Phong Uyên - Cái gọi là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là chủ nghĩa Stalinit

  • Bởi Admin
    17/02/2012
    6 phản hồi

    Phong Uyên

    Trong bản tham gia góp ý văn kiện Đại hội Đảng XI Phát triển học thuyết Mác - Lê Nin được tác giả, "người lao động" Ngô Văn Hải, cho đăng lại trên Dân Luận mới đây, tác giả có ý muốn nêu ra những thiếu sót trong lí luận của Marx và Lê Nin mà tác giả gắn chặt với nhau trong cái gọi là chủ nghĩa Mác - Lê Nin, không phải để "đột phá" theo đúng nghĩa chủ nghĩa này, mà để giúp Đảng hoàn thiện và phát triển nó. Vấn đề là không thể đột phá một cái không có hiện hữu: chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là một sự bày đặt của Staline một năm sau khi Lê Nin mất. Người tiếp tục và phát triển những ý tưởng triết học của Marx là Engels mà ông Ngô Văn Hải chỉ nhắc tới có một lần, chứ không phải Lê Nin. Marx cũng chỉ là một lí thuyết gia chứ không phải là người đề xướng ra một chủ nghĩa nào cả. Nếu Marx sống trong thời hiện đại, chắc chắn cũng sẽ được giải Nobel về kinh tế như cả mấy chục người khác từ khi có giải Nobel cho tới nay và đã bị quên lãng như những người này một vài năm sau.

    Tôi xin chia bài viết này làm ba phần:

    - Marx, Engels, Lénine và ngay cả Staline, đều không phải là những người Mác xít

    - Cái gọi là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là chủ nghĩa Stalinit cũng như cái biến dạng của nó là chủ nghĩa Maoit

    - Cũng không có Tư bản chủ nghĩa mà chỉ có Kinh tế thị trường từ khi có loài người Homo Sapiens

    1) Thân thế và sự nghiệp của Marx, Engels, Lénine, Staline, đều chứng minh những người này đều không phải là những người Marxistes:

    - Marx (1818-1883), Engels (1820-1895), đều sinh ở hạt Rhénanie thuộc Pháp từ Cách Mạng Pháp 1789 đến năm 1815 khi Napoléon thua trận, Rhénanie bị nước Phổ chiếm đóng. Chỉ sinh sớm một vài năm là cả hai đều là người Pháp chứ không phải người nước Phổ. Cũng vì vậy mà cả hai đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp cũng như những truyền thống cách mạng và tư tưởng của các nhà khai sáng Pháp.

    Marx và Engels đều là những nhà trí thức tư sản: Engels xuất thân trong một gia đình tư bản siêu quốc gia về ngành dệt, có xưởng máy ở Manchester, Anh. Marx là dòng dõi một gia đình vọng tộc gốc Do Thái có nhiều người làm giáo sĩ tuy sau cả gia đình đều rửa tội theo đạo Phản thệ. Marx kết hôn với một phụ nữ thuộc dòng dõi quí tộc Phổ, anh vợ là bộ trưởng bộ Nội vụ trong chính phủ Hoàng gia Phổ. Cả hai, Marx và Engels, đều được giáo dục theo chuẩn mực của những gia đình thượng lưu Âu châu thời ấy, lấy văn minh Hi Lạp, La Mã và văn hóa Pháp làm căn bản. Marx là một người rất thông thái, làm luận án tiến sĩ triết học bằng tiếng cổ Hi Lạp, nhưng quen sống trong tháp ngà, được gia đình bên vợ và sau lại được Engels chu cấp nên không làm ăn gì cả lại có đời tư rất bê bối đẻ con rơi với một người nữ quản gia mà gia đình vợ gửi qua Anh nuôi mấy đứa con của Marx, làm Engels phải nhận làm con mình để tránh tai tiếng cho Marx.

    Marx đã tự nói "tôi không phải là người Mác-xít" và cũng không phải là một kinh tế gia khi tự than "Là một nhà kinh tế, vậy mà tôi không lo nổi kinh tế cho chính bản thân mình".

