Nguyễn Trung - Hội nghị Trung ương 4: Sự kiện Đoàn Văn Vươn và vấn đề sửa đổi Hiến pháp (2)

  • Bởi Khách
    15/02/2012
    2 phản hồi

    Nguyễn Trung

    3

    Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XI, như một làn sóng mới tiếp theo các làn sóng từ các Đại hội trước, có rất nhiều ý kiến đóng góp nói lên đòi hỏi cấp thiết phải cải cách hệ thống chính trị và xây dựng Đảng trở thành đảng của dân tộc, coi đây là tiền đề cho sự phát triển bền vững và phồn vinh của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

    Tại Đại hội XI và hiện nay, lãnh đạo Đảng cũng không đặt ra vấn đề cải cách hệ thống chính trị, mà chỉ nhấn mạnh: Tiếp tục đổi mới trên nguyên tắc đồng bộ và phù hợp giữa đổi mới kinh tế và chính trị, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất. Trước đấy, các Đại hội VIII, IX và X đều chung một cách nghĩ - cách làm như vậy, do đó hệ thống chính trị ngày càng tích tụ nhiều vấn đề nan giải.

    Có nhiều vấn đề hệ trọng phải bàn đến trong nhiệm vụ cải cách hệ thống chính trị. Dưới đây xin lẩy ra vài khía cạnh.

    Mối quan hệ giữa nhà nước CHXHCN Việt Nam và ĐCSVN trong thời kỳ đã hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất đất nước được thiết kế và vận hành như thế nào?

    Quan điểm nhất quán và xuyên xuốt 37 năm đất nước độc lập thống nhất ghi trong các Nghị quyết của Đảng và trong Cương lĩnh (Đại hội XI) là (a) ĐCSVN là đảng cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, (b) xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo, (c) xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực nhà nước là thống nhất.

    Vấn đề cần được làm rõ là sự lãnh đạo của một đảng chính trị đối với nhà nước pháp quyền như thế nào.

    _______________________

    Nhà nước pháp quyền – đảng cầm quyền – đảng lãnh đạo – xã hội dân sự

    Trong một quốc gia có thể chế dân chủ, đặc điểm quan trọng nhất của nhà nước pháp quyền là quyền lực nhà nước là cao nhất, thể hiện qua Hiến pháp và luật pháp nhà nước là tối thượng. Vì thế, với nghĩa nhân dân là chủ đất nước, mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân: nhà nước pháp quyền không thừa nhận một quyền lực nào lãnh đạo nó, đứng trên nó, đứng ngang với nó. Mọi công dân hay thực thể pháp nhân trong xã hội đều là đối tượng chịu sự chi phối bình đẳng của nhà nước pháp quyền. Đảng phái chính trị trong một nhà nước pháp quyền là một thực thể pháp nhân trong xã hội và được nhà nước pháp quyền đối xử bình đẳng như các thực thể pháp nhân khác trong xã hội.

    Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là một phạm trù thuộc về thể chế chính trị dân chủ và chỉ tồn tại trong thể chế này. Tại một số nơi ở châu Phi, châu Á, Mỹ Latinh… có một số nước có chế độ chính trị chuyên chế, song người cầm quyền ở đấy tự cho là họ có nhà nước pháp quyền; rõ ràng đây chỉ là chuyện đùa cợt với chữ nghĩa.

    *

    Trong một quốc gia có nhà nước pháp quyền của thể chế dân chủ, các đảng phái chính trị cọ sát với nhau thông qua tranh cử và bầu cử để hội đủ những điều kiện trở thành đảng cầm quyền, với nghĩa: chiếm đa số ghế, hoặc liên minh với một hay nhiều đảng khác để có đủ đa số ghế trong quốc hội cho phép đứng ra lập nội các theo Hiến pháp và luật pháp. Đảng cầm quyền với nghĩa này chỉ tồn tại trong hệ thống chính trị có nhiều đảng.

    Như vậy, đảng cầm quyền là đảng thông qua con đường luật pháp của nhà nước pháp quyền tham gia tranh cử và bầu cử, được dân chọn vào làm việc trong hệ thống nhà nước, được dân giao cho công việc của hệ thống nhà nước, và làm các việc được hệ thống nhà nước giao cho ấy theo quy định của Hiến pháp và luật pháp nhà nước. Với tinh thần này và trong phương thức được bầu chọn và được giao việc như vậy, trên thực tế đảng cầm quyền chỉ là một công cụ của nhà nước pháp quyền. Nói thật chặt chẽ, sau khi hội đủ điều kiện trong quốc hội để trở thành đảng cầm quyền, đảng này chỉ có một quyền duy nhất đối với nhà nước pháp quyền là được đứng ra lập nội các với sự phê chuẩn của quyền lập pháp trong hệ thống nhà nước (quốc hội…).

