Mai Thái Lĩnh - Sự thật về Thác Bản Giốc (Phần II)

  • Bởi Hồ Gươm
    11/02/2012
    47 phản hồi

    Mai Thái Lĩnh

    (Tiếp theo và hết)

    4. Đâu là vị trí thật sự của cột mốc số 53?

    danluan_00047.jpg

    Ảnh 16: Bản đồ Sông Quây Sơn

    Nhìn vào tấm bản đồ trích từ Bản đồ giao thông năm 2004 (ảnh 16), chúng ta thấy dòng chính của sông Quây Sơn chảy vào lãnh thổ Việt Nam tại một điểm gần cửa khẩu Pò Peo và rời lãnh thổ nước ta tại một điểm gần cửa khẩu Lý Vạn. Điều đáng chú ý là tại một điểm ở gần Thác Bản Giốc, dòng sông lại trở thành đường biên giới (có nghĩa là trung tuyến của dòng sông chính là đường biên giới). Điểm đó có liên quan đến cột mốc số 53, vì thế cột mốc này là căn cứ chủ yếu để xác định chủ quyền đối với Thác Bản Giốc. Nói cách khác, nếu cột mốc này bị dời đến một vị trí khác thì chủ quyền của Việt Nam đối với Thác Bản Giốc sẽ bị ảnh hưởng.

    Trong khi sưu tầm tài liệu về Thác Bản Giốc, tác giả Trương Nhân Tuấn đã tìm được một số chứng cứ quan trọng liên quan đến vị trí của cột mốc số 53 [13]:

    danluan_00048.jpg

    Ảnh 17: Trích biên bản Pháp–Thanh 19-6-1894

    - Trước hết là biên bản Pháp-Thanh ký ngày 19-6-1894 trong đó xác định: cột mốc số 53 có tên là Pan-Ngô (Bách-Nga Khẩu百峨口 ), được cắm “ bên lề một con đường, ở phía Tây-Nam và trên phần nối dài của một khu rừng nhỏ” (Au bord du chemin et au SO et sur le prolongement d’un petit bois). Cột mốc số 54 có tên là Lung Trang (Lũng Tằng Sơn 隴曾山) được đặt tại vị trí “giữa chân của các núi đá và ranh giới của các ruộng lúa phía trước mặt Ban Mong” (Entre le pied des rochers et la limite des cultures en face Ban-Mong).

    - Cuốn “Nhật Ký của Trung Úy Détrie về đoạn biên giới từ Lũng-Ban đến Ðèo-Lương, nhân dịp đảm nhận việc cắm mốc (28-6-1894)”, trong đó có một đoạn xác định vị trí của các cột mốc, được trích dẫn như sau: “Après la porte de Dốc-Khánh la frontière est tracée à l’intérieur du massif rocheux, laissant au Tonkin de petit cirques peu importants débouchant dans Lung-Piac, près les deux cirques difficilement accessibles de Lung-Deng et Lung-Moi que traversent les chemins conduisant à Thin-Thang par Ai-Thin-Thap (56) et Lung-Moi (55) jusqu’à l’abornement, les habitants de Lung-Deng et Lung-Moi payaient l’impôt aux Chinois. La frontière regagne ensuite le pied des rochers en face du village de Ban-Mong (54) longe le pied de ces rochers et au pied du blockhaus chinois de Pia-Mu, suit la lisière d’un petit bois et coupe le chemin de Hang-Dong-Quan (53) pour atteindre la rivière qu’elle suivra jusqu’à Ly-Ban. Le chemin qui de la borne 53 conduit à Dốc-Khánh (57) à travers de très belles rizières devra être l’objet d’une surveillance constante. (…) A partir de la belle cascade de 50m qui se trouve un peu en aval de la borne 53, le sông Qui-Xuân coule resserré entre des mamelons élevés”. (Đoạn văn này sẽ được dịch ở phần sau)

    Câu hỏi đặt ra là: cột mốc 53 nằm ở thượng lưu hay hạ lưu của thác? Theo suy luận của ông Trương Nhân Tuấn thì “cột mốc chỉ có thể ở phía hạ lưu của thác Bản Giốc”. Thế nhưng điều này lại mâu thuẫn với ý kiến của trung úy Détrie vì ông này ghi nhận thác nước “nằm cách một chút về phía hạ lưu của cột mốc 53” (qui se trouve un peu en aval de la borne 53), nghĩa là “cột mốc nằm nhích một chút về phía thượng lưu của thác nước”.

    - Về bản đồ: có một tấm bản đồ tìm được trong một thư khố ở Pháp liên quan đến vùng này (xem ảnh 18). Theo ghi chú của tác giả, đây là bản đồ có tỷ lệ 1/50.000 do Nha địa dư Đông Dương (Service géographique de l’Indochine) thực hiện. Thật ra, nếu so sánh tấm bản đồ này với các bản đồ của miền Nam Việt Nam phát hành trước năm 1975, chúng ta có thể thấy rõ đây không phải là bản đồ tỷ lệ 1/50.000.

    Để độc giả dễ phân biệt, tôi đã trích đoạn và phóng to một phần nhỏ của bản đồ và xoay bản đồ cho đúng hướng bắc-nam (ảnh 19). Chúng ta có thể nhận thấy: từ cột mốc 54 (B.54) phía tây-bắc đến cột mốc 53 (B.53, chữ viết tắt của borne 53) phía đông-nam, có một dải đất ven sông nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Điều này giải thích lý do tại sao trước đây người Việt có thể qua lại giữa hai bờ sông một cách dễ dàng. Ngoài ra, còn có một chi tiết khiến chúng ta có thể bác bỏ ý kiến của ông Lê Công Phụng cho rằng “cột mốc nằm trên một cồn giữa suối cách thác vài trăm mét”. Trên tấm bản đồ này, cột mốc 53 (B.53) hoàn toàn nằm trên bờ trái (tả ngạn của sông Quây Sơn), không liên quan gì đến một “cồn” nào đó trên sông Quây Sơn. Tấm bản đồ này cũng cho thấy có một đồn của Trung Quốc (Fort Chinois) nằm trên đỉnh núi.

    danluan_00049.jpg

    Ảnh 18: Bản đồ SGI do tác giả Trương Nhân Tuấn công bố

    danluan_00050.jpg

    Ảnh 19: Trích đoạn bản đồ SGI - khu vực Thác Bản Giốc

    Nhược điểm của tấm bản đồ này là thiếu các vòng cao độ (contour lines, courbes de niveau) cũng như các tọa độ địa lý cần thiết để xác định một cách chính xác vị trí của cột mốc. Mặt khác, nó cũng không ghi rõ vị trí của Thác Bản Giốc, cho nên rất khó xác định vị trí của cột mốc số 53.
    Thật ra, có một tấm bản đồ có thể giúp chúng ta tìm hiểu đường đi của biên giới từ cột mốc 57 cho đến cột mốc 53. Đó là tờ bản đồ địa hình (topographic map) mang tên Trung Khanh Phu, sheet 6354-4 được tìm thấy ở Thư viện của Đại học Texas ở Austin (The University of Texas at Austin).[14] Tờ bản đồ này (ảnh 20) có tỷ lệ 1/50000, do quân đội Hoa Kỳ in vào năm 1965, dựa vào thông tin thu thập được vào năm 1964.

    danluan_00051.jpg

    Ảnh 20: Trích bản đồ Trùng Khánh Phủ - sheet 6354-4 (U.S. Army Map Service)

    Làm thế nào mà quân đội Hoa Kỳ có được tờ bản đồ này? Căn cứ vào ghi chú trên tờ bản đồ, chúng ta có thế ước đoán bản đồ này được biên soạn dựa trên dữ liệu của Nha Địa dư Đông dương (Service géographique de l’Indochine) trước kia và cả trên những thông tin do chính quân đội Hoa Kỳ thu thập được.

    Ngoài ra, còn có một tờ bản đồ mang tên Trùng Khánh, số hiệu 6354-IV do Cục bản đồ thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 1980, rất giống với tờ bản đồ nói trên. Tờ bản đồ này nằm trong Bộ sưu tập Bản đồ Việt Nam (Vietnam Archive Map Collection) do Đại học Kỹ Thuật Texas (Texas Tech University) sưu tầm và công bố.[15] Tờ bản đồ này được “in lần thứ hai” (1980) dựa theo bản đồ 1/50.000 in năm 1976 đã được “chỉnh lý bổ sung thực địa vào năm 1979”. Chúng ta có thể phỏng đoán tờ bản đồ này được biên soạn dựa vào bản đồ Trung Khanh Phu, sheet 6354-4 của quân đội Hoa Kỳ, vì sau ngày 30-4-1975 quân đội miền Bắc đã tiếp quản toàn bộ kho bản đồ lưu trữ tại Nha Địa dư Quốc gia ở Đà Lạt.

    Cần lưu ý là bản đồ này được in lần thứ nhất vào năm 1976 – cùng thời điểm với việc Trung Quốc tấn công cồn Pò Thoong, có lẽ vì thế trên bản đồ có ghi dòng chữ “quốc giới chưa xác định (vẽ sơ lược)”. Để độc giả dễ theo dõi, tôi trích bản đồ Trùng Khánh 6543-IV và phóng lớn thành hai tấm: từ mốc 58 đến mốc 54 (ảnh 21) và từ mốc 54 đến mốc 53 (ảnh 22).

    danluan_00052.jpg

    Ảnh 21: Trích bản đồ Trùng Khánh 6354-IV (QĐNDVN) - từ mốc 58 đến mốc 54

    Dựa vào bản đồ, chúng ta có thể thấy rõ đường biên giới từ cột mốc 57 (M. 57) đến cột mốc 55 (M.55) đúng như Détrie mô tả: “Sau cửa Dốc-Khánh, đường biên giới được vạch trong lòng dãy núi đá, để lại cho Bắc Kỳ các thung lũng hẹp ít quan trọng mở ra phía Lung-Piac (Lũng Phiắc). (Đường biên giới) chạy gần hai thung lũng rất khó thâm nhập là Lung-Deng (Lung Den) và Lung-Moi (Lung Noi); băng ngang qua các thung lũng này là những con đường dẫn đến Thin-Thang (T’ien-teng) qua ngõ Ai-Thin-Thap (mốc 56) và Lung-Moi (Lung Noi, mốc 55) đến tận vùng cắm mốc. Người dân của Lung-Deng (Lung Den) và Lung-Moi (Lung Noi) đóng thuế cho người Trung Hoa.”[16]

    danluan_00053.jpg

    Ảnh 22: Trích bản đồ Trùng Khánh 6354-IV (QĐNDVN) - từ mốc 54 đến mốc 53

    Détrie viết tiếp: “Tiếp đó, đường biên giới trở lại chân các núi đá trước mặt làng Ban-Mong (Bản Mom, mốc 54), chạy dọc theo chân của các núi đá ấy và dưới chân của đồn Pia-Mu của Trung Hoa, chạy dọc theo bìa của một khu rừng nhỏ và cắt con đường Hang-Dong-Quan (mốc 53) để đi đến dòng sông – dòng sông mà đường biên giới chạy xuôi theo cho đến tận Ly-Ban (Lý Vạn). Con đường đi từ mốc 53 dẫn đến Dốc-Khánh (mốc 57) đi ngang qua những ruộng lúa xinh đẹp sắp đến phải được giám sát thường xuyên. (…) Từ thác nước đẹp cao 50 m - nằm nhích một chút về phía hạ lưu của cột mốc 53, sông Qui-Xuân[17] chảy thu hẹp lại giữa những ngọn đồi cao.”

    Nhìn vào bản đồ, chúng ta thấy rõ con đường đi từ mốc 53 ở phía đông-nam đến mốc 57 ở phía tây-bắc “đi ngang qua những ruộng lúa xinh đẹp”. Con đường này chạy dưới chân các dãy núi đá, men theo các thung lũng, có ý nghĩa quan trọng về mặt quốc phòng; vì thế Détrie cho rằng “sắp đến cần phải canh phòng thường xuyên”. Chúng ta cũng có thể thấy rõ đường biên giới cắt ngang “con đường Hang-Dong-Quan” (le chemin de Hang-Dong-Quan) tại cột mốc số 53. Sau khi vượt qua biên giới ở mốc 53 gần Thác Bản Giốc, con đường Hang-Dong-Quan chạy men bờ sông (tả ngạn sông Quây Sơn), trên phần đất thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Vào thời kỳ đó (cuối thế kỷ 19) và có thể mãi cho đến năm 1979 (là lúc phát hành tờ bản đồ Trùng Khánh 6354-IV của QĐNDVN), con đường đó chỉ là đường đất hoặc đường mòn.

    danluan_00054.jpg

    Ảnh 23: Dải đất dưới chân thác ở tả ngạn thuộc lãnh thổ VN

    Có thể nói hai tờ bản đồ 6354-4 mang tên Trùng Khánh Phủ và Trùng Khánh hoàn toàn ăn khớp với những gì trung úy Détrie đã mô tả trong nhật ký. Cả hai tờ bản đồ này cũng cho thấy thác nước “nằm nhích một chút về phía hạ lưu của cột mốc 53”. Điều đó có nghĩa là cột mốc “nằm nhích một chút về phía thượng lưu của thác”, nhưng không nằm sát bờ sông. Từ cột mốc 53, đường biên giới chạy theo hướng tây bắc-đông nam dựa theo đường rãnh giữa thác nước và ngọn đồi tiếp giáp, cắt một diện tích đất ở phía dưới chân thác cho phía Việt Nam trước khi nhập vào đường trung tuyến của dòng sông (xem ảnh 23).

    Như vậy, toàn bộ thác Bản Giốc đều thuộc về Việt Nam, toàn bộ dải đất chạy dài từ dưới chân thác lên đến cột mốc 53, dọc theo chân dãy núi đá cho đến tận cột mốc 54 cũng thuộc phía Việt Nam. Điều này giúp chúng ta lý giải được tại sao toán lính người Việt dưới quyền chỉ huy của một người Pháp lại có thể đi tuần tra từ bên kia sông và quay trở về bờ bên này trong mùa nước cạn. Rõ ràng toán lính này đã tuần tra trên con đường mòn ở phía tả ngạn mà Détrie đã nhắc đến, đi từ phía trên thác để xuống chân thác, lội sông trở về phía hữu ngạn của sông Quây Sơn (xem bưu ảnh số 832 của P. Dieulefils). Cũng nhờ đứng trên mảnh đất này, nhà nhiếp ảnh mới chụp được tấm ảnh về Thác Bản Giốc được đăng trong cuốn sách của nhà địa lý học Lê Bá Thảo (ấn bản năm 1977). Ngày nay, chúng ta không thể đứng trên lãnh thổ Việt Nam để chụp được một tấm ảnh tương tự, bởi vì dải đất này đã bị cắt cho phía Trung Quốc.

    danluan_00055.jpg

    Ảnh 24: Thác Bản Giốc nhìn từ phía Việt Nam. Bờ bắc (tả ngạn) là những núi cao chót vót.

    Mặt khác, đường biên giới từ mốc 54 đến mốc 53 chạy dọc theo chân của dãy núi đá vôi. Với địa thế hiểm trở như ở vùng này (xem ảnh 24), cho dù phía Trung Quốc có thể đóng đồn ở trên núi cao (trong bản đồ của Hoa Kỳ ghi chữ fort, trong bản đồ của Việt Nam in chữ đồn), quân đội của họ cũng không thể xâm nhập vào các thung lũng bên dưới. Thế nhưng, tình hình hoàn toàn sẽ đổi khác nếu phía Trung Quốc đặt được một đầu cầu xuống vùng thung lũng bên dưới. Đầu cầu đó giúp họ có thể tấn công bất cứ điểm nào ở những thung lũng dọc sông Quây Sơn, với sự yểm trợ của pháo binh đặt trên những điểm cao. Điều đó giải thích được nguyên do tại sao phía Trung Quốc từ lâu đã có âm mưu chiếm cồn Pò Thoong, một cồn có diện tích khoảng 2,6 hec-ta nằm ngay phía trên thác.

    5. Trung Quốc xâm chiếm Thác Bản Giốc như thế nào?

    Dựa theo những tin tức do Đảng cộng sản Việt Nam công bố qua nhiều thời kỳ, chúng ta có thể tóm tắt quá trình xâm chiếm Thác Bản Giốc của phía Trung Quốc như sau:

    Bước 1: Sửa bản đồ:

    “Năm 1955-56, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc in lại bản đồ nước Việt Nam tỷ lệ 1/100.000. Lợi dụng lòng tin của Việt Nam, họ đã sửa ký hiệu một số đoạn đường biên giới dịch về phía Việt Nam, biến vùng đất của Việt Nam thành đất Trung Quốc. Thí dụ: họ đã sửa ký hiệu ở khu vực thác Bản Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong.”[18]

    Đó là một đoạn được trích từ bản “bị vong lục” (hay còn gọi là giác thư, mémorandum) do Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố vào năm 1979. Điều chưa được làm rõ là Trung Quốc đã “sửa ký hiệu” như thế nào? Cho đến nay đã trải qua hơn 30 năm, tài liệu này vẫn còn nằm trong vòng bí mật.

    Việc bản đồ Việt Nam tỷ lệ 1/100.000 bị Trung Quốc sửa chữa với ý đồ không tốt chính là lý do khiến cho phía Việt Nam lâu nay không dám công bố bản đồ của mình, hầu hết các bản đồ được công bố đều là bản đồ của Trung Quốc. Hơn thế nữa, vẫn còn một câu hỏi chưa được trả lời: phía Việt Nam đã biết được hành vi “sửa bản đồ” này vào thời điểm nào và tại sao mãi đến năm 1979 mới công bố?

    Bước 2: Thực hành việc lấn chiếm:

    Năm 1976, Trung Quốc bắt đầu tiến hành kế hoạch lấn chiếm mà họ đã chuẩn bị từ giữa thập niên 1950. Theo lời tố cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam, “phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người, kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày đặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên sông và ở cồn Pò Thoong và ngang nhiên nhận cồn này là của Trung Quốc.”