    Marx chỉ là một nhà triết học đã dùng biện chứng pháp để suy luận lịch sử như các nhà triết học cổ Hi Lạp đã dùng biện chứng pháp để suy luận về mọi vấn đề cách đây 2500 năm. Biện chứng pháp chỉ là một phương pháp suy luận như Âm - Dương trong kinh Dịch, như hệ Nhị số trong Tin học bây giờ. Khái niệm "đấu tranh giai cấp" là "định đề" của sự suy luận này. Vả lại thuật ngữ "giai cấp" theo tiếng Âu Tây chỉ có nghĩa là một lớp người (une classe). Biến khái niệm "Đấu tranh giai cấp" của Marx thành một chủ nghĩa không khác gì biến định đề Ơ-clit thành một chủ nghĩa trong hình học.

    Cũng khó có thể nói danh từ "cộng sản" do Marx đặt ra: Năm 1847 Marx thảo một bản đả kích (un pamphlet) trong đó Marx nhân danh những người Công chính (les Justes) lặp lại gần như toàn thể những nguyên lí của Engels. Engels góp ý với Marx là phải trình bày làm sao cho thật dễ hiểu và phải tìm một nhan đề thật kêu để lôi cuốn. Bài đả kích của Marx được biến thành một bản Tuyên ngôn (Manifeste): Tuyên ngôn của đảng Cộng sản. Thật ra hồi đó chưa có đảng cộng sản mà chỉ có "Liên đoàn những người cộng sản" mà tên đầu tiên là "Liên đoàn những người công chính" (Ligues des Justes). Ngay cả câu "Vô sản mọi xứ trên toàn cầu hãy hợp nhất lại cũng là theo ý của Engels chứ mới đầu Marx chỉ muốn đưa ra châm ngôn như Khổng Tử "Mọi người đều là anh em". Có lẽ Marx vẫn chịu ảnh hưởng của câu "Tự do, Bình đẳng, Huynh đệ" của Cách mạng Pháp.

    Ông Ngô văn Hải cũng căn cứ vào "Giáo trình triết học nội dung của Mác" để "qui định phủ định của phủ định"(?), đột phá Biện chứng lịch sử của Mác mà ông cũng cho là của Lê Nin khi ông nói "phép biện chứng Mác - Lê Nin". Không có lẽ cần phải nhắc lại với ông Ngô Văn Hải là không có cái gọi là biện chứng Mác - Lê Nin, trừ khi ông muốn ám chỉ ban Tuyên giáo ĐCSVN vẫn muốn bắt mọi người hiểu Marx và Lénine theo ý Staline. Tôi xin nhắc lại là cuốn Tư bản luận (Le Capital) của Marx mà chúng ta đang học là của Staline cho viết lại chứ không phải của Marx. Người ta đã chứng minh rằng trong 4 tập của cuốn Tư bản luận, Marx chỉ viết có tập đầu. Tôi xin kể lại "hành trình" của cuốn Tư bản luận:

    Bắt đầu từ năm 1865 (Lénine chưa ra đời) Marx đã bỏ rất nhiều công sức viết cuốn Tư bản luận. Nhưng chỉ có tập đầu xuất bản năm 1875 (và được dịch ra tiếng Pháp ngay từ đầu) là có sự kiểm tra của Marx. Tập 2 xuất bản năm 1885 và tập 3 xuất bản năm 1894 được biên soạn bởi Engels. Tập 4 do Karl Kautsky biên tập và xuất bản năm 1905-1910. Tuy nhiên mới đây người ta đã công bố các tập sau của bộ Tư bản luận mà David Ryazanov (một học giả Bôn sê víc bị Stalin xử bắn năm 1938) - dịch từ bản thảo viết tay của Marx - có rất nhiều khác biệt với các tập Tư bản luận mà Engels biên soạn, thậm chí có nhiều đoạn đã bị Engels thay đổi. Bởi vậy nếu tin vào bộ Tư bản luận của Staline và của nhà Xuất bản Sự Thật (nay là nhà xuất bản Chính trị Quốc gia) để suy luận về Marx thì khác gì đổ thóc giống ra mà ăn!

