Phan Hoàng Linh - Mấy góc nhìn về luật tố tụng hình sự... (phần 1)

  • Bởi Admin
    11/03/2012
    6 phản hồi

    Phan Hoàng Linh

    Mấy hôm nay tôi có đến xem vài phiên tòa hình sự. Cảm giác ban đầu của tôi khá hồi hộp vì đây là lần đầu tiên tôi thực sự dự khán chốn tụng đình. Song khi ra về, trong tôi lại dấy lên nhiều băn khoăn.

    Tôi cảm thấy dường như “chốn công đường” chưa được chúng ta thật sự coi trọng – ngay cả đối với những người học luật và làm luật. Mấy phiên tòa vừa qua không đọng lại trong tôi nhiều điều phấn khởi, trái lại là không ít những suy tư về việc xét xử của chúng ta.

    Bạn sẽ hỏi tôi lý do vì sao? Tôi có thể kể ra cho bạn cả tá, nhưng tôi ngẫm ra, chung quy lại chỉ vì một lý do duy nhất thôi, chúng ta chưa coi trọng luật tố tụng.

    Vì lẽ đó mà hôm nay bỗng dưng tôi muốn trò chuyện một chút về ngành luật này, luật tố tụng hình sự.

    1. Luật tố tụng hình sự đối với Nhà nước pháp quyền và quyền tự do của con người

    Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao việc xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tinh thần của pháp quyền có thể gói gọn trong câu nói của Plato: "Ta nhìn thấy sự diệt vong của nhà nước, mà trong đó pháp luật không có sức mạnh và ở dưới quyền lực của ai đấy. Còn ở đâu mà pháp luật đứng trên nhà cầm quyền, họ chỉ là nô lệ của luật thì ở đó ta nhìn thấy sự cứu thoát của Nhà nước." Đó là một mô thức đặt pháp luật lên trên Nhà nước nhằm hạn chế quyền lực khủng khiếp của Nhà nước, với mục đích bảo vệ quyền tự do của con người. Lý thuyết về pháp quyền ra đời trong bối cảnh nhân quyền bị xâm hại nghiêm trọng bởi sự lạm dụng quyền lực của Nhà nước, do vậy tôn chỉ của nó là hạn chế công quyền để bảo vệ nhân quyền. Pháp luật, do vậy phải bắt nguồn từ các quyền tự nhiên của con người, và phải được đặt trên Nhà nước, điều chỉnh hoạt động của Nhà nước.

    Vấn đề là, trong thực tiễn, những luật nào có khả năng đó? (Khả năng đứng trên Nhà nước, thống trị và điều chỉnh hoạt động của Nhà nước). Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay, đầu tiên là Hiến pháp, bản khế ước của toàn dân lập ra chính quyền, trao quyền lực quản lý quốc gia cho chính quyền, quy định cụ thể về quyền công dân, cách thức thành lập và hoạt động của bộ máy Nhà nước.

    Vậy ngoài Hiến pháp ra, còn đạo luật nào thể hiện rõ nét điều đó nữa hay không? Để trả lời câu hỏi này, hãy cùng tôi lắng nghe một câu chuyện:

    Vụ án xảy ra tại Mỹ: Cảnh sát Williams nhìn thấy Peter Jones giật ví tiền của cô Virginia Spry và bỏ chạy. Cảnh sát Williams đã đuổi theo, bắt được Jones và tiến hành tra hỏi về vụ cướp. Jones thú nhận ngay hành vi phạm tội của mình và với sự chứng thực của viên cảnh sát Williams, chúng ta có thể khẳng định là Jones đã phạm tội. Nếu đối chiếu với pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tình huống này có thể dẫn tới việc buộc tội và kết án một cách nhanh chóng và dứt khoát đối Peter Jones. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự Mỹ lại nhấn mạnh cách thức mà các nhân viên nhà nước (ở đây là viên cảnh sát Williams) sử dụng quyền lực được nhà nước giao cho mình để can thiệp vào cuộc sống của Peter Jones. Hành vi của viên cảnh sát sẽ được rà soát lại để xem xét tính hợp pháp. Ví như, nếu xác định được rằng, Jones thú tội mà không được nhắc nhở trước về "quyền được im lặng” của anh ta thì lời thú tội này sẽ không được sử dụng để chống lại chính anh ta. Mà khi lời thú tội với tư cách là một bằng chứng đã không có giá trị, thì vụ án xét xử Jones sẽ không thể buộc tội được anh ta hoặc bị bác bỏ. Theo pháp luật Mỹ, Jones không "phạm tội về mặt pháp lý" đối với tội cướp ví tiền, vì pháp luật bảo vệ quyền được im lặng của anh ta và như vậy, pháp luật bảo vệ tính hợp nhất của quá trình tố tụng không được đưa vào áp dụng. Việc phạm tội thực tế có thể là hiển nhiên hay được phát hiện một cách hợp pháp, nhưng việc phạm tội về mặt pháp lý lại được xác định thông qua quá trình như đã mô tả.

