Nguyễn Gia Kiểng - Nhìn lại chủ nghĩa Mác-Lênin (TL 266)

  • Bởi Admin
    25/02/2012
    28 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    ...Cách lý luận "biện chứng" đã là nguyên nhân của niềm tin nền tảng của các chế độ cộng sản rằng những người vô học cũng có thể lý luận và giữ những vai trò lãnh đạo...

    Tháng 2 này Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) kỷ niệm 82 năm thành lập, đây là dịp để nhìn lại một cách tổng quát và dứt khoát chủ nghĩa Mác-Lênin, một chủ nghĩa mà trong suốt quá trình thành lập, đấu tranh và cầm quyền ĐCSVN đã lấy làm tư tưởng nền tảng và đã có hậu quả to lớn đối với nước ta. Đây là một việc làm cần thiết vì quần chúng Việt Nam vẫn còn thiếu một cái nhìn ngắn gọn về một chủ nghĩa đã và đang tác động lớn lên cuộc sống và tương lai của họ. Mặt khác viết về chủ nghĩa Mác-Lênin trong một bài báo là điều có thể làm được trong lúc này bởi vì cuộc tranh luận về chủ nghĩa này đã chấm dứt và đã có kết luận; viết về nó không khác lật lại một trang sử. Một lý do khác là, trái với nhận định lạc quan của một số người, Việt Nam chưa thực sự bước vào giai đoạn hậu cộng sản, ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay đúng hơn gánh nặng của nó trên đất nước ta, vẫn còn rất lớn.

    Marx và chủ nghĩa Marx

    Karl Marx sinh năm 1818 tại Trier (Đức) trong một gia đình giáo sĩ Do Thái từ nhiều đời nhưng thân phụ ông đã bỏ đạo Do Thái để theo đạo Tin Lành. Nguồn gốc và thời đại đã có ảnh hưởng lớn trên ông. Từ dòng dõi giáo sĩ Do Thái Marx thừa hưởng tâm lý tiên tri, quả quyết và giáo điều thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của ông. Chủ trương xây dựng một thiên đường ngay trong cuộc đời này và trên mặt đất này, bằng bạo lực nếu cần, cũng không khác niềm tin của đạo Do Thái trong kinh Torah (Cựu Ước). Marx cũng trưởng thành cùng với sự hình thành của nước Đức. Khi Marx sinh ra trên lãnh thổ nước Đức hiện nay có hơn hai trăm vương quốc tự trị, nhiều khi xung đột với nhau. Nước Đức đã thống nhất và trở thành cường quốc mạnh nhất Châu Âu trong vòng một nửa thế kỷ. Lúc đó Châu Âu vẫn còn bàng hoàng vì cuộc cách mạng Pháp 1789 và những cuộc chiến khốc liệt do Napoléon gây ra. Pháp, cường quốc số 1 Châu Âu trong thế kỷ trước, đã tan hoang và kiệt quệ sau Cách Mạng 1789 và những cuộc chiến của Napoléon để trở thành vùng đất của những bạo loạn, với những cao điểm là Cách Mạng 1830, Cách Mạng 1848 và Công Xã Paris 1871. Song song với những đảo lộn chính trị ồ ạt và đẫm máu đó, cuộc cách mạng kỹ nghệ, thành quả của những tiến bộ khoa học dồn dập từ thế kỷ trước, vẫn tiếp tục tràn tới làm thay đổi đột ngột cách suy nghĩ, nếp sống và tổ chức xã hội. Chưa hết, thế kỷ 19 cũng là thế kỷ đầy bão táp về mặt tư tưởng, đặc biệt là tư tưởng chính trị. Các ý kiến không sâu sắc như trong thế kỷ 18 được - coi là thế kỷ ánh sáng với sự bùng phát của khoa học và triết học - nhưng các cuộc thảo luận sôi nổi hơn nhiều. Chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa kinh tế tự do, chủ nghĩa phúc lợi, chủ nghĩa xã hội, tư hữu, bóc lột, cách mạng v.v. là những đề tài tranh cãi gay cấn trong mọi cuộc gặp gỡ của trí thức. Càng gay cấn vì tuy khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, trên những chọn lựa nhưng hầu như mọi trí thức lúc đó đều theo chủ nghĩa nhất nguyên, nghĩa là cho rằng chân lý chỉ có một, và dĩ nhiên ai cũng tin là mình có chân lý. Tóm lại thế kỷ 19 trong đó Marx sinh sống, là một thế kỷ cuồng loạn về mọi mặt. Một giai đoạn nguy hiểm. Quá nhiều đảo lộn cực mạnh xảy ra trong một thời gian quá ngắn. Và Marx ở ngay giữa cơn bão này bởi vì từ thế kỷ 18 Đức trở thành trung tâm của hai phong trào tư tưởng mạnh xuất phát từ Pháp: phong trào thuần lý và phong trào lãng mạn. Phong trào thuần lý, chủ yếu do ảnh hưởng của các phát minh khoa học, tin rằng chỉ có những gì thuần lý mới có giá trị. Phong trào lãng mạn chủ trương phải cởi bỏ tất cả mọi ràng buộc để tìm cảm giác cực mạnh. Hai phong trào này giống nhau ở chỗ chúng đều không dành cho các giá trị đạo đức một tầm quan trọng nào. Không khí cuồng loạn đó không thích hợp cho những suy nghĩ chín chắn và thận trọng. Không thể bỏ qua bối cảnh sôi động này nếu muốn hiểu Marx.

    Trái với một nhận định đã thời thượng trong một giai đoạn Marx không phải là một triết gia đúng nghĩa, dù là một nhà tuyên truyềnbút chiến thiên tài. Marx học triết và được cả một trường đaị học - mà ông không theo học - tặng bằng tiến sĩ triết khi mới ngoài hai mươi tuổi, nhưng không vì thế mà ông là một triết gia. Các triết gia không đồng ý về một định nghĩa chính xác của triết nhưng họ đều coi triết là một cố gắng tìm sự hiểu biết xâu xa và chính xác ở mức độ tối đa có thể đạt tới. Bertrand Russell ví triết như một vùng trái độn giữa khoa học và thần học; nó không thể trái ngược với khoa học để có sự chính xác, nhưng nó cũng phải dám phiêu lưu vào những gì mà khoa học không thể hoặc chưa thể giải thích. Chính vì sự phiêu lưu này mà một triết gia, một mặt, phải nắm vững những hiểu biết khoa học đã đạt được và, mặt khác, phải rất thận trọng trong lý luận.

    Trong những bộ môn của triết, tri thức học là phần quan trọng nhất, nó có mục đích chất vấn những gì mà chúng ta biết hoặc tin để xem chúng ta có thể tin tới mức độ nào. Những xác quyết hồ đồ - như Marx luôn luôn làm - là điều tối kỵ đối với triết. Không phải ai học triết cũng là triết gia. Bằng cấp, kể cả bằng tiến sĩ, chỉ chứng nhận một căn bản để từ đó học hỏi thêm; điều quan trọng là những gì mình học được sau đó. Trong trường hợp của Marx bản tính hiếu động cũng như bối cảnh xô bồ của thời đại không thúc đẩy ông học hỏi thêm. Vả lại dù học triết nhưng Marx không thích triết. Ông viết trong cuốn Luận Án về Feuerbach, cuốn sách có thể coi là tác phẩm về triết duy nhất của ông: "các triết lý chỉ cố hiểu thế giới trong khi vấn đề là phải thay đổi nó". Câu này chứng tỏ Marx không những không thích triết mà còn phản triết. Tại sao phải thay đổi thế giới? Thay đổi cái gì và để đạt tới kết quả nào? Và làm sao có thể thay đổi được một cái gì nếu không hiểu nó? Sau cuốn sách nhỏ này, viết năm 1845 nhưng chỉ phổ biến hạn chế, nhiều nhân chứng cho biết Marx đã bỏ hẳn môn triết để dành trọn thời giờ và cố gắng cho tuyên truyền và hành động; ông chỉ quan tâm trở lại tới triết rất lâu sau đó khi đọc lại Hegel để soạn thảo cuốn Tư Bản Luận.

    Marx đã viết rất nhiều hầu như trên tất cả mọi chủ đề trừ khoa học thuần túy nhưng không bao giờ tập trung vào chủ đề nào cả. Ông viết nhiều nhất trong thập niên 1840, khi chưa đầy 30 tuổi. Sau đó từ năm 1849, ông sang Anh và sống rất cơ cực. Ông đã phải viết hàng ngàn bài báo cho tờ báo Mỹ New York Tribune vì "lý do thực phẩm" theo chính lời ông. Dầu vậy Marx đã rất túng thiếu, ba trong sáu đứa con của ông đã chết vì thiếu ăn; Marx và phần còn lại của gia đình đã chỉ sống sót nhờ sự giúp đỡ của người bạn trung thành Engels. Chỉ từ 1869 trở đi, khi Engels được thừa hưởng gia tài vì thân phụ qua đời và có thể trợ cấp đều đặn cho ông 350 đồng bảng Anh mỗi năm, Marx mới tạm thoải mái. Tình trạng đau thương này không cho phép Marx học hỏi thêm và cũng không cho phép ông suy nghĩ và viết một cách bình thường. Hơn thế Marx còn phải rất chật vật để khảo cứu về kinh tế, một bộ môn mà ông hoàn toàn không biết gì và cũng không có căn bản để học hỏi một cách nghiêm chỉnh, trong khi soạn thảo cuốn Tư Bản Luận, tác phẩm công phu nhất của ông mà theo chính lời ông để viết ra ông đã phải "hy sinh cuộc sống, hạnh phúc và gia đình". Ngoài ra do bản tính hiếu thắng Marx cũng mất rất nhiều thì giờ để viết những lá thư tranh cãi vô bổ với những người phê phán hoặc không đồng ý với ông. Một số những thư từ này về sau cũng được sưu tập lại và xuất bản. Cũng nên đặt câu hỏi tại sao Marx lại có thể cô đơn và khổ cực đến thế mặc dù đã rất nổi tiếng? Rất có thể là do bản tính kiêu căng ông không có bạn, nhưng cũng có thể là ít người thực sự quí mến ông.

    Các tác phẩm của Marx thường là những cuốn sách ngắn, trừ ngoại lệ là cuốn Tư Bản Luận. Ông viết rất nhiều bài báo. Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả những gì Marx viết và nhắc lại đều mang tính bút chiến và xác quyết nhưng rất ít lý luận. Có lẽ do nguồn gốc gia đình giáo sĩ Do Thái của Marx mà chúng đều có giọng điệu phán quyết và tiên tri. Những tác phẩm được liệt kê nhiều nhất là Luận Án Về Feuerbach (1845), Tuyên Ngôn Cộng Sản (1847), Đấu Tranh Giai Cấp Tại Pháp (1850), Ngày 18 Brumaire (1850), Phê Bình Kinh Tế Chính Trị (1859), Nội Chiến tại Pháp (1871), Phê Bình Cương Lĩnh Gotha (1875) và dĩ nhiên Tư Bản Luận (chỉ quyển I được in trong lúc Marx còn sống năm 1867). Ngoài ra Marx cũng tham gia vào hai tác phẩm của Engels, Ý Thức Hệ Đức (1846) và Chống Dürhing (1878). Như trên đã nói trừ cuốn Tư Bản Luận tất cả những tác phẩm của Marx đều là những cuốn sách ngắn rất ít giá trị lý luận và khảo cứu, có mục đích tranh luận và hô hào. Marx chủ yếu viết các bài báo. Những ý kiến của Marx được lặp lại nhiều lần một cách tản mác trong các tác phẩm chứ không được tập trung và đào sâu trong trong một cuốn sách nào. Tất cả những ý kiến của Marx có thể tìm thấy trong cuốn Tư Bản Luận.
    Marx đã viết những gì?

    Những tư tưởng chính của Marx có thể gom lại trong bốn chủ đề:

    1/ Một phần được coi là triết lý gồm lý luận biện chứng mà Marx lấy lại của Hegel nhưng ứng dụng vào chủ nghĩa duy vật thành Duy Vật Biện Chứng (dialectic materialism) và sau đó ứng dụng vào lịch sử thành Duy Vật Sử Quan (materialistic conception of history).

    2/ Một lý thuyết về kinh tế chính trị trong đó cốt lõi là lý thuyết giá trị và thặng dư giá trị được trình bày trong Tư Bản Luận.

    3/ Một lý thuyết về nhà nước và cách mạng được lặp lại nhiều lần đặc biệt là trong Tuyên Ngôn Cộng Sản và Tư Bản Luận nhưng không bao giờ được đào sâu.

    4/ Quan trong hơn là quan điểm của Marx về đạo đức được phát biểu nhiều lần một cách rất quả quyết dù không biện luận.

    Vào lúc này, khi mọi tranh luận nghiêm chỉnh về Marx đã chấm dứt ta có thể nói ngắn gọn hai điều. Một là những gì Marx đã nói đều không có giá trị lý luận bởi vì Marx chỉ xác quyết chứ không chứng minh gì cả. Hai là tất cả đã được các nhà lý luận nghiêm chỉnh, và sau đó thực tế, chứng minh là sai và độc hại. Tuy vậy cũng không phải là vô ích nếu ta nhìn lại một cách ngắn gọn một lần chót nền tảng tư tưởng của Marx và của phong trào cộng sản thế giới.