    Đảng cầm quyền có quyền thực hiện những chủ trương chính sách mà đảng này muốn và đã cam kết có sự ràng buộc trước dân khi đảng tham gia tranh cử. Song việc thực hiện như thế cũng phải theo con đường của nhà nước pháp quyền, nghĩa là: Mọi chủ trương chính sách đảng cầm quyền muốn thực hiện đều phải kinh qua con đường của nhà nước pháp quyền, hợp thức trở thành chủ trương và luật của nhà nước pháp quyền, khi đưa ra thực hiện thì đó là chủ trương hay là luật của nhà nước pháp quyền, không còn là của đảng nữa. Chính nguyên tắc này là một đặc điểm nữa nói lên: đảng cầm quyền không có quyền lực gì đối với nhà nước pháp quyền, kể cả quyền lãnh đạo nhà nước pháp quyền.

    *

    Trong một quốc gia có thể chế dân chủ, nhà nước pháp quyền không có nghĩa vụ và đồng thời cũng không làm cái việc thừa nhận hay không thừa nhận quyền lãnh đạo của bất kỳ đảng phái chính trị nào đối với nó. Trong một quốc gia như vậy, thừa nhận hay không thừa nhận vai trò lãnh đạo của một đảng phái chính trị nào đó là việc của giữa các công dân với nhau trong xã hội dân sự. Điều này có nghĩa, đảng phái chính trị phải thông qua phấn đấu trong xã hội dân sự để tạo ảnh hưởng, để xây dựng được và để có được vai trò lãnh đạo của mình qua sự thừa nhận của dân trong xã hội.

    *

    Chịu sự cọ sát trong xã hội dân sự để xác lập được vai trò lãnh đạo của mình như thế, đấy chính là phương thức lãnh đạo của đảng phái chính trị đối với đất nước (không phải đối với nhà nước). Xây dựng xã hội dân sự phát triển là điều kiện tối quan trọng để đảng phái chính trị có môi trường trưởng thành, phát triển, tích tụ mọi điều kiện và phẩm chất để phấn đấu trở thành đảng cầm quyền.

    Xã hội dân sự là cộng đồng xã hội của các công dân có ý thức, nơi công dân trực tiếp thực thi quyền lực là chủ đất nước và quyền năng con người của mình. Với ý nghĩa này, xã hội dân sự là cội nguồn tạo nên nhà nước pháp quyền, là đối trọng không thể thiếu của nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng là quyền lực trực tiếp kiểm soát nhà nước pháp quyền, đối lập hay đối kháng với lũng đoạn. Nhà nước pháp quyền lành mạnh, nhất thiết phải có xã hội dân sự lành mạnh. Không có xã hội dân sự với đúng nghĩa, trên thực tế cũng có nghĩa là không có nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Xã hội dân sự được phát triển là một trong những yếu tố thiết yếu của tự do, dân chủ và sự phát triển thịnh vượng, văn minh trong một quốc gia.

    *

    Trong một quốc gia có thể chế dân chủ với nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, đảng lãnh đạo hay đảng cầm quyền thực hiện sự tiếm đoạt dưới bất kỳ hình thức nào quyền lực của nhà nước pháp quyền, hoặc tìm cách trở thành một bộ phận cấu thành của quyền lực của nhà nước pháp quyến, đảng ấy trở thành đảng lũng đoạn; và điều này xâm phạm hoặc tước đoạt bản chất và chức năng của nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.

    Vấn nạn đảng lũng đoạn là một sản phẩm của quá trình tha hóa trong thể chế chính trị dân chủ và nhà nước pháp quyền ở hầu hết mọi quốc gia, vì thế phải có thể chế thường xuyên khắc phục sự tha hóa này. Chế độ chính trị của các nước Liên Xô – Đông Âu cũ sụp đổ có thể được xem là ví dụ điển hình nhất về hệ quả tất yếu của đảng lũng đoạn trong hệ thống chính trị một đảng, các ví dụ mới nhất là các cuộc “cách mạng hoa nhài” ở Bắc Phi.

    *

    Chú ý: Vì tất cả những lẽ vừa trình bày, xã hội dân sự là một trong 3 trụ cột không thể thiếu của thể chế dân chủ của một quốc gia tiên tiến: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự.