    Quy trình tố tụng hình sự của Hoa Kỳ trong vụ án Peter Jones nói trên đã làm không ít người ngạc nhiên, bởi vì, một thực tế hiển nhiên là cảnh sát Williams đã "bắt tận tay day tận trán" đối với hành vi giật ví tiền của Peter Jones, nhưng khi đưa ra xét xử thì toà án tuyên bố vô tội đối với Peter Jones chỉ vì lý do cảnh sát đã không thông báo quyền được im lặng cho Jones.[1]

    Bạn thấy gì qua vụ án trên? Bạn có cho rằng đây là một mô hình tố tụng kém hiệu quả khi để lọt một tội phạm rõ rành rành hay không? Có lẽ đó là điều mà nhiều người nhận thấy ngay trong vụ án này.

    Song tôi lại muốn chúng ta nhìn sang một hướng khác. Tôi thấy được rằng, trong vụ án này, công quyền không thể tự tiện thực hiện việc truy tố, buộc tội một cách vô tội vạ. Đó là bởi vì những quy định của luật tố tụng hình sự đã buộc các cơ quan công lực phải hành động đúng luật nếu muốn truy tố một công dân ra trước Tòa án. Quyền tự do của công dân phải được đảm bảo không bị xâm hại bởi sự lạm dụng quyền lực từ phía Nhà nước - ở đây là cơ quan điều tra, công tố. Một khi cơ quan Nhà nước vi phạm pháp luật tố tụng, hiển nhiên quyền công tố đối với một công dân sẽ chấm dứt, và vì vậy người đó vô tội.

    Nhiều người trong chúng ta vẫn chỉ quan niệm đơn thuần rằng, Luật tố tụng nói chung và Tố tụng hình sự nói riêng được ban hành đơn giản chỉ để quy định những thủ tục cần thiết để tiến hành quá trình trấn áp tội phạm của cơ quan Nhà nước – mà không thấy được rằng, đằng sau nó là một chức năng cao cả hơn nhiều: bảo vệ cho công dân khỏi bị xâm phạm trước sự thái quá của quyền lực Nhà nước, chính bởi vì Luật tố tụng quy định và điều chỉnh hành vi của cơ quan Nhà nước. Không nhận thức đầy đủ chức năng này của Luật tố tụng, dễ hiểu vì sao không ít người chưa quan tâm đúng mức tới những quy định của nó. Quyền lực Nhà nước nếu bị tha hóa thì sẽ nguy hiểm đối với quyền tự do của con người hơn bất cứ tổ chức tội phạm nào, và chính nó là rào cản lớn nhất đối với mong muốn đi lên một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân mà chúng ta vẫn hằng mơ ước.

    Vì vậy tôi dám khẳng định với bạn rằng, sau Hiến pháp, thì Luật tố tụng nói chung và Luật Tố tụng hình sự nói riêng, thể hiện tinh thần “đứng trên nhà nước” của pháp luật một cách rõ nét nhất, do đó, không thái quá khi chúng ta nhận định rằng, một Nhà nước có ngành luật Tố tụng phát triển là Nhà nước mang đậm tinh thần của pháp quyền.

    Bạn vẫn hoài nghi? Vậy bạn hãy kiểm tra lời tôi nói bằng cách, mở Hiến pháp ra bạn sẽ thấy trong Hiến pháp quy định rất nhiều nguyên tắc quan trọng của Luật Tố tụng.

    2. Nguyên tắc Suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự và sự công bằng

    Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

    Trước khi đi vào vấn đề này, tôi xin được phép “lan man” ngoài đề một chút. Hẳn những người học luật chúng ta (mà không chỉ những người học luật) không ai là không biết qua bộ phim Đài Loan nổi tiếng “Bao Thanh Thiên”. Hình ảnh một vị quan tòa liêm minh, chính trực, thiết diện vô tư đã in sâu vào tâm trí nhiều người như ước mơ về công lý trên chốn pháp đường. Cái danh xưng “Thanh Thiên” (Trời xanh) người ta đặt cho Bao Công hẳn mang nhiều ý nghĩa lắm thay.