    Một nghịch lý đầu tiên cần được đặc biệt chú ý là thứ tự thời gian của hai tác phẩm nổi tiếng nhất của Marx, Tuyên Ngôn Cộng SảnTư Bản Luận. Tuyên Ngôn Cộng Sản là tín điều của chủ nghĩa cộng sản; nó khẳng định chủ nghĩa tư bản nhất định sẽ tiêu vong nhưng không nói tại sao. Tư Bản Luận có mục đích chứng minh niềm tin này. Tuy vậy Tuyên Ngôn Cộng Sản lại có trước Tư Bản Luận gần hai mươi năm. Như vậy là kết luận có trước lý luận. Đây là một cung cách mà không một người tỉnh táo nào có thể tự cho phép, chưa nói một nhà tư tưởng. Kết luận khi chưa lý luận chỉ có thể là kết luận theo cảm tính hoặc kết luận một cách gian trá và có mọi triển vọng là sai; lý luận với mục đích biện hộ cho một kết luận đã có sẵn chỉ có thể là ngụy biện. Chỉ riêng một điểm này thôi cũng đủ khiến chủ nghĩa Marx đáng bị bác bỏ.

    Chính Marx đã là nạn nhân đầu tiên của nghịch lý này. Tuyên Ngôn Cộng Sản khẳng định chủ nghĩa tư bản sẽ bị đào thải như một tất yếu (nghĩa là một điều chắc chắn sẽ đến), và Marx cam kết sẽ chứng minh một cách khoa học. Mọi người chờ đợi và Marx đã phải vật vã trong hai mươi năm để viết Tư Bản Luận cố chứng minh một điều không thể chứng minh được vì không đúng. Khi cuốn Tư Bản Luận được phát hành sau một thời gian chờ đợi dài nó đã là một thất vọng lớn. Nó quanh co, dài dòng, nhàm chán và không chứng minh được gì cả. Đọc nó là một cực hình, nó là cuốn sách của một người viết về một vấn đề mà mình không biết gì. Đã chỉ có quyển I được in ra bằng tiếng Đức khi Marx còn sống, năm 1867. Bản tiếng Anh phải đợi đến 19 năm sau, năm 1886, nghĩa là ba năm sau khi Marx qua đời. Các quyển II và III chỉ được in ra năm 1885 và 1894. Người ta có thể hình dung sự thất bại bi đát của cuốn sách. Trên thực tế nó đánh một dấu chấm hết trên sự nghiệp của Marx như một lý thuyết gia.

    Marx đã lấy lại lý luận về giá trị mà David Ricardo đưa ra hồi đầu thế kỷ 19 nhưng thêm vào đó những suy luận mông lung. Kinh tế đối với Marx chỉ là sản xuất, và sản xuất chỉ là sản xuất hàng hóa; hình ảnh xí nghiệp của Marx chỉ là xí nghiệp của một chủ nhân quyết định hoàn toàn theo ý muốn, Marx không hề biết đến các công ty cổ phần, thị trường, tiền tệ, tín dụng, luật lao động, luật thương mại v.v. dù những khái niệm này đã khá phổ biến vào thời đại của ông. Ông lý luận một cách quanh co, pha trộn kinh tế với xã hội học, tâm lý học, lịch sử, triết học, rồi kết luận gượng gạo rằng sẽ có tích lũy và tập trung tư bản, giai cấp lao động sẽ bị bần cùng hóa và sẽ nổi dậy đánh đổ chế độ tư bản. Điều rất mỉa mai là cuốn sách đã ra đời sau khi thực tế đã rõ ràng là trái ngược với những gì Marx tiên đoán. Số lượng các xí nghiệp tăng lên nhiều thay vì nhỏ lại, giai cấp lao động sống thoải mái hơn nhiều thay vì bị bần cùng hóa.

    Qui luật biện chứng của Hegel tự nó đã sai. Theo Hegel mọi sự trong vũ trụ biến chuyển theo một qui luật được gọi là "biện chứng" qui định bởi một Lý Trí Tuyệt Đối huyền bí không khác các thượng đế của các tôn giáo, nhưng thuần lý. Qui luật biện chứng như sau: bất cứ thực thể nào, dù là sự vật hay ý kiến, mà ta lấy làm điểm khởi hành của lý luận hay quan sát (và gọi là tiền đề) cũng có một sự phản bác (gọi là phản đề), sự mâu thuẫn giữa đôi bên cuối cùng dẫn tới kết quả là một tổng hợp thuần lý hơn thay thế cả tiền đề lẫn phản đề. Tổng hợp sau đó lại là khởi điểm cho cho một biện chứng khác, nghĩa là một tiền đề mới, và tiến trình biện chứng cứ thế mà tiếp tục, mỗi bước là một tiến bộ nghĩa là dẫn tới một tình trạng hợp lý hơn. Vì thế theo Hegel tất cả những gì hiện hữu đều hợp lý và ngược lại tất cả những gì hợp lý đều sẽ thể hiện. Áp dụng vào lịch sử Hegel cho rằng lịch sử là sự xung đột giữa các quốc gia, mỗi quốc gia - tiền đề - đều có một quốc gia đối nghịch - phản đề -, mâu thuẫn giữa hai quốc gia dẫn tới kết quả là sự thống nhất thành một quốc gia mới. Quốc gia mới này, bao gồm những ưu điểm của cả hai. Đến lượt nó lại gặp mâu thuẫn v.v. Hegel trình bày hệ thống tư tưởng của mình một cách phức tạp đến nỗi nhiều người không thể hiểu và không dám kết luận là nó sai.

    Nhưng nó có mọi lý do để sai. Trước hết Lý Trí Tuyệt Đối chỉ là một giả thuyết không khác thượng đế của các tôn giáo và cùng lắm chỉ có thể kiểm chứng chứ không thể chứng minh, nhưng thực tế lại không kiểm chứng những gì Hegel nói. Cho đến nay tất cả các phát minh lớn làm thay đổi lịch sử nhân loại không diễn ra vì các nhà bác học đã lý luận theo biện chứng của Hegel, các cuộc xung đột giữa các quốc gia trong tuyệt đại đa số cũng không dẫn tới sự thống nhất trong một quốc gia mới văn minh hơn và hợp lý hơn. Lý thuyết biện chứng của Hegel cũng chỉ là một lý luận cổ điển coi trái đất là trung tâm và phần quan trọng nhất của vũ trụ trong khi khoa học đã chứng minh ngay trong sinh thời của Hegel rằng nó chỉ là một phần vô cùng nhỏ trong một vũ trụ vô cùng lớn. Vả lại lý luận của Hegel đàng nào cũng không thể chấp nhận được vì Hegel không hề định nghĩa những tiêu chuẩn phải có để một cái gì đó được coi là phản đề hay tổng hợp, như vậy qui luật biện chứng có thể được vận dụng một cách rất tùy tiện.

    Marx đã chấp nhận biện chứng của Hegel (và do đó đảm nhiệm mọi sai lầm của Hegel) vì nó được trình bày như một qui luật tất yếu, điều mà ông đang cần để chứng minh tính tất yếu của sự đào thải của xã hội tư bản, nhường chỗ cho xã hội cộng sản. Tuy vậy Marx vận dụng biện chứng của Hegel một cách khác, thành Duy Vật Biện Chứng rồi Duy Vật Sử Quan. Duy Vật Biện chứng là biện chứng của Hegel nhưng có nguyên nhân không phải từ một Trí Tuệ Tuyệt Đối mà từ chính vật chất. Khái niệm duy vật (materialism) xuất hiện trong câu hỏi căn bản của môn tri thức học "cái gì có thực để làm khởi điểm cho sự chắc chắn của sự hiểu biết của chúng ta?" Đồng thời nó cũng hiện diện trong cuộc tranh cãi về siêu hình học xem hồn hay xác quan trọng hơn. Có hai cách trả lời khác nhau. Trường phái duy tâm (idealism) cho rằng chỉ có ý kiến là có thực trong khi trường phái duy vật cho rằng chỉ có vật chất là có thực. Người ta đã có thể chất vấn Hegel rằng Lý Trí Tuyệt Đối tại sao và do đâu mà có, nhưng người ta lại càng khó chấp nhận khẳng định không chứng minh của Marx, theo đó tất cả trong vũ trụ này đều do vật chất qui định. Marx có thể nghĩ là ý kiến của ông độc đáo nhưng về bản chất nó không khác niềm tin của những người thổ dân ở trung tâm nước Úc thờ tảng đá Uluru như một thần linh. Marx còn liều lĩnh hơn hẳn Hegel. Hegel chỉ dùng biện chứng để giải thích quá khứ (và biện minh cho sự thống nhất nước Đức) trong khi Marx còn dùng biện chứng để tiên liệu tương lai một cách chắc nịch. Về lịch sử, khác với Hegel nhưng cũng tùy tiện như Hegel, Marx coi động cơ của lịch sử là sự xung đột giữa các giai cấp, mặc dù Marx chưa bao giờ định nghĩa rõ ràng thế nào là một giai cấp. Theo Marx chính những xung đột giai cấp này đã khiến xã hội loài người tiến hóa qua các giai đoạn cộng sản nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản, và sắp tới cộng sản. Marx còn thêm thắt những xác quyết khác – cũng không chứng minh như thường lệ - , như sự hiểu biết về một vật thể là một hành động có tác dụng làm thay đổi vật thể đó, để tự phân biệt với Hegel. Rõ ràng là Marx cũng không tha thiết gì với biện chứng của Hegel mà chỉ chấp nhận nó vì hai đặc tính phù hợp với cuộc cách mạng vô sản mà ông hô hào: một là nó là một lý thuyết tiền định (determinist) và do đó có thể sử dụng để chứng minh sự tất thắng của cuộc cách mạng này, hai là nó thuần lý và do đó cho phép biện luận một cách có vẻ khoa học và chính xác. Trên thực tế biện chứng của Marx còn cho phép lý luận một cách tùy tiện hơn cả biện chứng của Hegel vì nó không những giải thích quá khứ, một điều ta có thể ít nhiều quan sát, mà còn tiên liệu cả tương lai. Một thí dụ : bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản Liên Xô lý luận biện chứng như sau: 1/kinh tế phải được lãnh đạo tập trung để có hiệu quả (tiền đề); 2/nhưng khái niệm công nhân làm chủ xí nghiệp đòi hỏi tản quyền (phản đề); 3/giải pháp là nhà nước Xô Viết (tổng hợp). Cách lý luận "biện chứng" này cho phép những người không cần có một trình độ lý luận và kiến thức nào nói bất cứ gì sau một thời gian huấn luyện ngắn về biện chứng. Nó đã là nguyên nhân của niềm tin nền tảng của các chế độ cộng sản rằng những người vô học cũng có thể lý luận và giữ những vai trò lãnh đạo.

    Quan điểm về nhà nước và cách mạng của Marx có thể tóm tắt như sau: nhà nước và luật pháp chỉ là dụng cụ đàn áp của giai cấp cầm quyền. Trong giai đoạn hiện nay (nghĩa là giữa thế kỷ 19) giai cấp cầm quyền là giai tư sản cho nên chính quyền và luật pháp chỉ là những dụng cụ của giai cấp tư sản để thống trị và bóc lột giai cấp lao động vô sản. Giai cấp vô sản chỉ có một chọn lựa là vùng dậy đánh đổ giai cấp tư sản bằng mọi phương tiện, kể cả và nhất là bằng bạo lực. Marx không giải thích tại sao phải dùng bạo lực để đạt một mục tiêu đàng nào cũng đến nếu sự thay thế xã hội tư bản bằng một xã hội cộng sản là điều tất yếu theo duy vật lịch sử. Theo Marx, vì chỉ có vai trò dụng cụ đàn áp của giai cấp thống trị nên nhà nước không còn lý do tồn tại trong xã hội cộng sản không giai cấp sắp đến, và do đó sẽ tàn lụi đi. Tuy vậy để tiến từ xã hội tư bản sang xã hội cộng sản sẽ cần một giai đoạn chuyên chính vô sản trong đó nhà nước vẫn còn được duy trì như là dụng cụ của giai cấp vô sản để tiêu diệt hẳn chế độ tư bản và xây dựng xã hội cộng sản. Đối với Marx giai cấp vô sản chủ yếu là giai cấp công nhân; cuộc cách mạng vô sản chủ yếu là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân cho nên nó chỉ có thể thành công khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đầy đủ để tạo ra một giai cấp công nhân đông đảo.

    Quan điểm coi nhà nước và luật pháp như là những dụng cụ đàn áp và bóc lột của giai cấp thống trị là một quan điểm đen tối và rất chủ quan của riêng Marx bởi vì ngay trong thời đại của Marx và trước đó phần lớn các nhà tư tưởng nghĩ khác hẳn. Họ coi chính quyền là phương tiện để đảm bảo an ninh và công lý – nghĩa là chống bóc lột - và đem lại hạnh phúc cho người dân. Họ cũng quan niệm luật pháp là sự thể hiện trong xã hội những giá trị đạo đức và nhân bản.