    Việc Trung Quốc chiếm cồn Pò Thoong 20 năm sau khi đã “sửa bản đồ” cho thấy kế hoạch xâm chiếm Thác Bản Giốc được chuẩn bị từ trước chứ không phải là hành động ngẫu nhiên.

    Bước 3: Dời cột mốc 53:

    danluan_00056.jpg

    Ảnh 25: Đường biên giới mới với các cột mốc mới

    Để tăng cường thêm bằng chứng cho “hồ sơ pháp lý” nhằm hợp pháp hóa việc lấn chiếm, nhà cầm quyền Trung Quốc đã dời cột mốc số 53 từ vị trí như ta đã thấy trên bản đồ đến một vị trí khác xa hơn về phía thượng lưu nhằm “chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong”, đúng như kế hoạch đã hoạch định từ giữa thập niên 1950. “Cột mốc biết đi” này chính là căn cứ để “hai bên đàm phán” xác định cột mốc mới 835 như chúng ta đã thấy ở phần trên, bởi vì hai cột mốc 53 cũ và 835 mới nằm sát cạnh nhau.

    danluan_00057.jpg

    danluan_00058.jpg

    Ảnh 26: So sánh hai đường biên giới mới và cũ

    Thử so sánh bản đồ về đường biên giới mới và các cột mốc mới tại vùng này (ảnh 25) với bản đồ “Trùng Khánh 6354-IV” năm 1979 do Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 1980.[19] Mặc dù địa hình của cồn Pò Thoong và khu vực lân cận cũng như vùng đất phía tả ngạn ở hạ lưu của Thác Bản Giốc đã bị phía Trung Quốc làm biến đổi khá nhiều nhằm che giấu việc chiếm đất, chúng ta vẫn có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai đường biên giới mới và cũ. Cột mốc số 53 đã bị dời về phía tây-nam để tạo ra cột mốc mới 835 đối diện với cồn Pò Thoong. Vì thế, đường biên giới đáng lẽ chỉ trùng với trung tuyến của dòng sông ở hạ lưu thác lại đi ngang cồn Pò Thoong ở phía thượng lưu và sau đó chia cắt một nửa phần thác chính cho phía Trung Quốc.

    Hơn thế nữa, về phía tây-bắc của Thác Bản Giốc, ở gần Bản Mom, cột mốc mới 831 cũng xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam một cách hết sức rõ ràng. Việc thay đổi cột mốc này giúp cho phía Trung Quốc chiếm gọn cao điểm 787 (Yao Tan Shan) trong khi đường biên giới cũ chia đôi ngọn núi này, mỗi bên một nửa.

    Tóm lại, cột mốc 53 cũ không nằm đúng vị trí của nó, và việc dời cột mốc chỉ nhằm để hợp lý hóa cho việc chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc. Thế nhưng ông Lê Công Phụng lại hết sức nhiệt tình che đậy sự vi phạm trắng trợn này của “nước bạn” bằng cách khẳng định rằng “Cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời nhà Thanh, xác định chỉ có chưa được một nửa thác Bản Giốc là ở bên phía ta.” Để củng cố cho lập luận của mình, ông ta còn biện bạch: “Chúng ta phải căn cứ vào những thỏa thuận pháp lý Thanh - Pháp, căn cứ vào biểu đồ, căn cứ vào cột mốc hiện có mà dân địa phương nói là cột mốc đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi cả.” Không rõ “người dân địa phương” nào lại dám khẳng định cột mốc đó từ xưa đến nay chưa ai thay đổi?

    Cũng theo lời ông Lê Công Phụng: “Cuối cùng, lãnh đạo chúng ta cũng nhất trí trong tất cả các điều kiện ấy, không thể đòi hỏi thác Bản Giốc phải là của chúng ta hoàn toàn được.” Vì không có một nhân vật cấp cao nào trong Đảng đính chính lại lời phát biểu này, chúng ta có thể hiểu đây chính là quan điểm chung của các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải là ý kiến riêng của một cá nhân nào.[20]

    danluan_00059.jpg

    Ảnh 27: Khu vực Thác Bản Giốc (ảnh chụp từ vệ tinh).

    Vùng được đánh dấu là phần thác chính.

    Có một điều mà các nhà lãnh đạo Việt Nam cố tình tránh né: đó là ý nghĩa của cồn Pò Thoong và bờ bắc của sông Quây Sơn xét về mặt quốc phòng. Không cần phải là chuyên gia về quân sự, chúng ta có thể thấy rõ: với việc lấn chiếm 3 phần 4 cồn Pò Thoong và toàn bộ phần đất ở tả ngạn - từ thượng lưu cho đến hạ lưu Thác Bản Giốc, phía Trung Quốc chẳng những có được lợi thế từ trên cao mà còn có được một đầu cầu ngay phía trên thác (cồn Pò Thoong) để khi cần, có thể làm bàn đạp đưa quân từ phía hạ lưu nhằm tấn công vào bất cứ điểm nào trong vùng thung lũng dọc sông Quây Sơn (xem ảnh 28). Đó là chưa kể đến việc lấn chiếm cao điểm Yao Tan Shan (cao độ 787m) giúp cho phía Trung Quốc có được một vị trí để có thể dùng pháo binh khống chế vùng thung lũng này từ phía tây-bắc.

    danluan_00060.jpg

    Ảnh 28: Toàn cảnh Thác Bản Giốc chụp từ phía Trung Quốc

    Bước 4: Hợp pháp hóa hành vi lấn chiếm:

    Như trên đã dẫn chứng, trong thực tế quân Trung Quốc đã chiếm đóng cồn Pò Thoong kể từ năm 1976. Vì vậy việc đàm phán suy cho cùng chỉ xoay quanh vấn đề: Trung Quốc tiếp tục chiếm đóng toàn bộ cồn Pò Thoong hay trả lại chút ít cho phía Việt Nam?

    Tương tự như trường hợp ở Ải Nam Quan, nơi đây họ đã trả lại một phần: thay vì lấy tất cả cồn Pò Thoong, họ trả lại cho Việt Nam 1 phần 4; thay vì lấy “phần lớn” thác chính thì lấy một nửa thác chính. Các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo xem ra có phần khôn ngoan hơn cha ông của họ: làm ra vẻ nhún nhường, nhân nhượng để có tiếng là “ôn hòa”, nhưng vẫn thực hiện được mục đích “chiếm một phần thác Bản Giốc của Việt Nam và cồn Pò Thoong”.

    Đường biên giới mới được hoạch định theo thế có lợi cho phía Trung Quốc đã được hiện đại hóa bằng một loạt các cột mốc dày đặc, được định vị bằng các kỹ thuật hiện đại. Điều này sẽ khiến cho các thế hệ người Việt Nam trong tương lai gặp khó khăn hơn rất nhiều trong việc đòi lại các phần đất đã bị chiếm đóng – nhất là khi “ván đã đóng thuyền” bởi hiệp ước 1999.

    Cùng với Ải Nam Quan, trường hợp của Thác Bản Giốc cho thấy trong việc đàm phán về biên giới, phía Việt Nam đã nhượng bộ cho phía Trung Quốc đến mức cao nhất, phá bỏ hoàn toàn các nguyên tắc mà Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra trước đó trong bản bị vong lục năm 1979.

    Bước 5: Thác Bản Giốc biến thành Thác Đức Thiên:

    danluan_00061.jpg

    Ảnh 29: Thác nước Bản Giốc riêng của Việt Nam nay đã trở thành “Thác lớn xuyên - quốc gia Đức Thiên” (Đức Thiên khóa quốc đại bộc bố). Sự mất mát này là do ai?

    Không rõ khi vạch kế hoạch chiếm một phần Thác Bản Giốc, các nhà lãnh đạo thuộc thế hệ Mao Trạch Đông – Chu Ân Lai có nhắm đến mục tiêu kinh tế - du lịch hay không? Nhưng vào đầu thế kỷ 21, vài thập niên sau khi tiến hành đường lối cải cách do Đặng Tiểu Bình vạch ra, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiên phải nghĩ ngay đến việc kinh doanh du lịch để góp phần phát triển kinh tế cho Tỉnh Quảng Tây, một vùng đất kinh tế còn kém phát triển[21] nhưng lại là địa bàn chủ yếu của dân tộc Choang – dân tộc thiểu số đông nhất ở Trung Quốc hiện nay.[22]

    Ngay sau khi ký hiệp định 1999, phía Trung Quốc đã bắt đầu chuẩn bị cho kế hoạch đưa Thác Bản Giốc vào khai thác du lịch chứ không chờ giải quyết trọn vẹn việc cắm mốc ở vùng này. Ngay từ năm 2003, họ đã bắt đầu xây dựng các cơ sở du lịch nghỉ dưỡng như khách sạn, nhà nghỉ, thuỷ đình, nhà nổi, … bên bờ Bắc.

    Mặt khác, để cắt đứt mối quan hệ xa xưa, xóa dấu vết của cuộc xâm chiếm bẩn thỉu, nhằm tô son trát phấn cho một lịch sử mới chỉ gồm toàn những yếu tố “hữu nghị, anh em”, họ đặt cho thác nước một cái tên mới: 德天 (Detian, Đức Thiên). Ngày nay, chỉ cần lên mạng Internet, dùng một công cụ tìm kiếm nào đó như Google hay Yahoo, chúng ta có thể thấy vô số bài viết của các du khách nước ngoài về “Detian Falls” hay “Detian Waterfall” (Thác Đức Thiên), được coi là thác nước biên giới lớn thứ tư trên thế giới sau các thác nước Iguazu (Argentina-Brazil), Victoria (Zambia-Zimbabwe) và Niagara (Hoa Kỳ-Canada), và là thác nước xuyên quốc gia lớn thứ nhất ở châu Á.[23]

    danluan_00062.jpg

    Ảnh 30: Blogger Điếu Cày tại Thác Bản Giốc

    Khi đặt tên mới cho Thác Bản Giốc, vẽ lại đường biên giới mới tại vùng này, các nhà lãnh đạo của Trung Hoa cộng sản hy vọng sẽ xóa sạch các vết tích đường biên giới cũ, để vài mươi năm nữa, các thế hệ trẻ người Việt cũng như người Hoa không còn nhớ gì đến quá trình xâm lược của một cường quốc chuyên thi hành chính sách đạo tặc đối với các quốc gia lân bang – nhất là các quốc gia nhỏ bé mà ngày xưa các hoàng đế Trung Hoa vẫn thường coi là “phiên thuộc”.

    Thay lời kết:

    Mặc dù sự thật đã dần dần được bộc lộ theo thời gian, nhưng câu chuyện về Thác Bản Giốc chưa hẳn đã đến hồi kết thúc. Vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ, nhiều câu hỏi cần được giải đáp:

    1) Trước hết, về căn cứ pháp lý để chứng minh chủ quyền của nước ta đối với Thác Bản Giốc, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng có trong tay ít nhất là 4 hồ sơ: [1] Tài liệu về việc Trung Quốc “sửa bản đồ” vào năm 1955-56 để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc, [2] Tài liệu về việc xây dựng trạm thủy văn trên cồn Pò Thoong vào thập niên 1960, [3] Tài liệu về việc Trung Quốc lấn chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và [4] Hai tờ bản đồ Trùng Khánh số hiệu 6354-IV do Quân đội Nhân dân Việt Nam in vào những năm 1976 và 1980.

    Chúng ta có thể đặt câu hỏi: tại sao các nhà lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam cũng như Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng đã bỏ qua, không sử dụng những tài liệu này trong đàm phán?

    2) Việc Trung Quốc chiếm cồn Pò Thoong và Thác Bản Giốc không phải là hành động ngẫu nhiên, cũng không phải là chủ trương của một cá nhân hay một phe phái nào trong Đảng cộng sản Trung Quốc. Kế hoạch này đã được chuẩn bị ngay từ những năm 1955-56, nghĩa là vào lúc quan hệ Việt-Trung được coi là “hữu hảo”, và được thực hiện từng bước qua từng giai đoạn như đã trình bày ở phần trên. Điều này cho thấy đây là chủ trương chung của Đảng cộng sản Trung Quốc qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ lãnh đạo.

    Nhưng Thác Bản Giốc không phải là trường hợp duy nhất. Căn cứ vào bản sơ đồ in ở trang 8 cuốn bị vong lục (giác thư) năm 1979, chúng ta được biết Thác Bản Giốc và Ải Nam Quan chỉ là 2 trong số 12 trường hợp lấn chiếm điển hình. Nếu tính tất cả các vi phạm lớn nhỏ, tính từ 1949 đến 1979 phía Trung Quốc (tức Trung Hoa cộng sản) đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở 90 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt-Trung.[24] Như vậy không thể nói là quan hệ Việt-Trung chỉ xấu đi trong giai đoạn 1979-1989. Ngay từ giữa thập niên 1950, nghĩa là giữa lúc tình cảm cộng sản Việt-Trung còn nồng thắm, đã bắt đầu hình thành những mầm mống xấu, những âm mưu đen tối. Tương tự như thế, trong vấn đề lãnh hải, ngay khi công bố “hải phận 12 hải lý” vào năm 1958, Đảng cộng sản Trung Quốc đã nuôi dưỡng những mưu đồ quỷ quyệt. Ngay tại điều 4 của Bản tuyên bố, họ đã ghi rõ “Tây Sa” (tức Hoàng Sa) và “Nam Sa” (tức Trường Sa) thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Đó chính là sự chuẩn bị cho việc hải quân Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 và chiếm đảo Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) thuộc quần đảo Trường Sa vào năm 1988.

    Vấn đề đặt ra là: trước một chính sách xâm lược nhất quán như thế, tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thừa nhận quan hệ “16 chữ vàng” (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) và tinh thần “4 tốt” (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt), coi đó như những nguyên tắc căn bản chi phối toàn bộ đường lối ngoại giao giữa hai quốc gia?

    Có thể nói khi chấp nhận một chính sách đối ngoại như thế, Đảng cộng sản Việt Nam đã đặt quyền lợi của Đảng cao hơn quyền lợi của Tổ quốc, đã hy sinh quyền lợi của quốc gia – dân tộc để bảo vệ quyền lợi của chính mình.

    Thử hỏi: với tình hình thực tế đó, làm sao nhân dân có thể tiếp tục tin tưởng vào “sự lãnh đạo của Đảng” trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông – nơi mà hàng ngày hàng giờ các thế lực dân tộc chủ nghĩa của Trung Hoa cộng sản đang lăm le tiếp tục thực hiện kế hoạch xâm lược mà họ đã chuẩn bị công phu từ hơn nửa thế kỷ?

    3) Quá trình xâm lấn đường biên giới Việt-Trung đã diễn ra từ rất lâu, nhưng mãi đến ngày 15.3.1979, nghĩa là gần một tháng sau khi Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, người dân mới biết được phần nào sự thật thông qua bản “bị vong lục” do Bộ Ngoại giao công bố. Từ thời điểm đó cho đến nay, ngoài những chi tiết được công bố trong cuốn sách, nhân dân không được biết thêm điều gì khác. Không có công trình nghiên cứu mang tính độc lập nào để người dân có thể có thể so sánh, đối chiếu.

    Thật ra, có một số công trình nghiên cứu có thể giúp người dân tìm hiểu vấn đề, nhưng những công trình này thường bị xếp vào ngăn kéo, không được công bố rộng rãi. Vào năm 1996, khi cộng tác với nhà xuất bản Thuận Hóa để tái bản cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời của học giả Đào Duy Anh, Viện Sử học đã viết trong Lời dẫn như sau: “Năm 1975 tác giả có bổ sung và sửa chữa bản in lần thứ nhất, với ý định tái bản ở miền Nam. Sau khi xem lại tác giả đã bỏ chương nói về biên giới Việt Nam qua các đời vì thấy tài liệu chưa được đầy đủ. (…) Trong lần tái bản này, chúng tôi đã thực hiện theo di cảo của tác giả lưu lại sau khi qua đời.” (sđd, tr. 15). Việc lược bỏ chương về biên giới ấy là ý muốn thật của tác giả hay vì một áp lực nào khác? Đối chiếu với “sự quên lãng” được dành cho những trận chiến đẫm máu trong suốt thập niên 1980 như trận chiến tại dải đồi Núi Đất (Lão Sơn) ở Hà Giang năm 1984, cuộc xâm chiếm đảo Đá Gạc-Ma ở Trường Sa năm 1988, v.v… chúng ta có quyền hoài nghi tính chất tự nguyện của việc lược bỏ này.

    danluan_00063.jpg

    Ảnh 31: Bản đồ xã Đàm Thủy do Ủy ban Biên giới Quốc gia công bố

    Mãi cho đến ngày nay, hơn một thập niên sau ngày “Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa” được ký kết (30-12-1999), thông tin về đường biên giới Việt-Trung vẫn là cái gì rất mờ mịt. Mặc dù người dân có thể truy cập vào Internet để xem hình ảnh vệ tinh của khu vực giáp giới giữa hai quốc gia, nhưng vẫn không thể nào xác định được đường biên giới mới một cách chính xác. Ngay cả khi truy cập vào Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ hay trang mạng của Ủy ban Biên giới Quốc gia, người ta cũng chỉ có thể tìm ra một thứ “bản đồ” mù mờ và kém chính xác như tấm “sơ đồ” xã Đàm Thủy đăng kèm theo đây (ảnh 31).[25]

    Trong khi nhiều vị trí hiểm yếu ở vùng biên giới Việt-Trung đã trở thành “chợ trời biên giới” (vd: cửa khẩu Tân Thanh), trong khi hai bên đang tích cực thúc đẩy sự ra đời của các “khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới” thì bản đồ chi tiết về vùng biên giới Việt-Trung vẫn còn là “bí mật quốc gia”, thông tin về vùng này vẫn là thông tin một chiều, mù mờ và không có giá trị khoa học. Người ta có cảm tưởng các cấp có thẩm quyền vẫn tìm cách che giấu, không muốn cho người dân hiểu biết rõ ràng, cụ thể về tình hình đường biên giới mới. Việc vội vã nhổ bỏ các cột mốc cũ để đưa vào “viện bảo tàng” lại càng làm tăng thêm sự nghi ngờ đó.