    Cách đây không lâu, tôi có xem lại vài tập của bộ phim này. Một bộ phim lấy bối cảnh thời Tống – tức cách đây đã cả ngàn năm rồi – vẫn cho tôi những bài học quý giá về luật học (trong đó có cả tư tưởng “Thiên tử phạm tội xử như thường dân” mang đậm tinh thần pháp quyền). Vậy hãy cùng tôi nghe câu chuyện này:

    Trong vụ án “Hiếu tử Chương Lạc”, diễn biến chính có thể tóm tắt như sau: một hôm không hiểu rõ vì lí do gì, người ta thấy Chương Lạc, một anh đồ tể tính khí nóng nảy, cục cằn thô lỗ, hầm hầm mang dao xộc thẳng vào nhà của danh y Diệp Vân, con trai của một vị danh y nổi tiếng đã từng chữa chạy cho nhiều thành viên trong hoàng cung. Một lát sau người ta thấy có tiếng la lớn “Chương Lạc giết người” vang lên trong nhà của Diệp Vân. Khi mọi người đến hiện trường thì thấy người học trò của Diệp Vân đã bị chết do bị đâm, và hung khí là con dao của Chương Lạc. Người ta đi báo quan, và Trần đại nhân, Tri phủ Trịnh Châu, một vị quan nổi tiếng có tài và cương trực, phán Chương Lạc phạm tội giết người.

    Bao Công nhận thấy vụ án có nhiều tình tiết cần được làm sáng tỏ hơn, nên đích thân đề nghị xử lại vụ án này. Tại công đường, khi thẩm vấn Chương Lạc, thấy Chương Lạc khăng khăng kêu oan, Bao Công hỏi Trần đại nhân đại ý rằng vì sao ngài cho rằng Chương Lạc là kẻ phạm tội, Trần đại nhân mới bảo: “Lời khai của Chương Lạc quả thực hồ đồ, không thể tin. Dựa vào động cơ, không lý nào Diệp Vân lại giết người học trò của mình. Còn Chương Lạc thì có, dựa vào hành vi trước nay của hắn, Chương Lạc có phẩm chất không tốt, hung dữ háo đấu. Còn Diệp Vân là hương thân Nho y. Cho nên theo tình hình bấy giờ, Chương Lạc xông vào nhà Diệp Vân lúc đó có động cơ giết người, còn Diệp Vân lại đang bắt mạch chữa bệnh, ở vào thế bị động, không thể gây án”. Bao Công bỗng đập bàn đánh sầm, nói rằng: “Thật uổng cho cái danh chính trực tài năng của ngài. Ngay từ đầu ngài đã triệu Chương Lạc đến phủ với tư cách nghi can, còn Diệp Vân là nhân chứng, bỏ ngoài tai những lời khai của Chương Lạc, tại sao ngài lại có thành kiến từ trước như vậy? Ngài cho rằng kẻ giết người chỉ có thể là tên đồ tể chứ không thể là Nho sĩ được hay sao? Trong những kẻ đội mũ ô sa kia không phải không có những kẻ mặt người dạ thú, còn trong chốn phố chợ cũng không thiếu những người nhân nghĩa. Ngài không biết, hay cố tình không biết điều này?”. Trần đại nhân cúi gằm mặt, nói: “Bao đại nhân nói rất phải”…

    Lát sau, Bao Công cho gọi Diệp Vân vào. Khi đến công đường, thấy Diệp Vân không quỳ xuống, Bao Công hỏi: “Nhà ngươi ra đến chốn công đường sao không quỳ xuống, hay cố tình xem thường công đường?”. Diệp Vân hỏi: “Vãn sinh không phải là nhân chứng trong vụ án này hay sao?”. Bao Công mạnh tiếng: “Sai rồi, ai là nhân chứng, ai là nghi can tới nay vẫn chưa thể đưa ra kết luận. Vừa rồi Chương Lạc khai chính ngươi mới là hung thủ giết người. Nếu nói như vậy, trước khi vụ án được làm sáng tỏ, ngươi cũng là một nghi can. Nếu là nghi can, đứng trước công đường của bản phủ tại sao lại không quỳ?” Diệp Vân phải quỳ xuống.

    Vậy là từ tư cách một nhân chứng, Diệp Vân trở thành nghi can và cuối cùng vụ án được làm sáng tỏ, Diệp Vân chính là hung thủ giết người.

    Điều mấu chốt để vụ án được sáng tỏ chính là ở sự “đổi ngôi” tư cách này, qua đó thay đổi luôn định kiến của một kẻ cầm cân nảy mực về những người có liên quan trong vụ án mà từ đó từng bước, từng bước đưa sự thật ra trước ánh sáng. Nếu không có điều đó, vụ án có thể làm sáng tỏ được sao?