    Thực tế đã phủ nhận hoàn toàn lập trường của Marx. Cuộc cách mạng cộng sản đã không thành công trong các nước tư bản phát triển như Marx tiên liệu, trái lại chế độ tư bản càng phát triển thì nhu cầu làm cách mạng để lật đổ nó càng giảm. Các đảng cộng sản đã chỉ giành được chính quyền tại các nước nông nghiệp lạc hậu, như Nga và Trung Quốc; các chế độ cộng sản được thành lập cũng không phải là một bước tiến về xã hội cộng sản mà đều biến chất và tàn lụi đi. Chỉ có một điều đúng với quan niệm về nhà nước của Marx là trong các chế độ đó chính quyền và luật pháp đã quả nhiên là những dụng cụ đàn áp, nhưng đó là vì họ theo quan điểm của Marx chứ không phải vì một tất yếu lịch sử nào cả.

    Điều độc hại nhất trong tư tưởng chính trị của Marx là sự phủ nhận hoàn toàn các giá trị đạo đức và tình cảm. Marx, và sau đó sau đó Lênin, chỉ coi những giá trị như sự lương thiện, sự thủy chung, tình bạn, tình yêu, sự đam mê, lòng bác ái, lòng biết ơn v.v. như là những sản phẩm của quan hệ sản xuất và có mục đích phục vụ giai cấp thống trị. Cũng nên nhận định rằng những người cộng sản coi chủ nghĩa Mác-Lênin là khoa học bởi vì chủ nghĩa này không quan tâm tới đạo đức và tình cảm mà nó coi duy tâm và trừu tượng, do đó vô nghĩa. Đối với Marx không làm gì có cái gọi là bản chất con người. Xét cho cùng đây là một quan điểm rất bi quan. Cuộc đời còn giá trị gì khi con người cũng chỉ như đất đá? Người ta có thể chấp nhận quan điểm này nếu muốn nhưng nó chẳng có gì là đặc sắc và cao siêu.

    Khó có thể tìm thấy một tác phẩm nào ca tụng chủ nghĩa tư bản một cách nồng nhiệt như Tuyên Ngôn Cộng Sản. Theo Marx chỉ trong một thời gian ngắn chủ nghĩa tư bản đã đem lại những tiến bộ huyền diệu, đã tạo ra thế liên thuộc giữa các quốc gia, đem ánh sáng văn minh đến với những dân tộc mọi rợ, đã tạo các thành phố và giải phóng một phần đáng kể loài người khỏi "cuộc sống ngu xuẩn tại nông thôn" v.v. Tuy vậy, cũng ngay trong Tuyên Ngôn Cộng Sản Marx chủ trương phải tiêu diệt chế độ tư bản và giai cấp tư sản bằng bạo lực. Giai cấp tư sản phải bị tiêu diệt bằng bạo lực không phải vì nó xấu hay ác mà vì một tất yếu lịch sử. Cũng thế, giai cấp vô sản phải thắng không phải vì nó tốt mà vì thắng lợi của nó là một tất yếu lịch sử. Nên nhớ là tuy Marx nói giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô sản nhưng ông không hề coi sự bóc lột này là một tội, trái lại ông coi nó là một lẽ tự nhiên, cũng tự nhiên như việc giai cấp vô sản phải tiêu diệt giai cấp tư sản. Marx không phân biệt thiện và ác, tốt và xấu. Đạo đức hoàn toàn vắng mặt trong tư tưởng của Marx.

    Chính Marx khai tử chủ nghĩa Marx

    Một điều cần được lưu ý là chủ nghĩa Marx chưa bao giờ được một nhà tư tưởng lớn nào bênh vực. Đã chỉ có những người làm công tác tuyên vận trong các đảng cộng sản đề cao nó. Họ viết ra hàng triệu trang giấy nhưng không viết được gì đáng để ý bởi vì đó chỉ là những cố gắng để cố bào chữa cho cái không thể bào chữa. Những triết gia có tầm vóc hoặc không đề cập tới Marx hoặc chỉ đề cập tới để bác bỏ.

    Chính Marx cũng không tin ở những gì mình hô hào. Năm 1872, sau khi Công Xã Paris (một cuộc nổi dậy võ trang của những người cộng sản Pháp mà Marx và Đệ Nhất Quốc Tế nhiệt tình cổ võ) bị dẹp tan vì không lôi kéo được quần chúng, Marx tuyên bố tại Amsterdam nhân dịp đại hội Đệ Nhất Quốc Tế: "Ở những nước như Mỹ và Anh người công nhân có thể tranh đấu để đạt mục tiêu bằng phương thức ôn hòa". Nhưng nếu cách mạng bạo lực không cần thiết ở Anh và Mỹ thì nó cũng không cần thiết ở bất cứ nước nào vì Anh và Mỹ chính là hai quốc gia mà chủ nghĩa tư bản được thể hiện một cách triệt để nhất. Câu nói này tương đương với lời tuyên bố khai tử chủ nghĩa Marx vì cốt lõi của nó là kêu gọi giai cấp công nhân vùng lên cướp chính quyền bằng bạo lực để thực hiện chuyên chính vô sản. Tại đại hội này Marx vận động để dời trụ sở Đệ Nhất Quốc Tế sang Philadelphia, Mỹ. Năm 1875 đến lượt Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức, xương sống của phong trào cộng sản quốc tế vào lúc đó, họp đại hội tại Gotha chính thức chọn lựa đường lối đấu tranh hợp pháp. Biến cố này tương đương với sự cáo chung của phong trào cộng sản mà Marx hô hào vì nó là một phong trào chủ trương cách mạng bạo động. Marx đã rất thất vọng, ông viết ra cuốn "Phê Bình Cương Lĩnh Gotha" đả kích đại hội này nhưng lại không phát hành. Vì không tìm được nhà xuất bản hay vì Marx tự thấy mình không thuyết phục vì tại sao công nhân có thể đấu tranh ôn hòa tại Mỹ và Anh như chính ông đã nói mà lại không thể đấu tranh ôn hòa tại Đức nơi chế độ tư bản còn ít triệt để hơn? Năm 1876 Đệ Nhất Quốc Tế tuyên bố tự giải tán. Marx tán thành quyết định này và từ đó không tham gia một hoạt động nào nữa cho đến khi chết năm 1883, thọ 65 tuổi. Lúc đó Marx đã hoàn toàn chìm vào quên lãng. Trước khi chết ông để lại một câu nói dí dỏm: "Điều chắc chắn là tôi không phải là một người mác xít!".

    Chủ nghĩa Marx kể như đã chết tại Châu Âu. Và chết một cách buồn thảm. Như trên đã nói cuốn Tư Bản Luân, tác phẩm công phu nhất của Marx đã chỉ gây thất vọng. Không ai tán thành, hầu như không ai muốn đọc. Marx đã muốn đề tựa cuốn sách này cho Charles Darwin, một nhà bác học đương thời với ông, cha đẻ của lý thuyết tiến hóa, nhưng Darwin từ chối. J.M.Keynes, một trong những nhà kinh tế lớn nhất thế giới trong thế kỷ 20 đánh giá nó như sau :"Tư Bản Luận là một cuốn sách lỗi thời, không những sai về mặt khoa học mà còn vô tích sự và vô dụng trong thế giới ngày nay". Đó là năm 1932, giữa lúc chủ nghĩa tư bản đang gặp khủng hoảng dữ dội. Năm 1878 vào lúc mà uy tín và ảnh hưởng của ông hầu như không còn gì, Engels đã viết cuốn Chống Durhing với mục đích trình bày một cách mạch lạc toàn bộ tư tưởng của Marx và phục hồi ảnh hưởng cho Marx (Durhing là một giáo sư đại học Berlin phản bác Marx trên nhiều điểm). Cuốn sách được Marx tán thành và đóng góp. Nó được đăng từng kỳ trên tạp chí Vorwärts của Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức. Sau một thời gian đảng này quyết định ngừng đăng với lời giải thích: "cuốn sách hoàn toàn không có lợi gì cho đa số đảng viên, trái lại còn gây một sự nhàm chán đến cực độ".

    Chủ nghĩa Mác-Lênin

    Nhờ Lênin mà chủ nghĩa Marx được phục hồi thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Lênin là một chuyên viên khủng bố, lớn lên trong một truyền thống khủng bố quốc gia cũng như gia đình. Tư tưởng chính trị cách mạng của Nga kể từ thập niên 1860 coi ám sát và thủ tiêu là phương pháp bình thường để giải quyết các khác biệt. Anh ruột Lênin bị hành quyết về tội khủng bố. Lênin đã nhìn thấy ở chủ nghĩa Marx một vũ khí lý tưởng để không những chỉ phá hoại mà còn cướp được chính quyền, và ông đã thành công. Do nguồn gốc khủng bố Lênin tin rằng muốn giành chính quyền không thể dựa trên hậu thuẫn quần chúng mà phải dựa trên một đội ngũ cán bộ nhỏ nhưng chuyên nghiệp và quyết tâm sẵn sàng sử dụng bạo lực. Cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga năm 1917 đã được mọi sử gia đánh giá là một cuộc đảo chính cướp chính quyền của một nhóm nhỏ. Chủ nghĩa Mác-Lênin có thể định nghĩa là chủ nghĩa Marx vận dụng theo cách của Lênin, nghĩa là lấy lại toàn bộ chủ nghĩa Marx nhưng đẩy tới mức triệt để một số yếu tố: tôn sùng bạo lực, coi thường luật pháp, phủ nhận mọi giá trị đạo đức. Lênin viết rất nhiều nhưng chỉ viết để hô hào, tranh luận và mạt sát. Đóng góp của ông không đáng kể về mặt lý luận nhưng quan trọng về những hậu quả.

    Một câu mà Lênin nhắc lại nhiều lần, đặc biệt là trong hai cuốn Nhà Nước và Cách mạng và Cách Mạng Vô Sản và Tên Phản Bội Kautsky có thể tóm tắt tư tưởng chính trị của Lênin: "chính quyền cách mạng là chính quyền do giai cấp vô sản giành được và giữ lấy, chính quyền này không hề bị ràng buộc bởi bất cứ một luật pháp nào".

    Cuốn Lênin Toàn Tập (Moscow, 1955, trang 311) in lại một diễn văn của Lênin: "Chính quyền Xô Viết đã hành động như mọi cuộc cách mạng vô sản phải hành động. Nó đã đập tan pháp lý tư sản. Chừng nào chúng ta chưa khủng bố - nghĩa là một viên đạn vào đầu ngay tại chỗ - chúng ta sẽ chẳng đạt được kết quả nào cả". Khi Steinberg, bộ trưởng tư pháp (lúc đó gọi là ủy viên nhân dân tư pháp) hỏi ông "Như thế thì cần gì bộ tư pháp nữa, cứ gọi thẳng là bộ tàn sát cho tiện!" Lênin trả lời: "Đúng lắm, tiếc là chúng ta không thể dùng danh xưng đó".

    Trong diễn văn trước đại hội Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Nga năm 1920 Lênin giáo huấn thanh niên như sau: "Có một đạo đức cộng sản không? Dĩ nhiên là có! Bọn tư sản thường buộc tội chúng ta là phủ nhận mọi giá trị đạo đức (…) Chúng ta phủ nhận đạo đức theo nghĩa nào? Chúng ta phủ nhận mọi đạo đức không xuất phát từ con người và giai cấp. Đó chỉ là đạo đức bịp bợm phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản. Chúng ta khẳng định đạo đức của chúng ta hoàn toàn nhắm phục vụ đấu tranh giai cấp. Đạo đức của chúng ta hoàn toàn đặt nền tảng trên cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản". Một câu nói của Lênin được nhắc lại nhiều lần là "đạo đức là những gì hợp với quyền lợi của cách mạng". Chẳng có gì để thảo luận về một quan niệm nhà nước, luật pháp và đạo đức như thế.

    Theo đúng bài bản của Marx, Lênin coi nhà nước là cần thiết cho giai đoạn chuyên chính vô sản, một giai đoạn chuyển tiếp lên xã hội cộng sản, một khi xã hội cộng sản đã đạt tới thì vai trò của nhà nước sẽ mờ nhạt đi. Nhà nước trong giai đoạn chuyển tiếp đó do đảng cộng sản, đội tiền phong và người đại diện chân chính của giai cấp vô sản, lãnh đạo một cách hoàn toàn và tuyệt đối. Lênin gọi đó là chế độ dân chủ vô sản và tuyên bố nó ưu việt gấp triệu lần dân chủ tư sản. Nhưng giai đoạn chuyển tiếp đó sẽ kéo dài bao lâu? Đại hội 22, năm 1961, của Đảng Cộng Sản Liên Xô, sau 47 năm cầm quyền, dự tính rằng sẽ đạt tới xã hội cộng sản vào năm 1980. Nhưng rồi năm 1980 qua đi mà không có gì thay đổi cả. Từ đó vấn đề đặt ra không phải là giảm mà trái lại là tăng cường vai trò của nhà nước và tăng cường sự lãnh đạo của đảng cộng sản trên nhà nước. Cho đến khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ năm 1991. Tại Trung Quốc chỉ một thời gian ngắn sau khi đảng cộng sản giành được chính quyền câu hỏi giai đoạn chuyển tiếp kéo dài bao lâu không đặt ra nữa. Khi Mao Trach Đông chết người ta chỉ thấy trong thư viện của ông những cuốn sách cổ của Trung Quốc và những cuốn sách giải trí chứ không hề có cuốn sách nào của Marx và Lênin. Tại Việt Nam ông Hồ Chí Minh từng nói rằng ông không có tư tưởng nào cả mà chỉ theo tư tưởng của Marx, Lênin, Stalin và Mao. Tất cả các đảng cộng sản không hề có một đóng góp lý thuyết nào cả mà chỉ khẳng định một cách máy móc sự trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, trừ đảng cộng sản Ý với Gramsci, nhưng Gramsci phản bác chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều hơn là tán thành. Lý do dễ hiểu: người ta không thể cải tiến một cái gì về bản chất đã sai. Một sự kiện chứng tỏ chủ nghĩa Mác-Lênin không thuyết phục: trong suốt lịch sử của phong trào cộng sản chưa hề có một đảng cộng sản nào thắng một cuộc bầu cử lương thiện nào; về điểm này chủ nghĩa Mác-Lênin còn thua cả các chủ nghĩa Phát Xít và Nazi.