    Ông Ngô Văn Hải đã hoàn toàn bỏ quên Engels hay không biết là Đệ Nhất Quốc tế do Marx sáng lập năm 1864 ở London đã tự giải tán năm 1876, bẩy năm trước khi Marx mất vì sự bất đồng ý kiến giữa phe theo Marx và phe vô chính phủ theo Bakounine. Sở dĩ tên tuổi của Marx còn lưu lại hậu thế là vì có dính tới Engels người đã sáng lập ra Đệ Nhị Quốc tế tại Paris năm 1889. Các đảng Dân chủ Xã hội trên thế giới chỉ là các phân bộ của Đệ Nhị Quốc tế. Đảng Dân chủ Xã hội Công nhân Nga (PSDOR) mà Lénine làm thủ lãnh là một phân bộ của Đệ Nhị Quốc tế cũng như Phân bộ Pháp Thợ thuyền Quốc tế (SFIO), tiền thân của đảng Xã hội Pháp hiện nay. Các đảng Dân chủ Xã hội ở phương Tây ngày nay mà ĐCSVN cấm mọi người nói đến, là thừa kế độc nhất của tư tưởng Marx - Engels.

    - Lénine (1870-1924) thua Marx và Engels tới hơn nửa thế kỷ là con một ông thanh tra học vụ có công với Sa hoàng nên ông này được phong một tước nhỏ trong hàng qúi phái. Cũng vì vậy Lénine khi làm cách mạng bị bắt, chỉ bị quản thúc 4 năm trong làng của mình và được cung cấp sách vở tha hồ viết sách báo. Vợ Lénine cũng con một sĩ quan thuộc dòng quí phái như vợ Marx. Sau khi lấy vợ, từ năm 1895 trở đi, luôn luôn sống ở Genève và Paris. Ở Paris, Lénine còn đèo thêm một người tình, Elisabeth Armand, cho ở cạnh nhà vợ ở cùng đường Campagne Première khu nghệ sĩ Montparnasse, hàng ngày ra quán Closerie des Lilas nhậu nhẹt với giới thượng lưu trí thức. Tháng Tư năm 1917 Lénine được Đức đem xe bọc sắt có bảng ngoại giao đem từ Thụy Sĩ về Nga xuyên qua Đức. Vì vậy mà có tin đồn Lénine là tay sai của Đức được Đức dùng để chống lại Nga Hoàng đang có chiến tranh với Đức.

    - Chỉ có Staline (1879-1953) là "bần cố" bị cha nghiện rượu đánh đập suốt ngày, may được người mẹ gửi mấy ông cha cố mong sau này trở thành một ông cha cố cho bõ công người mẹ. Học nửa chừng bị đuổi khỏi dòng tu nên người mẹ rất buồn bực. Sau này khi công thành danh toại trở về thăm mẹ tự khoe là bây giờ đã thay Nga hoàng. Người mẹ chỉ trả lời: tao thích mày làm cha cố hơn. Staline giận tím người đến khi mẹ chết cũng không thèm về đưa đám ma, nhưng đã vẫn giữ những nề nếp của các cha cố, tổ chức đảng cộng sản như một giáo hội mà mình là giáo chủ. Nhưng cũng trong cái giáo hội Cộng sản này có nhiều người "tử vì đạo" nhất.

    Thử tưởng tượng nếu Marx, Engels, Lénine, và cả Staline, còn sống dưới thời Mao hay trong thời kỳ cải cách ruộng đất ở Việt Nam, thì sẽ không tránh khỏi bị kết tội trí phú địa hào hay thuộc thành phần lưu manh trong xã hội, tay sai của các cha cố (Staline).

    2) Không có chủ nghĩa Mác -Lê Nin mà chỉ có chủ nghĩa Dân chủ - Xã hội của Engels.

    Người đã phản bội Engels - tức là phản bội Marx - chính là Lénine. Cũng chỉ vì muốn giữ độc quyền trong đảng Dân chủ Xã hội Thợ thuyền Nga, Lénine đã dựa vào phái thiểu số trong đảng mà Lénine gọi ngược lại là Đa số (Bôn Sê Víc), làm một cuộc đảo chính nội bộ gọi là Cách Mạng tháng Mười vĩ đại. Biết trước là Staline sẽ phản bội nên năm 1924 trước khi chết Lénine đã để lại di chúc phải loại trừ Staline. Nhưng Staline nhanh chân hơn đã giết hết những phe cánh trung thành với Lénine. Đó cũng là số của nước Nga gặp phải hung thần chứ trước khi chết Lénine đã hối hận, tái lập lại cái gọi là Kinh tế chính trị mới (NEP, Nouvelle Économie Politique). Nếu Lénine sống được thêm vài năm nữa, có thể Lénine đã trở về với chế độ Dân chủ Xã hội của Engels.