    “Suy đoán vô tội” trong Tố tụng hình sự là vậy.

    Khi đứng trước tòa, không có điều gì đáng sợ hơn đối với một nghi can hình sự rằng quan tòa có thành kiến anh ta chắc chắn phạm tội. Cái thành kiến ấy của quan tòa, nếu cộng thêm sự hồ đồ của quá trình điều tra, truy tố, hẳn sẽ là một tai họa cho quyền tự do của con người. Chính vì vậy, Suy đoán vô tội được đặt ra và trở thành một trong những nguyên tắc tối quan trọng trong Tố tụng hình sự.

    Thực chất của nguyên tắc này, đó là trước khi tiến hành định tội đối với một nghi can nào đó, phải bắt đầu từ giả thiết: anh ta vô tội. Ví dụ: Người ta tìm thấy một chiếc áo dính máu nạn nhân bị sát hại trong nhà ông A. Rõ ràng ở đây có dấu hiệu tội phạm và người phạm tội. Câu hỏi ông A có phạm tội hay không là việc mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải chứng minh. Nhưng trước khi thực hiện Suy đoán – định tội, chúng ta phải bắt đầu bằng giả thiết rằng: ông A vô tội. Trong quá trình chứng minh chừng nào chưa tìm ra được những chứng cứ loại trừ giả thiết chứng minh ban đầu có nghĩa là ông A luôn không phạm tội. Đó là thực chất của nguyên tắc Suy đoán vô tội trong Tố tụng hình sự, rằng thay vì trực tiếp chứng minh nghi phạm có tội (nghĩa là tạo ra một định kiến trước khi định tội rằng nghi phạm chắc chắn đã phạm tội), thì chúng ta phải bắt đầu bằng giả thiết rằng nghi phạm vô tội, và nếu chứng cứ không đủ sức mạnh thì anh ta luôn là người không có tội. Nguyên tắc này sẽ loại bỏ mọi thành kiến của quan tòa trước đó – rằng nghi can chắc chắn phạm tội, để quan tòa thực sự trở thành một con người công minh nhất, không thiên vị khi phán xét, từ đó, không làm oan người vô tội. Quyền tự do của con người vì vậy mà được đảm bảo.[2]

    Trong vụ án trên, cái cách mà Trần đại nhân suy nghĩ cho thấy ông không phải là một kẻ bất tài, nhưng chỉ vì ông có định kiến từ trước rằng nghi can Chương Lạc chắc chắn phạm tội nên đã khiến một người tốt bị hàm oan, còn kẻ phạm tội thì nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Nếu Bao Công không đứng trên tinh thần của “Suy đoán vô tội” mà phán xử, hẳn trên đời này còn có “Thanh Thiên” nữa hay sao? Bao Công tỏ ra giận dữ trước sự hồ đồ của Trần đại nhân là bởi, thành kiến nghi can chắc chắn có tội sẽ làm sai lệch sự công bằng và chân lý khi quan tòa phán xét số phận pháp lý của một người, nên ngài dùng những từ ngữ khiển trách nặng nề: “thật uổng cho cái danh chính trực” cũng là phải lắm.

    Muốn có công bằng, tất phải có “Suy đoán vô tội”. Và Luật Tố tụng hình sự mới mang lại sự công bằng này, chứ không phải là luật nội dung. Nếu chúng ta không hiểu rõ về nguyên tắc này trước khi mở những văn bản luật nội dung ra để tiến hành suy xét tội danh, nghĩa là chúng ta đã hổ cho cái danh học luật của chúng ta lắm.

    3. Luật Tố tụng hình sự đối với vị trí của các luật gia và vấn đề giáo dục luật học

    Tôi thấy rằng, ở những quốc gia coi trọng luật nội dung hơn luật tố tụng (thường là những nước Civil law), thì những học thuyết pháp lý của các giáo sư đại học đề ra có ảnh hưởng lớn tới những phán quyết của quan tòa, ngược lại, quốc gia nào coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung (thường là những nước Common law), thì việc nghiên cứu những án lệ mẫu mực của các thẩm phán là một điều quan trọng trong chương trình đào tạo luật học, và các giáo sư luật lấy làm vinh dự khi được giảng cho sinh viên những án lệ này. Và luật tố tụng hình sự cũng không phải là một ngoại lệ.

