Nguyên nhân dẫn đến thất bại trong kinh doanh lĩnh vực viễn thông của Tập đoàn EVN

  • Bởi Khách
    22/02/2012
    2 phản hồi

    Độc giả Dân Luận

    Tập đoàn Điện lực Việt Nam tham gia vào lĩnh vực kinh doanh viễn thông, EVNTelecom có nhiều lợi thế hơn các đối tác khác như: sử dụng các tuyến cáp quang trên đường dây 500 KV, 220KV, 110 KV đầu tư bằng nguồn vốn dự án điện; có sẵn hạ tầng cột điện treo cáp viễn thông; tận dụng đất đai và phòng ốc sẵn có của ngành điện để cải tạo hoặc xây mới showroom bán hàng hoặc làm phòng máy; đội ngũ nhân viên ngành điện hùng hậu vừa là khách hàng sử dụng dịch vụ của ngành, vừa tuyên truyền quảng bá dịch vụ của ngành ; đặc biệt là dựa lợi thế thương hiệu lớn EVN.

    Tuy nhiên sau 5 năm kinh doanh viễn thông, EVNTelecom đến bên bờ vực phá sản và Chính phủ đã phải điều chuyển nguồn vốn, cơ sở vật chất và con người sang để Viettel quản lý với mục đích đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và công ăn việc làm cho nhân viên EVNTelecom. Nhà mạng Viettel cũng đã gấp rút chuyển đổi khách hàng có nhu cầu chuyển sang mạng Viettel và sau ngày 31/3/2012, toàn bộ thuê bao EVN chưa chuyển đổi sang mạng Viettel sẽ ngưng dịch vụ.

    Nhà mạng EVNTelecom được nhiều ưu ái từ Tập đoàn mẹ EVN như: cấp 4.500 tỷ để mua thiết bị đầu cuối nhưng các Tổng công ty Điện lực chịu 45% chi phí và sau khi EVNTelecom chi hết số tiền này thì bắt đầu từ năm 2009 các Tổng công ty Điện lực chịu trách nhiệm đầu tư 100% thiết bị đầu cuối; đơn giá hạ tầng cáp quang, cột anten, nhà trạm các Tổng công ty Điện lực cho EVNTelecom thuê tính theo đơn giá giản khấu hao 15 năm và không tính lãi vay.

    So với các nhà mạng khác, Tập đoàn EVN có đội ngũ nhân viên làm công tác viễn thông rất hùng hậu, thời kỳ cao điểm là năm 2010 với số nhân viên lên tới 13.000 người. Năm 2010, Tập đoàn EVN chấn chỉnh công tác viễn thông với các biện pháp như: đưa ra quy chế người đứng đầu, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo chuyên trách viễn thông tại các Tổng công ty Điện lực và yêu cầu các Tổng công ty Điện lực bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo chuyên trách viễn thông tại các Công ty Điện lực; cho phép tuyển dụng thêm nhân viên làm viễn thông để bổ sung thêm cho các bộ phận sẵn có và thành lập thêm các tổ chuyên trách viễn thông tại Điện lực. Bên cạnh đó, vượt qua năm suy thoái kinh tế 2009 và phải tăng trưởng trở lại năm 2010, ngoài cung cấp dịch vụ 3G, Tập đoàn EVN thực hiện chiến lược Internet cáp quang FTTH.

    Thế nhưng, doanh thu và lợi nhuận của EVNTelecom vẫn tiếp tục giảm sút. Nếu như năm 2008, đơn vị này còn đạt doanh thu tới 3.705,6 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 93,8 tỷ đồng thì năm 2010 doanh thu chỉ còn 2.120,6 tỷ đồng và chuyển qua lỗ 1.057,7 tỷ đồng. Bước qua năm 2011, EVNTelecom mất khả năng thanh toán, mỗi tháng phải treo nợ 176 tỷ đồng.