    Sự sai trái và độc hại của chủ nghĩa Mác-Lênin không khó nhìn thấy và nhiều nhà bình luận đã thấy ngay từ đầu và đã vạch ra một cách rất rõ ràng. Tuy vậy cho đến thập niên 1970 nó vẫn lôi kéo được một số đông người, kể cả một số trí thức xuất sắc. Lý do là vì vấn đề mà nó nêu ra cũng là vấn đề mà lương tâm con người đặt ra từ rất lâu mà vẫn chưa có giải đáp, đó là bất công xã hội và chênh lệch giàu nghèo. Kể từ khi bắt đầu văn minh thế giới luôn luôn phải sống trong một mâu thuẫn nhức nhối giữa những tư tưởng quảng đại coi mọi người là anh em và một tổ chức xã hội phân biệt chủ và tớ. Và thời nào cũng có những người ao ước xóa bỏ mâu thuẫn nhức nhối đó. Trong nhiều trường hợp chính lòng quảng đại đã khiến người ta tiếp tay cho tội ác. Chủ nghĩa Marx là một giải pháp sai và độc hại nhưng vấn đề nó đặt ra có thực. Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ là sự vận dụng tư tưởng của Marx cho mục tiêu cướp và giữ chính quyền bằng bạo lực và khủng bố.

    Một tai họa cho nhân loại

    Theo một khảo cứu công phu và nghiêm túc của một nhóm học giả Pháp chủ nghĩa Mác-Lênin đã làm thiệt mạng ít nhất 100 triệu người trên thế giới, ngay cả nếu chỉ kể những nạn nhân do các chế độ cộng sản trực tiếp và cố ý sát hại. Ngày 26-01-2006 Hội Đồng Châu Âu đã ra nghị quyết 1481 coi các chế độ cộng sản là tội ác đối với nhân loại. Các nước mắc vào chế độ cộng sản đều nghèo khổ và lạc hậu hơn hẳn những nước không cộng sản với những điều kiện địa lý và lịch sử tương tự. Sự so sánh đã rất rõ rệt trong trường hợp các nước bị phân chia với một phần dưới chế độ cộng sản và một phần dưới một chế độ không cộng sản, như Đông và Tây Đức, Bắc và Nam Cao Ly, Trung Hoa Lục Địa và Đài Loan, Bắc và Nam Việt Nam trước 1975.

    Do sự phủ nhận các giá trị tình cảm và đạo đức chủ nghĩa Mác-Lênin làm hoại loạn con người và khuyến khích lối sống gian trá, ác độc, ích kỷ và vô trách nhiệm. Tất cả các chế độ cộng sản đều là những chế độ cực kỳ tham nhũng bởi vì trong thâm tín của nó chủ nghĩa Mác-Lênin coi chức năng của nhà nước là thống trị và bóc lột. Đó cũng đều là những thảm kịch cho môi trường, quan hệ xã hội và văn học nghệ thuật. Đã chỉ có rất ít những tác phẩm có giá trị dưới các chế độ cộng sản và chúng đều là sáng tác của những người phản kháng.

    Khi đảng cộng sản Nga cướp được chính quyền tại Nga năm 1917 chủ nghĩa Marx đã chết từ lâu tại Âu Châu. Ta có thể coi ngày chết chính thức của nó là đại hội Gotha 1875. Với bản chất khủng bố, khi sang Châu Âu Lênin đã rất phấn khởi khi tìm được một chủ nghĩa có dáng dấp của một triết lý mà lại hoàn toàn phủ nhận mọi ràng buộc pháp lý và đạo đức. Do trình độ văn hóa sơ sài ông không được gần gũi với những trí thức lớn để biết rằng chủ nghĩa Marx đã bị bác bỏ. Nếu Lênin có văn hóa hơn rất có thể chủ nghĩa Marx đã không được phục hồi thành chủ nghĩa Mác-Lênin và lịch sử nước Nga và thế giới đã khác.

    Thảm kịch Việt Nam

    Thảm kịch đối với Việt Nam còn lớn hơn vì chủ nghĩa Mác-Lênin đã toàn thắng năm 1975, nghĩa là đúng 100 năm sau khi nó đã bị đào thải tại Châu Âu và cũng rất lâu sau khi nó đã gây ra những tội ác ghê gớm tại Liên Xô và Trung Quốc. Chúng ta chậm trễ một cách bi đát về tư tưởng chính trị. Sự chậm trễ này cho tới nay vẫn chưa được ý thức đầy đủ.

    Nhiều người lạc quan cho rằng chủ nghĩa cộng sản không còn tại Việt Nam và hiện nay chúng ta đã ở trong giai đoạn hậu cộng sản. Nhận định này sai. Đã có thay đổi về mặt kinh tế nhưng kinh tế chính là mặt mà lý thuyết Marx chưa bao giờ được áp dụng. Vả lại thay đổi cũng không quan trọng như nhiều người nghĩ. Đảng và nhà nước cộng sản vẫn kiểm soát 2/3 hoạt động kinh tế. Trên các mặt khác, có tầm quan trọng lớn hơn hẳn, như quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản trên nhà nước, quan điểm cho rằng nhà nước và luật pháp chỉ là dụng cụ thống trị và bóc lột, sự phủ nhận hoàn toàn các giá trị đạo đức, và lý luận "biện chứng" tùy tiện cho phép rút ra bất cứ kết luận nào từ bất cứ sự kiện nào v.v. chế độ vẫn chưa hề thay đổi. Sự nới lỏng, nếu có, chỉ là vì chính quyền không đủ khả năng kiểm soát chứ không phải vì không muốn kiểm soát. Và vì trong tình trạng không thể kiểm soát tất cả nó nhắm trước hết những người phản kháng nên nó thả lỏng, nhiều khi sử dụng, các tệ nạn xã hội và các băng đảng xã hội đen.

    Lịch sử có lẽ sẽ không khe khắt với ông Hồ Chí Minh, người đã du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam. Ông đã lầm như rất nhiều người Việt Nam vào lúc đó. Nhưng lịch sử chắc chắn sẽ khe khắt hơn nhiều với những người sau ông đã thấy nó sai nhưng vì tham vọng quyền lực vẫn áp đặt lên dân tộc.

    Và lịch sử sẽ còn gay gắt hơn đối với những trí thức ở thế kỷ 21 vẫn không dám phản kháng trước một chính quyền trắng trợn tuyên bố tiếp tục theo đuổi chủ nghĩa Mác-Lênin và còn áp đặt nó như là môn triết duy nhất được giảng dạy trong các trường học. Rất gay gắt. Bởi vì ngoài vấn đề trách nhiệm, các thế hệ mai sau sẽ còn bị dằn vặt với những câu hỏi nhức nhối về căn cước. Như họ từ đâu đến, và cha anh họ là hạng người gì.

    Nguyễn Gia Kiểng
    (Tháng 02/2012)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    28 phản hồi

    Đem chuyện Icarus để sánh với Marx thì phải so sánh theo kiểu này, một người đẽo cái bánh xe hình tròn, một người đẽo cái bánh xe vuông . Bánh xe tròn tiện lợi được mọi người dùng, xây đại lộ chạy phom phom trên đường, người đẽo bánh xe vuông, khổ thay, lại có quyền, thế là ông ta bắt mọi người phải gắn bánh xe vuông vào tất cả xe trong vương quốc của mình . Trong xứ đó, mọi người cà ịch cà đụi đi không ra khỏi cánh cổng và ông ta cũng không cần biết, và quyết định không cho mọi người đi bộ . Một hôm ông ta triệu tập mọi người, không ai tới cả mới đi dò hỏi, hóa ra bánh xe vuông của ông làm mọi người quá khổ, ta thán tạo ra mối nguy hiểm cho quyền lực của ông . Thế là ông ra lệnh đẽo bớt góc cạnh đi cho nó tròn tròn lại, xe lăn được một chút nhưng vẫn ì ạch . Ông vui mừng kêu ý kiến gọt cạnh là (khỉ) "đột phá". Người biết mỉm cười xem đó là trò khỉ đột .

    Ý chính là hai sáng chế, một cái không xài được và cái kia rất tiện ích cho mọi người . Các bác thì tuyên bố bánh xe vuông là mộng ước của con người .

    Phúc Tâm viết:
    Từ thời rất xa xưa, con người đã mơ ước bay lên không trung. Ví dụ trong thần thoại Hy Lạp có chuyện In Ca bay lên trời nhờ đôi cánh bằng lông chim gắn sáp ong.
    Hàng nghìn năm sau, con người đã thất bại trong việc bay lên bằng các thiết bị cơ khí thuần túy.
    Rồi cũng bay lên được bằng thiết bị khí động học đó là khí cầu. Rồi bay tốt hơn nhờ thiết bị khí động lực học, đó là máy bay. Rồi bay tốt hơn nữa nhờ thiết bị phản lực, đó là máy bay phản lực, là tàu vũ trụ.
    Cái cách xây dựng xã hội lý tưởng theo kiểu (toàn trị tư tưởng, độc tài chính trị - giai cấp công nhân là lãnh đạo, kinh tế kế hoạch hóa tập trung) là sai bét nhè. Nhưng không vì thế mà kết luận rằng tất cả lý luận Mác Lê là sai tất. Xã hội loài người luôn phát triển không ngừng, làm gì có chuyện chỉ dừng lại ở xã hội kiểu tư bản cho dù đó có là xã hội văn minh nhất mà loài người đã và đang từng có.
    Chỉ chăm chăm muốn bay lên bằng cánh sáp ong hay bằng khinh công là sai nhưng nếu sổ toẹt rằng con người không thể bay lên được thì lại càng sai hơn nữa.

    Khác nhau bác ơi.
    Ở đây mọi người lý luận đúng sai vây thôi chứ không dùng bạo lực áp đặt ai cả. Nếu thích, bác cứ việc theo Mac-Le chứ có ai cấm đâu nhưng không dùng bạo lực ép buộc ai

    Chính vì vậy các "đảng CS" vẫn tồn tại ở nhiều nơi nhưng các "chế độ CS Mac Le" thì bị tiêu diệt gần hết vì các chế độ này mang tính khủng bố phát xít

    Từ thời rất xa xưa, con người đã mơ ước bay lên không trung. Ví dụ trong thần thoại Hy Lạp có chuyện In Ca bay lên trời nhờ đôi cánh bằng lông chim gắn sáp ong.
    Hàng nghìn năm sau, con người đã thất bại trong việc bay lên bằng các thiết bị cơ khí thuần túy.
    Rồi cũng bay lên được bằng thiết bị khí động học đó là khí cầu. Rồi bay tốt hơn nhờ thiết bị khí động lực học, đó là máy bay. Rồi bay tốt hơn nữa nhờ thiết bị phản lực, đó là máy bay phản lực, là tàu vũ trụ.
    Cái cách xây dựng xã hội lý tưởng theo kiểu (toàn trị tư tưởng, độc tài chính trị - giai cấp công nhân là lãnh đạo, kinh tế kế hoạch hóa tập trung) là sai bét nhè. Nhưng không vì thế mà kết luận rằng tất cả lý luận Mác Lê là sai tất. Xã hội loài người luôn phát triển không ngừng, làm gì có chuyện chỉ dừng lại ở xã hội kiểu tư bản cho dù đó có là xã hội văn minh nhất mà loài người đã và đang từng có.
    Chỉ chăm chăm muốn bay lên bằng cánh sáp ong hay bằng khinh công là sai nhưng nếu sổ toẹt rằng con người không thể bay lên được thì lại càng sai hơn nữa.

    Hà Sài viết:
    Đặc biệt, trong lý luận Lênin có lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, về một thời ký lịch sử đặc biệt – thời ký quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mà chủ nghĩa Mác chưa có điều kiện đề cập. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, tạo nên lý luận đặc sắc Lênin. Trong thời kỳ này, giai cấp công nhân và nhân dân lao động lập nên nhà nước kiểu mới, thực hiện một nền chuyên chính mới.

    Đó là nhà nước kiểu cán bộ quan chức với tham lam vô độ , nói 1 đằng làm một nẻo và bắt giam những ai không yêu thích Đảng CS . Chẳng lẽ Lê Nin lại ngờ nghệch để không thấy điều đó .