    “Học thuyết pháp lý” - tập hợp các công trình nghiên cứu, lý luận của nhiều giáo sư về một vấn đề pháp lý – được xem là một nguồn luật rất được tôn trọng ở những nước coi trọng luật nội dung, trong khi đó đối với những nước coi trọng luật tố tụng thì án lệ của các Thẩm phán lại đóng vai trò này. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi các giáo sư vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc định nghĩa luật pháp ở các nước Civil law. Các giáo sư trong hệ thống luật thông lệ không có được uy thế như vậy, trái lại quyền giải thích luật thường được trao vào tay các Quan tòa.[3]

    Dĩ nhiên, những giáo sư đại học là những người đáng được tôn kính. Nhưng trên thực tế, nếu quyền lợi của tôi bị xâm phạm và tôi cần luật pháp bảo vệ, thì điều tôi mong muốn hơn cả là những luật sư tài giỏi cùng những vị thẩm phán công bằng, có chuyên môn nghiệp vụ cao. Chúng ta đã có cái tâm lý tôn trọng các luật sư và thẩm phán như chúng ta vẫn thường có đối với các giáo sư đại học hay chưa? Nếu chúng ta chưa có điều này, làm sao luật pháp có thể chiếm vị trí thượng tôn trong xã hội được?

    Sinh viên học luật thành văn thường phải đọc các học thuyết pháp lý hơn là án lệ. Việc học của họ thường mang tính lý thuyết hàn lâm nhiều hơn. Phương pháp giảng dạy thường là phương pháp quyền uy mà những giáo sư đại học đóng vai trò trung tâm – chứ không phải là sinh viên. Chúng ta không lạ khi có những phàn nàn về việc thiếu đi phần nào bóng dáng của thực tiễn trong những buổi học trên lớp ở các nước đặt luật nội dung lên trên luật tố tụng.

    Ngược lại, làm sao để sinh viên tiếp cận càng nhiều với thực tiễn càng tốt có lẽ là “tôn chỉ” ở những hệ thống giáo dục tại các nước coi trọng luật tố tụng. Phương pháp nghiên cứu án lệ và phương pháp đối đáp được sử dụng thường xuyên trong chương trình học. Vì vậy chúng ta không khó để nhận thấy, những luật sư ở các nước coi trọng luật tố tụng thường có sở trường về tranh tụng tốt hơn là những luật sư ở một quốc gia coi trọng luật nội dung.

    (còn tiếp)

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Tran Thi Ngự viết:
    ...

    Thứ hai, tại các nước theo hệ thống civil law, như Pháp chẳng hạn, luật tố tụng có một điạ vị rất quan trọng, không kém luạt nội dung (substantive law). Không nhửng là luật tố tụng hình sự, mà cả luật tố tụng dân sự, thương mại, hay hành chánh. Nó quan trọng tới nổi nhửng vụ kiện thắng hay thua đôi khi củng chỉ vì bên nguyên hay bên bị thông hiểu và biết cách cử dụng luật tố tụng một cách có hiệu quả. Sở dỉ luât tố tụng có một tầm quan trọng lớn tại các quốc gia có một nền luật pháp tương đối hoàn chỉnh là bởi vì công bằng (fairness) được coi là một nguyên tắc quan trọng của luật pháp, và luật tố tụng được đặt ra để bảo đảm các nguyên tắc công bằng trong thi hành luật pháp và tố tụng tại toà án.

    ...

    Trong các quyết định của toà án (bản án) ở Pháp (cho là theo hệ thống civil law), hay ở Mỷ (cho là theo hệ thống common law), các lý thuyết về luật pháp (legal philosophy - perspective) hay án lệ (jurisprudence) đều được xử dụng khi cần thiết, chứ không nhất thiết là civil law thì chú ý tới lý thuyết và common law thì chú ý đến precedent.

    Luật tố tụng ở Pháp rất quan trọng, thường đưa tới kháng án ở tòa án tối cao của hệ thống tư pháp như Cour de Cassation, nơi bẻ gãy các quyết định của các thẩm phán, của tòa án khác, vi phạm luật tố tụng (quy trình) tức là về hình thức.
    Nhiều khi thua hoặc phải trả tự do tạm thời cho nghi can chỉ vì công an, các sở bộ, UBND, VKS vi phạm luật tố tụng. Việc này khiến các cơ quan nhà nước phải làm việc cẩn thận và nghiêm túc hơn, nếu không thì lãnh đạo các cơ quan sẽ mất chức kể cả các thẩm phán.