    Thất bại lĩnh vực kinh doanh viễn thông của Tập đoàn EVN có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân:

    Thứ nhất là nhân lực: đội ngũ làm công tác viễn thông đông nhưng không tinh và bố trí nhân lực chưa hợp lý.

    Ban VT&CNTT của Tập đoàn EVN là đơn vị tham mưu cho lãnh đạo Tập đoàn EVN về công tác viễn thông nhưng có đội ngũ nhân lực không đủ mạnh. Trong hội nghị công tác viễn thông nhiều đơn vị đã đề nghị Ban VT&CNTT của Tập đoàn EVN phải đủ mạnh có thể đưa ra phương án và các đơn vị cấp dưới cứ thế thực hiện; không như tình trạng hiện nay Tập đoàn EVN cứ giao nhiệm vụ, giao chỉ tiêu còn các đơn vị phải “lò mò” tìm phương án thực hiện.

    EVNTelecom là đơn vị thực hiện các nhiệm vụ như: xây dựng phương án kinh doanh trình lên Tập đoàn EVN; đầu mối nhập thiết bị đầu cuối; chăm sóc khách hàng gián tiếp từ xa; vận hành tổng đài; vận hành mạng đường trục trong nước và Quốc tế. Một yếu kém lớn nhất của EVNTelecom là không đưa ra được chiến lược thích hợp tạo rào cản khi hai nhà mạng VNPT và Viettel tham gia thị trường điện thoại cố định không dây vào cuối năm 2008.

    Mạng CDMA 450 MHz có nhiều khuyết điểm đối với dịch vụ di động nhưng có rất nhiều ưu điểm đối với dịch vụ cố định không dây. EVNTelecom cung cấp dịch vụ cố định không dây, cộng với dịch vụ gia tăng Internet không dây trên mạng CDMA 450 MHz đã tạo ra khác biệt và chính là độc quyền trên thị trường. Tuy nhiên khách hàng có nhu cầu sử dụng Internet chưa đến 1%, còn chủ yếu là khách hàng bình dân chỉ có nhu cầu nghe gọi. Thế thì, đáng lẽ ra EVNTelecom phải đặt hàng 90% máy điện thoại cố định không dây chỉ cần có chức năng nghe gọi có giá 6 đến 7 trăm ngàn đồng mỗi máy. Thế nhưng trái lại, EVNTelecom đặt máy không dây loại cao cấp có rất nhiều chức năng có giá 2 đến 3 triệu đồng mỗi máy. Máy điện thoại có giá quá cao khách hàng không thể mua được máy và không phát triển được khách hàng.

    Nhà mạng không phát triển được khách hàng thì không có doanh thu, đồng thời ứ động vốn đầu tư thiết bị đầu cuối và EVNTelecom đành phải thực hiện gói E-COM doanh nghiệp, tặng máy điện thoại không dây cho khách hàng là doanh nghiệp, nhưng kèm theo điều kiện sử dụng tối thiểu 2 năm, cước phát sinh hàng tháng tối thiểu hai trăm ngàn đồng. Giai đoạn này cứ cho máy ào ào miễn là có dấu doanh nghiệp, các cộng tác viên của EVNTelecom giành giật nhau cho máy, có cộng tác viên một ngày có thể cho được 100 máy với tiền hoa hồng 6 triệu đồng. Do không quản lý được đội ngũ cộng tác viên dẫn đến cộng tác viên phát triển thuê bao một cách tuỳ tiện, có nhiều thuê bao không có địa chỉ. Thực hiện gói E-COM doanh nghiệp một thời gian phải ngừng lại, nguyên do doanh thu thấp không đủ cho chi phí thiết bị đầu cuối giá cao. Tuy nhiên quý III/2008, VNPT và Viettel tham gia thị trường máy điện thoại cố định không dây với chính sách tặng máy cho khách hàng nên EVNTelecom cũng phải tặng máy cho khách hàng.