    Hà Sài viết:
    Lênin nói chúng tôi có thể đổi một tá đảng viên cộng sản (không biết quản lý đất nước) lấy môt chuyên gia tư sản, và rằng chúng ta phải học, phải học cách quản lý của chuyên gia tư sản để quản lý kinh tế, quản lý xã hội (đương nhiên có chọn lọc cho phù hợp lợi ích của chế độ mới). Tư tưởng như thế là nhân đạo gấp nhiều lần chế độ tư bản

    Việc đổi 1 tá Đảng viên CS lấy 1 chuyên gia vô sản để có lợi cho ĐCS thì đâu có cơ sở để khẳng định đó là nhân đạo . Giá như vì tôn trọng lẽ phải hay tài năng của 1 người dân mà Đảng sẵn sàng loại bỏ cả tá Đảng Viên CS thì lúc đó cũng chỉ mới là bước đầu của một thời kỳ thức tỉnh . Nếu đánh giá giá trị thì " chuyên gia tư sản" nếu chịu phun kiến thức cho Đảng CS thì giá trị kinh tế , chính trị văn hóa xã hội sẽ cao hơn hẳn tài năng u bắp của hàng vạn đảng viên CS chứ không phải hàng tá như trong ý trên .
    Tôi nghĩ là ông Hà Sài tuy đọc sách của Lê Nin nhưng không biết đối chiếu với thực tiễn để thấy những lập luận không phù hợp trong sách đó . Có thể nói rằng ai tin rằng chủ nghĩa CS là chấm hết , khỏi cần nghĩ đến xã hội không phải là CSCN thì người đó đang tự nhận mình là kẻ ngu dốt nhất trong lịch sử loài người vì lý do rất đơn giản : Lạc hậu và kém văn minh như con người sống trong thời Cộng sản nguyên thủy cũng lạc quan tiến tới 1 xã hội chiếm hữu nô lệ hoàn toàn phi CS . Trong từng thời kỳ phát triển theo các giai đoạn của lịch sử loài người đến nay, mọi con người từ xưa đến nay đều chấp nhận từ bỏ các lối sống hiện tại để đón nhận , tiếp cận những lối sống mới . Phát triển theo kiểu xoáy trôn ốc trong lý luận không có nghĩa là xoáy cuối cùng là Chủ nghĩa CS mà phải hiểu kể cả CNCS cũng chỉ là 1 xoáy trong các xoáy và sau nó lại là xoáy mới khác .
    Câu hỏi cho những người như ông Hà Sài : Có nên hay không trong bất kỳ 1 xã hội nào , mọi người đều không chỉ có quyền , mà đáng được tôn vinh để nghĩ tới xây dựng 1 xã hội có những ưu điểm hơn . Kể cả trong 1 xã hội hoàn toàn CS thì mọi người cũng có quyền hướng tới xây dựng 1 xã hội không CS ?

    Ông Nguyễn Gia Kiểng viết rằng “Nhờ Lênin mà Chủ nghĩa Mác được phục hồi thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Lênin là một chuyên viên khủng bố...”. Câu này gồm hai vế, trong đó vế đầu thì cơ bản đúng, hoặc nói chặt chẽ thì đúng một nửa, còn vế sau thì hoàn toàn xuyên tạc, là một thủ đoạn nham hiểm làm cho người ta mất niềm tin ở bản chất chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác – Lênin.
    Vế đầu có nội dung Lênin đã bảo vệ và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác thì đúng, nhưng làm như thể cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa Mác đã bị “sụp đổ”, chủ nghĩa Mác “đã chết”, thì không đúng, vì tuy xuất hiện chủ nghĩa xét lại, xuất hiện những kẻ và những đảng cơ hội hữu khuynh, song còn có phong trào công nhân rộng lớn, còn có những người, những đảng đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác. Dù sao thì chúng ta hãy nói đến khía cạnh đúng trong nửa đầu câu viết của Nguyễn Gia Kiểng, trước khi vạch rõ chỗ ông ta xuyên tạc.
    Thời Mác sống và hoạt động, thì chủ nghĩa tư bản đang ở giai đoạn phát triển mạnh, ở giai đoạn “cạnh tranh tự do”. Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn độc quyền, thành chủ nghĩa tư bản độc quyền (còn gọi là chủ nghĩa đế quốc), chỉ rõ bản chất kinh tế của chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản độc quyền. HÌnh thức phổ biến của chủ nghĩa tư bản độc quyền lúc ấy là các Syndicat, các Trust, các Consorcium... Vẫn là học thuyết giá trị thặng dư như Mác đã phát hiện ra, vẫn là biểu hiện bề ngoại của giá trị thặng dư là lợi nhuận, nhưng ở giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì không còn là lợi nhuận bình quân mà là lợi nhuận độc quyền, thậm chí là lợi nhuận độc quyền cao. Lý luận về chủ nghĩa tư bản độc quyền cho đến nay, ở thế kỷ 21, vẫn hoàn toàn giá trị; năm đặc điểm của chủ nghĩa đế quốc mà Lênin chỉ ra, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, dù rằng nó có biểu hiện mới dưới hình thức chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa thực dân kinh tế... Bằng lý luận về chủ nghĩa tư bản độc quyền, về lợi nhuận độc quyền, Lênin đã cắt nghĩa rất khúc triết lý luận giá trị thặng dư của Mác, rằng giá trị thặng dư vẫn là quy luật cơ bản, quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản.
    Thời Mác chủ nghĩa tư bản đang ở giai đoạn cạnh tranh tự do, giai đoạn phát triển mạnh, Mác đã rút ra kết luận cách mạng vô sản chỉ có thể thắng lợi khi nổ ra đồng thời ở hầu hết các nước “văn minh”. Thời đế quốc chủ nghĩa, Lênin đã phát hiện ra quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủ nghĩa tư bản, có nước chín muồi về kinh tế nhưng chưa chín muồi về chính trị, có nước chín muồi về chính trị nhưng chưa chín muồi về kinh tế, cho một cuộc cách mạng vô sản nổ ra. Nói cuộc cách mạng trước hết là cách mạng chính trị, là tương quan trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động với giai cấp tư sản. Từ đó, Lênin đưa ra luận điểm mới: cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi trước tiên ở một số nước, thậm chí ở một nước, khi mà tương quan trong cuộc đấu tranh nghiêng về sự áp đảo của giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Luận điểm này đã được lịch sử chứng minh bằng thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng Mười Nga, của cuộc cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, của cuộc cách mạng Trung Quốc, của cuộc cách mạng ở Lào, ở Cuba,... Còn, vấn đề sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, lại có những nguyên nhân lịch sử cụ thể của nó như thế giới đã bàn nhiều, không thể đổ lỗi cho Cách mạng Tháng Mười.
    Đặc biệt, trong lý luận Lênin có lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, về một thời ký lịch sử đặc biệt – thời ký quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mà chủ nghĩa Mác chưa có điều kiện đề cập. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, tạo nên lý luận đặc sắc Lênin. Trong thời kỳ này, giai cấp công nhân và nhân dân lao động lập nên nhà nước kiểu mới, thực hiện một nền chuyên chính mới. Chắc hẳn Nguyễn Gia Kiểng đã xuyên tạc, bôi nhọ nền chuyên chính này, lý luận đấu tranh giai cấp này của Lênin. Vu khống cho Lênin là “chuyên viên khủng bố” là có ác ý chính trị cay độc, phản kháng chủ nghĩa Mác – Lênin.
    Thật ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp thì trước Mác đã có tác giả Mây-đờ-maie nêu lên, Mác nói rõ mình không phải là người đầu tiên nêu học thuyết này mà chỉ phát triển thêm rằng đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản. Lênin là người có điều kiện lịch sử để thực hiện luận điểm của Mác. Xưa nay nhà nước nào thì cũng là thực hiện chuyên chính của một giai cấp, chỉ có điều mới mẻ là lợi ích giai cấp công nhân và lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc là thống nhất, chỉ có đấu tranh giải phóng toàn thể nhân dân lao động và toàn thể dân tộc thì giai cấp công nhân mới được giải phóng, ngoài ra giai cấp công nhân không có lợi ích gì khác, không có mục đích gì khác. Nền chuyên chính của giai cấp công nhân là chống lại tất cả các thế lực chống đối chế độ mới – chế độ làm chủ của nhân dân. Đây là nền chuyên chính nhân đạo nhất trong lịch sử, không thể gọi là “khủng bố”. Tư tưởng của Lênin là làm tất cả những gì có lợi nhất cho nhân dân, cho chế độ mới, cho Đảng, thậm chí có lúc Lênin nói chúng tôi có thể đổi một tá đảng viên cộng sản (không biết quản lý đất nước) lấy môt chuyên gia tư sản, và rằng chúng ta phải học, phải học cách quản lý của chuyên gia tư sản để quản lý kinh tế, quản lý xã hội (đương nhiên có chọn lọc cho phù hợp lợi ích của chế độ mới). Tư tưởng như thế là nhân đạo gấp nhiều lần chế độ tư bản, sao lại gọi là “khủng bố”, sao lại vu khống cho chủ nghĩa Lênin, cho chủ nghĩa Mác – Lênin là “khủng bố”? Dĩ nhiên quan niệm và cách làm của một số người, một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây coi đấu tranh giai cấp là động lực chủ yếu, thậm chí động lực duy nhất trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, không nhận thức được những động lực quan trọng khác như cách mạng khoa học – kỹ thuật, như văn hóa, giáo dục đào tạo... là sai lầm lớn; tuy nhiên trong thực tiễn hiện nay đã và đang sửa chữa rất thành công.
    Rõ ràng Nguyễn Gia Kiểng đã nói càn là do thiếu hiểu biết hay do lập trường, động cơ chống đối, hay do cả hai? – Có thể là do cả hai.

    Thế mà có nhiều đứa tin sái cổ viết:
    ….Những người không biết rành về một việc gì, vẫn có quyền viết nhiều về chủ đề đó.
    Bộ Tư Bản Luận đồ sộ của Mác có những giá trị thực tế gì khi có rất ít lý luận ?
    Thế mà có nhiều đứa tin sái cổ, thật hay giả vờ là quyền của chúng nó, nhưng chúng nó lại ôm súng bắt người khác phải giả vờ tin như chúng nó !

    Ông bạn ơi ! Tôi thấy luôn có những giới hạn rất đáng thương hại ở những kẻ ham tri thức, thích tò mò ! Cả tôi, cả bạn và mọi người trên đây cũng thế. Nhưng chúng ta chỉ khác những kẻ cuồng tín thuyết Mác một điểm duy nhất, chúng ta không mỗi chút mỗi trích dẫn kiểu “Tử viết, Tử viết…” xem Mác như Bật tiên tri , bật Thánh tổ vĩ đại duy nhất đúng của tư tưởng con người.

    Chúng ta bận bịu đọc những điều lý thú và gần gũi với con người, hơn là ráng ghi nhớ cho được, hiểu cho ra…rằng cái kẻ Râu Ria um tùm ấy đã nói, đã viết những cái gì. Gần gũi con người hơn Mác, cao đẹp hơn Mác, bình dị trong sáng và cả sâu sắt hơn Mác thì trong kho tàng nhân loại, nếu không hàng triệu chắc cũng hàng vạn, kể cả nhưng bức thư của cha viết cho con, thầy khuyên trò và tâm sự của những người mẹ nghèo túng thất học …!

    Tội cho những kẻ mà tư tưởng bỗng dưng hóa đá, tự chết cứng trong vũng bùn “Tư bản luận”. Sống để Hiểu biết, để Yêu thương và để Thán phục , nhưng trong thế giới rộng lớn mênh mông như đại dương , những kẻ cuồng tín Mác lại cứ tự nguyện, tự hào bơi lội trong một cái ao làng, rồi vênh váo tự hào phê phán chế trách thiên hạ. Tội họ quá !

    Mác dùng để tham khảo vu vơ, so sánh đôi chút để kiếm hứng thú tranh luận thì…xét ra cũng OK ! Hic! Nhưng chỉ nên như thế và nó cũng chỉ đáng như thế mà thôi ! Nhiều điều hữu ích và lý thú hơn đang chờ đợi chúng ta trong đời.

    Cũng lạ cho dân Đức, thông minh sâu sắt, tư duy logic, làm việc thì không chê vào đâu được, nhưng về tinh thần, tư tường thì dung chưa cả Thiên thần và Ác quỷ, hết cái thuyết “ chủng tộc thượng đẳng” điên loạn tàn bạo của Hitler lại đến cái “Công hữu tuyệt đối cho “ giai cấp”(?) vô sản” lại cũng điên loạn và cuồng bạo không kém. Lỗi hệ thống của toàn nhân loại chăng?