    Cái định nghĩa đúng nhất về chủ nghĩa Mác - Lê Nin là của Souvarine, một người Marxiste theo phe Lénine chống lại Staline và là một trong những người sáng lập đảng Cộng sản Pháp: "Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là một cách nói láo khoét được Staline đặt ra sau khi Lénine chết để che giấu những thủ đoạn quái gở của mình. Thực ra nó đồng nghĩa với chủ nghĩa Stalinit, ngược với luận thuyết của Marx và chỉ làm lố bịch những ý tưởng của Lénine" (Wikipédia). Souvarine cho cái chủ nghĩa Stalinit chỉ là chủ nghĩa Tư bản Nhà nước (Capitalisme d'État).

    Có thể nói, ngoại trừ những khái niệm triết học xa vời thực tiễn, Marx không bao giờ có được một hành động thiết thực ngay đối với bản thân mình. Engels, trái lại có những hành động thức thời như khi lập ra Đệ Nhị Quốc Tế tập hợp mọi tổ chức như các công đoàn, các đảng xã hội mỗi nước để kiến tạo một lực lượng quốc tế mỗi ngày một lớn mạnh có đủ sức đương đầu đấu tranh trực diện với giới chủ tư bản quốc gia và siêu quốc gia. Các công đoàn có nhiệm vụ đấu tranh kinh tế chống áp bức bót lột, giành quyền lợi kinh tế cho giới cần lao. Các đảng xã hội có nhiệm vụ đấu tranh chính trị đòi công bằng xã hội và các quyền tự do dân chủ. Có cuộc phân công giữa các công đoàn và các đảng xã hội để đấu tranh trên cả 3 mặt trận ngang bằng nhau, kinh tế, xã hội và dân chủ, nên các đảng xã hội trong đệ Nhị Quốc tế thay đổi tôn chỉ để trở thành các đảng Dân chủ - Xã hội. Chế độ dân chủ - xã hội có hai mặt: Dân chủ, đầu mối của mọi tiến triển kinh tế vì mỗi người đều có quyền tự do lựa chọn thông qua bầu cử, đảng nào, người nào, đưa ra chính sách phù hợp với quyền lợi của mình và mọi người đều có quyền tự do kinh doanh, không bị chèn ép bởi một thế lực nào. Xã hội, nằm trong sự phân chia công bằng lợi lộc kinh tế qua chính sách thuế má. Đó là một điểm khác với chế độ Dân chủ Phóng khoáng (Démocratie libérale) trong đó mỗi cá nhân có nhiều tự do hơn, kể cả tự do đóng góp cho xã hội. Cho tới nay, chế độ thích hợp nhất vẫn là chế độ dân chủ - xã hội ở Tây Âu và ở một vài nước dân chủ châu Á, châu Úc.