    EVNTelecom biết VNPT và Viettel đang thử nghiệm điện thoại cố định không dây, đáng lý ra EVNTelecom nên đặt máy không dây giá rẻ có giá 6 đến 7 trăm ngàn đồng tặng cho khách hàng để phát triển thuê bao chiếm lĩnh thị trường. Thế nhưng EVNTelecom cứ đặt máy giá cao đã không phát triển được khách hàng, nhưng đến khi VNPT và Viettel cung cấp dịch vụ không dây với máy điện thoại chỉ có giá 6 trăm ngàn đồng nên hai nhà mạng này thực hiện cuộc đua tặng máy và tặng thuê bao thế thì EVNTelecom cũng phải tặng máy giá cao, nhưng đã muộn.

    EVNTecom có một yếu kém nữa là cán bộ vận hành mạng. Dự án mở rộng mạng CDMA giai đoạn 5 đã hoàn thành lắp đặt thiết bị BTS và thiết bị truyền dẫn vào đầu quý IV/2008. Tuy nhiên do EVNTelecom thiếu nhân viên cấu hình trạm dẫn đến cuối quý I/2009 các trạm BTS mới đưa vào hoạt động. Trong khi đó các trạm BTS của Viettel lắp đặt sau, chưa thi công cáp quang nhưng Viettel thuê truyền dẫn kênh vệ tinh có tốc độ 128kb/s để đưa trạm vào hoạt động với mục đích phát triển khách hàng, mặc dù truyền dẫn vệ tinh tốc độ thấp dẫn đến chất lượng dịch vụ không được tốt.

    Công ty Điện lực tỉnh là đơn vị trực tiếp phát triển khách hàng, chăm sóc khách hàng, thu cuớc, vận hành và xử lý sự cố hệ thống viễn thông nội tỉnh. Trung bình mỗi Công ty Điện lực biên chế khoảng 70 nhân viên làm trực tiếp công tác viễn thông, thế nhưng công tác phát triển khách hàng chủ yếu giao cho các Điện lực huyện và Điện lực huyện lại giao chỉ tiêu cho công nhân điện. Trung tâm Viễn thông Điện lực tỉnh được biên chế khoảng 20 nhân viên đa số có trình độ đại học. Tuy nhiên nhân lực bố trí không hợp lý, cuối cùng tất cả mọi công việc từ chăm sóc khách hàng, thu nợ cước khó đòi, kéo cáp phát triển thuê bao, chạy máy phát điện khi mất điện lưới cũng là công nhân điện, còn Trung tâm Viễn thông Điện lực chủ yếu thực hiện công việc tổng hợp và báo cáo.

    Nhiều kỹ sư điện làm điện lâu năm nhưng không có chức vụ nên xin qua làm viễn thông để lên chức. Tuy nhiên không có chuyên môn nên không làm việc được và kỹ sư điện được gửi đi đào tạo chuyên ngành viễn thông, có nhiều kỹ sư điện mới học xong thêm chuyên ngành viễn thông thì EVNTelecom phá sản. Đơn vị thiếu kỹ sư điện thì phải tuyển mới nhưng không làm việc tốt hơn kỹ sư điện làm lâu năm.

    Thứ hai là chọn sai công nghệ: công nghệ CDMA 450MHZ có một số ưu điểm nhưng đa số là khuyết điểm.

    Công nghệ CDMA 450 MHz rất ít nhà mạng trên thế giới sử dụng và chỉ sử dụng cung cấp dịch vụ cố định không dây, dịch vụ di động CDMA 450 MHz chẳng qua là tận dụng hạ tầng sẵn có, chất lượng dịch vụ di động rất kém và chỉ có nhân viên ngành điện sử dụng một cách ép buộc. Khi EVNTelecom chuyển giao cho Viettel, nhiều lãnh đạo ngành điện cũng bỏ luôn đầu số 096.