    Câu hỏi đặt ra là: trong tình trạng bưng bít, che giấu thông tin như thế, giới trí thức – nhất là các nhà khoa học nhân văn, phải làm gì để có thể bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền quốc gia? Trông chờ Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam thành tâm thiện ý “nhìn thẳng vào sự thật” để thực hiện một đường lối cởi mở hơn? Tha thiết “cầu xin” nhà cầm quyền gia ân ban phát một “không gian tự do có giới hạn” để trí thức có thể góp ý hay phản biện? Hay trí thức phải noi gương cụ Phan Châu Trinh và các sĩ phu của Phong trào Duy Tân hồi đầu thế kỷ trước bằng cách tự mình vạch đường đi, nghĩa là mạnh dạn đảm nhận vai trò tiên phong trong công cuộc nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí bằng cách phá vỡ ách nô lệ tinh thần đã bao trùm đời sống tinh thần của cả nước ta từ gần nửa thế kỷ nay?

    Có một bài học mà chúng ta có thể rút ra từ lịch sử: tự do có được bằng sự gia ân chỉ có thể là một thứ tự do bị kiểm soát, chân lý có được bằng sự thỏa hiệp chỉ là chân lý nửa vời hay một nửa của sự thật. Mà trong lĩnh vực khoa học thì tự do bị khống chế hay một nửa – sự thật chỉ có thể đem lại một thứ khoa học giả hiệu, một thứ khoa học hào nhoáng nhưng phù phiếm với những huy chương và phẩm hàm tuy bề ngoài rất “hoành tráng” và hấp dẫn, nhưng không thể trường tồn qua thời gian và hoàn toàn vô nghĩa nếu xét trên bình diện lợi ích của toàn dân tộc. Bài học của học thuyết Lysenko (Lysenkoism) đã từng ngự trị trong ngành sinh học Liên Xô từ cuối thập niên 1920 cho đến tận năm 1964 trước khi bị vứt vào thùng rác của lịch sử, là một ví dụ cực kỳ sinh động của thứ khoa học thừa nhận sự lãnh đạo của một đảng chính trị trong một chế độ độc tài toàn trị.

    Đà Lạt, mùa xuân năm Nhâm Thìn, 9-2-2012

    Mai Thái Lĩnh
    ________________________________________

    Chú giải:

    [13] Trương Nhân Tuấn, “Tìm hiểu chủ quyền thác Bản Giốc”, 01-11-2011

    [14] Trung Khanh Phu (topographic) Sheet 6354-4, 1:50,000 U.S. Army Map Service 1964 (10.1MB) [GeoPDF]:
    http://www.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/trung_khanh_phu-6354-4.pdf

    [15] AMS 1:50000 Maps in Vietnam Archive Map Collection:
    http://www.vietnam.ttu.edu/resources/maps/maps1-50000.pdf

    [16] Những địa danh in nghiêng là địa danh ghi trên bản đồ.

    [17] Do không có trong tay bản sao nhật ký của Détrie cho nên đoạn văn này hoàn toàn dựa vào nguyên văn do ông Trương Nhân Tuấn công bố. Trong bản văn này, dòng sông Quây Sơn được ghi là Qui-Xuan chứ không phải là Qui-Thuan như trong cuốn sách của Thiếu tá Famin. Nếu quả thật Détrie ghi là Qui-Xuan thì tên sông này đã xuất hiện từ cuối thế kỷ 19 chứ không phải chỉ mới xuất hiện gần đây.

    [18] Vấn đề biên giới..., sđd, tr. 14.

    [19] Tấm bản đồ về đường biên giới mới đã được công bố trong bài viết của nhà văn Trần Nhương nhan đề “Bên cột mốc biên giới Bản Giốc”, Blog Trần Nhương 1-11-2011

    [20] Ông Lê Công Phụng sau khi hoàn thành sứ mạng “đàm phán” đã được bổ nhiệm làm đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ một thời gian trước khi về hưu.

    [21] Theo thống kê năm 2010, mặc dù tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Quảng Tây xếp thứ 18, nhưng nếu tính GDP trên đầu người, thì Quảng Tây đứng thứ 27 trong tổng số 31 thành phố, tỉnh và khu tự trị, chỉ đứng trên Tây Tạng, Cam Túc, Vân Nam và Quý Châu.

    [22] Người Choang (壯, âm Hán-Việt đọc là Tráng) là dân tộc thiểu số đông nhất Trung Quốc với dân số 18 triệu. Người Choang có cùng nguồn gốc với người Tày và người Nùng ở Việt Nam, tập trung đông nhất ở tỉnh Quảng Tây. Tên gọi chính thức của tỉnh Quảng Tây là Khu tự trị dân tộc Choang (Guangxi Zhuang Autonomous Region).

    [23] Trong các trang quảng cáo du lịch của Trung Quốc, chiều cao của thác nước được ghi là 60m, thậm chí 70m, trong khi những người Pháp đầu tiên viết về thác nước chỉ phỏng đoán đến mức 40-50m, và các sách địa lý của nước ta xác định con số 34m.

    [24] Vấn đề biên giới...., sđd, tr.8.

    [25] Bản đồ này là bản đồ được cung cấp bởi địa chỉ www.gis.chinhphu.vn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    47 phản hồi

    Và đây là bản tiếng Anh của Công ước 1887 (còn được gọi là Công ước Constans).
    -------------

    II. Convention between China and France respecting the Delimitation of the Frontier between China and Tonkin. Signed at Peking, June 26, 1887.
    Delimitation of the Boundary between China and Tonkin

    Whereas the Commissioners appointed by the President of the French Republic and His Majesty the Emperor of China, pursuant to Article 3 of the Treaty of June 9,1885, for the purpose of recognizing the boundary between China and Tonkin have now completed their work;
    Mr. Ernest Constans, Deputy, former Minister of the Interior and Worship,
    Commissioner of the Government, and special envoy of the French Republic, and His Highness Prince King, prince of the second rank, President of the Tsoung-li Yamen[1], assisted by His Excellency Souen-Yu Quen, member of the Tsoung-li Yamen, and First Vice President of the Ministry of Public Works;
    Acting in the name of their respective Governments,
    Have decided to record herein the following provisions for the official delimitation of the aforesaid boundary:
    1. The reports, maps, and annexes prepared and signed by the French and
    Chinese representatives have been approved.
    2. The points on which the two commissions had been unable to reach
    agreement and the amendments referred to Article 3(2) of the treaty of June 9, 1885 have been decided as follows:
    At Kouang-Tong the disputed points located east and northwest of Monkai,
    beyond the boundary determined by the delimitation commission, are awarded to China. The islands east of the Paris meridian 105°43’ east longitude, that is, of the north-south line that passes through the eastern point of the island of Tch’a Kou or Ouan-chan (Tra-co) and forms the boundary, are also awarded to China. The Gotho and other islands located west of this meridian belong to Annam.
    Chinese guilty of or charged with crimes or offenses who seek refuge in the
    islands shall, in accordance with the provisions of Article 17 of the Treaty of April 25,1886, be sought, arrested, and extradited by the French authorities.
    On the Yunnan boundary the line of demarcation run as follows:
    From Keou-teou-tchai (Cao-dao-trai) on the left bank of the Siao-tou-tcheou-ho (Tien-do-chu-ha), point M on the map of the second section, the line of demarcation runs for 50 lis (20 kilometers) directly west-east, leaving to China the localities Tsuikiang-choo or Tsui-y-cho (Tu-nghia-xa), Tsui-me-cho (Tu-mi-xa), Kiang-fei-cho or Y-feicho (Nghia-fi-xa), which are north of that line, and to Annam the locality Yeou-p’ong-cho (Hu-bang-xa), which is south of that line, up to the points marked P and Q on the attached map where the line crosses the two branches of the second right-hand tributary of the Hei-ho (Hac-ha) or the Tou-tcheou-ho (Do-chu-ha). From point Q the line proceeds southeast for about 15 lis (6 kilometers) to point R, leaving to China the territory of Nan-tan (Nam-don) north of point R. From point R the line runs northeast to point S, following the direction taken on the map by the line R-S, the course of the Nanteng-ho (Nam-dang-ha) and the territories of Man-mei (Man-mi), Meng-tong-changts’oun (Muang-dong-troung-thon), Mong-toung-chan (Muong-dong-son), Meng-toungtchoung-ts’oun (Muong-dong-troung-thon), and Meng-toung-chia-ts’ou (muong-dongha-thon) remaining as part of Annam.
    From point S (Meng-toung-chia-ts’oun or Mung-dong-ha-thon) the boundary
    follows the middle of the Ts’ing-chouei-ho (Than thuy ha) to its confluence with the Clear River at T.
    From point T the boundary follows the middle of the Clear River to point X at
    Tch’ouan’teou (Thuyen dan).
    From point X it runs north to point Y and passes through Paiche-yai (Bach-thachgiai) and Lao-ai-K’an (Lao-hai-kan), leaving the eastern half of those two localities to Annam and the western half to China.
    From point Y, the boundary runs north along the right bank of the small left-hand tributary of the Clear River, converging with the river between Pien-pao-kia (Dien-baokha) and Pei-pao (Bac-bao) and continuing thence to Kao-ma-pai (Cao-ma-bach), point Z, where it connects with the line of the third section.
    From Long-po-tchai (fifth section) the common boundary between Yunnan and Annam follows the course of the Long-po-ho to its confluence with the Ts’ing-choueiho, marked A on the map. From point A it moves in the general northeast-southwest direction to the point marked B on the map, where the Mien-chouei-ouan flows into the Sai-kiang-ho, leaving the course of the Ts’ing-chouei-ho on the Chinese side of the boundary.
    From point B the boundary runs east-west to point C where it meets the Teng-tiaotchiang below Ta-chou-tchio. Everything south of this line belongs to Annam and everything north of this line belongs to China.
    From point C the bondary moves south following the middle of the Teng-tiao-
    Tchiang River to its confluence at point D with the Tsin-tse-ho.
    The line then follows the Tsin-tse-ho for approximately 30 lis and continues in an east-west direction to point D [sic] where it meets the small stream that empties into the Black River (Hei-tciang or Hac-giang) east of the Meng-pang trough. The middle of this stream serves as the boundary from point E to point F.
    From point F the middle of the Black River serves as the west boundary.
    The local Chinese authorities and the agent appointed by the Resident General of the French Republic at Annam and Tonkin will be instructed to mark the boundaries in accordance with the maps drawn and signed by the Commission of Delimitation and with the boundary line described above.
    Attached hereto are three maps in two copies signed and sealed by both parties.
    On the maps the new boundary is drawn in red and indicated on the maps of Yunnan with the letters of the French alphabet and the Chinese cyclic characters.

    Done at Peking in two copies on June 26, 1887.
    Constans
    (Seal of the Legation of France at Peking)
    (Signature and seal of the Chinese plenipotentiary)

    (Souce: Excerpt from INTERNATIONAL BOUNDARY STUDY
    No. 38 - 29 October 1964 CHINA–VIETNAM BOUNDARY

    http://www.law.fsu.edu/library/collection/LimitsinSeas/IBS038.pdf )

    Để quý bạn tiện tham khảo, tôi xin dán vào đây toàn văn bản Hòa ước Thiên Tân bằng Anh và Pháp ngữ.
    ------------------

    Hòa ước Thiên Tân
    (Tài liệu tiếng Anh và Pháp)

    Trade and Friendship, peace treaty, concluded between France and China, June 9, 1885, in Tien-Tsin

    (From "Official Journal" 27/01/1886 )

    The President of the French Republic, on the proposal of the President of the Council, Foreign Minister, Issues: Article 1st. The Senate and the House of Commons having approved the Trade and Friendship, Peace treaty, having concluded between France and China with Tie-Tsin, June 9, 1885, and the ratifications of this Act having been exchanged in Peking 28 Novembre, 1885, says it Traité, whose content follows, will receive its peleine and whole execution: - Trade and Friendship, peace treaty, concluded between France and China, June 9, 1885, in Tien-Tsin.

    The President of the French Republic and His Majesty the Emperor of China, animated one and the other of an equal desire to put a term at the difficulties to which place their simultaneous intervention in the businesses of Annam gave, and wanting to restore and improve the old relations of alitié and trade which existed between France and China, solved to conclude a new treaty answering the interests common from the two nations by taking for base Preliminary Convention signed to Tien-Tsin on May 11, 1884, ratified by Imperial Décret on April 13, 1885. To this end, the two High contracting parties named for their Plénipotentiaries, knowledge: The President of the Republic, Mr. Jules Patenôtre, Extraordinary envoy and Ambassador plenipotentiary of France in China, Officer of the Legion of ' onnor, Grand Cross of Pole star of Sweden, &c.; And Its Majesty the Emperor of China, Li Hong-chang, Imperial Police chief, First Large Secretary of State, Large Honorary Tutor of the Heir apparent, Superintendent Commercial of the Ports of North, General Governor of the Province of Tcheh, pertaining to the first degree of the third rank of the Nobility, with the title of Souyi; Assisted of If-Tchen, Imperial Police chief, Member of the Council of the Foreign Affairs, President with the Ministry for Justice, Administrator of the Treasury to the Ministry for Finances, Director of the Schools for the Education of the Hereditary Officers of the Left wing of the Tartar Army of Peking, ordering as a head contigent it Chinese of the Yellow Banner with edge; And of Teng-Tcheng-Sieou, Commissaier Imperial, Member of the Ceremonial of State; Which, after communicatehaving communicated their full powerss, which they recognized good and had form, are agreed following Articles: -

    ARTICLE I

    France commits itself to restore and be maintaining the order in the Provinces of Annam which confine with the Chinese Empire. To this end, it will take measurements necessary to disperse or expel the bands of plunderers and people without consent which compromise the public tranquility and to prevent that they do not reform. However the Française troops will be able, in no case, to cross the borders which separate Tonkin from China, border which France promises to respect and to guarantee against any aggression. On its side, China commits itself to exempt or be expelling the bands which take refuge in its provinces bordering on Tonkin, and to disperse cellles which would seek to be formed on its territory to go to carry the disorder among the populations placed under the protection of France, and, in consideration of the guarantees which are given to him as for the safety of its border, it pareillement avoids sending troops to Tonkin. High Prtes Contractantes will fix, by a special convention, the conditions under which the extradition of the criminals between China and Annam will be carried out. The Chinese, colonists or former soldiers, who live peacefully in Annam, by delivering to agriculture, with the industry, or with the trade, and whose control will not give place to qucun reproach, will enjoy for their people and their goods the same safety as the protected French ones.

    ARTICLE II

    China, decided nothing to make which can compromise the work of pacification entreprie by France, commits itself to respect, in the present and the future, the Treaties, Conventions, and Arrangements, directly occurred or intervening between France and Annam. With regard to the relationship between China and Annam, it is understood that they will be of natureà not to attack the dignity of the Chinese Empire and to give place to no violation of this Treaty.

    ARTICLE III

    Within six month starting from the signature of this Treaty, Commissionaires indicated by the High contracting parties will go on the spot for reconnaitre the border between China and Tonkin. They will pose everywhere, where need will be, of the terminals intended to return connect the line of demarcation. If they could not agree on the site of these terminal-or corrections of detail, it could be necessary to bring to the current border of Tonkin, in the common interest of the two countries, they would refer about it to their respective Governments.

    ARTICLE IV

    When the border is recognized, French, or the protected French ones and the foreign inhabitants from Tonkin, who will want to cross it to go to China, will not be able to make it that after having provided itself beforehand with passports delivered by the Chinese authorities of the border request of the French authorities sweats. For the Chinese subjects, it will be enough to an authorization delivered by the Impériales authorities of the border. The Chinese subjects which will want to go from China in Tonkin by overland route, will have to be provided with regular passports, delivered by the French authorities on the request of the Impériales authorities.

    ARTICLE V

    The export and import trade will be parmis to the traders French or protected French and with the Chinese traders by the ground border between China and Tonkin.Il will have to be done however by certain points which will be later on given, and of which the choice, as well as the number, will be in connection with the direction as with the importance of the traffic between the two countries. It will be held account, in this respect, of the Payments in force in the interior of the Chinese Empirẹ In any event, two of these points will be indicated on the Chinese border: one with the top of Lao-Kaï, the other beyond Lang-Sound. The French tradesmen will be able to fix themselves at it under the same conditions and with the same advantages as in the open ports of the foreign tradẹ The government of Its Majesty the Emperor of China will install there Customs and the Government of the Republic will be able to maintain there the Consuls whose privileges and attributions will be identical to those of the of the same agents order in the open ports. On its side, Its Majesty the Emperor of China will be able, agreement with the French Government, to name Consuls in the principal cities of Tonkin.

    ARTICLE VI

    A special payment, annexed to the present Treaty, will specify the conditions under which will be carried out the trade by ground between Tonkin and the Chinese provinces of Yun Nan, Kouang-If, and Kouang-Tong. This payment will be worked out by Police chiefs who will be named by the High contracting parties, within three month after the signature of this Treatỵ The goods being the subject of this trade will be subjected, with the entry and the exit, between Tonkin and the provinces of Yun Nan and of Kouang-If, with rights lower than those which the current Tariff of the foreign trade stipulates. However, the reduced tariff will not be applied to the goods transported by the terrestrial border between Tonkin and Kouang-Tong and will not have an effect in the ports already opened by the Treaties. Trade of the weapons, machines, provisioning, and ammunition of war of any species will be subjected to the Laws and Règlements enacted by each State Contractants on its territorỵ The export and the importation of opium will be controls by special provisions which will appear in the above-mentioned Commercial Payment. The trade of sea between China and Annam will be also the object of a particular Payment. Temporarily, it will not be innovated of anything with the current practice.

    ARTICLE VII

    In order to develop under the conditions the most advantageous relations of trade and good vicinity that this Treaty has for abjet to restore between France and China, the government of the Republic will build roads in Tonkin and will encourage there the construction of railroads. When, on its side, China decides to build railways, it is understood that it will be addressed to French industry, and the Government of the Republic will give him all the facilities to get in France the personnel which it will need. It is also heard that this clause cannot be regarded as component an exclusive privilege in favour of France.