    Cour de Cassation của các nước :
    http://fr.wikipedia.org/wiki/Cour_de_cassation

    Cour de Cassation của Pháp (tiếng Pháp)
    http://fr.wikipedia.org/wiki/Cour_de_cassation_%28France%29

    Cour de Cassation của Pháp (tiếng Anh)
    http://en.wikipedia.org/wiki/Court_of_Cassation_%28France%29

    Jurisprudence Án lệ :
    http://fr.wikipedia.org/wiki/Jurisprudence

    Case law Án lệ :
    http://en.wikipedia.org/wiki/Case_law

    Xin có vài ý kiến về bài viết về luật hình sự tố tụng của tác giả Phan Hoàng Linh.

    Phan Hoàng Linh viết:
    Tôi thấy rằng, ở những quốc gia coi trọng luật nội dung hơn luật tố tụng (thường là những nước Civil law), thì những học thuyết pháp lý của các giáo sư đại học đề ra có ảnh hưởng lớn tới những phán quyết của quan tòa, ngược lại, quốc gia nào coi trọng luật tố tụng hơn luật nội dung (thường là những nước Common law), thì việc nghiên cứu những án lệ mẫu mực của các thẩm phán là một điều quan trọng trong chương trình đào tạo luật học, và các giáo sư luật lấy làm vinh dự khi được giảng cho sinh viên những án lệ này. Và luật tố tụng hình sự cũng không phải là một ngoại lệ.

    Theo tôi thấy, việc cho rằng các nước theo hệ thống civil law không coi trọng luât hình sự tố tụng bằng các nước theo hệ thống common law là chưa sát với thực tế. Trước hết, ngày nay khi nói đền sự phân biệt common law và civil law chỉ là nói theo lý thuyết về nguồn gốc của hệ thống luật pháp. Chẳng hạn, Common law là nguồn gốc của pháp luật ở Mỷ bắt nguồn từ thế kỷ thứ 12 bên Anh khi vua Henry II đưa ra phương pháp cho các thẩm phán của triều đình (King's Judge) đi xử án lưu động tại các điạ phương, rồi khi trở vế triều đình, các ông thẩm phán này thảo luân với nhau và đồng ý về các quyết định (stare decisis) và ghi chép vào sổ để làm nguyên tắc cho các vụ xử sau này. Sau này, khi người Anh mang theo truyền thống thông luật đến tân thế giới thì common law trở thành nguồn gốc của luật pháp ở Mỷ. Tuy nhiên ngày nay, luât viết (statutory law) được làm ra bởi cơ quan lập pháp và ban hành bởi tỗng thống là nguồn luật chính tại Hoa Kỳ.

    Thứ hai, tại các nước theo hệ thống civil law, như Pháp chẳng hạn, luật tố tụng có một điạ vị rất quan trọng, không kém luạt nội dung (substantive law). Không nhửng là luật tố tụng hình sự, mà cả luật tố tụng dân sự, thương mại, hay hành chánh. Nó quan trọng tới nổi nhửng vụ kiện thắng hay thua đôi khi củng chỉ vì bên nguyên hay bên bị thông hiểu và biết cách cử dụng luật tố tụng một cách có hiệu quả. Sở dỉ luât tố tụng có một tầm quan trọng lớn tại các quốc gia có một nền luật pháp tương đối hoàn chỉnh là bởi vì công bằng (fairness) được coi là một nguyên tắc quan trọng của luật pháp, và luật tố tụng được đặt ra để bảo đảm các nguyên tắc công bằng trong thi hành luật pháp và tố tụng tại toà án.

    Mỷ có điểm khác với nhiều nước ở chổ người ta xử dụng thằng các qui định trong hiến pháp như các nguyên tắc trong thủ thục tố tụng (Tu chính án số 4, 5, 6, 8 v.v.) đựoc gọi chung là Due Process (fundamental fairness), và các luật sư giỏi về thủ tục tố tụng hình sự thường củng giỏi về luật hiến pháp.

    Trong các quyết định của toà án (bản án) ở Pháp (cho là theo hệ thống civil law), hay ở Mỷ (cho là theo hệ thống common law), các lý thuyết về luật pháp (legal philosophy - perspective) hay án lệ (jurisprudence) đều được xử dụng khi cần thiết, chứ không nhất thiết là civil law thì chú ý tới lý thuyết và common law thì chú ý đến precedent.