    (Từ nay nên đề phòng bọn triết gia Đức cho thật kỹ, họ hay thích phân loại con người thành nhiều thứ khác nhau, rồi sau đó hô hào mặc cho những thứ nhãn hiệu ấy tự giết nhau. Than ôi ! Thằng “thượng đẳng” với chả “thượng đẳng” đập nhau tàn bạo, chí chết…rồi thằng “giai cấp” này với “giai cấp” kia nọ quần thảo nhau điên cuồng, tranh giành giết hại nhau hàng thế kỷ ! Nếu các khái niệm “thượng đẳng , giai cấp…” chưa được sáng tác, loài người chắc tốn ít máu hơn! Nếu ai nấy đều bám lấy sự thật cuộc sống …v.v thì đã rất khác, ví như “Lòng căm thù” trong lòng “giai cấp” vô sàn mà Mác muốn kích động , rất tiếc, nó có hơn 100 khuôn mặt khác nhau, không hề thẳng băng một đường như ông tự định nghĩa và ao ước…Cả “Tình yêu thương” đương nhiên cũng thế ! Trong con mắt một Phật tử , tôi thấy dân Đức có lẽ chỉ nên tự hào về cơ bắp và tinh thần làm việc lao dịch, còn”Triết học” của họ vì thường phiến diện nên dễ nghiên sang hướng cực đoan quá mạng ! Hì hì ….Nói chuyện tư tưởng mà không biết Đùa là không có Nhã ! )

    Tốn công viết đến 2 post này nữa cho Mác râu là đã quá lắm rồi ! Nhưng không sao, vì cũng nên nói ra đôi điều để có cái hy vọng ….cân bằng phần nào số lượng “Máu và Căm hờn” mà chính lão Râu Ria um tùm ấy đã gây ra cho nhân loại. (Trong số nạn nhân đó, có ông Kiểng, người VN và cả nạn nhân đang post này, kẻ hổng thèm biết lão Râu mà vẫn vô tình trở thành nạn nhân của lão …Hu hu !)

    PS: Dear DL Admin, đã post một lần rồi, nhưng không thấy hiển thị...Thử post lại, nhưng nếu đã phạm quy của DL, mong DL vui lòng xóa giùm. Cám ơn rất nhiều !
    Thân mến

    Haha, chống cộng

    Nếu đây là chống cộng cực đoan, where do i sign?

    Sự đổ vỡ của lý tưởng không chắc dẫn đến cảm nhận đầy đủ về những ngộ nhận chết người trong ý thức hệ lý tưởng, chỉ dẫn đến ngộ nhận mới. Vì cùng lắm ta chỉ biết những gì thực tế không là. Hay như Von Glaserfield chỉ rõ trong đóng góp của mình:

    Nghĩa là thế giới “thật” tự hiển hiện ngay tại nơi lý lẽ đổ vỡ. Và vì ta có thể tả rõ và giải thích sự đổ vỡ bằng chính ý niệm ta đã dùng để xây nên những hệ thống thất bại, ta không thể nào nhận thức được lý do chính dẫn đến thất bại.

    Rất khó để nhận thức sự thật về thoái hoá rằng phần tối của lý tưởng khi đưa ra thực tế không thể đổ lỗi cho “tai nạn nghề nghiệp”, cho sự bất tài của cấp dưới hoặc cho phá hoại của kẻ thù nào đó trong hoặc ngoài. Stolzenberg cho ta một lý do khi chỉ ra (t. 265) rằng ta chỉ có thể thoát ra cái bẫy của một tư tưởng tuyệt đối bằng cách không coi tư tưởng này là sự thật – tồn tại độc lập và dẫn tới một số kết luận cụ thể - và, thật ra, chất vấn chính tư tưởng tuyệt đối này.

    Duverger đưa ra chính vấn đề này trong cuốn Những người trồng cam ở hồ Balaton của mình:

    Nhưng nếu Marx đã không bị phản bội? Ông không mong các chế độ thậm tệ nhận rằng [chúng] theo tư tưởng của ông. Chúng có lẽ làm ông kinh hãi. Nhưng nếu chúng không phải là quái thai, một lầm lạc hay phản bội đối với hệ thống tư tưởng của ông? Nếu chúng cho ta thấy lý luận tiềm tàng trong hệ thống tư tưởng của ông, đẩy tới kết quả cuối cùng?

    Và xuyên suốt cuốn sách, Duverger khéo léo chỉ ra những vi phạm chính là hậu quả xuất phát từ bản chất của lý tưởng.

    Ngày hôm nay, nhóm “tân triết học” của Pháp đang nói rõ những gì Solzhenitsyn đã từng nói, và vì vậy – cách đây chưa đầy 10 năm – ông ta bị kết án bôi bác sự thật. Bernard-Henri Levy, trong cuốn Dã man mang bộ mặt người (Barbarism with Human Face)[59] của mình, viết, “không có sâu trong quả táo, tội lỗi sau này mới xảy ra, mà đúng hơn, con sâu là quả táo và tội lỗi là Marx.” Andre Glucksman đi tới cùng kết luận trong Bậc thầy tư duy (Master Thinkers)[60]: Không có trại cải tạo của Nga nếu không có Marxism. Và Monique Hirshhorn tóm lược sự phát triển này với những lời sau:

    Sau khi tỉnh giấc khỏi sự kiên định cứng đầu, các triết gia mới đang khám phá ra sự thật đơn giản đến không ngờ . Mối liên quan giữa Gulag và Marx quá rõ ràng. Không phải một thiếu sót có thể giải thích được bằng thói quan liêu, phản bội của Stalin hay sai lầm của Lenin. Thật ra, đây là hậu quả lý luận trực tiếp và không thể tránh được của những nguyên tắc Marxism. Xã hội phi giai cấp không phải là một tầm nhìn khai sáng, mà đúng hơn, cái tên khác của kinh hoàng.

    http://danluan.org/node/8488

    Mời bác PU đọc lại, nhớ đọc xong đừng nên xài ad hominem vì cái tên Bernard Henry-Levi.

    OK, thì không thảo luận, nhưng bác đưa ra một số vấn đề, bắt buộc tôi phải trả lời

    Về Lenin trong Marxism-Leninism, Stalin mà Marxism thuần túy, tôi đã phân tích dưới dạng phản hồi

    http://danluan.org/node/8949?page=1

    Tôi kết tội Kojeve, Derrida và một loạt trí thức Pháp là đã không phân biệt được cái gì thật sự của Marx và cái gì thật sự của CNXH và CNXH không tưởng tiền Marx, vì vậy họ quan niệm Marxism là khát vọng của Marx về một thiên đàng hạ giới, và về đủ thứ những cái tốt chỉ là những wishful thinking. Tôi đã nói rồi, Marx không phải người đầu tiên và cũng không phải cuối cùng mơ về một thứ địa đàng . Tôi chỉ có thể đánh giá Marxism của chính Marx ở lý luận và cách thức đưa tới cái địa đàng đó . Kết luận, theo tôi, không được lạc quan lắm . Vai trò của Lenin và Stalin, tôi đã phân tích sơ qua, có thể đọc thêm .

    Stalin không đủ lý luận để tạo ra một chủ nghĩa cho riêng mình, và những người có khả năng lý luận đều đã bị ông cho đi tàu suốt, tản mác từ Siberia tới đâu đó nơi thiên đường . Vì vậy, con đường Stalin đi chỉ có thể là chủ nghĩa Marx ở dạng nguyên thủy và nguyên chất nhất . Lenin, tôi đã nói rồi, là một trong những người hiểu rõ Marx nhất và đưa những logic trong Marx vào hiện thực . Nhưng về lý luận, ông không đóng góp được gì cả . Tôi cho là xứng đáng với cụm từ Marxism-Leninism vì có công làm sáng tỏ rất nhiều logic chết người trong tư tưởng của Marx.

    Về nền dân chủ xã hội của châu Âu hiện nay, những người đã từng bị Marx thóa mạ chính là cha đẻ + JS Mill, bác đọc lại mấy người đó sẽ thấy .

    Một điều nữa tôi không vừa lòng là có một tay trí thức Pháp nghiên cứu Hegel, phát chế ra một phương pháp luận mới và dùng chính phương pháp đó vào Marx. Tại sao tôi không ngạc nhiên khi anh chàng này tuyên bố qua phép thử bằng phương pháp luận do anh ta khám phá từ các nghiên cứu về Hegel, càng ngày chủ nghĩa Marx càng mang tính đúng đắn ? Và ông kễnh triết gia nhà mình cũng ráng đâm đầu vào cho được .

    Oops, tớ đi hơi quá xa! Đụng tới mấy vị á thánh có mà chết .

    Trả lời bác Slinkee :
    1) Đúng đấy bác ạ. Nếu kể cả những bài liên quan tới Marx nằm trong những mục khác trong Talawas thì nhiều hơn 1 trăm bài.
    2)Xin lỗi phải khước từ thảo luận với bác về Marx : Một phần vì phép lịch sự không muốn Dân Luận rơi vào trường hợp Talawas bị chết nghẹt vì những bài phản biện lẫn nhau giữa các độc giả không ăn nhập gì đến đề tài bài viết. Marx không dính líu gì đến Mác - Lê cả sao lại thảo luận về Marx? Một phần vì tôi đã viết và thảo luận quá nhiều về Marx trên Talawas rồi và bị coi là người chống cộng thâm căn cố đế (radical) đã dám tách rời Marx ra khỏi Mác - Lê, nay tôi không muốn những người chống cộng trên phím coi là một người Marxiste ngây thơ nữa. Bàn về Marx chả khác gì một người mua đồng hồ dởm của Trung Quốc 3 tháng sau hư cứ suốt ngày ra rả chửi hãng Rolex làm đồng hồ xấu và kỹ nghệ làm đồng hồ ở Thụy sĩ đáng phải dẹp tiệm.
    3)Tôi đang đợi bác Slinkee viết bài chứng minh Marx với dân chủ như nước với lửa chỗ nào và những đảng dân chủ - xã hội ở các nước Tây Âu và Nhật Bản đang cầm quyền hiện nay là kẻ thù của Marx và Engels ra làm sao.
    4)Như tôi đã nói trong bài"Cái gọi là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là CN Stalinit" : trong 4 tập cuốn Tư bản luận Marx chỉ viết có tập đầu, 2 tập sau là của Engels soạn thảo, tập cuối người soạn thảo đã bị Staline giết.Người kiếm được bản thảo viết tay của Marx sau này cũng bị Staline giết luôn. Muốn tìm được nguyên bản Marx cũng còn khó hơn kiếm được Ngũ kinh của Khổng Tử sau khi bị Tần Thủy Hoàng đốt hết kinh sách đấy bác ạ.
    5) Tôi cũng đã có dịp nói về Derrida khi ban Tuyên giáo ĐCSVN đợi Derrida chết đem thây ma Derrida ra tố thiện, đề cao cuốn "Spectre de Marx" (Những bóng ma của Marx)là Derrida là người Mac xit chính cống. Tôi xin nói cho rõ là Derrida là cha đẻ của lí thuyết "Déconstruction" (dịch tạm là Tháo kết cấu), tách rời những cặp đi đôi với nhau trong mọi lãnh vực như nói và viết trong ngôn ngữ, tỉnh và điên trong phân tâm học, đàn ông đàn bà trong giới tính v.v.. và cuốn những bóng ma của Marx không phải để ca tụng CN Macxit mà để nói về sự chết. Cuốn này được viết sau 1 loại bài thuyết trình ở trường Đại học Californie năm 1993. Tôi cũng xin nói thêm là Derrida rất ăn khách ở Mỹ và đạt kỷ lục được tuyên dương 21 lần tiến sĩ danh dự (Honoris causa)của các trường Đại học Mỹ.Derrida được giới trí thức Mỹ coi là đại diện cho French theory. Cuốn phim của Woody Allen "Deconstructing Harris" được thực hiện là dựa theo thuyết của Derrida. Còn Kojeve tôi cũng có dịp nói đến khi viết về Trần Đức Thảo. Kojeve là người ca tụng lịch sử đã cáo chung ở Mỹ vì ở Mỹ mọi người đều có nhà cửa nên không còn đấu tranh giai cấp nữa, nhưng những người chống cộng mút mùa vẫn coi Kojeve là marxiste vì dám nói đến đấu tranh giai cấp. Francis Fukuyama thuộc phái tân bảo thủ chỉ nhái lại Kojeve khi Liên Sô sụp đổ khi nói là lịch sử đã cáo chung vì sự toàn thắng của chủ nghĩa phóng khoáng và kinh tế thị trường chứ không phải vì không còn giai cấp trong xã hội.

    @ Phong Uyên

    Bác nói cuộc tranh luận ở đây chăng

    http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14391&rb=0301

    Tôi đang chờ bác để thảo luận đây, không biết bác có đủ sẵn sàng ?

    Hóa ra bác cũng thuộc loại conspiracy theorist. Xin bác chứ, bà con ta ra ngoài này có đủ điều kiện tiếp cận nguyên bản, đâu chờ tới Stalin. Dân chủ và Marx ghét nhau như nước với lửa bác a, bác nên đọc lại Marx nguyên bản thay vì bản sạch nước cản của Kojeve hay của Derrida bác nhá .