    ARTICLE VIII

    The commercial stipulations of this Treaty and the Payments to intervene could be revised after a decennial interval completed as from the day of the exchange of the ratifications of this Treatỵ But, if, six months before the term, neither one nor the other of the High contracting parties would have expressed the desire to proceed to the revision, the commercial stipulations would remain in force for new a ten years term and so on.

    ARTICLE IX

    As soon as this Treaty is signed, the French forces will receive the order to be withdrawn from Kelung and to cease the visit, &c., in open seạ Within one month after the signature of this Treaty, the Island of Formosa and Pescadores will be entirely evacuated by the French troops. ARTICLE X Provisions of the old Treaties, Agreements, and Conventions between France and China, not modified by this Treaty, remain in full strength. This Treaty will be ratified as of now by Its Majesty the Emperor of China, and after it will have been ratified by the President of the French Republic, the exchange of the ratifications will be done in Peking as soon as possible possiblẹ Fact with Tien-Tsin in four specimens, June 9, 1885, corresponding to the 27th day of the 4th moon of the 11th year Kouang-His.

    (L.S.) (Signed) PATENOTRE.
    (L.S.) (SIGNED) SI TCHEN.
    (L.S.) (Signed) Li Hong-Chang.
    (L.S.) (SIGNED) TENG TCHENG SIEOU.

    Art.2. The President of the Council, Foreign Minister, is charged with l"exécution of this Decree. Fact in Paris, 25 Janvier, 1886.

    (SIGNED) JULES GREVE
    By the President of the Republic: The President of the Council, Foreign Minister,
    (SIGNED) C. DE FREYCINET.

    _________

    Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine, le 9 Juin, 1885, à Tien-Tsin.

    (From "Journal Officiel" 27/01/1886)

    LE Président de la République Française, sur la proposition du Président du Conseil, Ministre des Affaires Etrangères, Décrète: Article 1er. Le Sénat et la Chambre des Députés ayant approuvé le Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine à Tie-Tsin, le 9 juin, 1885, et les ratifications de cet Acte ayant été échangées à Pékin le 28 Novembre, 1885, le dit Traité, dont la teneur suit, recevra sa peleine et entière exécution:-

    Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce, conclu entre la France et la Chine, le 9 Juin, 1885, à Tien-Tsin.

    Le Président de la République Française et Sa Majesté l'Empereur de Chine, animés l'un et l'autre d'un égal désir de mettre un terme aux difficultés auxquelles a donné lieu leur intervention simultanée dans les affaires de l'Annam, et voulant rétablir et améliorer les anciennes relations d'alitié et de commerce qui ont existé entre la France et la Chine, ont résolu de conclure un nouveau traité répondant aux intérêts communs des deux nations en prenant pour base la Convention Préliminaire signée à Tien-Tsin le 11 Mai 1884, ratifiée par Décret Impérial le 13 Avril 1885. A cet effet, les deux Hautes Parties Contractantes ont nommé pour leurs Plénipotentiaries, savoir: Le Président de la République, M. Jules Patenôtre, envoyé Extraordinaire et Ministre Plénipotentiaire de France en Chine, Officier de la Légion d''onneur, Grand-Croix de l'Etoile Polaire de Suède, &c.; Et Sa Majesté l'Empereur de Chine, Li Hong-chang, Commissaire Impérial, Premier Grand secrétaire d'Etat, Grand Précepteur Honoraire de l'Héritier Présomptif, Surintendant du Commerce des Ports du Nord, Gouverneur Général de la Province du Tcheh, appartenant au premier degré du troisième rang de la Noblesse, avec le titre de Souyi; Assistés de Si-Tchen, Commissaire Impérial, Membre du Conseil des Affaires Etrangères, Président au Ministère de la Justice, Administrateur du Trésor au Ministère des Finances, Directeur des Ecoles pour l'Education des Officiers Héréditaires de l'Aile Gauche de l'Armée Tartare de Pékin, commandant en chef le contigent Chinois de la Bannière Jaune à bordure; Et de Teng-Tcheng-Sieou, Commissaier Impérial, Membre du Cérémonial d'Etat; Lesquels, après s'être communiqué leurs pleins pouvoirs, qúils ont reconnus bonne et due forme, sont convenus des Articles suivants:-

    ARTICLE I

    La France s'engage à rétablir et à maintenir l'ordre dans les Provinces de l'Annam qui confinent à l'Empire Chinois. A cet effet, elle prendra les mesures nécessaires pour disperser ou expulser les bandes de pillards et gens sans aveu qui compromettent la tranquilité publique et pour empêcher qúelles ne se reforment. Toutefois les troupes Française ne pourront, dans aucun cas, franchir les frontières qui séparent le Tonkin de la Chine, frontière que la France promet de respecter et de garantir contre toute agression. De son côté, la Chine s'engage à dispenser ou à expulser les bandes qui se réfugient dans ses provinces limitrophes du Tonkin, et à disperser cellles qui chercheraient à se former sur son territoire pour aller porter le trouble parmi les populations placées sous la protection de la France, et, en considération des garanties qui lui sont données quant à la sécurité de sa frontière, elle s'interdit pareillement d'envoyer des troupes au Tonkin. Les Hautes Prtes Contractantes fixeront, par une convention spéciale, les conditions dans lesquelles s'effectuera l'extradition des malfaiteurs entre la Chine et l'Annam. Les Chinois, colons ou anciens soldats, qui vivent paisiblement en Annam, en se livrant à l'agriculture, à l'industrie, ou au commerce, et dont la conduite ne donnera lieu à qucun reproche, jouiront pour leurs personnes et pour leurs biens de la même sécurité que les protégés Français.

    ARTICLE II

    La Chine, décidée à ne rien faire qui puisse compromettre l'oeuvre de pacification entreprie par la France, s'engage à respecter, dans le présent et dans l'avenir, les Traités, Conventions, et Arrangements, directement intervenus ou à intervenir entre la France et l'Annam. En ce qui concerne les rapports entre la Chine et l'Annam, il est entendu qúils seront de natureà ne point porter atteinte à la dignité de l'Empire Chinois et à ne donner lieu à aucune violation du présent Traité.

    ARTICLE III

    Dans un délai de six mois à partir de la signature du présent Traité, les Commissionaires désignés par les Hautes Parties Contractantes se rendront sur les lieux pour reconnaitre la frontière entre la Chine et le Tonkin. Ils poseront partout, où besoin sera, des bornes destinées à rendre apparente la ligne de démarcation. Dans le cas où ils ne pourraient se mettre d'accord sur l'emplacement de ces bornes-ou sur les rectifications de détail, il pourrait y avoir lieu d'apporter à la frontière actuelle du Tonkin, dans l'intérêt commun des deux pays, ils en référeraient à leurs Gouvernements respectifs.

    ARTICLE IV

    Lorsque la frontière aura été reconnue, les Français, ou les protégés Français et les habitants étrangers du Tonkin, qui voudront la franchir pour se rendre en Chine, ne pourront le faire qúaprès s'être munis préalablement de passeports délivrés par les autorités Chinoises de la frontière sue demande des autorités Françaises. Pour les sujets Chinois, il suffira d'une autorisation délivrée par les autorités Impériales de la frontièrẹ Les sujets Chinois qui voudront se rendre de Chine au Tonkin par voie de terre, devront être munis de passeports réguliers, délivrés par les autorités Françaises sur la demande des autorités Impériales.

    ARTICLE V

    Le commerce d'importation et d'exportation sera parmis aux négociants Français ou protégés Français et aux négociants Chinois par la frontière de terre entre la Chine et le Tonkin.Il devra se faire toutefois par certains points qui seront déterminés ultérieurement, et dont le choix, ainsi que le nombre, seront en rapport avec la direction comme avec l'importance du trafic entre les deux pays. Il sera tenu compte, à cet égard, des Règlements en vigueur dans l'intérieur de l'Empire Chinois. En tout état de cause, deux de ces points seront désignés sur la frontière Chinoise: l'un au dessus de Lao-Kaï, l'autre au delà de Lang-Son. Les commerçants Français pourront s'y fixer dans les mêmes conditions et avec les mêmes avantages que dans les ports ouverts du commerce étranger. Le gouvernement de Sa Majesté l'Empereur de Chine y installera des Douanes et le Gouvernement de la République pourra y entretenir des Consuls dont les privilèges et les attributions seront identiques à ceux des agents de même ordre dans les ports ouverts. De son côté, Sa Majesté l'Empereur de Chine pourra, d'accord avec le Gouvernement Français, nommer des Consuls dans les principales villes du Tonkin.

    ARTICLE VI

    Un règlement spécial, annexé au présent Traité, précisera les conditions dans lesquelles s'effectuera le commerce par terre entre le Tonkin et les provinces Chinoises du Yun Nan, du Kouang-Si, et du Kouang-Tong. Ce règlement sera élaboré par des Commissaires qui seront nommés par les Hautes Parties Contractantes, dans un délai de trois mois après la signature du présent Traité. Les marchandises faisant l'objet de ce commerce seront soumises, à l'entrée et à la sortie, entre le Tonkin et les provinces du Yun Nan et du Kouang-Si, à des droits inférieurs à ceux que stipule le Tarif actuel du commerce étranger. Toutefois, le tarif réduit ne sera pas appliqué aux marchandises transportées par la frontière terrestre entre le Tonkin et le Kouang-Tong et n'aura pas d'effet dans les ports déjà ouverts par les Traités. Le commerce des armes, engins, approvisionnements, et munitions de guerre de toute espèce sera soumis aux Lois et Règlements édictés par chacun des Etats Contractants sur son territoirẹ L'exportation et l'importation de l'opium seront régies par des dispositions spéciales qui figureront dans le Règlement Commercial susmentionné. Le commerce de mer entre la Chine et l'Annam sera également l'objet d'un Règlement particulier. Provisoirement, il ne sera innové en rien à la pratique actuelle.

    ARTICLE VII

    En vue de développer dans les conditions les plus avantageuses les relations de commerce et de bon voisinage que le présent Traité a pour abjet de rétablir entre la France et la Chine, le gouvernement de la République construira des routes au Tonkin et y encouragera la construction de chemins de fer. Lorsque, de son côté, la Chine aura décidé de construire des voies ferrées, il est entendu qúelle s'adressera à l'industrie Française, et le Gouvernement de la République lui donnera toutes les facilités pour se procurer en France le personnel dont elle aura besoin. Il est entendu aussi que cette clause ne peut être considérée comme constituant un privilège exclusif en faveur de la France.

    ARTICLE VIII

    Les stipulations commerciales du présent Traité et les Règlements à intervenir pourront être révisés après un intervalle de dix ans révolus à partir du jour de l'échange des ratifications du présent Traité. Mais, au cas où, six mois avant le terme, ni l'une ni l'autre des Hautes Parties Contractantes n'aurait manifesté le désir de procéder à la révision, les stipulations commerciales resteraient en vigueur pour un nouveau terme de dix ans et ainsi de suite.

    ARTICLE IX

    Dès que le présent Traité aura été signé, les forces Françaises recevront l'ordre de se retirer de Kelung et de cesser la visite, &c., en haute mer. Dans le délai d'un mois après la signature du présent Traité, l'Ile de Formose et les Pescadores seront entièrement évacuées par les troupes Françaises.

    ARTICLE X

    Les dispositions des anciens Traités, Accords, et Conventions entre la France et la Chine, non modifiés par le présent Traité, restent en pleine vigueur.

    Le présent Traité sera ratifié dès à présent par Sa Majesté l'Empereur de Chine, et après qúil aura été ratifié par le Président de la République Française, l'échange des ratifications se fera à Pékin dans le plus bref délai possiblẹ

    Fait à Tien-Tsin en quatre exemplaires, le 9 Juin, 1885, correspondant au 27ème jour de la 4ème lune de la 11ème année Kouang-Sien.

    (L.S.) (Signé) PATENOTRE.
    (L.S.) (Signé) SI TCHEN.
    (L.S.) (Signé) LI HONG-CHANG.
    (L.S.) (Signé) TENG TCHENG SIEOU.

    Art.2. Le Président du Conseil, Ministre des Affaires Etrangères, est chargé de l"exécution du présent Décret. Fait à Paris, le 25 Janvier, 1886.

    (Signé) JULES GREVE

    Par le Président de la République: Le Président du Conseil, Ministre des Affaires Etrangères,

    (Signé) C. DE FREYCINET.

    Note: Tài liệu tiếng Anh và Pháp

    I - Biên-giới trên Biển của Việt-Nam

    Pierre-Bernard Lafont

    (Nguồn: http://www.bgvn.net/)

    [La frontière maritime du Vietnam, Pierre-Bernard Lafont, trong quyển Les Frontières du Vietnam do P.B. Lafont làm chủ-biên, nxb Harmattan, Paris 1989, trang 235-243; Les archipels Paracels et Spratley (Un conflit de frontières en Mer de Chine Méridionale), cùng tác-giả, trang 244-260. Trương Nhân Tuấn lược dịch]