    Phan Hoàng Linh viết:
    “Luật hình sự là luật dành cho kẻ bất lương, luật tố tụng hình sự dành cho người lương thiện”. Nếu luật hình sự - tức luật nội dung – được xây dựng với mục đích bảo vệ xã hội khỏi sự xâm phạm của hành vi phạm tội, thì luật Tố tụng hình sự cần được hiểu là nhằm mục đích bảo vệ cá nhân nghi can – người bị buộc tội – chống lại sự xâm hại quyền con người từ phía các cơ quan công quyền. Thể hiện được tinh thần của pháp quyền, những định chế của Luật tố tụng hình sự cần được chú trọng nhiều hơn trong quá trình cải cách nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân mà Đảng và Nhà nước đề ra.
    Phan Hoàng Linh viết:
    Hãy tập làm quen với “Suy đoán vô tội”

    Đồng ý với tác giả PHL là luật tố tụng được đạt ra để bảo vệ nguyên tắc công bằng trong tố tụng hình sự. Bời vì chính quyền có nhiều quyến lực đối với cá nhân, và có khuynh hướng lạm quyền, nên cần có luật để bảo vệ nghi can khỏi sự lạm quyền của chính quyền.

    Tuy nhiên, với nguyên tắc "suy đóan vô tội" thì cả luât nội dung lẩn luât tố tụng phải đưực coi là để bảo vệ tất cả mọi công dân, chứ không riêng gì người có tội. Lý do là với nguyên tắc "suy đoán vô tội" mọi người chỉ coi là có tội sau khi có bằng chứng về tội đả phạm. Trong thực tế, không ai có thể biết rằng một ngày nào đó họ có thể bị vướng vào pháp luật dù với bất cứ lý do gì. Chỉ khi cả hai thứ luật được áp dụng một cách đúng đắn thì lúc đó mới biết ai là người có tội, bất lương, hay lương thiện.

    Phan Hoàng Linh viết:
    Tôi không dám lạm bàn tới cái vấn đề sửa đổi luật Tố tụng hình sự như thế nào để thể hiện rõ hơn nguyên tắc suy đoán vô tội này. Nhiều vị giáo sư, tiến sĩ mà kiến thức của họ có lẽ đủ để tôi dùng đến ba đời cũng còn đang tranh cãi nảy lửa, huống gì là tôi. Nhưng hãy lắng lại một chút, thử đi cùng tôi đến vài phiên tòa nhé.

    Xin giới thiệu với tác giả PHL bài viết nhan đề "Two Models of the Criminal Process" của Herbert Packer, giáo sư luật ở đại học Stanford. Bài viết này trích trong quyền sách nhan đề "The Limitations of Criminal Sanctions" của ông xuất bản khi nước Mỷ trải qua cái gọi là "due process revolution" trong nhửng năm 1960s. Bài viết này ngắn, nhưng thuộc loại "classic" mà cho đến nay, các sinh viên luật ở Mỷ (ngành criminal law) củng như các sinh viên ngành hình sự tư pháp (criminal justice) đều phải đọc để có một khái niệm về các nguyên tắc và thủ tục thể hiện nguyên tắc "assumption of innocence."

    Đôc giả có thể đọc bài viết "Two Models of the Criminal Process" qua link ở đây:

    Bác PHL nói đến vai trò của Luật Tố tụng rất đúng rồi.

    Tuy nhiên, ở VN, từ Hiến pháp đến cả hệ thống Pháp luật từ 1945 và 1975 đến nay đều chỉ là những công cụ bảo vệ quyền lãnh đạo và sự tồn tại của đảng CSVN thôi, nên Hiến pháp không phải là HP, Luật pháp không còn là Luật pháp, thì Luật Tố tụng không còn là Luật Tố tụng thực sự nữa, cũng là đương nhiên thôi.

    Nói thế để thấy, dù có nhìn ra vấn đề cụ thể như bác PHL phân tích rất hay trong bài này, cũng không thể sửa chữa cái sai cụ thể đó, tức là không thể làm cho Luật Tố tụng trở về vị trí của nó. Nếu người ta đã dùng đàn rắn độc để canh nhà thì không thể bắt đàn răn đó sủa cảnh báo trộm như đán chó được.

    Việc phải làm bây giờ với dân Việt Nam không phải là chỉ ra và làm cho Luật Tố tụng hay Hiến Pháp tốt lên (vì đó là điều không thể), mà là lật đổ (không phải tiêu diệt, mà tự nó chết thối sau khi bị lật đổ) cái đảng CSVN đang ngồi trên Hiến pháp và Luật pháp, trong đó có Luật Tố tụng quan trọng hàng đầu mà tác giả bàn đến, rồi mới làm cho Hiến Pháp và Luật Tố tụng trở lại đúng là Hiến Pháp và Luật Tố tụng được, do đó là theo Common Laws hay Civil Laws.