    Staline chết đã 60 năm vẫn còn thắng thế.
    Tôi xin nhắc lại chủ nghĩa Mác - Lênin là do Staline hoàn toàn bịa đặt ra 1 năm sau khi Lénine chết và sau khi đã triệt tiêu tất cả bè đảng của Lénine và cho viết lại cuốn Tư bản luận của Marx. Staline là người rất thủ đoạn lợi dụng tên tuổi những người đã chết cũng như Mao và một phần nào Hồ Chí Minh sau này. Thủ đoạn này được gọi là "tố thiện" đối với những người đã quá cố như Nguyễn Thái Học, những người còn sống như cụ Huỳnh Thúc Kháng, những người đã bị thủ tiêu như học giả Phạm Quỳnh. Vẫn gán cho những tư tưởng của Marx và Engels là nguyên nhân của chủ nghĩa cộng sản - chỉ là chủ nghĩa của Staline - là vô tình mắc mưu cộng sản. Các nhà tư duy của Đảng chỉ đợi như vậy để chứng minh Đảng là thừa kế độc nhất của Marx - Engels và những người công kích Marx, Engels, Hégel là những người chống cộng cực đoan.
    Tôi cũng xin nói thêm là Marx, Engels, Hégel nằm trong chương trình triết học lớp 12 ở Pháp mà 85% mỗi thế hệ thanh niên Pháp đều phải học để thi tốt nghiệp trung học gọi là thi Tú tài.
    Lẽ tất nhiên là Marx, Engels không được hiểu như trong cuốn sách "Giáo trình Chủ nghĩa Xã hội khoa học" của nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia.
    Tôi cũng xin nhắc lại là sở dĩ Tây Âu ngày nay có một chế độ dân chủ, mọi người đều được hưởng An sinh Xã hội và không có chênh lệch giầu nghèo thái quá là nhờ tư tưởng Marx và thể chế dân chủ - xã hội của Engels.Đó là điều ĐCSVN tuyệt đối tránh không nói đến tuy không còn kết tội các đảng cầm quyền Dân chủ-Xã hội ở Tây Âu là các đảng phản động nữa.
    Cái làm tôi sủng sốt là có người còn lẫn lộn Hégel với Engels mà không biết biện chứng Hégel là biện chứng duy tâm số một vì Hégel tốt nghiệp Thần học coi mọi diễn biến của lịch sử đều từ tinh thần mà ra và chúng ta khi đi học,mỗi lần viết 1 bài nghị luận là áp dụng biện chứng của Hégel mà không biết : Chính đề, phản đề, tổng luận đề (Thèse, Antithèse, Synthèse). Hégel là nhà triết học được học nhiều nhất trong chương trình Trung học Pháp cùng với Kant và hầu như mọi kỳ thi Tú tài Pháp đều có đề tài về Hégel.
    Nếu có bạn nào muốn hiểu thêm về Marx, tôi khuyên nên tra cứu Talawas bộ cũ có cả trăm bài nói về Marx.

    Bổ bổ xung

    Tới thời Hegel, ông gộp chung vào thành 2 động lực tạo lực đẩy về phía trước và gọi đó là biện chứng

    Bổ sung về Hegel để thấy ảnh hưởng của Hegel lên Marx lớn tới cỡ nào, và chỉnh sửa một số điều không được chính xác lắm .

    Hegel tự nhận mình là triết gia thần học (theologian-philosopher), nhưng trước hết là thần học, đây là lời xác nhận của chính Hegel, tức là khung ý niệm của ông nằm gọn trong việc giải thích Kinh Thánh . Tóm tắt khung ý niệm của Công giáo (Christianity) nói chung, bỏ qua phần Địa Đàng của Adam & Eve, vì được coi là phần tiền sử: Bắt đầu từ biến cố Adam & Eve bị đày ra khỏi địa đàng để tạo nên xã hội loài người và cũng bắt đầu lịch sử loài người, Công giáo coi đó là sự chia cắt giữa Thượng Đế và loài người, và lịch sử loài người là quá trình trở lại vườn Địa Đàng tức là tái hợp lại mối quan hệ không thể tách rời giữa người và Thượng Đế và do Thượng Đế chỉ đạo, hay nói cách khác, theo ý hướng của Thượng Đế . Một điểm nữa, vì Thượng Đế tạo ra mọi vật trên thế giới này, mọi thứ đều toàn hảo và có lý . Ở đây náy sinh ra vấn đề mới, đồng ý với những cái tốt đẹp, nhưng giải thích thế nào về những khổ đau, xấu xí tồn tại trên thế giới . Cách giải quyết của Descartes là "vì cái xấu tồn tại, ta mới biết được sự hiện diện của cái tốt". Tới thời Hegel, ông gộp chung vào thành 2 động lực tạo lực đẩy về phía trước . Để ý, cả Descartes lẫn Hegel "không thể" phê phán cái xấu vì là một sản phẩm của Thượng Đế .

    Nhắc lại ô Nguyễn Hữu Liêm trích Hegel, The State is God's march on earth (nhà nước là dấu chân của Thượng Đế trên trái đất), tức là mỗi nhà nước ra càng về sau là một bước gần hơn theo ý hướng Thượng Đế tiến tới vườn địa đàng xưa kia, hay trở lại mối quan hệ không thể tách rời giữa con người và Thượng Đế . Ở đây, ông Kiểng không chính xác vì triết lý của Hegel không dừng lại ở việc thống nhất nước Đức mà tiến xa hơn để tới lại một thứ địa đàng đã mất .

    Thuyết Lịch sử (Historicism) -ta có thể gọi thẳng ra là thuyết duy Thượng Đế Lịch sử- chỉ là cách Hegel lý thuyết hóa và tuyệt đối hóa lịch sử thế giới trong khung ý niệm của Công giáo . Cái nguy hiểm là, vì Hegel không thể phê phán cái xấu, ông chấp nhận, lý giải và biện hộ cho nó . Mọi cá nhân xây vinh quang bằng xác người, ông cho họ là những nhân vật lịch sử, làm theo ý hướng của Thượng Đế nên không cần trả lời trước những quy định đạo đức bình thường . Mọi đế chế dù tàn độc đến đâu, ông cũng không thể phê bình mà bảo đó là dấu chân của Thượng Đế để tiến tới mục tiêu cuối cùng là hòa hợp giữa con người và Thượng Đế, hay tìm lại được Thiên Đàng đã mất . Vì phải công nhận con người lịch sử, đối với Hegel, hình thái nhà nước phong kiến với vua ở trên tột đỉnh uy quyền là tốt nhất . Ông cũng nhận thấy sự tha hóa của quyền lực nhưng chỉ khuyên cá ông vua sau này nên nhân từ và nghe lời khuyên can của người dưới hơn .

    Tính tất yếu trong thuyết Lịch sử của Hegel, ô Kiểng đã bàn rồi, tôi chỉ thêm là trong Hegel, nó được bảo đảm bằng ý muốn của Thượng Đế .

    Các vị nào giỏi Marx cứ đem ra mà so sánh .

    Trích dẫn:
    Nhờ Lênin mà chủ nghĩa Marx được phục hồi thành chủ nghĩa Mác-Lênin. Lênin là một chuyên viên khủng bố, lớn lên trong một truyền thống khủng bố quốc gia cũng như gia đình. Tư tưởng chính trị cách mạng của Nga kể từ thập niên 1860 coi ám sát và thủ tiêu là phương pháp bình thường để giải quyết các khác biệt. Anh ruột Lênin bị hành quyết về tội khủng bố. Lênin đã nhìn thấy ở chủ nghĩa Marx một vũ khí lý tưởng để không những chỉ phá hoại mà còn cướp được chính quyền, và ông đã thành công

    Phải công nhận là Lenin giỏi hơn hẳn Mác trong việc kích động bạo lực, tổ chức tiêu diệt những người khác mình. Lenin không những chỉ giỏi trong khủng bố mà còn giỏi trong tuyên truyền.

    Tất cả những đảng CS ở châu Âu hiện nay không theo CN Mac-Le nữa vì họ từ bỏ bạo lực và khủng bố mà họ theo con đường tự do dân chủ của đa nguyên đa đảng. Cụ thể là đảng CS Pháp đã loại bỏ Mac-Le từ 1976, thời điểm mà các đảng Mac-Le như VN, Khmer đỏ, Lào vừa chiến thắng Mỹ.

    Đảng CSVN vẫn kiên định theo Mac-Le, chẳng lẽ đảng CSVN vẫn kiên định chọn con đường bạo lực (chuyên chính) và khủng bố công dân của họ ?

    Các bác Kép Tư Bền, KTCC, Phan Sơn có thể giải thích việc lựa chọn kiên định theo con đường bạo lực của đảng CSVN không ?

    Bác KTCC không thích chửi càn, tôi đồng ý nhưng chửi càn tuy không hay nhưng ăn thua mẹ gì so với bạo lực, thủ tiêu, bắt bớ, giam cầm ? Tại sao không lựa nick "Không thích bắt càn" hoặc "Không thích bạo lực" hoặc "Không thích chuyên chính" ?

    Mặc dù quan niệm đạo đức là giá trị của tư sản cần phải đánh đổ, điều đó không ngăn cản ông lên án bóc lột của tư bản . Rõ ràng ông xem đó là một tội, và tội nặng nhất để dùng nó làm nguyên cớ kêu gọi tiêu diệt tư bản .

    Đạo đức bình thường, theo Marx, là một khái niệm rất rộng bao gồm cả quan hệ giữa con người, và coi đạo đức là giá trị của tư sản, vì vậy, cần phải đánh đổ . Ông có đưa ra một số chuẩn mực (rất sơ sài và phải cóp nhặt đây đó, nếu không muốn đọc bản Tuyên ngôn) cho một nền đạo đức mới nhưng đó là đạo đức của nền độc tài, không phải quan hệ đạo đức giữa con người, hay nói đúng hơn, ông cho nhà nước độc tài quyền quyết định tối cao về đạo đức theo quan niệm giai cấp. Ngoại trừ vấn đề luyến ái và gia đình, ông đòi hỏi xóa bỏ gia đình, kêu gọi tự do luyến ái và lập ra một công xã để nuôi con nít, giải phóng bố mẹ chúng khỏi mọi trách nhiệm .

    Tôi sẽ để ngỏ, không bình luận xấu tốt ở đây .

    Chỉ nhắc một điều, mặc dù ông kêu gọi như thế, Marx rất gia trưởng đối với con cái . Một người con gái của Marx đã tự tử do không chịu nổi bị cấm đoán không cho gặp (những) người ái mộ (suitors) vì Marx thấy không hợp nhãn . Chưa kể Marx có con riêng với người hầu gái .

    Trích :
    Nên nhớ là tuy Marx nói giai cấp tư sản bóc lột giai cấp vô sản nhưng ông không hề coi sự bóc lột này là một tội, trái lại ông coi nó là một lẽ tự nhiên, cũng tự nhiên như việc giai cấp vô sản phải tiêu diệt giai cấp tư sản. Marx không phân biệt thiện và ác, tốt và xấu. Đạo đức hoàn toàn vắng mặt trong tư tưởng của Marx.

    Câu này khá đặc biệt vì mới đọc lần đầu. Nó nguy hiểm cho xã hội vì nó không căn cứ trên tốt và xấu mà nó là một điều tự nhiên.
    Cướp bóc, bắt giam, thủ tiêu người để tiêu diệt giai cấp tư sản là một điều tự nhiên của cộng sản !
    Bỏ mịa, tụi CS này cực đoan một cách nguy hiểm

    Trích dẫn:
    Khi cuốn Tư Bản Luận được phát hành sau một thời gian chờ đợi dài nó đã là một thất vọng lớn. Nó quanh co, dài dòng, nhàm chán và không chứng minh được gì cả. Đọc nó là một cực hình, nó là cuốn sách của một người viết về một vấn đề mà mình không biết gì.

    Ha ha, hèn chi bạn đ/c Kép Tư Bền cứ gào lên chỉ trích những ai chưa đọc các tác phẩm vĩ đại một cách dài dòng, nhàm chán của đồng chí Mác.

    Còn bạn đ/c Phan Sơn lại có phong cách viết theo kiểu trích lại của ai khác hoặc phần lớn rất quanh co khó hiểu.

    Một là những gì Marx đã nói đều không có giá trị lý luận bởi vì Marx chỉ xác quyết chứ không chứng minh gì cả

    Chà giống y chang như các tiên tri của các tôn giáo.

    Thiên đường của Mác là ở ngay trên trái đất nhưng trục thời gian để đạt đến thiên đường là ở vô cực. Cái đạo này bịp bợm nhở vì chừng 4 tỉ năm nữa, trái đất bị mặt trời nổ tung và đốt cháy, thiên đường của Mác vẫn chưa có !

    Trích dẫn:
    Marx đã viết rất nhiều hầu như trên tất cả mọi chủ đề trừ khoa học thuần túy nhưng không bao giờ tập trung vào chủ đề nào cả.

    Hơn thế Marx còn phải rất chật vật để khảo cứu về kinh tế, một bộ môn mà ông hoàn toàn không biết gì và cũng không có căn bản để học hỏi một cách nghiêm chỉnh, trong khi soạn thảo cuốn Tư Bản Luận

    Phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả những gì Marx viết và nhắc lại đều mang tính bút chiến và xác quyết nhưng rất ít lý luận

    Những người không biết rành về một việc gì, vẫn có quyền viết nhiều về chủ đề đó.
    Bộ Tư Bản Luận đồ sộ của Mác có những giá trị thực tế gì khi có rất ít lý luận ?

    Thế mà có nhiều đứa tin sái cổ, thật hay giả vờ là quyền của chúng nó, nhưng chúng nó lại ôm súng bắt người khác phải giả vờ tin như chúng nó !

    Trích dẫn:
    Ông viết trong cuốn Luận Án về Feuerbach, cuốn sách có thể coi là tác phẩm về triết duy nhất của ông: "các triết lý chỉ cố hiểu thế giới trong khi vấn đề là phải thay đổi nó". Câu này chứng tỏ Marx không những không thích triết mà còn phản triết. Tại sao phải thay đổi thế giới? Thay đổi cái gì và để đạt tới kết quả nào? Và làm sao có thể thay đổi được một cái gì nếu không hiểu nó?