    Bờ biển Việt-Nam dài khoảng 2500 cây số, trải dài từ vĩ-tuyến 8° 30’ đến vĩ-tuyến 23° 16’ Bắc. Phía Ðông-Bắc tiếp-giáp vịnh Bắc-Bộ, phía Ðông tiếp-giáp Biển-Ðông (Trung-Hoa gọi là Nam-Hải, thế-giới gọi là biển Nam Trung-Hoa) và bờ phía cực Tây-Nam thì giáp vịnh Xiêm-La.
    Chúng ta đã biết theo Lin Yi Ji, từ khoảng cuối thế-kỷ thứ 5 đã có nhiều thương-thuyền đi dọc bờ biển của nước Chàm1, Biển-Ðông vì thế đã có nhiều thuyền-bè qua lại. Nhưng nếu ta tìm trong những sử-liệu của Chàm, của những thương-buôn Trung-Hoa, của Việt-Nam hay của thương-buôn các nước Tây-Phương, từ thế-kỷ thứ 18, thì dường như đã không ghi lại một chi-tiết nào liên-quan đến khái-niệm chủ-quyền về biển ở Biển-Ðông. Người ta cũng không tìm thấy qua các bản-đồ của Ả-Rập, Bồ-Ðào-Nha hay Hòa-Lan2 hay trong những nhật-ký hải-hành, bất-kỳ một hình-thức công-bố về chủ-quyền của một nước nào về Biển Ðông, là vùng biển bao-bọc nơi đây. Nếu việc công-bố chủ-quyền vùng biển này đã có thể xãy ra thì trong các quyển nhật-ký hải-trình của các tàu-bè qua lại nơi đây đã không thể không ghi lại, đặc-biệt tại vùng cận bờ của Chàm và Việt-Nam, bởi vì cho đến cuối thế-kỷ thứ 17, tất cả tàu-bè đi từ Poulo Condor cho đến Quảng-Ðông (Canton) đều đi theo chung một hải-trình: đi dọc theo bờ biển của hai nước nầy cho đến khoảng vĩ-tuyến thứ 15, mà không bao giờ mạo-hiểm đi ra ngoài biển khơi, vì họ tin-tưởng rằng ở ngoài khơi cách bờ khoảng 200 dặm có một vùng rộng lớn có đá ngầm nguy-hiểm.
    Việc nầy cho thấy rằng từ thời-kỳ xa-xưa cho đến góc tư cuối của thế-kỷ thứ 19, giới-hạn lãnh-thổ của các xứ trong vùng tiếp-giáp vùng cực Tây của Biển-Ðông, thì có lẽ ngừng lại ở đường cận-duyên dọc theo bờ biển hay cận các hải-đảo. Nhưng, từ cuối thế-kỷ thứ 18, thì người ta thấy rằng triều-đình Việt-Nam đã phản-đối việc nhiều nhóm thuyền-bè của Trung-Hoa cặp bến ở các vùng bờ biển Việt-Nam, thí-dụ như vào năm 1832 vua Minh-Mạng đã từ-chối sự đề-nghị của chính-quyền Quảng-Ðông cho phép chiến-thuyền của Trung-Hoa vào dẹp bọn cướp biển Tàu đóng sào-huyệt trên các vùng biển Việt-Nam và vào năm 1833 nhà vua cũng ra lệnh cho một nhóm thuyền đánh cá Trung-Hoa phải rời khỏi vùng Vân-Ðồng. Một số các tác-giả vì thế cho rằng những nhà cầm-quyền thời đó đã có một khái-niệm rõ-rệt về một lãnh-hải3. Tuy-nhiên không có tài-liệu nào trong sử-sánh cho phép đặt giả-thuyết như vậy, nhưng những sử-gia trên vẫn giữ-nguyên quan-điểm về sự hiện-hữu của một khái-niệm về lãnh-hải vào cuối thế-kỷ thứ 18. Những người nầy dựa lên sự việc dân đánh cá Trung-Hoa bị phạm-tội đối với triều-đình Việt-Nam vì thuyền-bè của họ đã đi vào vùng cận bờ của Việt-Nam. Nhưng dường như, lo-ngại về sự phát-triển của vấn-đề di-dân hơn là về việc vi-phạm lãnh-hải, mà triều-đình Huế đã nảy-sinh ra khuynh-hướng chính-trị chống lại thuyền-bè của dân Trung-Hoa.
    Nhưng cho dầu thế nào thì quan-niệm hiện nay của Việt-Nam về một biên-giới trên biển thì có nguồn-gốc mới đây, vì nó chỉ bắt đầu từ thời-kỳ Pháp-thuộc, nguyên-thủy đến từ nước ngoài, bởi vì nó bắt nguồn từ tập-quán luật-lệ của Tây-Phương.
    Vừa khi đặt chân tại Việt-Nam thì người Pháp đã lo-lắng về sự phân-định biên-giới trên biển giữa thuộc-địa mới của họ với Trung-Hoa. Bởi vì trong vịnh Bắc-Việt, rải-rác có rất nhiều đảo dùng làm sào-huyệt cho bọn cướp4. Bọn nầy không những chỉ tấn-công và cướp bóc các tàu buôn ở ngoài biển khơi mà chúng còn mở ra các cuộc đánh phá trên bờ. Bởi thế, mong muốn cho thuộc-địa mới của họ tránh xa bọn cướp nầy mà sự đông-đảo của chúng đem lại từ sự hỗn-loạn thời đó đã làm khủng-hoảng nuớc Trung-Hoa, Pháp-quốc muốn xác-định nhanh-chóng giới-hạn lãnh-hải của Việt-Nam và Trung-Hoa ở vịnh Bắc-Việt. Vấn-đề nầy được nhập chung vào với công-việc thương-thảo về biên-giới giữa hai bên Pháp và Trung-Hoa, cuối cùng đuợc cụ-thể hóa vào ngày 26 tháng 6 năm 1887 qua việc ký-kết một công-ước, được biết qua tên Công-Ước Constans, mà qua điều 2 của nó, đường kinh-tuyến 105° 45’ kinh-độ Ðông so với kinh-độ Paris, có nghĩa là đường kinh-tuyến 108° 03’ 18’’ kinh-độ Ðông Geenwich, là đường biên-giới trong vịnh Bắc-Việt.
    Nhưng chỉ rất lâu sau nầy Pháp-Quốc mới áp-dụng tại Ðông-Dương khái-niệm về lãnh-hải. Thật vậy, tới năm 1926 lãnh-hải ở Ðông-Dương mới được phân-định, trước tiên là 3 hải-lý cách bờ, phù-hợp theo luật-lệ thời đó. Ðến năm 1936 lãnh-hải được tính là 10 hải-lý, bắt đầu từ đường cơ-bản cận bờ.
    Ở miền Nam, sau khi thiết-lập nền thuộc-địa tại Nam-Kỳ và nền bảo-hộ tại Cam-Bốt, nước Pháp đã rất chậm-trễ trong việc phân-định biên-giới trên biển giữa Việt-Nam và Cam-Bốt. Nắm cả hai xứ, nước Pháp đương-nhiên thấy không khẩn-cấp như là Việt-Nam hay Cam-Bốt vì hai bên cùng dành chủ-quyền một nhóm đảo nhỏ cận bờ và đảo Phú-Quốc. Những đảo nầy thì ở trong vùng nối dài của biên-giới trên bộ. Hơn nữa, phủ Toàn-Quyền thấy không có lợi để giải-quyết việc nầy, nó có thể sẽ gây bất-mãn cho quốc-vương Khmer, nước nầy dựa lên lịch-sử để dành chủ-quyền, hay gây sự phản-đối của cư-dân Việt-Nam đang sinh-sống trên đó. Sau cùng, vấn-đề hành-chánh thúc-đẩy, ngày 31 tháng 1 năm 1939, Toàn-Quyền Brévié xác-định đường phân-định chia khu-vực biển giữa hai xứ thuộc-địa Cam-Bốt và bảo-hộ Nam-Kỳ như sau: “một đường thẳng góc với đường bờ biển tạo thành một góc 140 Grade với đường vĩ-tuyến Bắc... đường phân-dịnh được xác-định như trên đi vòng qua phía Bắc đảo Phú-Quốc, cách những điểm cực Bắc của đảo nầy 3 Km”. Nhưng qua thông-tri nầy ông Brévié cũng đã thận-trọng chính-thức ghi thêm rằng đường nầy chỉ sử-dụng cho “hành-chánh và cảnh-sát” và nó không dùng để phân-định giữa xứ thuộc-địa Nam-Kỳ và xứ bảo-hộ Cam-Bốt. Những vấn-đề lãnh-thổ thuộc về xứ nào của các đảo phía trên và phía dưới đường nầy thì vẫn để nguyên-trạng. Ðiều nầy có nghĩa sâu xa là đường nầy không phải là đường phân-định lãnh-hải giữa Việt-Nam và Kam-Pu-Chia.
    Tình-trạng nầy giữ nguyên như thế cho đến khi Việt-Nam dành lại được độc-lập. Trong thời-kỳ chia đôi đất nước, nếu phe Việt-Nam Cộng-Hòa nhiều lần ra tuyên-cáo chính-thức liên-quan đến vùng biển của họ thì Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa (Bắc-Việt), chắc là tập-trung vào chiến-tranh, đã có một thái-độ im-lặng về lãnh-hải ở Biển-Ðông. Thật vậy, từ ngày cách-mạng tháng 8 năm 1945 cho đến lúc thống-nhứt đất nước, người ta không thấy một tuyên-bố nào của VNDCCH về biên-giới trên biển. Họ chỉ xác-định lãnh-hải là 12 hải-lý, tính từ bờ. Ngược lại, từ khi được thành-lập cho đến ngày sụp đổ, chính-phủ VNCH đã xác định năm 1964 lãnh-hải 12 hải-lý tính từ bờ biển (nước ròng) trên đất liền hay là bờ của các đảo do VNCH kiểm-soát hay thuộc chủ-quyền của VNCH. Sau đó năm 1965, VNCH thành-lập một thêm “vùng tiếp-cận”, lãnh-hải mở rộng hơn 12 hải-lý và trong vùng nầy VNCH cho cảnh-sát và quan-thuế tuần-tiểu. Năm 1972 VNCH tuyên-bố một vùng đánh cá độc-quyền rộng 62 hải-lý và cho tàu chiến canh-phòng để can-thiệp các tàu vi-phạm. Cuối cùng VNCH cũng xác-định thềm lục-địa của mình tương-ứng độ sâu 200 thước, phù-hợp với công-ước Genève 1958.
    Quan-hệ ngoại-giao giữa Sài-Gòn và Cam-Bốt mỗi lúc một tệ-hại, Chính-phủ VNCH cũng nhìn-nhận chủ-quyền các đảo ở phía trên đường Brévié (văn-thư ngày 9 tháng 3 năm 1960), vì thế mở rộng lãnh-hải thêm trong vịnh Thái-Lan nhờ diễn-dịch nội-dung của thông-tri 31 tháng 1 năm 1939 của ông Brévié theo ý của mình.

    Tình-trạng hiện-thời của biên-giới.

    Sau khi Hoa-Kỳ rút khỏi Nam VN thì Hà-Nội mới bắt đầu mong-muốn phân-định chính-thức với Trung-Hoa đường biên-giới trong vịnh Bắc-Việt. Ðể làm việc nầy, Hà-Nội qua một văn-thư đề-nghị với chính-quyền Bắc-Kinh vào ngày 26 tháng 12 năm 1973 để mở cuộc thương-thảo “nhằm phân-định một cách chính-thức đường biên-giới giữa Việt-Nam và Trung-Hoa trong vịnh Bắc-Việt”. Việc thương-thảo bắt đầu ngày 15 tháng 8 năm 1974, Hà-Nội đề-nghị với Trung-Hoa xác-định song-phương cửa vịnh và xác-định vĩnh-viễn vùng biển thuộc về mỗi nước và việc nầy dựa trên Công-Ước Pháp-Thanh 1887. Bắc-Kinh bác-bỏ đề-nghị nầy và tuyên-bố rằng công-ước được nhắc tên đã không xác-định biên-giới trong vịnh Bắc-Việt mà nó chỉ phân-chia các đảo ở trong vịnh. Trung-Cộng đề-nghị hai bên bắt đầu thương-thảo về việc phân-chia vịnh và Hà-Nội trả lời sẵn-sàng ghi-nhận những ý-kiến của Trung-Cộng.

    II - Quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa
    (Cuộc tranh-chấp biên-giới ở Biển-Ðông)

    Nguyên-thủy chữ Paracels là đến từ chữ parcels (récifs), có nghĩa là đá ngầm, ghi lầm trên bản-đồ Bồ-Ðào-Nha (Portugal). Quần-đảo Paracels (Hoàng-Sa) và Spratley (tức Trường-Sa) tọa-lạc ở Biển Ðông.
    Quần-đảo Paracels, ngày xưa gọi theo tiếng Việt-Nam là Cát-Vàng hay Tây-Sa, hôm nay gọi là Hoàng-Sa, hiện-thời ghi trên bản-đồ Trung-Hoa dưới tên Xisha. Quần-đảo nầy gồm có 15 đảo cũng như một số dãi cát và đá ngầm. Nó kéo dài từ 15° 45’ đến 17° 05’ vĩ-tuyến Bắc và 111° đến 113° kinh-tuyến Ðông. Tại điểm gần nhất thì cách 170 dặm Ðà-Nẵng và đảo Hải-Nam. Quần-đảo Spratley, ngày xưa được gọi theo Việt-Nam là Nam-Sa và hiện nay là Trường-Sa, gọi theo Trung-Hoa là Nansha. Gồm có khoảng 100 đảo lớn nhỏ rải-rác trong một vùng kéo dài từ 6° 50’ đến 12° vĩ-tuyến Bắc và từ 111° 30’ đến 117° 20’ kinh-tuyến Ðông, chiếm một diện-tích khoảng 160.000 cây-số vuông và trung-tâm của nó thì ở giữa khoảng-cách hai bờ biển Việt-Nam và Phi-Luật-Tân.
    Nhiều quốc-gia trong vùng Biển Ðông tranh-chấp hiện nay chủ-quyền trên hai quần-đảo nầy. Quần-đảo Hoàng-Sa thì hoàn-toàn ở trong tay nước Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa. Nước nầy dùng vũ-lực tấn-công quân-đội Việt-Nam Cộng-Hòa trấn giữ nơi đây để chiếm Hoàng-Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974. Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam lên tiếng nhìn-nhận chủ-quyền và đòi hỏi phải trả lại toàn-bộ. Ðài-Loan cũng lên-tiếng đòi chủ-quyền. Quần-đảo Trường-Sa, các nước Việt-Nam, Phi-Luật-Tân, Ðài-Loan và Mã-Lai chiếm-đóng một hay nhiều đảo, Việt-Nam dành chủ-quyền trên toàn-bộ các đảo tại đây, cũng như Trung-Cộng và Ðài-Loan. Phi-Luật-Tân thì đòi hỏi tất-cả các đảo, trừ một. Mã-Lai thì chỉ đòi hỏi các đảo ở phía Nam.
    Tình-trạng vì thế rất phức-tạp. Người ta có thể đặt câu hỏi vì sao có tới bấy nhiêu các nước lại quan-tâm đến những đảo san-hô không có người sinh-sống, đất-đai thì không thích-hợp cho việc trồng-trọt, nước-nôi thiếu-thốn, còn chịu-đựng những điều-kiện thời-tiết khắc-nghiệt (thống-kê từ năm 1911 dến 1965 cho thấy rằng trung-bình có tới 9,6 cơn bão hàng năm trong vùng Biển Ðông) và xây-dựng một cách tốn-kém những công-sự quân-độ tại các đảo mà họ đã chiếm. Chắc-chắn việc nầy không nhằm để bảo-vệ những ngư-phủ lui tới đánh cá trong vùng nầy từ thời rất xa-xưa, hay là vì những mỏ phosphates 1- ước-lượng khoảng 10 triệu tấn – có ở trên một vài đảo. Trọng-tâm vấn-đề chắc-chắn phải có tầm quan-trọng khác.
    Trước hết, tầm quan-trọng các đảo nầy là tự-tại. Thật vậy, các đảo không người sinh-sống nầy 2 được các nước trong vùng quan-tâm vì lý-do vị-trí của nó, bởi vì sẽ dễ-dàng từ Hoàng-Sa kiểm-soát việc thông-thương hàng-hải vùng phía Bắc của Biển-Ðông, và từ Trường-Sa những hải-trình nối Thái-Bình Dương hay Ðông-Á với Ấn-Ðộ Dương. Việc nầy giải-thích tại sao nước Pháp – lúc đó ở Ðông-Dương – đã chiếm đóng hai quần-đảo nầy từ thập-niên 30 và vì sao mà quân-đội Nhật đã chiếm đóng trong khoảng thời-gian Ðệ-Nhị Thế-Chiến. Khi cuộc-chiến nầy kết-thúc, sự phát-triển vượt bực của ngành hàng-không cũng như những tiến-bộ về các kỹ-thuật quốc-phòng đã làm cho tầm quan-trọng về chiến-lược của hai quần-đảo nầy tăng hơn. Bởi vì nước nào kiểm-soát hai quần-đảo nầy không những kiểm-soát Biển Ðông mà còn sử-dụng chúng như những căn-cứ không-quân chống lại các nước chung-quanh.
    Sau gần ba thập-niên, sự phát-triển nhanh-chóng luật-lệ về biển và những khám-phá các túi dầu khí có thể khai-thác được dưới thềm lục-địa của các đảo nầy đã làm cho vùng nầy có thêm một tầm quan-trọng mới. Không những tranh-chấp chỉ vì các đảo, mà vì các đảo nầy còn là phương-tiện để có thể đòi hỏi sở-hữu vùng biển bao quanh đảo. Thật vậy, luật mới về biển cho phép các quốc-gia có chủ-quyền tại các hải-đảo hay quần-đảo có được quyền sở-hữu về những nguồn tài-nguyên thiên-nhiên ở dưới nước (cá), dưới đáy biển (nodules) hay dưới thềm đáy biển (dầu hỏa, khí đốt) thuộc các đảo nầy cho tới 200 dặm tính từ bờ. Vì vậy các quốc-gia chung-quanh Biển Ðông khẳng-định chủ-quyền của mình ở các đảo nầy, họ dựa lên lịch-sử, luật quốc-tế hay dựa lên công-ước liên-quan luật về biển 1982 để công-bố lập-trường; nhiều bản-đồ của các quốc-gia được in ra, vẽ lại đường biên-giới bao gồm luôn những vùng biển vào trong lãnh-thổ quốc-gia 4.
    Sự quan-trọng về chính-trị, chiến-lược và kinh-tế của hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa lớn đến nỗi không có một sự nhìn-nhận chủ-quyền mà không gây những phản-đối dữ-dội. Cũng vậy, những vấn-đề liên-quan tại đây thì được đưa vào trong một tranh-chấp tổng-quát về biên-giới, việc nầy đã làm xấu đi những liên-hệ ngoại-giao trong vùng nầy. Tranh-chấp gay-gắt nhất là tranh-chấp giữa Trung-Cộng và Việt-Nam, hai bên cùng dành chủ-quyền trên toàn-bộ hai quần-đảo và đưa ra những chứng-cớ lịch-sử cũng như luật-pháp.
    Vấn-đề Hoàng-Sa và Trường-Sa đặt ra không giống nhau. Sẽ hợp lý nếu nghiên-cứu hai vấn-đề này riêng rẽ với nhau.