    Nhà mạng EVNTelecom sử dụng công nghệ CDMA 450MHz cũng do lịch sử. Lúc đầu Tập đoàn EVN chỉ được cấp giấy phép làm điện thoại cố định, với việc chọn lựa công nghệ CDMA 450 MHz có vùng phủ sóng rộng cung cấp dịch vụ cố định không dây sẽ tiết kiệm đầu tư. Tuy nhiên thiết bị thiết lập mạng cũng như thiết bị đầu cuối CDMA 450 MHz có ít nhà sản xuất dẫn đến giá cao. Nhà mạng Viettel có thiết bị thiết lập mạng GSM chiếm 25% tổng mức đầu tư, còn nhà mạng EVNTelecom giá thiết bị thiết lập mạng CDMA 450 MHz đắt hơn nhiều lần.

    Công nghệ CDMA 450 MHz bị can nhiễu và khả năng xuyên thủng kém dẫn đến chất lượng dịch vụ tại các thành phố lớn rất kém. EVNTelecom khi thử nghiệm đã phát hiện ra vấn đề này, đáng lý ra EVNTelecom nên phân vùng cung cấp dịch vụ và phân khúc thị trường. Đối với dịch vụ di động, EVNTelecom nên xin cấp giấy phép công nghệ GSM 1800.

    Thứ 3 là thực hiện đầu tư quá chậm: EVNTelecom làm vài trăm trạm bằng nhà mạng khác làm vài ngàn trạm.

    Tập đoàn EVN không phân cấp rõ trong đầu tư viễn thông. Dự án này hạ tầng viễn thông giao cho EVNTelecom đầu tư, dự án khác lại giao hạ tầng viễn thông cho các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải đầu tư. Sau đó các đơn vị được đầu tư lại phân cấp tiếp, dự án này giao cho Ban này thực hiện dự án, dự án khác lại giao cho Công ty Điện lực thực hiện dự án.

    Đơn vị khi được thực hiện dự án phải từ từ xem cho đơn vị nào làm tư vấn thiết kế, đơn vị nào thi công và đơn vị nào làm tư vấn giám sát. Quan trọng nhất tối ưu vùng phủ sóng là khảo sát quy hoạch thiết kế vị trí đặt trạm phát sóng. Nhiệm vụ quy hoạch trạm phát sóng được giao cho Trung tâm Tư vấn Thiết kế EVNTelecom và đơn vị này cũng làm qua loa rồi giao lại cho các Công ty Điện lực tỉnh. Nhân viên Điện lực cứ thế tha hồ di chuyển trạm đến vị trí đất mua được hoặc vị trí đất của người quen. Điển hình là dự án hạ tầng 3G giai đoạn 2, đất nhân viên Điện lực đầu tư cho thuê lắp đặt trạm quá nhỏ phải hạ chiều cao cột anten. Theo tiêu chuẩn của các nhà mạng khác chiều cao lắp đặt sector tại thành phố Đà Nẵng là 36m, khu vực mật độ thuê bao càng lớn thì giảm chiều cao lắp đặt sector. Thế nhưng, cột anten do các Công ty Điện lực đầu tư ở vùng nông thôn cũng chỉ cao 20m.

    Thất bại viễn thông của Tập đoàn EVN có rất nhiều nguyên nhân, người đứng đầu Tập đoàn là Chủ tịch HĐQT chịu trách nhiệm quyết định đầu tư và bổ nhiệm các lãnh đạo chủ chốt phụ trách công tác viễn thông. Theo khách quan phải dựa vào kết quả kinh doanh viễn thông của từng đơn vị để truy trách nhiệm cụ thể từng cá nhân và tập thể.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công thương, EVNTelecom đã tổ chức buổi kiểm điểm cựu Chủ tịch Tập đoàn EVN Đào Văn Hưng. Công ty EVNTelecom phá sản làm CBCNV phải lưu lạc tha phương chính do sai lầm của Ông Đào Văn Hưng trong việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo Tập đoàn EVN phụ trách công tác viễn thông, bao che sai trái của vợ là Trưởng phòng Tổ chức Công ty EVNTelecom nhưng có quyền to hơn Giám đốc Công ty EVNTelecom, bổ nhiệm sai lãnh đạo phụ trách công tác viễn thông tại các Tổng công ty Điện lực và lôi kéo các Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Truyền tải tham gia vào kinh doanh lĩnh vực viễn thông.