    Đây chẳng phải là Mác muốn thay đổi xã hội trong mục đích tiêu diệt giai cấp tư bản để chỉ còn lại vô sản hay sao ?
    Mác có hiểu gì về con người và xã hội chưa ?

    Bài này viết hay, trình bầy nhiều vấn đề lý luận nhưng dễ hiểu. Không hiểu đầu thế kỷ XX trình độ dân trí của ta thế nào mà có người lại rước cái chủ nghĩa Mác vào nước ta? Người ta đi làm cách mạng giải phóng dân tộc thì không tìm ra con đường của nước mình mà rước cái chủ nghĩa người Tây đã quẳng đi rồi để áp dụng vào nước mình gây ra bao nhiêu thảm họa. Hay là chính ông Hồ cũng là người lợi dụng chủ nghĩa này để muốn đoạt ngôi bá vương? Nay thì trường Đảng (tên gọi tắt cái học viện ...HCM) có dạy CN Mác nguyên chất đâu mà dạy các thủ đoạn lưu manh kể cả mất dạy để lừa dối và cướp của nhân dân để làm giầu cho một số người. Cứ xem các ông từ tường này ra chiếm các vị trí cao trong chính quyền thì rõ. CN Mác đề cao giai công nhân, cho là giai cấp lãnh đạo, nhưng trong hàng ngũ lãnh đạo nước ta hiên nay không có ai là công nhân, mà có 38 đại biểu quốc hội là doanh nhân (tức tư bản). NHư vậy chủ nghĩa Mác vào ta nó biến thể chỉ là cái vỏ để lừa dân thôi, còn trong hành động thì thể hiện rõ 3 điều đó là dùng bạo lực, bất chấp pháp luật và đạo đức, thêm nữa là ngu dân. Nếu không sớm loại bỏ chủ nghĩa này thì dân ta còn khốn khổ, còn nhiều bất công và đất nước còn nghèo nàn lạc hậu. Có điều dễ thấy là các nước khác thì họ coi dân tộc lên trên và tìm con đường làm đất nước phát triển để cạnh tranh với nước khác. Còn ở ta thì những nhà lãnh đạo lại tìm cách kìm kẹp dân tộc mình để giữ chế độ (CNCS). Nay các nhà lãnh đạo không chuyển hướng sang chủ nghĩa khác mà cứ khư khư cái chủ nghĩa nhập ngoại này bằng cách xây dựng củng cố Đảng đẻ rồi đẩy đất nước vào con đường tăm tối. CNCS hiện nay đang thắng ở nước ta hai điểm đó là ngu dân và sùng bái cá nhân. Một số trí thức chủ trương khai dân trí nhưng chưa thu được kết quả thì hiện tượng ngu dân và kết hợp chính quyên với lưu manh côn đồ đang thu được một số kết quả đáng ghê sợ.

    Mac tán thành Duy vật và chịu nhiều ảnh hưởng từ nó trong lập luận của mình. Từ đó, ông ta tạo một lý thuyết đấu tranh xã hội mà con người đã được cố tình vật chất hóa. Những con người ông sử dụng trong cuộc tranh đấu ấy, gần như không có nhân tính, theo đúng tinh thần duy vật. Ông đã quên hẳn, con người trước sau vẫn phải là con người, một lý thuyết xã hội dù sâu sắt đến thế nào, cũng không thể thay đổi bản chất thường hằng của một con người nói chung. Con người là yếu tố vô cùng đặc biệt, không chỉ thuần có vật chất như ông "thích" nghĩ về nó, kể cả chính bản thân ông.
    Bản chất thật sự của con người, yếu tố nhân tính cùng những biến động phức tạp khó lường của nó đã không được chú trọng đúng mức trong mớ lập luận Duy vật Biện chứng của ông ta.

    Khiếm khuyết khổng lồ ấy, đã không cho phép ôn ta nhận ra con quỷ trong chính ông và bạn hữu, không thể thấy bóng dáng của tên đồ tể nơi những đồ đệ thông minh và thủ đoạn sau này của thuyết ấy như Lênin, Staline, Mao….etc, Ông cũng không thể hiểu nổi người công nhân, nông dân khốn cùng kia, có lúc lại không căm thù việc bị bốc lột, mà còn hoặc mơ về nó, thích được vai trò của nó, hoặc thích thỏa hiệp với nó…v.v suy rộng ra cho con người, sự biến động liên tục trong tâm thức và tư tưởng ở nhà tư bản, thương nhân, nông dân...v.v cũng không khác lấm người công nhân nói trên. Bản thân Mác và bạn hữu cũng chẳng phải là một ngoại lệ !

    Và phần khác , buồn cười hơn, như Nguyễn Gia Kiểng nói, ông thường khẳng định mà không biện giải hoặc rất nghèo những lập luận nhằm chứng minh và khẳng định những điều ông nói ( đúng hơn là điều ông tin ) một cách “ duy ý chí”. Điều ấy có gì khác hơn là con người Duy tâm trong chính ông, đang ý nhị cười mĩm vào bộ não duy vật khô cứng của ông ? Xa cách và lạ lẫm với bản chất thật của một con người bình thường đến như thế, làm sao ông có thể xây dựng một lý thuyết áp dụng cho xã hội tương lai của nó ? Dễ hiểu về thãm họa xã hội phi đạo đức do dối trá và lừa gạt do ông gây nên, dễ hiểu từ đâu mà sự băng hoại xã hội do tôn thờ vật chất quá mức đã xảy đến ở VN hiện nay ? Nếu không có sự băng hoại ấy ở những "sinh vật cộng sản" vô liêm sỉ ngày nay, thì điều ấy mới thật là lạ !

    Tóm lại, sự phi nhân tính trong thuyết Mác, đã lặng lẽ ra tay giết chính thuyết ấy, đồng thời cũng hủy hoại tất cả những ai theo nó và cả những nạn nhân của họ. Nó thẳng tay hủy hoại mọi thứ phi tự nhiên, giả trá ấy chỉ để thản nhiên hỏi lại nhân loại một điều: - Một Lý thuyết xã hội xây dựng nên, là để dành cho ai nếu không phải cho con người. Vậy Con người là ai ? - Câu trả lời lâu dài và nhiều máu quá !

    Đọc ông ta nhiều không thua gì đọc những người khác, nhưng nhớ về ông ta thì không nhiều nhặn gì, thích thú mới đáng nhớ, vì không thích nên không muốn nhớ. Vì hấy thực sự Mác cũng chẳng đáng gì, nhất là khi đã chàn ghét sau khi rút ra được bấy nhiêu điều nói trên !

    Tội nghiệp cho một kẻ Duy tâm trong bản chất, nhưng lại lỡ quá yêu Duy vật...ngoài cửa miệng!

    Hitler chịu ảnh hưởng rất nặng của Nietzche, nhất là "Beyond Good & Evil", rất tương tự với thuyết lịch sử của Hegel. Có thể nói như vậy nhưng không đúng 100%. Phát xít bắt nguồn từ chủ nghĩa xã hội, tên đầy đủ là Chủ Nghĩa Xã Hội Quốc Gia, viết tắt là Quốc Xã, một phần nữa ảnh hưởng của Darwin, nhất là câu "Survival of the fittest". Hegel là để cho hành động khiêu chiến sau này . Hitler không đủ khả năng đọc Hegel, nhưng bộ sậu của hắn thì có thể .

    Bài này của Nguyễn Gia Kiểng rất hay. Giá như Bài này được truyền giảng ở các lớp học cho học viên Học viện chính trị Hồ Chí Minh thì tốt biết bao. Vì tại những lớp học ấy, các học viên chỉ được nghe giảng những Luận điểm của Mac-Lê nin mà có lợi cho "Nhà nước" và "Đảng cộng sản" để cai trị người Dân thôi. Hệ thống Tuyên giáo bây giờ cũng không dám tuyên truyền mạnh những luận điểm của chính Mác như "Nhà nước sẽ tiêu vong" hay "đấu tranh giai cấp" nữa thay vào đó là "Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, triệt để của Đảng cộng sản,tăng cường vai trò (thực chất là quyền lợi) của Nhà nước do Đảng CS lãnh đạo"; Họ cũng rất sợ tuyên truyền mạnh về đấu tranh giai cấp vì ở Việt nam bây giờ đã hình thành giai cấp "tư bản đỏ" mà giai cấp "vô sản" căm thù đến xương tủy. Giai cấp "tư bản đỏ" hình thành và hiện hữu tại các nước Cộng sản mới đúng nghĩa là "giai cấp bóc lột", tham nhũng, độc ác chứ không phải do "tài năng, năng lực" như các nhà tư bản ở các nước Tư bản thực sự.
    Bài viết này trình bầy đã rất "súc tích" nhưng vì nhiều vấn đề quá nên vẫn bị dài. Mặt khác, lĩnh vực này cũng không phải là dễ để đọc nên chỉ có những người muốn tìm hiểu thực chất chủ nghĩa Mác mới thấy hấp dẫn; còn chính những đảng viên CS thì đầu óc "hạn hẹp" và họ cũng chẳng thèm biết "mô tê chủ nghĩa Mac là thế nào" cho nên họ chẳng đủ kiên nhẫn đọc và suy nghĩ. Họ chỉ là những "con vẹt" nói được mấy câu mà cũng từ miệng của những "con vẹt biết nói trước" truyền lại thôi; rồi họ hành động như những robot, làm khổ Dân hại Nước. Các ông Mác, Lê nin, Stalin và Hồ Chí Minh có tội nặng như thế đấy.

    Thật ra nhà cầm quyền hiện nay chẳng còn tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, họ chỉ bám víu vào chủ nghĩa này để duy trì chuyên chính vô sản, hòng tiếp tục đè đầu cưỡi cổ nhân dân, do trình độ dốt nát, họ không thể nghĩ ra tư tưởng nào khả dĩ thay thế được chủ nghĩa này. Nếu phủ nhận CN Mác-Lênin thì ĐCS chẳng còn lý do gì để nắm quyền lực tuyết đối. Đại đa số các quan chức CS ngày nay chẳng hề biết CN Mác-Lênin là cái quái gì, mặc dù cũng có "trình độ lý luận chính trị" trung, cao cấp trên danh nghĩa, nhưng thực sự chẳng học hành gì, chỉ biết ăn nhậu, vơ vét làm giàu bất chính mà thôi.

    slinkee viết:
    Các bác Dân Luận trích câu giở nhất trong toàn bài nói chung là khá

    “...Cách lý luận "biện chứng" đã là nguyên nhân của niềm tin nền tảng của các chế độ cộng sản rằng những người vô học cũng có thể lý luận và giữ những vai trò lãnh đạo...”

    Lý luận backbone cho vấn đề những người vô học cũng có thể lãnh đạo nằm trong thuyết lịch sử của Hegel. Một điều cần phân biệt nữa, biện chứng của Hegel khác với biện chứng trước Hegel. Tới Marx, có lẽ phải dùng "râu ông nọ cắm cằm bà kia" để chỉ các phương pháp biện chứng của Marx. Nôm na là "Trong đàn ông có phần đàn bà, trong đàn bà có đán ông . Khi đàn ông và đàn bà kết giao, chính là đàn ông kết giao với phần đàn ông của đàn bà, và ngược lại . Như vậy, mọi kết giao lưỡng tính lá tổng hợp của 2 kết giao đồng tính". Đây là câu đùa của thời đám sinh viên tụi tớ (bên này) ngày xưa, nhưng có một phần sự thật trong đó .

    Marx đã bỏ hẳn môn triết để dành trọn thời giờ và cố gắng cho tuyên truyền và hành động; ông chỉ quan tâm trở lại tới triết rất lâu sau đó khi đọc lại Hegel để soạn thảo cuốn Tư Bản Luận.

    Marx chịu ảnh hưởng của Hegel và có người cho rằng Hegel là cha đẻ của chủ nghĩa phát xít sau này. Có phải là chủ nghĩa Mác-Le sặc mùi bạo lực, chém giết vì nó có cùng gốc xuất phát từ Hegel ?

    Các bác Dân Luận trích câu giở nhất trong toàn bài nói chung là khá

    “...Cách lý luận "biện chứng" đã là nguyên nhân của niềm tin nền tảng của các chế độ cộng sản rằng những người vô học cũng có thể lý luận và giữ những vai trò lãnh đạo...”

    Lý luận backbone cho vấn đề những người vô học cũng có thể lãnh đạo nằm trong thuyết lịch sử của Hegel. Một điều cần phân biệt nữa, biện chứng của Hegel khác với biện chứng trước Hegel. Tới Marx, có lẽ phải dùng "râu ông nọ cắm cằm bà kia" để chỉ các phương pháp biện chứng của Marx. Nôm na là "Trong đàn ông có phần đàn bà, trong đàn bà có đán ông . Khi đàn ông và đàn bà kết giao, chính là đàn ông kết giao với phần đàn ông của đàn bà, và ngược lại . Như vậy, mọi kết giao lưỡng tính lá tổng hợp của 2 kết giao đồng tính". Đây là câu đùa của thời đám sinh viên tụi tớ (bên này) ngày xưa, nhưng có một phần sự thật trong đó .