    3) Không có tư bản chủ nghĩa mà chỉ có kinh tế thị trường

    Để phản biện khái niệm "Giá trị thặng dư = bóc lột sức lao động" mà ông Ngô Văn Hải cho là của Marx, ông Hải đổ cho Marx đã trừu tượng hóa quá trình sản xuất giá trị thặng dư (hay lợi nhuận) khi ông đem quá trình sản xuất của kinh tế thị trường ngày nay ra đối chọi với sản xuất tư bản trong một thời gian rất ngắn cách đây 150 năm khi sản xuất hàng hóa còn sơ khai, cần nhiều nhân công và vật liệu. Nhưng để phản biện Marx, vô tình ông Ngô văn Hải đã chứng minh là không có chủ nghĩa tư bản mà chỉ có kinh tế thị trường, ít nhất là từ 30 ngàn năm nay khi người Homo Sapiens đã qua trình độ đổi chác cho nhau những gì mình kiếm được hay mình làm ra được, như lương thực và những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, để đòi hỏi tùy theo thị hiếu và luật cung cầu, những đồ vật phù phiếm, như những đồ trang sức, những đồ cúng lễ chẳng hạn. Nếu có một chủ nghĩa tư bản thì chỉ có tư bản độc quyền Nhà nước dưới thời Staline, Mao và tư bản Đảng như ở Trung Quốc, Việt Nam hiện giờ. Kinh tế thị trường là kinh tế tiêu thụ và chọn lựa những sự thừa thãi. Cái mà ông Ngô Văn Hải gọi là 2 đặc điểm của "khủng hoảng kinh tế trong tư bản chủ nghĩa" là "hàng hóa ế thừa trong khi đời sống nhân dân còn thiếu thốn và mang tính chu kỳ" chỉ có ở dưới chế độ "Tư bản cộng sản chủ nghĩa" khi Đảng bóc lột sức lao động người dân để sản xuất những hàng hóa bị ế thừa khi không xuất cảnh được hay bị trả về , như ở Trung Quốc khi 800 triệu nông dân, 200 triệu min công (dân công) không có được một đô la mỗi ngày để sống mà sản xuất đồ hàng cho cả thế giới sài. Trái lại, trong nền kinh tế thị trường (không theo định hướng Xã hội chủ nghĩa), hàng hóa ế thừa là vì không thích hợp với thị trường tiêu thụ nữa, bắt buộc người kinh doanh phải làm những đồ mới với những kỹ thuật tân tiến hơn, cần nhiều sáng kiến và phải trả giá rất cao để mua hay để thuê bản quyền những sáng kiến này (chiếm trung bình 40% giá thành của sản phẩm) trong khi giá vật liệu (phần nhiều từ dầu hỏa chế biến ra) chỉ chưa tới 5% và giá nhân công, nếu làm ở bên Tàu, cũng chưa tới 5%, đồng thời nhà nước cũng phải tăng sức mua của người dân để tiêu thụ hàng hóa, tức là phải làm sao cho dân giàu thì kinh tế mới mạnh chứ không thể bần cùng hóa người dân để làm giầu cho Đảng như trong chế độ độc đảng toàn trị được. Cái mà ông Ngô Văn Hải gọi là "khủng hoảng kinh tế có chu kỳ" (tại sao lại có chu kỳ?) trong kinh tế thị trường chỉ là những sự tự điều chỉnh, khiến sau mỗi cuộc khủng hoảng nền kinh tế lại mạnh mẽ hơn. Không có những "khủng hoảng" dẫn đường, kinh tế thị trường sẽ như người mù không gậy té xuống ao lúc nào không hay. Nếu suy luận như ông Ngô Văn Hải thì làm sao 5 tỷ người trong số 7 tỷ người trên thế giới, đa số không đủ cơm ăn mỗi ngày mà người nào cũng có điện thoại di động? Điện thoại di động trở thành một đồ vật cần thiết hơn cơm ăn áo mặc nhà cửa. Làm sao chỉ trong vòng mấy năm mà Apple lại tung ra I-phone đời 4 với giá bán trung bình 700-800 đô một cái trong khi giá nhân công làm ở Trung Quốc chưa tới 1O đô mà còn phải làm việc suốt đêm suốt ngày, ăn ngủ tại chỗ đưa đến thảm cảnh cả mấy chục người phải tự tử mỗi năm? Chủ nghĩa Mác - Lê Nin mới đích thực là chủ nghĩa tư bản man dại thời đầu thế kỷ thứ XIX. Chỉ khác là càng làm đồ hiện đại bao nhiêu thì những nước theo chủ nghĩa này càng phải bóc lột nhân công bấy nhiêu, càng phải ăn cắp bằng sáng chế bấy nhiêu, càng phải làm đồ dởm bấy nhiêu, càng phải cấu kết với giới kinh tài nước ngoài bấy nhiêu để thu nhiều "thặng dư giá trị" cho đảng Lãnh đạo.

    Kết luận

    Tôi xin chép lại ý kiến này của ông Ngô văn Hải "như vậy người lao động ngoài tiền lương còn phải được phân phối một phần lợi nhuận thành cổ phần trong doanh nghiệp thì không còn sự bóc lột, phân phối sẽ công bằng, kích thích khả năng sáng tạo của mỗi người và sự tích tụ tư bản để tái sản xuất mở rộng vẫn giữ được".