    Tất nhiên, theo tôi thì Common Laws hay hơn, dù nhìn quan có vẻ "loạn" hơn.

    JLN

    Trích dẫn:
    việc nghiên cứu những án lệ mẫu mực của các thẩm phán là một điều quan trọng trong chương trình đào tạo luật học, và các giáo sư luật lấy làm vinh dự khi được giảng cho sinh viên những án lệ này. Và luật tố tụng hình sự cũng không phải là một ngoại lệ.

    "Án lệ" phải chăng là case law (jurisprudence, Fallrecht) ?

    Qua việc anh Vươn và trước đó về đất đai, chứng tỏ các thẩm phán VN, kể cả CATANDTC Trương Hòa Bình, còn rất yếu trong xử án, tổ chức nghiên cứu cá nhân và công khai trong cộng đồng thẩm phán+luật gia về án lệ mẫu mực.

    Yếu tố con người, ở đây là thẩm phán + công tố + điều tra, là khâu dễ bị khai thác, làm hỏng ngành tư pháp. Trong luật tố tụng, hình sự phải có một tòa riêng (để độc lập) chuyên xét xử kháng án về vi phạm hình thức và quy trình (không phải nội dung. Cộng thêm cần có những quy trình mặc nhiên tự động (trigger) chứ không cần quyết định của thẩm phán, công tố start cái quy trình này. Như vậy sẽ loại bớt yếu tố chủ quan của con người.

    Ví dụ chị Minh Hằng bị giam trong trại cải tạo, nếu thời hạn quá hai tuần lễ thì bắt buộc tự động phải ra tòa án để được xét xử công khai về việc mất tự do cá nhân

    Ví dụ bên nguyên, thẩm phán, công tố, điều tra không được cùng một phe hoặc có quyền lợi chung. Như vậy nếu bên CA điều tra có đảng viên CSVN tham gia, bên công tố và thẩm phán không thể là các đảng viên trong các vụ việc liên quan đến nhà nước, chính trị. Việc ông CHHV về điều 88, tất cả các bên nguyên (sở TT-VH Hà Nội), điều tra, công tố, thẩm phán đều là đảng viên CSVN, bản án phải được coi là vô giá trị và phải trả tự do cho ông CHHV.

    Ví dụ việc TT Dũng chỉ đạo tòa án trong việc Tiên Lãng cũng vi phạm trắng trợn quy trình tố tụng tòa án

    Trích dẫn:
    Vấn đề là, trong thực tiễn, những luật nào có khả năng đó? (Khả năng đứng trên Nhà nước, thống trị và điều chỉnh hoạt động của Nhà nước). Chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay, đầu tiên là Hiến pháp, bản khế ước của toàn dân lập ra chính quyền, trao quyền lực quản lý quốc gia cho chính quyền, quy định cụ thể về quyền công dân, cách thức thành lập và hoạt động của bộ máy Nhà nước.

    Hiến pháp của VN hiện nay, trong thực tế KHÔNG phải là bản khế ước của toàn dân lập ra chính quyền.
    Đáng tiếc nó, HP hiện nay, chỉ là de facto chứ không phải là de jure.

    Điều 4 HP có đề cập đến "độc quyền lãnh đạo" của đảng CSVN. Phan Hoàng Linh không nói đến việc này : phải luật hóa "độc quyền lãnh đạo" ra sao ?

    Đó là một mô thức đặt pháp luật lên trên Nhà nước nhằm hạn chế quyền lực khủng khiếp của Nhà nước, với mục đích bảo vệ quyền tự do của con người

    Cám ơn Phan Hoàng Linh chia sẻ những thực tế xảy ra ở tòa án VN.

    Bạn Phan Hoàng Linh đang sống ở VN mà nói câu này thì lạ lắm !
    Rõ ràng ngay câu đầu của đoạn 1, bạn ấy viết : Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao việc xây dựng Nhà nước pháp quyền.

    "Đảng" đặt trước "Nhà nước" mà đúng ra nên bỏ hẳn chữ "Đảng". Điều này bạn ấy gián tiếp cho thấy, trong thực tế "Đảng" ở trên "Nhà nước". Vậy việc xây dựng thật sự một Nhà nước pháp quyền có thể thực hiện được không khi có một quyền lực siêu hạng khác là Đảng, ở trên Nhà nước và ở ngoài vòng pháp luật ?
    Có lẽ Phan Hoàng Linh chỉ bàn về Nhà nước pháp quyền, 80%, áp dụng cho người dân thường mà thôi, tức là Nhà nước pháp quyền XHCN.