nhà nước VN có muốn vượt qua cái gọi là " rào cản này không?", Nếu muốn thì bằng cách nào?

    Bác Phan Sơn viết:
    " Một vấn đề nữa cũng khiến Việt Nam chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường chính là vấn đề phân biệt quyền sở hữu đối với các công ty trong và ngoài nước. Đây là một điều không được chấp nhận trong nền kinh tế thị trường."

    Hiện Chính phủ Việt Nam đang vận động Quốc hội Mỹ công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường.

    Nếu biết là như vậy, là điều không được chấp nhận trong nền kinh tế TT, thì tại sao không thay đổi? Để được công nhận. Vận động thì cứ vận động nhưng không thay đổi từ căn bản, từ gốc, thì vận động đến bao giờ?

    Xin hoài mà người ta không cho thì phải thay đổi chứ!!

    Cứ nhập nhằng, cứ dán cái đuôi định hướng CNXH mãi, ai thèm công nhận mà cứ đi vận động. Chỉ biết đem tiền thuế của dân để đi vận động cho những gì mà đảng biết là không được, là nghĩa làm sao??

    Bác nào hiểu, kể cả bác Phan Sơn, giải thích dùm cho cái đầu tăm tối của em. Em cám ơn nhiều.

    Longdan viết:
    Gửi Phan Sơn!

    Bạn nghĩ rằng chế độ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện bán phá giá" thôi sao?

    Nền kinh tế phi thị trường (non-market economy) được dùng để chỉ các nền kinh tế nơi chính phủ có độc quyền hoặc gần như độc quyền về thương mại và ấn định giá cả nội địa. Mỗi nước điều tra có quy định riêng về các tiêu chí xác định nền kinh tế phi thị trường. Khi một nước xuất khẩu bị xem là có nền kinh tế phi thị trường thì các nguyên tắc tính toán Giá thông thường sẽ không được sử dụng và nước nhập khẩu có thể sử dụng các phương pháp tính toán khác mà mình cho là hợp lý.

    Trên thực tế, quy định này tạo ra bất lợi rất lớn cho các nhà sản xuất/xuất khẩu từ nước bị xem là có nền kinh tế phi thị trường. Pháp luật một số nước để ngỏ khả năng từng nhà sản xuất/xuất khẩu có thể chứng minh rằng hoạt động kinh doanh của mình hoàn toàn tuân theo các nguyên tắc thị trường dù cho nền kinh tế nước xuất khẩu bị xem là phi thị trường.

    Pages