    _______________________

    Ở nước ta, đảng lãnh đạo, đồng thời cũng là đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị chỉ được phép tồn tại có một đảng duy nhất, trong một nhà nước được gọi là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực tế này tự nó đặt ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được. Hệ quả tất yếu của hệ thống này là Đảng và Nhà nước trên thực tế quyện lại thống nhất làm một, trong đó Đảng là nhà nước đích thực, Nhà nước về nhiều mặt chỉ còn là công cụ thực hiện, nhiều hoạt động trong toàn bộ hệ thống nhà nước chỉ có giá trị “hình thức nhà nước”. Sự thống nhất làm một như vậy đã tạo ra những khoảng trống quyền lực và những khoảng chồng lấn lên nhau của quyền lực, đó chính là các vùng đất lý tưởng khiến cho tham nhũng tiêu cực và nhiều suy đồi khác nảy nở không có cách gì ngăn chặn được.

    Cũng vì đòi hỏi bảo vệ “sự thống nhất làm một” này, ngay trong việc thiết kế hệ thống nhà nước, Đảng cũng nhấn mạnh “quyền lực nhà nước là thống nhất” và bác bỏ nguyên tắc tam quyền phân lập.

    Quan điểm cho rằng nền tảng của nhà nước ta là liên minh công nông và trí thức, và quan điểm phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng – đấy chính là 2 quan điểm gốc được lấy làm chỗ dựa về lý luận và đạo lý cho xây dựng “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” – bình phong của cái “nhà nước đích thực” là Đảng. Hai quan điểm gốc này được mệnh danh là nguyên lý bảo đảm tính giai cấp và tính đảng trong tổ chức toàn bộ hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước – biểu hiện tập trung nhất là hiện tượng “đảng hóa”. Hai quan điểm gốc này quyết định việc thiết kế các bộ máy của toàn bộ hệ thống chính trị, việc đào tạo và tuyển chọn nhân sự cho toàn bộ các bộ máy của hệ thống chính trị, việc xây dựng nền giáo dục thích ứng – bao gồm cả hệ thống các trường Đảng, các trường đào tạo hành chính của quốc gia.

    Kết quả đạt được sau 27 năm đổi mới là: kinh tế quốc dân lớn hơn về quy mô và trình độ phát triển, hệ thống chính trị và bộ máy của nó hoàn chỉnh ở mức cao nhất từ xưa đến nay, Đảng ở đỉnh cao nhất của quyền lực kể từ ngày thành lập, song đất nước đang tiềm tàng nhiều nguy cơ lớn, hệ thống kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội của đất nước ngày càng nhiều bất cập, Đảng chưa bao giờ yếu kém và mất lòng tin của dân như hiện nay. Tất cả đã đảy đất nước lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện như trình bày trong các phần trên của bài viết này.

    Với ý thức nhìn thẳng vào sự thật, kết luận cần rút ra là: Cải cách hệ thống chính trị trở thành vấn đề sống còn, trong đó công việc đầu tiên và cái đích trước mắt là phải thiết kế lại mối quan hệ Nhà nước – Đảng hiện nay theo đúng mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và đảng cầm quyền, Đảng phải được đổi mới và tổ chức lại theo mối quan hệ này. Từ đạt được cái đích trước mắt này, từng bước xây dựng tiếp nên thể chế chính trị dân chủ làm nền tảng cho nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân với đúng nghĩa.

    Có thể sẽ có ý kiến: Nước ta còn nhiều mặt chậm phát triển, lại chỉ có chế độ chính trị một đảng, đặt vấn đề cải cách hệ thống chính trị như trên là không phù hợp và không khả thi.

    Trả lời: Mọi chuyện chỉ phụ thuộc vào câu hỏi Đảng lựa chọn ai: đất nước, hay chính mình? Đảng lựa chọn đất nước thì hoàn toàn thực thi.

    Bàn về nhiệm vụ sửa đổi Hiến pháp

    Trước hết, có thể nêu lên một số nhận xét:

    (a) Hiến pháp 1992 đã ghi được nhiều quyền cơ bản của dân, của một nhà nước pháp quyền; song một số điều khoản không rõ ràng, chồng chéo đã góp phần cản trở sự thực thi ràng buộc những quyền này, hoặc để ngỏ cho sự vận dụng tùy tiện, dẫn tới hệ quả chung cuộc là trong thực thi đã vô hiệu hóa nhiều điều khoản quan trọng, tính chất nhà nước pháp quyền nhiều mặt chỉ còn là tên gọi;

    (b) Không làm rõ được mối quan hệ giữa Nhà nước và Đảng theo đúng tiêu chí nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, tiêu chí đảng cầm quyền;

    (c) Không thiết kế được rạch ròi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có mối quan hệ ràng buộc và kiểm soát lẫn nhau giữa các quyền này. Lại trong tình hình quyền lực Đảng là tối thượng; thiếu sót này dẫn tới tình trạng hệ thống nhà nước vừa rối rắm, vừa cắt khúc và phân mảnh; khả năng vận hành yếu kém; tạo ra môi trường lý tưởng cho tham nhũng, tiêu cực.