    ****

    Hoàng-Sa

    Hoàng-Sa là vấn-đề tranh-chấp giữa Trung-Cộng và Việt-Nam. Sẽ hữu-ích khi nhắc lại một vài chi-tiết trong hồ-sơ mà hai phía đưa ra để dành lẽ phải về mình.
    Trung-Hoa dựa trên sự việc “khám-phá”, droit de la découverte, để cho rằng Hoàng-Sa thuộc chủ-quyền của mình. Nếu sử-sách của Trung-Hoa có những dòng chữ lâu đời nhất để mô-tả, dưới nhiều tên khác nhau 5, quần-đảo Hoàng-Sa - bộ Fu Nam Zhuan viết vào thế-kỷ thứ 3 mô-tả đó là “những hòn đảo san-hô, trên những nền đá bằng phẳng”; bộ Nan Zhou Yi Wu Zhi, cũng viết vào thế-kỷ thứ 3, xác-định vị trí những đảo nầy trên hải-trình nối miền Hoa-Nam cho đến bán-đảo Mã-Lai, trong một vùng “nước không sâu” – thì người ta cũng biết là những đảo đó cũng đã được ngư-nhân Tàu cũng như Việt-Nam lui tới từ thời-kỳ xa-xưa nhất, như đã được ghi lại trong Phủ-Biên Tạp-Lục, viết vào thế-kỷ thứ 18, khai-mào cho việc đối-thoại về vấn-đề biển cả.
    Cho đến thế-kỷ thứ 18, ngược lại với những gì mà hai bên đã trình-bày, không có gì cho phép để nói rằng quần-đảo thuộc về Trung-Hoa hay về Việt-Nam. Bởi vì không phải là những cuộc thám-hiểm chính-thức của người Tàu như vào thế-kỷ thứ 13 với ông Shi-Bi hay vào thế-kỷ 15 với thủy-sư đô-đốc Zheng-He - việc nầy đã được ghi lại tỉ-mỉ trong Hai Gou Wen Jian Lu – đã đi ngang qua vùng biển, hay đi gần, đến quần đảo Hoàng-Sa; hoặc là tại vì nhà Nguyễn đã gởi chính-thức hàng năm vào cuối mùa đông một đội thuyền chèo để thu-nhặt ở đó những phẩm-vật của các tàu bị chìm như đã ghi trong Toàn-Tập Thiên-Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư - tiền bán thế-kỷ thứ 18 – hay trong Phủ-biên Tạp-Lục, mà người ta có thể kết-luận quần-đảo nầy đã thuộc về nước nầy hay nước kia.
    Ghi chú đầu tiên chỉ-định chủ-quyền của Hoàng-Sa thì tìm thấy trong một bản pháp-ngữ (Lettres édifiantes et curieuses, Vol. III), là một nhà truyền-giáo đi ngang vùng biển nầy vào năm 1701, trên chiếc thuyền mang tên “Amphitrite”, ghi lại vỏn-vẹn: “Le paracels est un archipel qui dépend de l’empire d’Annam” mà không ghi chú thêm chi-tiết hay nguồn tin nầy xuất-phát từ đâu. Riêng về những sử-liệu có thể được xem là một sự nhìn-nhận chủ-quyền, phía Trung-Hoa được ghi lại trong Quangdong Tong Zhi, đệ trình lên vua năm 1731, trong Wanzhou Zhi và Qiong-zhoufou Zhi, viết: “Wanzhou (một huyện thuộc Hải-Nam) bao gồm Qianlichangsa và Wanlishitang (có thể là tên cũ của hai quần-đảo)”. Về phía Việt-Nam, năm 1833, Ðại-Nam Thực Lục Chính Biên (đệ nhị kỷ, quyến thứ 104), ghi lại một biến-cố có thể xem như là một hành-động nhìn-nhận chủ-quyền tại quần đảo Hoàng-Sa. Ðó là vào thời-điểm nầy, vua Minh-Mạng ra lệnh dựng một đền thờ thần đảo trên đảo Bạch-Sa, dựng một bia đá và đóng cừ vùng đất nầy. Việc nầy chỉ được hoàn-thành vào năm 1835 6. Vào năm sau, cũng do sách nầy ghi, vua Minh-Mạng ra lệnh cho viên chỉ-huy lực-lượng thủy-quân lấy trắc-đồ Hoàng-Sa đồng-thời cắm trên 10 đảo của quần-đảo nầy 10 mốc giới bằng gỗ, ghi trên đó như sau “vào năm Bính-Thân, tức năm Minh-Mạng thứ 17, Thủy-Sư Ðô-Ðốc Phạm Hữu Nhật nhận chiếu-chỉ lãnh sứ-mạng đi Hoàng-Sa để vẽ bản-đồ, đến đây cắm mốc nầy để ghi dấu muôn đời”. Từ lúc đó, mỗi năm lại có gởi đoàn công-tác ra Hoàng-Sa, quần-đảo nầy vì vậy chính-thức chiếm đóng và kiểm-soát bởi Việt-Nam, như Gutzlaff ghi: “We should not mention here the Paracels (Katvang)... if the king of Cochichina did not claim these as his property... The Annam government, perceiving the advantage wich it might derive if a toll was raised, kept revenue cutters and a small garrison on the spot to collect the duty on all visitors, and to ensure protection to its own fishermen7”. Việc đáng nói là trong cả thế-kỷ thứ 19, việc sát-nhập nầy không hề gây một sự chống-đối nào từ Trung-Hoa.
    Lúc mới đặt chân lên Ðông-Dương thì người Pháp không mấy quan-tâm đến Hoàng-Sa, mặc dầu đã có lúc Trung-Hoa tuyên-bố chính-thức là quần-đảo nầy không thuộc về mình, vào các năm 1895 và 1896, 8 các năm này có hai thuyền lớn bị đắm ở đây. Nhưng vào tháng 6 năm 1909, nhân cơ-hội người Pháp lơ-là tại đây, Tổng-Ðốc Canton gởi một đội ghe thuyền đến cắm cờ Trung-Hoa trên đảo nầy và ngày 20 tháng 3 năm 1921 ra sắc-lệnh số 831, ban chỉ-đạo quân-đội Hoa-Nam sát nhập quần-đảo nầy vào Hải-Nam. Pháp không lên tiếng gì về vấn-đề nầy, bởi vì theo công-ước 1896, Trung-Hoa đã từ bỏ quyền thượng-quốc tại An-Nam mà quần-đảo nầy tùy-thuộc vào An-Nam. Ngược lại, vào năm 1931, lúc Trung-Hoa khai-thác các mỏ Phosphates tại đây thì Paris đã hai lần phản-đối, dựa trên những lý-do đảo nầy thuộc Việt-Nam, là xứ bảo-hộ của Pháp. Trung-Hoa bác-bỏ phản-đối của Pháp vào ngày 29 tháng 9 năm 1932, trả lời rằng nước Việt-Nam là chư-hầu của họ lúc vua Gia-Long sát-nhập quần-đảo nầy vào Việt-Nam, lý-lẽ nầy đứng trên quan-điểm luật-học thì không có một giá-trị nào. Nước Pháp vì thế sát-nhập hành-chánh quần-đảo nầy vào tỉnh Thừa-Thiên. Pháp cũng đề-nghị với Trung-Hoa một trọng-tài giải-quyết việc bất-đồng vào ngày 18 tháng 1 năm 1937, nhưng không được Trung-Hoa trả lời. Pháp đổ quân chiếm đóng quần-đảo mà tại đây Trung-Hoa nhắc lại chủ-quyền của họ ở các đảo đó.
    Trong khoảng thời-gian Ðệ-Nhị Thế-Chiến quân-đội Nhật chiếm đóng Hoàng-Sa. Sau khi đầu-hàng, theo các điều-khoản trong các thỏa-ước, Trung-Hoa có bổn-phận giải-giới quân-đội Nhật tại quần-đảo nầy mà tại đó Pháp đã chiếm-đóng tạm-thời vào tháng 5 năm 1946. Sau đó, thấy Pháp không còn lên tiếng về các đảo nầy phe Trung-Hoa Quốc-Gia (Tưởng Giới Thạch) đổ quân lên đảo Boisée (Phú-Lâm) ngày 7 tháng 1 năm 1947. Trước hành-động nầy chính-phủ Pháp lên tiếng phản-đối - tích-cực hơn Tuyên-Ngôn tại Caire ngày 27 tháng 11 năm 1943. Hội-nghị tại Caire được hội-đàm San Francisco năm 1951 tiếp-nối mà kết-quả hội-đàm nầy không hề ghi Hoàng-Sa và Trường-Sa là những vùng đất bị quân-đội Mikado chiếm đóng phải trả lại cho Trung-Hoa. Tuy-nhiên, vì không thành-công trong việc buộc Trung-Hoa phải rời khỏi nơi đây, Pháp mới gởi một đạo-quân hỗn-hợp Việt-Pháp lên đóng tại đảo Hoàng-Sa (Pattle), việc nầy gây sự phản-đối mãnh-liệt ở chính-phủ Tưởng Giới Thạch (tiếp-tục từ-chối một sự trọng-tài giải-quyết do Pháp đề-nghị), cho đến lúc chính-phủ nầy sụp-đổ, dẫn đến việc thay-thế tại đây bằng quân-đội Trung-Cộng vào tháng 4 năm 1950, và họ vẫn chiếm-đóng liên-tục ở đó.
    Năm 1954, lúc rút khỏi Việt-Nam, quân-đội Pháp rời đảo Hoàng-Sa (Pattle) và được quân-đội Việt-Nam Cộng-Hòa thay-thế tức-khắc sau đó.
    Từ lúc đó, Trung-Cộng và VNCH cùng dành chủ-quyền trên toàn quần-đảo, trở thành hai địch-thủ đối-đầu.
    VNCH mở rộng sự kiểm-soát của mình trên những đảo khác thuộc nhóm Nguyệt-Thiềm (Croissant), mà tại đây ngư-dân Tàu tiếp-tục tới đánh cá, đã gây ra nhiều căng-thẳng. Song-song với những hoạt-động kiểm-soát, chính-quyền VNCH tổ-chức phân-bổ hành-chánh Hoàng-Sa, làm như họ kiểm-soát hoàn-toàn vùng nầy. Sau đó, đặc-biệt là vào ngày 15 tháng 7 năm 1971, xác-định chủ-quyền của mình tại Hoàng-Sa, nhắc lại những lý-do như đảo nầy đã từng do “Công-Ty Hoàng-Sa” khai-thác từ năm 1702, quần-đảo nầy có trên bản-đồ VN từ 1834 do triều-đình Huế 9 thực-hiện, và Việt-Nam “thỏa-mãn tất-cả những điều-kiện đặt ra do công-ước 1885, liên-quan đến vấn-đề chủ-quyền về lãnh-thổ”, có nghĩa là có một sự chiếm-đóng thực-sự và có những tài-liệu chính-thức.
    Sau khi Hoa-Kỳ rút quân, trong lúc cuộc tấn-công của quân miền Bắc vào miền Nam vẫn liên-tục thì Trung-Cộng mở cuộc tấn-công vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 lên các đảo do quân-đội VNCH kiểm-soát, việc nầy đã gây một sự chống-đối liên-tục và vô cùng dữ-dội ở bộ Ngoại-Giao VNCH, cho đến khi VNCH sụp-đổ.
    Như vậy, khi mà CSVN chiếm được miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trung-Cộng đã chiếm hoàn-toàn Hoàng-Sa.
    Nhưng dường như cho đến thời điểm trên, mặc dầu bận-rộn trong công-việc “giải-phóng” miền Nam, phe CSVN không hề quan-tâm đến những phần lãnh-thổ ở ngoài biển, thậm-chí, nếu chúng ta dựa trên những lý-lẽ của Trung-Cộng, thì CSVN đã ba lần công-nhận chủ-quyền của Trung-Cộng tại đó.
    CSVN đầu tiên đã công-nhận vào năm 1956, dựa trên một tài-liệu do Bắc-Kinh công-bố ngày 30 tháng 1 năm 1980, mà bản dịch tiếng Pháp được thấy trên Bản Tin Bắc-Kinh - Beijing Information (N° 7, 1980, trang 22) ghi lại như sau:
    “Ngày 15 tháng 6 năm 1956, thứ-trưởng bộ Ngoại-Giao Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa là Ung Văn Khiêm, tiếp-kiến Ðại-Sứ lâm-thời của Trung-Hoa tại Việt-Nam là Li Shimin, chính-thức tuyên-bố như sau: “theo những tài-liệu mà Việt-Nam hiện có, những quần-đảo Tây-Sa (Xisha) và Nam-Sa (Nansha), trên quan-điểm sử-học, thì thuộc về Trung-Hoa”. Ông Lê-Lộc, chủ-tịch lâm-thời Châu-Á Sự-Vụ, cũng có mặt... đã nói rằng: “trên quan-điểm lịch-sử, các quần-đảo Xisha và Nansha đã thuộc về Trung-Hoa từ thời nhà Tống”10.
    Cũng theo Trung-Cộng, CSVN đã công-nhận lần thứ hai vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 tiếp theo sự việc công-bố của Bắc-Kinh vào ngày 4 tháng 9 năm 1958. Lời công-bố nầy được dịch ra tiếng Việt trên trang nhất tờ Nhân-Dân ngày 6 tháng 9 năm 1958. Người ta đọc và thấy rằng Trung-Cộng quyết-định mở vùng biển nội-địa của họ lên 12 dặm và việc mở rộng nầy áp-dụng cho toàn-bộ lãnh-thổ của Trung-Cộng, bao gồm luôn các “đảo Bành-Hồ, Ðông-Sa, Tây-Sa (tên cũ Việt-Nam để chỉ Hoàng-Sa), Trung-Sa, Nam-Sa (tên cũ của VN chỉ Trường-Sa) cũng như tất-cả những đảo khác thuộc Trung-Hoa...”. Từ việc tuyên-bố nầy, thủ-tướng CSVN trả lời vào ngày 14 tháng 9 năm 1958: “Chúng tôi trân-trọng thông-báo đến quí-vị rằng: Chính-Phủ nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa ghi-nhận và công-nhận tuyên-bố vào ngày 4 tháng 9 năm 1958 của nước Cộng-Hòa Nhân-Dân Trung-Hoa liên-quan đến lãnh-hải của Trung-Hoa. Chính-Phủ nước VNDCCH tôn-trọng quyết-định nầy và sẽ ra lệnh cho các cơ-quan liên-hệ phải triệt-đễ tôn-trọng vùng biển nội-địa của Trung-Hoa được xác-định là 12 hải-lý trong mọi tương-quan trên biển với Trung-Hoa. Thưa Ðồng-Chí Thủ-Tướng, xin nhận nơi đây lời chào trân-trọng của tôi.”11
    Cũng theo Trung-Cộng, CSVN đã công-nhận lần thứ 3, lúc cho đăng trên trang nhất tờ Nhân-Dân, bài tuyên-bố bằng tiếng Việt như sau: “Chính-phủ của chúng ta tuyên-bố rằng: Chủ-quyền của nước Việt-Nam thuộc về dân-tộc Việt-Nam. Chính-phủ Hoa-Kỳ không được quyền đem quân vào chiến-đấu ở bất-kỳ một nơi nào thuộc lãnh-thổ Việt-Nam, kể cả vùng biển kế-cận nước Việt-Nam”, bài báo nầy bắt đầu như sau: “Ngày 24 tháng 4 năm 1965, Tổng-Thống Hoa-Kỳ ông Johnson đã quyết-định rằng toàn-bộ lãnh-thổ Việt-Nam và vùng biển của nước nầy tính từ bờ ra 100 hải-lý, cũng như một phần lãnh-hải của Trung-Cộng trong quần-đảo Hoàng-Sa, sẽ quân-lực hoa-Kỳ xem như là “vùng chiến-đấu” - “zone de combat”.”
    Mặc dầu cơ-quan ngôn-luận chính-thức của đảng CSVN chỉ đăng lại trong tờ ra ngày 6, tháng 9 năm 1958, lời tuyên-bố của Bắc-Kinh, và trong tờ số ra ngày 10 tháng 5 năm 1965 chỉ nhắc lại quyết-định của Tổng-Thống Hoa-Kỳ, vấn-đề là qua bài viết vào ngày 14 tháng 9 năm1958, hay qua bài tuyên-bố ngày 9 tháng 5 năm 1965, Hà-Nội đã không công-bố một lời phòng-hờ (réserve) nào, và cũng không công-bố một bản điều-chỉnh nào về hai bài viết công-nhận hai quần-đảo hoàng-Sa và Trường-Sa là của Trung-Hoa, việc nầy có thể được hiểu như là CSVN mặc-nhiên nhìn-nhận các quần-đảo nầy thuộc Trung-Hoa. Và Trung-Cộng không bỏ một dịp nào để khơi lên việc nầy trong tất-cả những văn-thư chính-thức mà họ sẽ công-bố sau đó, tệ nhất là CSVN đã không lên tiếng gì qua lời tuyên-bố của Trung-Cộng đúng 8 ngày trước khi tấn-công Hoàng-Sa, tức ngày 11 tháng 1 năm 1974, rằng Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc về lãnh-thổ Trung-Hoa và Trung-Cộng sẽ không tha-thứ mọi hành-động xúc-phạm đến lãnh-thổ của họ.
    Năm 1975, sau khi thống-nhứt được Việt-Nam, CSVN mới nghĩ đến việc xác-định biên-giới của quốc-gia. Vấn-đề chủ-quyền ở các đảo nầy làm cho quan-hệ với Bắc-Kinh bị xấu đi. Nhưng để không làm tan-rã sự đoàn-kết trong phe xã-hội chủ-nghĩa, hai bên không bên nào tiết-lộ sự khác biệt nầy. Chỉ đến khi sự bất-đồng về lý-tưởng trở nên trầm-trọng thì hai bên mới lên tiếng ám-chỉ, nhưng cố-gắng không đề-cập tới đối-tượng 12. Phải chờ cho đến năm 1978, trong lúc ngoại-giao giữa hai nước đang ở bên bờ sự đỗ-vỡ, thì vào ngày 30 tháng 12, có nghĩa là đúng 7 ngày sau khi quân Khmer đỏ đánh Tây-Ninh, CSVN xác-nhận trước công-luận chủ-quyền của Việt-Nam tại Hoàng-Sa. Chỉ hai tháng sau cuộc tấn-công của Trung-Cộng 17 tháng 1 năm 1979 qua lãnh-thổ Việt-Nam, CSVN cho rằng Trung-Cộng không còn nằm trong khối xã-hội chủ-nghĩa đồng-thời đưa ra công-luận quốc-tế những mâu-thuẫn về biên-giới với Trung-Cộng qua việc công-bố một giác-thư thiết-lập lại những sự việc Trung-Cộng lấn đất của Việt-Nam từ năm 1954. CSVN tố-cáo trong đó việc chiếm-đóng quần-đảo Hoàng-Sa “thuộc lãnh-thổ Việt-Nam”, “dân-tộc Việt-Nam đã khám-phá và khai-thác”, trên quần-đảo nầy “Chúa Nguyễn hợp-thức hóa chủ-quyền lãnh-thổ của việt-Nam”, trên quần đảo nầy “nước Pháp đã nhân-danh Việt-Nam thành-lập hai đơn-vị hành-chánh và một trạm thời-tiết mà trạm nầy đã cung-cấp không ngưng-nghỉ trong nhiều thập-niên những dữ-kiện cho Tổ-Chức Thời-Tiết Quốc-Tế”. CSVN cũng đưa ra, như chính-phủ VNCH đã trình-bày, những quan-hệ lịch-sử lâu đời chứng-minh quần-đảo thuộc Việt-Nam. Bản giác-thư nhấn mạnh trên vấn-đề là Việt-Nam đã sử-dụng (exercer) liên-tục chủ-quyền của mình một cách rõ-ràng và không thể chối cãi ở các đảo nầy.
    Trung-Cộng phản-biện lại những lời tuyên-bố nầy vào ngày 26 tháng 4 năm 1979, vào Ðại-Hội khoá hai Thương-Thuyết Việt-Trung, trong một “đề-nghị cơ-bản để giải-quyết những liên-hệ giữa Trung-Hoa và Việt-Nam”, điểm 5 có ghi như sau: “Những quần-đảo Xisha (tức Hoàng-Sa) và Nansha (Trường-Sa) luôn là một phần lãnh-thổ bất-khả chuyển-nhượng của Trung-Hoa. Phía Việt-Nam sẽ trở lại quan-điểm cũ của mình đó là nhìn-nhận sự việc nầy. Việt-Nam sẽ tôn-trọng chủ-quyền của Trung-Hoa tại hai quần-đảo nầy và rút về tất-cả nhân-sự của họ đóng tại Nansha (Trường-Sa)”. Trả lời việc nầy, vào ngày 4 tháng 5 năm 1979, trưởng-đoàn thương-thuyết Việt-Nam cho rằng “đề-nghị” nầy chứa đựng những đòi-hỏi “phi-lý và xất-xược” đó là đòi hỏi Việt-Nam phải chối bỏ chủ quyền của mình trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa “mà chúng đã luôn luôn thuộc về Việt-Nam”.
    Ba tháng sau, ngày 30 tháng 7 năm 1979, Trung-Cộng công-bố trong một “Bạch-Thư”, một số tài-liệu để bào-chữa cho sự chiếm đóng quần-đảo nầy và làm một bộ hồ-sơ nhằm dựa lên đó để cho rằng Hoàng-Sa thuộc về họ. Việt-Nam trả lời ngày 7 tháng 8 năm 1979, qua hình-thức một “Bạch-Thư” khác nhằm phản-biện lại những lý-lẽ của Trung-Cộng.
    Từ đó, sự tranh-luận tiếp-diễn. CSVN phản-đối dữ-dội mỗi khi Bắc-Kinh có một quyết-định liên-quan đến quần-đảo. Sự tranh-luận vẫn tiếp-tục trong những buổi họp của đại-hội thương-thuyết vấn-đề giữa Việt-Nam và Trung-Hoa, hay là xuyên qua những hồ-sơ được hai bên công-bố. Cuối cùng vào tháng 9 năm 1979, sự tranh-cãi đưa ra trước Liên-Hiệp-Quốc cũng như trước những tổ-chức chuyên-ngành trực-thuộc cơ-quan nầy. Từ khi Hội-Ðàm Hành-Chánh Quốc-Tế về Truyền-Thông của U.I.T, tổ-chức tại Genève vào tháng 3 năm 1978 quyết-định rằng “những băng-tầng phân-bổ cho vùng 6 G chỉ được sử-dụng độc-quyền cho những trạm hàng-không của Trung-Cộng”, dựa vào việc nầy Trung-Cộng cho rằng đây là một sự công-nhận “thực-tại” - de facto – trên bình-diện quốc-tế chủ-quyền của họ tại các quần-đảo.