    Công ty EVNTelecom với đội ngũ nhân viên hơn 2000 người, trong đó gần 50% là con cháu của các vị lãnh đạo EVN. Ngoài ra, EVNTelecom ký hợp đồng ngắn hạn với gần 500 nhân viên làm các công việc như xử lý các lỗi outdoor, sửa chữa thiết bị đầu cuối, cộng tác viên phát triển thuê bao nhưng làm thì ít còn chơi thì nhiều. CBCNV EVNTelecom chỉ làm các công việc trực tổng đài, xử lý thiết bị truyền dẫn đường trục trong nước và Quốc tế, chăm sóc khách hàng từ xa, lập phương án kinh doanh và tổng hợp báo cáo. Tất cả các công việc phát triển thuê bao, chăm sóc thuê bao, thu cước, sửa chữa thiết bị đầu cuối, vận hành hệ thống viễn thông nội tỉnh, chạy máy phát trạm BTS khi mất điện lưới đã được giao cho Điện lực. Đối với công việc xử lý sự cố cáp quang trên đường dây 500 KV, 220 KV được giao cho các Công ty Truyền tải điện.

    Tại Công ty EVNTelecom các vị trí chủ chốt đều là con cháu các vị lãnh đạo Tập đoàn EVN nắm giữ. Công ty EVNTelecom là sân sau của các vị lãnh đạo Tập đoàn EVN, lãnh đạo Tập đoàn EVN xây nhà cho EVNTelecom thuê chỉ vài năm là thu hồi vốn, trong đó Chủ tịch Đào Văn Hưng cũng có vài ngôi nhà cho thuê dạng này.

    Nhà mạng khác như VietNammobile với doanh thu 10.000 tỷ/năm nhưng chỉ có hơn 2.000 nhân viên, trong khi đó doanh thu viễn thông của năm 2010 của Tập đoàn EVN là 2.800 tỷ, nhưng doanh thu viễn thông công cộng chỉ là 2.000 tỷ và doanh thu còn lại là doanh thu cho thuê cột điện treo cáp viễn thông. Chủ tịch Đào Văn Hưng đã từng báo cáo với Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông “Tập đoàn EVN đã xây dựng được hạ tầng viễn thông cực mạnh chỉ đứng thứ 3 sau Tập đoàn VNPT, Tập đoàn Viettel. Tài sản viễn thông Tập đoàn EVN gồm hơn 40.000 km cáp quang, hơn 6.000 trạm thu phát sóng, 5 cổng kết nối Quốc tế với 4,6 triệu thuê bao và đem lại công ăn việc làm cho 13.000 người”.

    Cán bộ chủ chốt tại EVNTelecom cũng là con ông cháu cha, cán bộ lãnh đạo viễn thông tại Điện lực cũng là con ông cháu cha thế thì làm sao viễn thông của Tập đoàn EVN lại không phá sản. Ai cũng bảo viễn thông của Tập đoàn EVN “làm để ăn chứ không phải làm ăn”.