    Tôi chỉ xin nói thêm là ý kiến của ông Hải đã được thể hiện ở những nước theo chế độ Dân chủ, Xã hội hay Phóng khoáng, nhờ sự tranh đấu, thương lượng, mặc cả giữa các công đoàn và giới chủ, hai bên ngang sức nhau, với nhà nước đứng giữa làm trọng tài. Ở những nước này danh từ "lao động" được thay bằng "người làm công" và sự đóng góp của giới chủ cho những người làm công về an sinh xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, phụ cấp gia đình... bằng trung bình một nửa số tiền lương của những người này. Ông Ngô văn Hải muốn ý kiến của ông được Đảng thực thi thì phải tranh đấu làm sao cho Đảng phải từ bỏ cái chủ nghĩa Stalinit Mác - Lê Nin chứ không phải giả đò đột phá cái chủ nghĩa này để giúp Đảng phát triển nó.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Ông Phong Uyên chỉ hiểu Marx qua cách nhìn lãng mạn của giới trí thức Pháp, tức là mục đích cuối cùng -không phải chỉ của Marx- là thế giới đại đồng .

    Để coi ông có dám ra mặt để bảo vệ một bài viết khá tệ hại của mình không .

    Đây là ý kiến của tôi, các ông tổ của chủ nghĩa chỉ là những kẻ đạo đức giả .

    Dân chủ xã hội bị Marx thóa mạ và xem đó là bọn cải lương, bán máu dân lao động .

    Marx không nghiên cứu lịch sử, mà chôm thẳng thuyết lịch sử từ Hegel. Cách Marx vận dụng thuyết lịch sử vào chủ thuyết cải tạo thế giới của mình, chưa chắc được nhận vào cao học khoa Sử chứ đừng nói là Nô Beo .

    Nếu có chủ nghĩa Stalinism, chủ nghĩa Mác-Lê chính thị là nó .

    Về những còm dưới, Marx thất bại -tức là cố hết sức nhưng không làm được- trong việc thiết lập chi tiết cho cuộc cách mạng và cách vận hành của chủ nghĩa cs. Nhưng có rất nhiều chi tiết kinh khủng mà tôi đọc tới thì toát cả mồ hôi hột .

    Chuyên chính vô sản là dịch nhịu của nhóm từ "Dictatorship of the Proletariat", dịch đúng là "Thể chế Độc tài của giới vô sản", là khái niệm về nhà nước trong thời quá độ chuyển lên quá đát . Không phải là một thứ công cụ để dùng lúc thuận tiện, còn không thì treo đó dọa trẻ .

    Muốn xóa bỏ một thể chế độc tài -chưa nói tới thiết lập 1 nhà nước dân chủ- bắt buộc phải xóa bỏ Mác-Lê vì nhà nước độc tài chính là sản phẩm kinh điển nhất của chủ nghĩa Mác . Tất nhiên đây chỉ nói tới muốn xóa bỏ một thể chế độc tài, ai không muốn có thể bỏ qua .

    Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là chủ nghĩa Stalinit, viết:
    Người đã phản bội Engels - tức là phản bội Marx - chính là Lénine.

    Cái gọi là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là chủ nghĩa Stalinit, để thiết lập một loại nhà nước phát xít.

    Đảng CS Pháp đã từ bỏ mô hình Sô Viết, tức từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê từ 1976.
    Chính thế, các đảng CS Âu châu, nói chung không tàn bạo, phát xít như các đảng CS VN, TQ, BTT, Khemer đỏ

    Hiến pháp VN vẫn ghi rành rành "dưới ánh sáng của chủ nghiã Mác - Lê", tức là "dưới ánh sáng của chủ nghĩa phát xít bạo lực"

    Trích dẫn:
    http://fr.wikipedia.org/wiki/Parti_communiste_fran%C3%A7ais

    En 1976, le PCF abandonne la référence au modèle soviétique pour s'orienter vers une ligne de type eurocommuniste. Il abandonne la référence à la doctrine de la « dictature du prolétariat » (XXIIe congrès), affirme son indépendance vis-à-vis de Moscou et son attachement aux libertés publiques : « C’est la voie démocratique et révolutionnaire que nous proposons à notre peuple pour aller au socialisme tenant compte des conditions de notre époque en faveur des forces de progrès, de liberté, de paix »