    (d) Có một số bất cập lớn liên quan đến quyền sở hữu;

    (e) Có bất cập lớn trong vấn đề đất đai - một trong những vấn đề chiến lược sống còn của đất nước.

    Đấy là những vấn đề lớn đặt ra phải giải quyết trong tiến hành sửa đổi Hiến pháp lần này. Nguyên nhân chủ yếu và hàng đầu của hiện tượng Hiến pháp không được thực thi ràng buộc nằm ngoài Hiến pháp là vấn nạn đảng lũng đoạn.

    Hiện đang có 2 khuynh hướng chính tiếp cận khác nhau:

    Khuynh hướng 1: Cho rằng, đất nước còn nhiều vấn đề chậm phát triển, thời kỳ này còn kéo dài, hệ thống chính trị không chấp nhận đa đảng, vậy chỉ nên tập trung công sức trong điều kiện hiện nay sửa đổi những vấn đề cấp bách. Nhiều biểu hiện cho thấy công việc sửa đổi Hiến pháp đang được tiến hành theo khuynh hướng này.

    Khuynh hướng 2: Sửa đổi Hiến pháp lần này là cơ hội quan trọng để thúc đẩy cải cách hệ thống chính trị, tạo ra tiền đề cho cải cách kinh tế, mở ra cho đất nước một giai đoạn phát triển mới cao hơn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Hơn nữa Hiến pháp là bộ luật giường cột của quốc gia không thể sửa đổi thường xuyên được. Tình hình đã chín muồi đòi hỏi nước ta phải có một Hiến pháp mới thích đáng ở vào bước ngoặt hiện nay của đất nước. Vì vậy, không thể chỉ sửa đổi tạm thời cho những yêu cầu trước mắt hay ngắn hạn.

    Cần thảo luận công khai trong cả nước nên lựa chọn khuynh hướng nào. Người viết bài này khuyến nghị khuynh hướng 2.

    Có rất nhiều vấn đề sẽ phải bàn. Trong phần này của bài viết, chỉ xin tập trung bàn tiếp mối quan hệ giữa Nhà nước và Đảng.

    Có ý kiến nói “sửa đổi Điều 4 trong Hiến pháp là tự sát” (đối với Đảng). Có phải như vậy không?

    Nội dung Điều 4 có 2 vế: (vế 1) thừa nhận Đảng có vai trò lãnh đạo đối với nhà nước và xã hội; (vế 2) Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp.

    Xem xét kỹ, sẽ thấy:

    - Vế 1 mâu thuẫn với nguyên tắc quyền lực nhà nước là tối thượng; nhà nước pháp quyền không thừa nhận ai hay bất kỳ thứ quyền lực nào đứng trên hay đứng ngang nó để lãnh đạo nó hay chỉ đạo nó.

    - Vế 2 có hai vướng mắc: (a) Không làm rõ được Đảng hoạt động trong hệ thống nhà nước phải với tính cách là đảng cầm quyền theo nội dung như đã trình bày trong các phần trên của bài viết này; (b) Hiến pháp của nhà nước pháp quyền không có nghĩa vụ thừa nhận hay không thừa nhận, không có trách nhiệm cho phép hay không cho phép mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động như thế nào; Hiến pháp chỉ quy định những điều mà cả nước – các công dân hay các pháp nhân dưới mọi hình thức – kể cả các đảng phái chính trị - phải tuân thủ.

    Trong đời sống đất nước hiện nay, vai trò lãnh đạo của ĐCSVN với nghĩa là người trên thực tế (de facto) nắm tuyệt đối mọi quyền hành và vận mệnh đất nước là một hiện tượng khách quan, do các nguyên nhân lịch sử và sự tương quan hiện nay giữa các lực lượng trong xã hội nước ta tạo ra. Trước mắt, và có thể còn trong một thời gian không nói trước được bao lâu, hiện tượng khách quan này còn tồn tại. Hiển nhiên bản chất hiện tượng khách quan này và bản chất tất yếu của nhà nước pháp quyền là hai thực thể không tương thích nhau và không thể dung hòa nhau. Điều 4 của Hiến pháp nhằm tạo ra sự tương thích này, với mục đích bảo vệ và duy trì vị thế hiện có của Đảng.