    Trường-Sa

    Quần-đảo Trường-Sa thì có các nước Việt-Nam, Phi-Luật-Tân, Ðài-Loan và Trung-Cộng cùng đòi chủ-quyền hoàn-toàn trên quần-đảo. Việt-Nam chiếm đóng những đảo trung-tâm và các đảo thuộc về phía Tây, Ðài-Loan thì chiếm đảo Itu Aba, Phi-Luận-Tân thì chiếm một số đảo ở trung-tâm và những đảo ở về hướng Ðông, riêng về Trung-Cộng thì từ năm 1987 đã gởi chiến-hạm đến vùng biển nầy 13. Phe Mã-Lai thì chỉ đòi hỏi chủ-quyền ở một đảo và hai vùng san-hô mà họ đã chiếm một vùng. Vấn-đề vì thế phức-tạp hơn. Mặc khác, nơi đây những nước tranh-chấp đều chủ-trương chiếm-đóng và sẵn-sàng bành-trướng ra phía trung-tâm - hay toàn-bộ - biển Ðông.
    Những lý-lẽ mà Ðài-Loan – nhân-danh Trung-Hoa - dựa vào để dành chủ-quyền đó là quyền khám-phá và việc ngư-dân Trung-Hoa đã lui tới vùng nầy từ nhiều thế-kỷ. Họ cũng dựa vào việc sau khi Nhật-Bản đầu-hàng năm 1945 để tuyên-bố rằng hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc về họ vì hai quần-đảo nầy được giao cho họ quản-lý. Nhưng họ nói vậy không đúng vì trong Tuyên-Ngôn tại Caire năm 1943 cũng như Hiệp-Ước Hòa-Bình 1951 không hề ghi như vậy. Vào thời đó Tưởng-Giới-Thạch chỉ được, nhân-danh Ðồng-Minh, lãnh nhiệm-vụ giải-giới quân-đội Nhật-Bản ở về phía Bắc vĩ-tuyến 16, việc nầy không có nghĩa những phần đất nầy thuộc về Trung-Hoa và cũng không cho phép họ đổ quân tại Trường-Sa vì đảo nầy ở phía Nam vĩ-tuyến 16. Nhưng họ Tưởng vẫn đổ quân vào đây và ở từ năm 1946 đến 1950.
    Sau khi Tưởng-Giới-Thạnh chạy ra Ðài-Loan, xứ nầy tuyên-bố rằng quần-đảo Trường-Sa thuộc về Trung-Hoa từ thế-kỷ thứ 15 và đổ quân chiếm đảo Thái-Bình (Itu Aba) (còn chiếm đến hôm nay). Ngày 9 tháng 2 năm 1982 Ðài-Loan tuyên-bố chủ-quyền của mình tại hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa, việc nầy VN có phản-đối mạnh-mẽ.
    Về phần Phi-Luật-Tân, viện lý-do ở gần, tổng-thống Quirino năm 1951 đã tuyên-bố chủ-quyền của Phi tại Trường-Sa, có tên Phi là Kalayan. Dựa lên lý-do gần-gũi địa-lý và lý-thuyết “terra nullius”, Phi chiếm đóng 7 đảo, ngày 11 tháng 6 năm 1978 chính-phủ Phi tuyên-bố chủ-quyền trên toàn quần-đảo Trường-Sa, ngoại trừ đảo Trường-Sa. Việt-Nam và Trung-Cộng phản-đối mạnh-mẽ việc nầy.
    Một vấn-đề khác, đó là sự tranh-chấp giữa Mã-Lai và Việt-Nam về đảo An-Bang (Caye d’Amboine) và các bãi san-hô Commodore và Swallow. Ðảo ghi trên thì VN chiếm-đóng nhưng bãi san-hô Swallow thì Mã-Lai chiếm-đóng. Hai nước đều dựa vào lý-do ở gần và dựa lên luật về biển để cho rằng ba đảo nầy thuộc về mình. Nhưng hai bên cùng đồng-ý rằng sẽ giải-quyết vấn-đề bằng đường-hướng ngoại-giao.
    Việt-Nam thì tuyên-bố chủ-quyền trên toàn quần-đảo Trường-Sa sau khi đưa ra nhiều lý-do, như ngày xưa ngư-dân VN đã từng tới-lui tại các đảo nầy, cũng như chúng đã được vẽ trên bộ Ðại-Nam Nhất-Thống Toàn Ðồ. Vào thời-kỳ sau nầy, trước 1945, thì nước Pháp, nhân-danh Việt-Nam, đã chiếm-hữu thực-sự quần-đảo Trường-Sa vào năm 1933, việc làm nầy không gây phản-đối ở một nước nào, ngoại trừ chính-phủ Nhật-Bản14. Sau đó Nhật-Bản có tuyên-bố ngày 31 tháng 3 năm 1939 rằng họ đã đặt các đảo dưới quyền kiểm-soát của họ vào ngày hôm trước, nhưng Pháp đã phản-đối và việc nầy được Foreign Office công-nhận trước Hội-Ðồng vào ngày 5 tháng 4 năm 1939, vì thế Pháp vẫn giữ nguyên chủ-quyền của mình trên các đảo nầy. Vào thời-kỳ sau Thế-Chiến Thứ Hai, Việt-Nam đặt căn-bản trên Hiệp-Ước Hoà-Bình ký tại San Francisco ngày 5 tháng 9 năm 1951 trên điều-khoản Nhật-Bản từ bỏ mọi đòi hỏi chủ-quyền của họ tại Hoàng-Sa và Trường-Sa. Việt-Nam cũng dựa lên lý-lẽ địa-lý vì các đảo nầy ở gần và tuyên-bố rằng đảo gần nhất thì ở trên thềm lục-địa Việt-Nam và cách bờ 200 hải-lý. Việt-Nam cũng dựa vào những lý-do từ sự chiếm-hữu liên-tục và trên chúng-cứ lịch-sử. Hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa sau khi Pháp rút lui thì được Việt-Nam Cộng-Hòa tiếp-thu vào tháng 8 năm 1956 - việc nầy Trung-Cộng có phản-đối – sau đó là chính-phủ Cách-Mạng Lâm-Thời Miền Nam vào ngày 5 và 6 tháng 5 năm 1975, cuối cùng là do Cộng-Hòa Xã-hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam (chiếm-đóng các đảo ở trung-tâm và về phía Tây, gồm có đảo Trường-Sa).
    Trung-Cộng cũng dành chủ-quyền trên toàn quần-đảo Trường-Sa. Họ không những dựa lên những lý-do về “quyền khám-phá” từ thế-kỷ thứ 11 cũng như ngư dân của họ tới lui tại đây từ thời-kỳ xa xưa, nhưng họ cũng tuyên-bố rằng “những chính-quyền nối tiếp của Trung-Hoa đã liên-tục kiểm-soát tại Hoàng-Sa và Trường-Sa” 15 . Trong những năm sau nầy Trung-Cộng cũng dựa lên vị-trí địa-lý của quần đảo, họ tuyên-bố rằng Trường-Sa thì ở trên thềm lục-địa của Trung-Hoa (tuyên-bố của bộ Ngoại-Giao Trung-Cộng ngày 21 tháng 7 năm 1980). Trung-Cộng cũng dựa lên công-hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của thủ-tướng Phạm Văn Ðồng về vấn-đề Hoàng-Sa cho rằng VN đã nhìn-nhận chủ-quyền của Trung-Cộng tại Hoàng-Sa và Trường-Sa. Trung-Cộng cũng dựa lên sự việc xãy ra vào tháng 10 năm 1955, tổ-chức hàng-không dân-sự quốc-tế đã yêu-cầu Ðài-Loan “củng-cố thêm việc quan-sát thời-tiết trên đảo Nam-Sa” (Beijing Information, số 7 năm 1980, trang 20), Trung-Cộng cho rằng đây là một hành-động của quốc-tế hàm-ý công-nhận chủ-quyền của Trung-Cộng trên đảo nầy.
    Tương-tự như trường-hợp của quần-đảo Hoàng-Sa, việc tranh-chấp về chủ-quyền tại Trường-Sa vẫn tiếp-tục. Nếu việc nầy có ảnh-hưởng đáng kể lên sự ngoại-giao giữa Việt-Nam và Trung-Cộng, nhưng sẽ không mấy đúng thực tế khi mỗi bên xác-nhận thường-xuyên rằng sẽ thương-lượng những khác biệt với phe bên kia. Riêng về phần Ðài-Loan, sự tranh-chấp giữa nơi nầy với Việt-Nam thì hai bên cương-quyết giữ-nguyên lý-lẽ của mình. Ðối với Mã-Lai và Phi-Luật-Tân, những tranh-chấp với Việt-Nam chắc-chắn sẽ được giải-quyết theo thời-gian bằng sự thương-lượng hòa-bình.

    **

    Sau khi tóm-tắt hồ-sơ của sự tranh-chấp, sẽ là hữu-ích đối-chiếu những lý-lẽ đã đưa ra từ hai bên Trung-Cộng và Việt-Nam, bởi vì chỉ hai nước nầy đòi hỏi chủ-quyền trên toàn hai quần-đảo16.
    Theo luật quốc-tế, khái-niệm về chủ-quyền lãnh-thổ của một quốc-gia đã có những thay-đổi, vì nó đã bước qua từ “quyền khám-phá” (droit de la découverte), đến sự chiếm-đóng giả-định (occupation fictive), để đi đến nguyên-tắc chiếm-đóng thực sự (occupation effective). Nhằm chứng-minh chủ-quyền của mình tại Hoàng-Sa và Trường-Sa, Trung-Cộng dựa lên những lý-lẽ, vào thời-kỳ xa xưa, là quyền khám-phá. Việt-Nam đã phản-bác lý-lẽ nầy trong quyển Bạch-Thư năm 1981 “về sự khám-phá của Trung-Hoa, nếu như việc nầy đúng, thì nó cũng không có giá-trị pháp-lý nào để chứng-minh rằng, từ thời-kỳ đó, những quần-đảo mà Trung-Hoa gọi là Tây-Sa (Xisha) và Nam-Sa (Nansha) thì thuộc về chủ-quyền của Trung-Hoa” (trang 31), và trong hồ-sơ “Quần-Ðảo Hoàng-Sa và Trường-Sa” ghi “giả-sử rằng người Trung-Hoa đã khám-phá thực-sự Hoàng-Sa và Trường-Sa, ý-nghĩa nào người ta có thể dành cho sự việc nầy... Làm thế nào sự khám-phá của một quốc-gia nào đó về một vùng đất lại có thể cho rằng nước đó duy-nhất có chủ-quyền tại vùng đất nầy ? Mặc khác, có vô-số thuyền-bè của nhiều nước qua lại ở Biển-Ðông ...”. Trung-Cộng cũng đưa ra lý-lẽ, liên-quan đến Hoàng-Sa, một lý-thuyết về sự chiếm-đóng giả-định: “Trên những đảo Tây-Sa vẫn còn những miểu thờ âm-hồn vất-vưỡng dựng lên vào thời nhà Minh và nhà Thanh17”. Việt-Nam phản-biện việc nầy viện-dẫn lý-do là có nhiều dấu-vết về văn-hóa Trung-Hoa hiện-hữu ở mọi nơi tại các nước Ðông-Nam Châu-Á và đây không phải là một nền-tảng pháp-lý về việc Trung-Hoa chiếm đóng đảo nầy. Mặc khác, vua Minh-Mạng cũng có dựng ở đảo Hoàng-Sa một ngôi đền và một bia đá đồng-thời trồng những cột mốc trên các đảo, và nước Pháp đã dựng vào năm 1938 một cột trụ chủ-quyền18. Trung-Cộng cũng nhắc lại sự việc năm 1909 đã đổ bộ lên Hoàng-Sa trong vòng 24 tiếng đồng-hồ và trong thời-gian nầy hải-quân hoàng-gia đã cắm một lá cờ lên một đảo tại đây. Việt-Nam trả lời bằng sự việc gởi lại bài viết của H. Cucherousset19, theo đó sự việc nầy hoàn-toàn không có giá-trị - tương-tự như việc sát-nhập năm 1921 - bởi vì chính-quyền địa-phương tỉnh Quảng-Ðông chưa bao giờ được Pháp công-nhận như là một chính-quyền tự-trị và độc-lập. Trung-Cộng cũng viện-dẫn thêm lý-lẽ về quần-đảo Hoàng-Sa, về sự chiếm-đóng thực-tế sau khi dựa lên những khám-phá do những nhà khảo-cổ Trung-hoa ở đảo nầy đó là “dấu-vết sinh-sống từ thời Tang (Tần) và Song (Tống)”, hay là giếng nước, miếu-đền và mồ-mả “có từ thời Minh và Thanh”, có (bình, lọ) sứ làm từ Trung-Hoa và những đồng tiền đồng. Việc khám-phá nầy làm động-lực cho tờ Nhân-Dân - Renmin Ribao - ngày 25 tháng 11 năm 1975, viết rằng những vật trên góp phần chứng-minh rằng người Hoa đã sinh-sống trên các đảo nầy từ một thời-kỳ xa xưa nhất. Việt-Nam trả lời việc nầy, thứ nhứt “về phương-diện khoa-học, khoa khảo-cổ không có một vài-trò nào trong việc công-nhận hay phản-biện chủ-quyền của một quốc gia về một vùng đất nào đó”, thứ hai là đời sống con người trên đảo san-hô sẽ gặp rất nhiều khó-khăn thời-tiết và thổ-nhưỡng, chưa nói đến việc thiếu nước ngọt, để mà có thể sống thường-trực, vì thế mà “Công-Ty Hoàng-Sa” không ở tại đây suốt năm, và mặc khác, trong những cổ-sử của Việt-Nam cũng như những sử-liệu của những nhà du-hành tây-phương thì ghi-nhận rằng những đảo nầy không người sinh-sống mà chỉ có dân đánh cá lui tới.
    Vào thời-kỳ hiện-đại thì Trung-Cộng chứng-minh chủ-quyền của họ tại Hoàng-Sa bằng cách dựa lên những bộ địa-dư-chí xuất-bản dưới thời Minh và Thanh, theo đó Hoàng-Sa thuộc về Trung-Hoa. Việt-Nam phản-đối việc diễn-giải của Trung-Cộng ở một vài trích-dẫn, bằng cách dựa lên bộ địa-dư-chí chính-thức của Trung-Hoa năm 1842 mà theo bộ nầy thì không hề nhắc đến các đảo trên, cũng như trên các bản-đồ của đế-quốc Trung-Hoa các đảo nầy cũng không hiện-hữu. Mặc khác, Việt-Nam cũng đặt nghi-vấn về sự hiện-hữu của những bản-đồ mà qua đó Trung-Cộng dựa lên làm chứng-cớ, nhưng Trung-Cộng đã không công-bố những bản-đồ nầy. Trung-Cộng cũng đưa ra các bản-đồ do các nước khác in ra, đặc-biệt là bản-đồ của Liên-Xô, Nhật-Bản và của các nước Ðông-Âu – theo kiểu-mẫu của Bắc-Kinh – cho Hoàng-Sa và Trường-Sa những cái tên của Tàu và chúng thì thuộc về Trung-Hoa. Việt-Nam ghi-nhận dữ-kiện nầy và cho rằng “lịch-sử của các quần-đảo thì cực-kỳ phiền-phức”, nhưng một bản-đồ của Anh-Quốc năm 1969 thì cho rằng các quần-đảo nầy thuộc Việt-Nam. Trung-Cộng công-bố một tài-liệu ngày 30 tháng 1 năm 1980, cho rằng các đảo mà Việt-Nam gọi là Hoàng-Sa và Trường-Sa chỉ có thể là “những đảo và những cồn cát gần bờ biển miền Trung của Việt-Nam”, chúng không phải là Nam-Sa và Tây-Sa mà Bắc-Kinh đề-cập. Trung-Cộng căn-cứ một mặt lên bộ Hồng-Ðức Bản-Ðồ mà Việt-Nam có trích-dẫn, cho rằng người ta không thể từ bờ đi ra Hoàng-Sa trong một ngày hay một ngày rưỡi, vì thế “đây là việc bất-khả cho thuyền buồm” để đến Tây-Sa; một mặt Bắc-Kinh dựa lên bộ Phủ-Biên Tạp-Lục mà Việt-Nam cũng có trích-dẫn để chứng-minh chủ-quyền, trong đó có ghi rằng Hoàng-Sa có “tổng-cộng hơn 300 đỉnh”, trong lúc Tây-Sa thì “thấp và bằng-phẳng” và “chỉ có 35 đảo”; “đảo Hoàng-Sa có chiều dài ước-lượng 30 lý” trong lúc “đảo lớn nhất của Tây-Sa của Trung-hoa chỉ đo không quá 2 cây số (4 lý) chiều dài và diện-tích chỉ có 1,85 Km². Hà-Nội bắt-bẻ lại rằng tất-cả những bộ sách của Việt-Nam thì có phân-biệt một cách rõ-ràng giữa Hoàng-Sa và những đảo ven bờ đồng-thời trích-dẫn trong Phủ-Biên Tạp-Lục cho thấy Hoàng-Sa cách bờ ba ngày ba đêm (đi thuyền). Việt-Nam đưa vào thêm bản-đồ của Giám-Mục Tabert cho thấy có sự phân-biệt rõ-rệt – cũng như những bản-đồ của Tây-Phương – các đảo ven-bờ và các đảo “Cát-Vàng”, tức Hoàng-Sa. Trung-Cộng cho rằng, quan-trọng nhất, là văn-kiện ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ-Tướng Ph ạm Văn Ðồng, công-nhận chủ-quyền của Trung-Hoa tại hai quần-đảo nầy. Ngày 7 tháng 8 năm 1979 Việt-Nam có đưa bản tuyên-bố, điều 2, cho rằng sự diễn-dịch của nhà cầm-quyền Trung-Cộng là “bóp méo sự thật một cách vụng-về, bởi vì theo tinh-thần và ý-nghĩa từ chữ của văn-bản nầy thì chỉ công-nhận lãnh-hải của Trung-Cộng là 12 hải-lý”. Và trong hồ-sơ “Hoàng-Sa và Trường-Sa” xuất-bản năm 1981, người ta cũng có thể đọc được ở trang 33, liên-hệ đến tuyên-bố của Trung-Cộng ngày 4 tháng 9 năm 1958 nhằm mở rộng lãnh-hải lên 12 hải-lý: “Họ đưa vào một cách nhẹ-nhàng (sic) rằng điều qui-định nầy áp-dụng trên toàn lãnh-thổ Trung-Cộng, kể cả các đảo ... Ðông-Sa, Tây-Sa, Zhongsha, Nam-Sa và những đảo khác thuộc Tàu. Thực sự qua cái trò xảo-thuật nầy đã thấy cái ý-đồ xấu của Trung-Cộng”. Và xa hơn “... qua sự tuyên-bố nầy họ “bắt bí” Việt-Nam, một nước đang ở trong tình-trạng vừa mới qua khỏi cuộc kháng-chiến chống Pháp, phải làm mọi cách có thể được để tránh cảnh một lúc đối-đầu nhiều kẻ thù.Vì thế cho nên văn-bản của Thủ-Tướng Phạm Văn Ðồng ngày 14 tháng 9 năm 1958 gởi cho Chu Ân Lai, qua đó, bằng những ngôn-từ vắn-tắt nhưng rõ-rệt, Phạm Văn Ðồng xác-nhận rằng Việt-Nam tôn-trọng chiều rộng của lãnh-hải Trung-Hoa và cố ý bỏ qua những danh-từ Nansha, Xisha có ghi trong văn bản của phe Trung-Cộng”. Trung-Cộng, cũng trong Bạch-Thư công-bố ngày 30 tháng 7 năm 1979, cho rằng lời tuyên-bố của Việt-Nam ngày 9 tháng 5 năm 1965 (Nhân-Dân 10 tháng 5 năm 1965) như là một tài-liệu công-nhận chủ-quyền của Tàu tại Hoàng-Sa. Về việc nầy, Bộ-Trưởng Bộ Ngoại-Giao Việt-Nam, tuyên-bố ngày 7 tháng 8 năm 1979 (điểm 3), trả lời, sau khi tóm gọn quyết-định của Hoa-Kỳ - nhưng không nhắc đến câu “lãnh-hải của Trung-Cộng ở đảo Hoàng-Sa” - rằng “Vào lúc đó nhân-dân Việt-Nam đang chống Mỹ cứu nước nên phải chiến-đấu bằng mọi cách để bảo-vệ toàn-vẹn lãnh-thổ. Vã lại, vào thời-kỳ đó Việt-Nam và Trung-Cộng dính liền với nhau do tình hòa-hảo bạn-bè. Vì thế bản tuyên-bố của chính-phủ Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa ngày 9 tháng 5 năm 1965 chỉ có giá-trị trong khung-cảnh lịch-sử đó”.