    Thực đúng như vậy, tài sản viễn thông của Tập đoàn EVN chỉ còn là xác. Trước khi mất chức Chủ tịch Đào Văn Hưng tuyên bố Tập đoàn EVN có 4,6 triệu thuê bao viễn thông. Tuy nhiên khi tiếp nhận Công ty EVNTelecom thì lãnh đạo Tập đoàn Viettel thông báo nhà mạng EVNTelecom có 1 triệu thuê bao, trong đó 70% là điện thoại cố định không dây và Tập đoàn Viettel phải chi hơn 300 tỷ để chuyển khách hàng EVN sang mạng Viettel, sau 31/3/2012 khách hàng EVN không chuyển đổi qua mạng Viettel sẽ bị ngưng dịch vụ và hợp đồng trước đây khách hàng ký với Điện lực đã huỷ bỏ, đồng thời Tập đoàn Viettel không truy thu cước dịch vụ từ tháng 12/2011 đến khi cắt dịch vụ.

    Tập đoàn Viettel sau khi tiếp nhận EVNTelecom thì toàn bộ mạng của EVNTelecom gần như vứt bỏ và Tập đoàn Viettel chuyển nhân viên EVNTelecom qua các đơn vị của Viettel. Nhân viên EVNTelecom chủ yếu tập trung tại 3 thành phố lớn Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Tuy nhân viên EVNTelecom đã được Tập đoàn Viettel bố trí vào các vị trí đi thu ngân, chạy máy phát điện các trạm BTS khi mất điện lưới nhưng vẫn không đủ chổ và nhiều nhân viên EVNTelecom bị điều đi các tỉnh.

    Lãnh đạo EVNTelecom vừa là con ông cháu cha của các vị lãnh đạo Tập đoàn EVN nên có thể xin qua lại các đơn vị thuộc EVN. Bên cạnh đó các vị lãnh đạo này cũng đã vơ vét được khá nhiều nên có thể nghỉ việc và gửi số tiền đã vơ vét vào ngân hàng lấy tiền lãi để ăn cũng được. Tội nghiệp nhất là nhân viên chân chính EVNTelecom phải tiến thoái lưỡng nan.

    Nhân viên viễn thông tại Điện lực nếu là con ông cháu cha có máu mặt thì được chuyển qua các phòng ban làm công việc văn phòng, còn con ông cháu cha yếu thế hơn thì tạm thời đi huyện làm công việc thu ngân.

    Theo đánh giá của các chuyên gia thì hạ tầng cáp quang của Tập đoàn EVN có giá trị 1 tỷ đô. Tuy nhiên hạ tầng cáp quang của EVN không có giá trị đối với Tập đoàn Viettel. Các tuyến cáp quang của Tập đoàn EVN có các điểm kết cuối là các trạm 500KV, 220 KV, 110KV, trụ sở Điện lực và muốn vào cá vị trí này để xử lý khi có sự cố xảy ra phải có văn bản đồng ý của đơn vị quản lý, đồng thời các thủ tục an toàn khi vào trạm cũng rườm rà. Trước đây khi EVNTelecom còn trực thuộc Tập đoàn EVN, tài sản viễn thông còn trực thuộc Tập đoàn EVN nhưng các đơn vị trong Tập đoàn EVN muốn vào phòng máy hoặc trụ sở phải có văn đồng ý của đơn vị sở tại mới được vào phòng máy, đồng thời kèm theo thủ tục an toàn khi vào phòng máy. Do vậy khi sự cố xảy ra vài ngày sau mới xử lý được.

    Hệ thống cáp quang Tập đoàn Viettel gồm có 3 đường trục Bắc – Nam, trục thứ nhất đi dọc theo hành lang đường sắt, trục thứ hai được treo trên cột tín hiệu đường sắt và trục thứ ba được treo trên cột điện 22KV. Trục Bắc-Nam thứ ba được treo trên cột điện của Điện lực đã được Tập đoàn Viettel đầu tư cột để tách cáp ra khỏi cột điện của Điện lực để chủ động trong công tác vận hành. Bên cạnh đó, hệ thống cáp quang nội tỉnh của Tập đoàn Viettel đã được kết nối mạch vòng, tất cả các trạm thu phát sóng đã được kết nối mạch vòng. Do vậy Tập đoàn Viettel tiếp nhận hạ tầng cáp quang của Tập đoàn EVN không biết sử dụng vào việc gì.