    Thực tế sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 37 năm trong thời bình cho thấy sự tương thích đang cố khiên cưỡng tạo ra này là hoàn toàn không thể; dẫn tới hệ quả hiện tại: cả Đảng và Nhà nước cùng suy yếu ngày một nghiêm trọng, sản sinh ra môi trường tham nhũng tiêu cực không có cách gì kiểm soát được, kìm hãm sự phát triển đất nước, và hiện nay đang đẩy đất nước vào cuộc khủng hoảng toàn diện; hệ quả tiếp theo thật khó lường; hệ quả khốc liệt nhất đẫm máu cảnh nồi da xáo thịt cho quốc gia có thể xảy ra là đổ vỡ: Đảng có thể không còn tồn tại và chế độ chính trị hiện nay sụp đổ, tạo ra môi trường lý tưởng cho sự can thiệp ê chề từ bên ngoài trước khi dân tộc ta có thể một lần nữa đứng lên vực lại quốc gia mình. Ai muốn giơ tay tán thành một kịch bản khốc liệt như thế cho đất nước?

    Nhà nước pháp quyền là cái tất yếu mà đất nước không thể bỏ được trong một quốc gia người dân là chủ của đất nước. Song hiện tượng khách quan về Đảng nêu trên là một thực tế hiện tại không thể phủ nhận hay xóa bỏ được.

    Vậy chỉ còn một con đường độc đạo, một giải pháp duy nhất: Phải đổi mới xây dựng Đảng thành đảng cầm quyền (như đã trình bày trong box bên trên). Nói xây dựng Đảng thành đảng của dân tộc cũng bao hàm ý quan trọng này, việc xây dựng thể chế dân chủ cho quốc gia cũng đòi hỏi như vậy.

    Lợi ích quốc gia trên hết đòi hỏi giải pháp như vậy; Đảng tự ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ mục đích duy nhất của mình là phụng sự tổ quốc và lợi ích dân tộc cũng đòi hỏi phải làm như vậy. Và đây là lý do duy nhất và quyết định: Đảng phải tự giải phóng mình khỏi tư duy ý thức hệ, tự đổi mới mình trở thành đảng của dân tộc.

    Hiển nhiên, việc trở thành đảng cầm quyền như vậy sẽ gắn sự nghiệp của Đảng vào sự nghiệp của dân tộc, là phương thức bảo vệ sự tồn tại của Đảng: còn gắn được với sự nghiệp của dân tộc, Đảng còn tồn tại. Trong tương quan lực lượng xã hội hiện nay, trở thành đảng của dân tộc, Đảng vẫn giữ ưu thế tuyệt đối và mạnh nhất, cái mà Đảng sẽ mất hay phải chấp nhận mất chỉ là tình trạng tha hóa đang hàng ngày hàng giờ biến chất và cuối cùng sẽ hủy diệt Đảng.

    Vậy sửa Điều 4 như thế nào để thúc đảy quá trình Đảng phấn đấu trở thành đảng của dân tộc không phải là tự sát, mà là thách thức Đảng phải đọ sức: Sống hay là chết!

    4

    Thay lời kết: Nhìn thẳng vào sự thật

    Từ dăm năm nay có những ý kiến cảnh báo đất nước đã đi tới ngã ba đường, hoặc là…, hay sẽ là…!

    Có tình hình trên là vì:

    - Thế giới đã chuyển sang một thời kỳ mới khác hẳn trước, mọi quốc gia phải thay đổi;

    - Đất nước đứng trước những đòi hỏi và thách thức trong, ngoài nhất thiết phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, hoặc ngày càng đi sâu vào con đường sụp đổ và nô dịch.

    Thực tế cũng cho thấy suốt 37 năm qua đã có quá nhiều sai lầm và tội ác có nguồn gốc từ những hệ quả của ý thức hệ và sự bất cập của hệ thống chính trị, trong đó có nền kinh tế đang gặp nhiều bế tắc hiện nay.

    Đến nay có rất nhiều ý kiến tâm huyết với đất nước – từ hàng ngũ đảng viên, những người ngoài Đảng, từ các trí thức sống ở trong nước và nước ngoài.., góp ý thẳng thắn với lãnh đạo Đảng và Nhà nước về thực trạng đất nước hiện nay sau 37 năm độc lập thống nhất, nhấn mạnh yêu cầu bức thiết phải thay đổi.