    Các bác đảng viên CSVN nào có tư tưởng dân chủ, nên thành lập một đảng CS khác theo mô hình cộng sản châu Âu : dân chủ, hòa bình và tự do công chúng.
    Hãy kiên quyết dẹp bỏ "chuyên chính vô sản" của Hồ Chí Minh vì đây là mô hình bạo lực xã hội của Stalin

    Trước kia ở Trung quốc có người nói: "Ở TQ người theo chủ nghĩa Mác rất nhiều, người theo CN Mao lại nhiều hơn, nhưng họ chẳng biết các chủ nghĩa ấy là cái mạ mẹ gì vì ngày lo hai bữa ăn còn chẳng đủ thì hơi sức đâu mà nghĩ đến chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ." Nay thì ta nên nghĩ xem có cách nào làm cho dân giầu nước mạnh, cho đỡ ùn tắc giao thông, cho giá cả đỡ tăng chóng mặt...chứ hơi sức đâu mà nghĩ đến chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ. Cũng chẳng cần gò làm thế này có đúng chủ nghĩa Mác hay không CN Mác, mà cần nghĩ làm thế này có ích quốc lợi dân hay không? Còn rất nhiều quan chức thì cũng chẳng tôn sùng ông Mác như dân nghĩ mà toàn nghĩ các thủ đoạn vơ vét sao cho êm thôi. Có ông cốp hô hào dân học tập tư tưởng đạo đức HCM, có người hỏi thế học đạo đức thì học cái gì ở ông Hồ? Ông này nhe răng cười và trả lời: "Học Trần Dân Tiên là tiền trên dân."

    Thân thế, sự nghiệp của 3 ông tổ chỉ chứng minh được họ là những kẻ đạo đức giả .

    Không có chủ nghĩa Stalinism, chỉ có chủ nghĩa Marxism đem ứng dụng một cách toàn diện và triệt để .

    Dân chủ-xã hội là tư tưởng của những người Marx căm ghét khi ông còn sống . Ông gọi chúng là tư tưởng cải lương .

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n

    Karl Marx chưa bao giờ miêu tả chi tiết về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ vận hành như thế nào trong vai trò một hệ thống kinh tế

    Chủ nghĩa Marx- Lenin là một hình thái của chủ nghĩa cộng sản

    http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A3ng_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n

    quan điểm về đảng cộng sản của Lenin không chỉ bao gồm việc định hướng tư tưởng mà còn một lĩnh vực rộng về các chính sách có tổ chức

    => Mục đích chính của các đảng theo Lê Nin là để "Cướp lấy chính quyền" và duy trì nó bằng bạo lực

    Người đã phản bội Engels - tức là phản bội Marx - chính là Lénine.

    Cái gọi là Chủ nghĩa Mác - Lê Nin chỉ là chủ nghĩa Stalinit, để thiết lập một loại nhà nước phát xít.

    Đảng CS Pháp đã từ bỏ mô hình Sô Viết, tức từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lê từ 1976.
    Chính thế, các đảng CS Âu châu, nói chung không tàn bạo, phát xít như các đảng CS VN, TQ, BTT, Khemer đỏ

    Hiến pháp VN vẫn ghi rành rành "dưới ánh sáng của chủ nghiã Mác - Lê", tức là "dưới ánh sáng của chủ nghĩa phát xít bạo lực"

    Trích dẫn:
    http://fr.wikipedia.org/wiki/Parti_communiste_fran%C3%A7ais

    En 1976, le PCF abandonne la référence au modèle soviétique pour s'orienter vers une ligne de type eurocommuniste. Il abandonne la référence à la doctrine de la « dictature du prolétariat » (XXIIe congrès), affirme son indépendance vis-à-vis de Moscou et son attachement aux libertés publiques : « C’est la voie démocratique et révolutionnaire que nous proposons à notre peuple pour aller au socialisme tenant compte des conditions de notre époque en faveur des forces de progrès, de liberté, de paix »