    Nhân viên Viettel tại một số tỉnh phản ánh nhân viên Điện lực đầu cơ đất cho Điện lực thuê vị trí lắp đặt cột anten và nhà trạm, có nhiều vị trí tuy ở nông thôn nhưng đất thuê quá nhỏ nên chỉ lắp đặt được cột anten cao 20m. Theo quy định của Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh ở thành phố cột anten tối thiểu có chiều cao 30m (nhà mạng thường lắp đặt cột anten có chiều cao 36m), ở nông thôn cột anten tối chiểu có chiều cao 42m. Tuy nhiên nhiều Điện lực vẫn qua mặt được Sở Thông tin và Truyền thông khi cấp phép dẫn đến cột anten chỉ có chiều cao 20m. Bên cạnh đó đất do nhân viên Điện lực đầu tư có diện tích nhỏ nhưng giá thuê cao gấp 3 lần giá thị trường. Do vậy Tập đoàn Viettel tiếp nhận các tài sản này phải tốn tiền huỷ bỏ hợp đồng thuê mặt bằng lắp đặt cột anten và nhà trạm, tiền tháo dỡ cột anten và nhà trạm, tiền hoàn trả mặt bằng.

    Tập đoàn Viettel khi làm di động vốn liếng chỉ có vài chục triệu đô chỉ đủ đầu tư 150 trạm còn lại là mua thiết bị trả chậm, trong khi đó Tập đoàn EVN cấp cho EVNTelecom hàng trăm triệu đô. Ngoài ra, EVNTelecom được thừa hưởng các tuyến cáp quang trên đường dây 500KV, 220KV, 110KV đầu tư cùng dự án điện. Bên cạnh đó Tập đoàn EVN cấp vốn cho các Tổng công ty Điện lực cả tỉ đô đầu tư vào viễn thông dưới dạng Tập đoàn EVN đầu tư vào các Tổng công ty Điện lực.

    Sai lầm ở đây của lãnh đạo Tập đoàn EVN là các Tổng công ty Điện lực xưa nay đồng vốn đều dựa vào Tập đoàn EVN và khi được cấp vốn thì cố nhồi nhét cho hết vốn được cấp mà không cần hiệu quả đầu tư. Làm càng to thì tiền tư vấn, tiền giám sát, tiền thi công càng nhiều và được thối lại càng lớn. Nếu như chỉ mình EVNTelecom làm viễn thông thì nhân viên EVNTelecom không ỷ lại dựa vào Tập đoàn EVN và có thể EVNTelecom sẽ trở thành Viettel thứ hai. Nếu như một mình EVNTelecom làm viễn thông thì EVNTelecom phá sản sẽ thiệt hại ít hơn tiền của Nhà nước, tiền thuế của nhân dân.

    Do vậy Chủ tịch Đào Văn Hưng ra đưa ra nhiều quyết định sai dẫn đến thiệt hại rất lớn. Cựu Bộ trưởng Bộ Năng Lượng Vũ Ngọc Hải có những quyết định sai đã làm thiệt hại của Nhà nước hơn 3 tỷ nhưng phải ngồi tù 4 năm, thế thì Chủ tịch Đào Văn Hưng đã làm thiệt hại của Nhà nước hơn chục ngàn tỷ thì đáng lý ra phải ngồi tù bao nhiêu năm.

    Phản hồi: 

    Bài viết hay, có nhiều phân tích sâu sắc của người trong cuộc.

    Thất bại của EVN Telecom có thể là bài học kinh điển cho sinh viên các trường kinh doanh ở Việt Nam. Nhưng tiếc là những bài viết có chất lượng thế này quá ít, mà nếu có chắc cũng không được phổ biến rộng rãi ở trong nước, trừ những trang "có vấn đề" như Dân Luận.