    Trong những ý kiến ấy, có không ít ý kiến cho rằng tình hình đến mức không cứu vãn được nữa, phải làm lại từ đầu, mọi kiến nghị sửa đổi mà vẫn giữ nguyên Đảng, giữ nguyên hệ thống chính trị như hiện nay, chỉ kéo dài chặng đường đau khổ này của đất nước. Có ý kiến nói thẳng: Đảng không có khả năng tự thay đổi, con tầu đang lao xuống vực không thể kéo lại được, vì thế nên để nó lao tiếp theo quán tính, đành trả giá đắt vậy, còn hơn là cứ để đất nước kéo dài mãi tình trạng èo uột thế này!.. Vân vân… Những ý kiến của những kẻ đục nước béo cò không được bàn tới ở đây.

    Tất cả những ý kiến tâm huyết như thế có lẽ những người giữ cương vị và trách nhiệm cao nhất của Đảng và Nhà nước đều ngầm biết, dù thừa nhận hay không thừa nhận. Có nhiều lý do để suy đoán thế. Song phản ứng công khai ra bên ngoài là sự phê phán không có lý lẽ hay đạo lý gì cả đối với những ý kiến đóng góp ấy, có lúc gọi đấy là những biểu hiện của suy thoái chính trị tư tưởng, thậm chí có lúc nói là trình độ dân trí còn thấp, và thiếu văn hóa hơn thì chửi rủa đấy là ý kiến của bọn phản động; đồng thời kìm kẹp báo chí trong “lề phải”, hoặc hội hè lu bù để làm loãng dư luận; trấn áp đã xảy ra trong những năm gần đây ngày một mau hơn... Tất cả những cách tiếp cận này không cứu vãn được gì, mà chỉ làm hỏng thêm đất nước về nhiều mặt, gia tăng thêm những mối nguy mới cho đất nước – kể cả trên phương diện an ninh và quốc phòng.

    Nhìn ra bên ngoài, tướng Thein Sein – một nhân vật quan trọng trong giới tướng lĩnh Myanmar, từ khi lên làm tổng thống tháng 2-2011, đã một mình một ngựa làm nên chuyện bẻ lái con tầu quốc gia gần 50 năm dưới chế độ quân phiệt đẫm máu đi vào con đường dân chủ, cả thế giới ngỡ ngàng. Không ai biết hay nói trước được Tổng thống Thein Sein sẽ còn đi được tới đâu, toàn bộ con đường của Myanmar đi tới thể chế chính trị dân chủ còn ở phía trước. Song những gì đến nay ông đã làm, hiển nhiên là những việc hầu như không thể đã trở thành có thể.

    Theo báo chí, cuối năm ngoái tại Myanmar, ngoại trưởng Hillary Clinton và ngoại trưởng William Hague đã có các cuộc gặp riêng bà Aung San Suu Kyi – lãnh tụ hàng đầu và linh hồn của phong trào dân chủ ở Myanmar. Khi các vị khách hỏi bà Suu Kyi về đánh giá những nỗ lực của tổng thống Thein Sein, bà trả lời: Tổng thống là người có nhân cách, những gì ông đã làm là thật; một khi phong trào dân chủ tham gia chính trường, đất nước Myanmar sẽ chuyển động… Bà Suu Kyi cũng có lần nói trực tiếp với báo chí như vậy.

    So sánh giữa nước ta và Myanmar, ta có nhiều thuận lợi hơn và đã đi trước được Myamar một chặng đường dài. Không thể tránh được câu hỏi: Tổng thống Thein Sein đã làm được những việc hầu như không thể, ở nước ta Bộ Chính trị của Đảng có thể làm được không?

    Dù là ai đi nữa, nếu từng thành viên lãnh đạo Đảng và Nhà nước tự khép lại quá khứ của chính mình, không ngoái lại quá khứ của chính mình, từ đây mở ra cho chính mình và cho đất nước một trang mới trên đường đời của mình - vì chính mình và vì đất nước, từ đây cùng nhau hướng về phía trước với ý thức Tổ quốc trên hết, làm như thế chắc chắn lãnh đạo Đảng và Nhà nước sẽ làm được. Như thế, rồi toàn Đảng và cả nước sẽ làm được, bắt đầu từ mở rộng dân chủ và thực hiện công khai minh bạch. Mỗi người tự vượt lên chính mình như thế, để cùng nhau vì đất nước, đó cũng chính là con đường hòa giải dân tộc, Đảng có gánh nợ lịch sử trước dân tộc phải tiên phong bước vào.

    Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã báo động, cuộc họp Hải Phòng ngày 10-02-2012 đang đòi hỏi những hành động quyết định tiếp theo, cả nước sẵn sàng hậu thuẫn. Đây là khoảnh khắc nghiêm trọng của sự thật: Hoặc là Đảng dứt khoát đặt chân vào ngả đường mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước, hoặc là Đảng nhắm mắt dung thứ việc tiếp diễn các thao tác màu mè làm tắt lụi hy vọng còn lại trong dân và để cho thất vọng độc chiếm trận địa. Thiết nghĩ đây chính là thời điểm Đảng phải vượt lên chính mình, mở ra cho chính mình và cũng là cho đất nước một trang sử mới./.

    Võng Thị, xuân Nhâm Thìn – 02-2012

    [1] Vì tiết kiệm công gõ chữ trên bàn phím, mọi chữ “Đảng” viết hoa trong bài là cách viết tắt “Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Mọi chữ “Nhà nước” viết hoa trong toàn bài là cách viết tắt “Nhà nước CHXHCNVN”. Mọi chữ “đảng” và “nhà nước” không viết hoa trong bài chỉ là những danh từ bình thường.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Bài ông Nguyễn Trung viết thì rất công phu, thể hiện ông vẫn canh cánh lo vận mệnh đất nước và dân tộc, đó là điều tốt, hơn nhiều người chỉ biết ngậm miệng ăn tiền, nhưng đúng là quan điểm của ông thì chưa dứt điểm với đảng. Đừng hy vọng đảng sửa đổi hay chỉnh đốn. Xem trong cả quá trình mấy chục năm nay thì rõ, đảng càng chỉnh càng đốn. Đốn mạt đến nỗi không chỉnh sửa được nưã thì phải đào thải, vứt bỏ đi. Nhưng không đời nào những người trong đảng này tự nguyện rời bỏ vị trí béo bở đang vơ vét bẫm. Nghe nói Đảng thì chung chung mơ hồ, nhưng đây chỉ là một tổ chức gồm 14 ông vua tập thể nắm vận mệnh toàn dân tộc, trong đó sử dụng chân tây để thực hiện nhiệm vụ làm giầu cho bản thân bằng cách bóc lột và ăn cướp của đồng bào trong nước, bán đất và tài nguyên cho nước ngoài, vay tiền của thế giới để đời sau trả nợ. Ngoài ra chưa nói đến những tội ác trong quá khứ mà đảng này đã gây ra cho nhân dân ta bằng chính sách ngu dân, bần cùng hoá người dân, đi ngược quá trình tiến hoá, lừa dối và dùng bạo lực, đàn áp nhân dân. Đã đến lúc phải lật đổ Đảng này để nhân dân ta thoát khỏi cảnh địa ngục trần gian. Muốn nói lý luận này khác cũng phải đi đền mấu chốt cuối cùng là xoá bỏ sự thống trị của đảng này, mang danh nghĩa là đảng CS nhưng thực chất là đảng lưu manh phản động. Đấu tranh lật đổ Đảng này không phải là phản động, không phải là chống lại nhà nước mà là làm cho nhà nước thực sự trong sạch, tiến bộ, không bị khống chế và phụ thuộc vào một nhóm người bất tài vô hạnh, đục khoét, đã lộ rõ bộ mặt thóai hoá, truỵ lạc ăn cắp (tham nhũng) áp bức lừa dối, dùng cường quyền thay cho pháp luật...

    Hầu như tất cả các quan chức trong nhà nước CS đều ít thấy những người (đảng viên) có cái nhìn và thể hiện quan điểm triệt để "cách mạng" như ông Trần Xuân Bách và Hoàng Minh Chính, nghĩa là không có tàm nhìn xã trông rộng và nhìn sâu vấn đề đặt nước ta trong hoàn cảnh toàn cầu. Cũng có người nhìn thấy vấn đề nhưng còn dè dặt, không dám nói thẳngm nói thật như ông Trần Xuân Bách và ông Hoàng MInh Chính. Ông Nguyễn Trung cũng nằm trong tinh trạng chung của quan chức CS, cho nên bài củn ông Trung viết rất công phu, nhưng rất ít ý hay. Mặt khác ông viết với văn phong bác học, nhiều chỗ diễn đạt khó hiểu. Ông thấy được quá nhiều điều BẤT CẬP của chính thể nhưng ông lại ít đề xuất cách khắc phục, có nhiều chố ông lại không nói toạc móng heo cho quần chúng dễ hiểu. Xin tríh dẫn nhữgn BẤT CẬP mà ông Trung nêu ra:
    -Đảng ngày cang tha hoá và BẤT CẬP đối với nhiệm vụ này.
    -Phải nhận thức đầy đủ tình trạng BẤT CẬP toàn diện hiện nay so với nhiệm vụ và trách nhiệm.
    -Lỗi này nừm trong những BẤT CẬP và kẽ hở của hệ thông luật ơháp nưcớ ta.
    -Hệ thốgn kinh tế - chính trị -văn hoá -xã hội của đất nước ngày càng nhiều BẤT CẬP.
    -(d)Có một số lớn BẤT CẬP liên quan đến quyền sở hữu;
    -(e)Có BẤT CẬP lớn trong vấn đề đất đai.
    Chẳng biết để tránh tình trạng BẤT CẬP như đã nêu thì phải thêm, phải bổ sung những gì? chẳn hiều ông Trung có hiểu những điều ông nói hay không và ông có đọc nhữgn phản hồi hay không? Hay ông lại giốn nhữgn người CS khác chỉ biết nói và khong biét giải thích và chứng minh những điều mình nói.
    Nay xin trở lại vấn đề ông chưa "cách mạng" như ông Trần Xuân Bách là ở chỗ ông vẫn còn ít nhiều hy vọng vào việc Đảng sửa đổi hoặc chỉnh đốn, tuy ông có đặt vấn đề quan hệ giữa Đảng và nhà nước. Ông vẫn cho rằng tồn tại nhà nước pháp quyền XHCN hay sao? Khái niệm này chưa được giải thích vì hình như có sự né tránh. Nếu còn khái niệm này tức là còn tình trạng Đảng trị, từ này thì ta né tránh nhưng lại công khai thừa nhận "Đảng ta là Đảng cầm quyền". Nếu như ông nói thửng là ta cần như Hàn Quốc, tổng thốgn thì phải từ bỏ mọi đảng phái mà để quyền lợi dân tộc lê trên hết thì dễ hiểu hơn là diễn đạt: "Đảng phái chính trị trong một nhà nưcớ pháp quyền là một thực thể pháp nhân trong xã hội và được nàh nước pháp quyền đối xử bình đẳng như cá thực thể pháp nhân khác trong xã hội" hoặc "Nhà nưcớ pháp quyền của dân do dân, vì dân là một phạm trù thuôc về thể chế chính trị dân chủ tồn tại trong thể chế này." Đã là nhà nước pháp quyền thì đảng nào cũng như đảng nào, anh lập ra đảng cuả anh, tôi lập ra đảng cảu tôi, đảng cuả anh, dảng của tôi đều hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước, không thể có tình trạng đảng lãnh đạo nhà nước. Trước kia do giáo dục và tuyên truyền, người dân do dân trí thấp nên cứ tưởgn đảng là một thứ siêu nhiên như thần thánh nên cái gì cũng "nhớ ơn Đảng", nay người dân hểu đảgn chỉ do một số người gọi là đảng viên tập hợp lại mà thôi. Nay có tình trạng (trên lý thuyết) Đảng tốt đẹp, sáng suốt, nhưng đảng viên thì tha hoá mất đạo đức, hay ăn cắp (gọi là tham nhũng) áp bức, đè nén, lừa dối người dân. Đảng viên là tế baò của Đảng, đảng viên xấu thì Đảng xấu. Ông Trung lại quên lới dạy của Lê nin là "muốn thay đổi quan điểm thì phải thay đổi tổ chức". Tổ chức đây thay đỏi không chỉ là thay đổi từng con người trong tổ chức mà phải thay đổi cả tổ chức. Đảng là một tổ chức, nay Đảng quá xấu (như chính các báo cáo nhận định của các kỳ đại hội Đảng mà chính ông Trung đx trích dẫn) thì phải thay đổi cả Đảng, hay bỏ đngr này đi. Bài ông Trung viết thì công phu, dài dòng, nhưng theo tôi cái cốt lõi và ngắn gọn là phải bỏ đảng CS thì đất nước mới tiến lên được và dân ta mới bớt thống khổ, lầm than. Chống đảng ở đây không có nghĩa là chống nhà nước, chống dân tộc, không phải là phản động mà chính đảng hiên nay đng thể hiện tính phản động hại dân hại nước. Sở dĩ phải chống Đảng vì có tài thánh cũng không làm cho đảng thay đổi, không làm cho đảng từ bỏ ăn cắp (tham nhũng) Đảng chỉ là một bộ phận trong dân tộc, nay đảng biến thành nhóm người chuyên VƠ VÉT, phải hạ bệ nhóm người này thì dân tộc sẽ tiến lên bằng người.