    *****

    Như thế Việt-Nam và Trung-Cộng cùng đòi chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa, viện-dẫn những bằng-chứng - vào thời-kỳ trước 1945 – là những tài-liệu lịch-sử. Việt-Nam thêm vào một sự chiếm-hữu thực-tế và liên-tục cũng như những bản cáo-tri chính-thức do người Pháp thay mặt triều-đình An-Nam thực-hiện20. Sự chiếm-hữu nầy liên-tục cho đến khi Nhật-Bản chiếm-đóng nhân Thế-Chiến Thứ 2.
    Về thời-kỳ sau khi Nhật-Bản thua trận, hai bên Việt-Nam và Trung-Cộng cùng viện-dẫn lý-lẽ đã chiếm đóng Hoàng-Sa thực-sự - nhưng thật ra mỗi bên chiếm một nhóm đảo – và đòi chủ-quyền trên toàn quần-đảo, mà việc nầy - Việt-Nam cũng đã nhắc lại – là đã được Pháp chuyển-giao lại vào năm 1954. Nhưng Trung-Cộng đã lên tiếng về việc nầy như sau “di-sản về một lãnh-thổ đã chiếm từ một nước khác bằng một phương-tiện xâm-lăng thì không hợp-lệ, như vậy nó không có giá-trị nào trong tương-lai”. Việt-Nam cũng phản-biện lại rằng việc xâm-chiếm bằng vũ-lực của Trung-Cộng quần-đảo Hoàng-Sa vào năm 1974 không thể “thiết-lập tính chính-thống về lãnh-thổ của quốc-gia chiếm đóng”. Về quần-đảo Trường-Sa, các nước Việt-Nam, Phi-Luật-Tân và Ðài-loan đều đòi hỏi chủ-quyền trên toàn quần-đảo, các lý-do dựa vào là đã thực-tế chiếm-đóng một số đảo. Ở điểm nầy thì Việt-Nam chiếm trước hai nước kia do trung-gian của Pháp. Về phía Trung-Cộng thì cho đến năm 1987 thì vắng mặt tại đây, nhưng họ viện-dẫn lý-do lịch-sử, cũng như Việt-Nam và Ðài-Loan, để đòi hỏi chủ-quyền. Phi-Luật-Tân thì dường như không đưa ra những bằng-chứng lịch-sử.

    Nếu ta đối-chiếu qua luật về biển, sự tiến-hoá nhanh-chóng của nó trong vài năm nay đã góp phần gây thêm nhiều nguyên-nhân để tranh-chấp.
    Về quần-đảo Hoàng-Sa, Việt-Nam cũng như Trung-Cộng đều dựa lên việc gần-gũi địa-lý và thềm lục-địa21 để đòi chủ-quyền ở đây. Hai nước đều cho rằng quần-đảo Hoàng-Sa thì nằm trên thềm lục-địa của nước mình.
    Về quần-đảo Trường-Sa, Phi-Luật-Tân dựa vào khoảng-cách gần để đòi chủ-quyền, bởi vì một số đảo chỉ cách Palawan có 100 hải-lý. Vì thế nước nầy vội-vã chiếm thêm một số đảo bởi vì hố sâu chia cách Palawan và Trường-Sa không cho phép nước nầy dựa lên lý-thuyết về thềm lục-địa. Việt-Nam cũng dựa lên lý-do khoảng-cách địa-lý; đảo Trường-Sa hiện do Việt-Nam chiếm đóng, theo nước nầy thì ở trên thềm lục-địa và chỉ cách Việt-Nam có 200 hải-lý. Trung-Cộng vì không thể dựa vào lý do gần-gũi, cho rằng Trường-Sa nằm trên thềm lục-địa của mình (theo tuyên-bố của bộ ngoại-giao Trung-Cộng ngày 21 tháng 7 năm 1980), nhưng Trung-Cộng không thể dựa trên lý-thuyết về 200 hải-lý để dành chủ-quyền. Ðài-Loan thì không thể viện-dẫn lý do gần-gũi cũng như thềm lục-địa. Riêng Mã-Lai, nước nầy đòi đảo Caye d’Amboine, viện dẫn lý-do đảo nầy ở gần Bornéo và dẫn trên Công-Ước mới của Luật về Biển.
    Cuối cùng, để việc phúc-tạp hơn, luật về biển ghi-nhận rằng một quốc-gia xây-dựng một hải-đăng trên một hải-đảo hay một bãi san-hô thì các đảo nầy có thể được xem là một “địa-phận”, và vì thế chúng có thể đòi-hỏi một lãnh-hải 12 hải-lý và vùng khai-thác kinh-tế 200 hải-lý, như là lãnh-thổ của quốc-gia đó.
    Nếu ta hướng về vấn-đề “de facto”, người ta phải ghi-nhận rằng sự chiếm-đóng thực-tế là một căn-bản tốt nhất cho một quốc-gia nhằm đòi hỏi chủ-quyền ở một lãnh-thổ, vì nó có ưu-điểm hơn quyền khám-phá. Mặc khác, sự chinh-phục vẫn còn là một phương-thức để chiếm-hữu một lãnh-thổ, vì nó được luật quốc-tế công-nhận.

    _______________________________________
    1 L. Aurousseau. Tường-trình của G. Maspero “Vương-Quốc Chàm” trong BEFEO XIV – 9 (1914), p. 13.
    2 P. Y. Manguin. Les Portugais sur les côtes du Vietnam et du Chapa. Etude sur les routes maritimes et les relations commerciales, d’après les sources portugaises (XVIe, XVIIe, VVIIIe siècles), Paris (Publi. EFEO) 1972.
    3 G. F. Mourachev... Mouscou 1980, p 347
    4 Linh-Mục Jean Louis trong quyển “Geographico Imperii Annamitici” in năm 1838, đặt tên các đảo ngoài khơi Quảng-Ninh hiện nay là “Iles des Pirates” Ðảo Cướp Biển.
    1 M. Clerget. Constribution à l’étude des iles Paracels. Les Phosphates, (Institut Océanographique de l’Indochine. Note 20), 1932.
    2 Xem các bài viết của Sơn Hồng Ðức, Nguyễn Huy, Trịnh Tuấn Anh trong “Ðặc-khảo về Hoàng-Sa và Trường-Sa” trong tập-san Sử-Ðịa số 29 (Saigon 1975) về tính-chất thiên-nhiên và các nguồn tài-nguyên tại đây.
    4 Những bản-đồ do Bắc-Kinh công-bố – cũng như Ðài-Loan - đặt 4/5 toàn-thể vùng Nam biển Trung-Hoa thuộc về lãnh-thổ Trung-Hoa, trong đó có cả hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa (là nơi có nhiều phản-đối)
    Năm 1976, Việt-Nam công-bố, nhằm gây chú-ý hòa-đàm luật về biển sẽ được tổ-chức tại Nữu-Ước, những bản-đồ bao-gồm hai quần-đảo hoàng-Sa và Trường-Sa vào nước mình (việc nầy đã gây nhiều chống-đối).
    Mã-Lai cho công-bố năm 1979 một bản-đồ biển nội-địa của nước nầy bao gồm đảo Caye d’Emboine và các bãi đá ngầm Commodore và Swallow (việc nầy gây nên sự phản-đối của Việt-Nam, ngày 25-3-1983, tuyên-bố rằng các đảo nầy thuộc về Việt-Nam). Phi-Luật-Tân cũng công-bố một bản-đồ cho thấy phần phía Ðông của vùng biển nầy thuộc Phi (việc nầy gây sự phản-đối ở Trung-Hoa và Việt-Nam, nhất là vào ngày 27 tháng 9 năm 1979).
    5 Vào năm 1947 chính-quyền tỉnh Nanking đặt tên Xisha cho quần-đảo Hoàng-Sa và tên Nansha cho quần-đảo Trường-Sa. Hai tên nầy đã được Trung-Cộng dùng lại.
    6 Việc xây-cất đền thờ và dựng bia trên đảo nầy được xác-định trong Khâm-Ðịnh Ðại-Nam Hội-Ðiền Sự-Lệ và trong Ðại-Nam Nhất-Thống Chí tỉnh Quảng-Ngãi.
    Vào năm 1820, J.B Chaigneau ghi lại trong quyển sách của ông Mémoire sur la Cochinchine (B.A.V.H 1923-2) rằng vua Gia-Long đã chiếm quần-đảo Hoàng-Sa năm 1816. Giáo-sĩ J. Lasan Tabert, khâm-sứ Giáo-Hoàng tại Cochichine ghi lại trong The Journal of The Asiatic Society of Bengal (9-1837): “năm 1816 vua Gia-Long đã đến tận nơi (Hoàng-Sa), long-trọng cắm một ngọn cờ của hoàng-gia, vì thế chính-thức chiếm-hữu những đảo nầy mà không ai có quyền tranh-cãi được”. Nhưng các quyển sử-ký của việt-Nam đã không ghi lại chính-xác việc nầy, chỉ ghi đơn-giản là vào năm 1816 một công-tác tại Hoàng-Sa đã được “công-Ty Hoàng-Sa” hoàn-tất như mọi năm để thu-nhặt những tàu bè bị đắm (Ðại-Nam Thực-Lục Chính-Biên (Ðệ-nhất kỷ, quyển thứ 52).
    7 “Geography of th Cochinchinese Empire” , trong “Journal of th Geographical Society of London, 1849, Vol XIX, p. 93.
    8 theo P. Pasquier qua bài “L’histoire moderne des iles Paracels”, trong “l’Eveil économique de l’Indochine” so^ó 741 (12 juin 1932).
    9 trong Ðịa-Dư Chí (1821) và Hoàng-Việt Ðịa-Dư Chí (1833) của Phan Huy Chú, có ghi rằng Hoàng-Sa trực-thuộc tỉnh Quảng-Ngãi.
    Trên bản-đồ “Ðại-Nam Nhất-Thống Toàn Ðồ” được vẽ vào các năm 1838 và 1862 lãnh-thổ của Việt-Nam, có vẽ không xa bờ hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa (Võ Long Tê, Hoàng-Sa và Trường-Sa theo cổ-thư Sử-Ký và Ðịa-Lý của Việt-Nam, SAigon, 1974, bản số XXXVI – thì dựa lên Hồng-Ðức Bản-Ðồ, Saigon, 1962, trang 94-95)
    10 Ngày 15 tháng 5 năm 1979 tờ Da Gong Bao, ra tại Hồng-Kông, có đăng một bài viết nội-dung cho rằng ngày 15 tháng 6 năm 1956, thứ-trưởng bộ Ngoại-Giao CSVN đã chính-thức công-nhận rằng dựa theo lịch-sử thì hai quần-đảo nầy thuộc Trung-Hoa.
    11 Hình chụp lá thư nầy được đăng trên Beijing Information số 7, 1980, trang 22.
    12 Xem các tựa đề các bài báo tượng-trưng trong Tạp-Chí Quân-Ðội Nhân-Dân tháng 11 năm 1975, Renmin Ribao ngày 25 tnáng 11 năm 1975, Nhân-Dân ngày 22 tháng 12 năm 1975.
    13 Sau khi bộ Ngoại-Giao Trung-Cộng tuyên-bố ngày 15 tháng 1 năm 1987 xác-nhận lần nữa chủ-quyền nước nầy tại quần-đảo Trường-Sa thì nhà cầm-quyền Việt-Nam cũng lần nữa tuyên-bố, vào ngày 16 tháng 4 năm 1987, là hai quần-đảo Hoàng-Sa lẫn Trường-Sa thì thuộc chủ-quyền của Việt-Nam. Ngày 14 tháng 6 năm 1987, VN lên án hành-động của Trung-Cộng gởi tàu “thám-hiểm cũng như có những hành-động bất-hợp-pháp trong vùng biển của Việt-Nam” chung quanh quần-đảo Trường-Sa và “tổ-chức ngày 16 tháng 5 đến 5 tháng 6 những buổi tập-trận quân-sự trong vùng biển của mình”. Ngày 20 tháng 2 năm 1988, VN đã lên án hành-động của Trung-Cộng “đã gởi nhiều chiến-hạm vi-phạm vùng biển nội-địa của VN ở quần-đảo Trường-Sa”. Trả lời những tuyên-bố của VN, Trung-Cộng xác-định quyền “thám-hiểm, nghiên-cứu và đi tuần-tiễu” trong vùng chung-quanh, hay trong vùng quần-đảo Trường-Sa, là lãnh-thổ Trung-Hoa thuộc tỉnh Hải-Nam. Và những việc nầy liên-tục được hải-quân Trung-Cộng thực-hiện từ 1987, bằng-chứng là đã có sự đụng-chạm với hải-quân VN vào ngày 14 tháng 3 năm 1988. Kể từ lúc nầy không còn một tin-tức nào khả-tín để kiểm-nhận rằng Trung-Cộng có chiếm một hay nhiều đảo thuộc quần-đảo nầy.
    14 Trong một bài viết mang tựa-đề “Chineses Islands in the South China Sea”, đăng năm 1956 trên People’s China (N°13), có ghi ở trang 26 rằng chính-phủ Trung-Hoa đã có một dự-án phản-đối nhưng ngươi ta không tìm ra được một dấu vết nào về việc nầy.
    15 Theo tài-liệu của bộ Ngoại-giao Trung-Cộng công-bố ngày 20 tháng 6 năm 1980 trên tờ Beijing Information (số 7, 1980), Trung-Cộng cũng nhắc đến việc khai-thác và tầm quan-trọng của các đảo nầy. Việt-Nam trả lời việc nầy qua tờ “Courrier du Viet-Nam số 7 năm 1984, trang 8, là VN đã khai-thác các đảo nầy với công-ty Hoàng-Sa.
    16 Nếu sự đòi hỏi chủ-quyền của Ðài-Loan tại Trường-Sa thì không thể bỏ qua vì xứ nầy chiếm đóng đảo Itu Aba, việc nầy sẽ không giống trường-hợp Hoàng-Sa, Ðài-Loan lên tiếng đòi chủ-quyền nơi đây chỉ do sự cần-thiết nhắc lại sự “hiện-hữu” của đảo-quốc nầy.
    17 “Bản Sơ-Thảo về cuộc khảo-cứu khảo-cổ lần thứ hai thực-hiện tại đảo Tây-Sa thuộc tỉnh Quảng-Ðông” trong Wen Wu, số 9, tháng 9 năm 1976, hay xem Beijing Information, số 7, 1980, trang 16.
    18 Trong Bạch-Thư mà Hà-Nội công-bố năm 1979 có đăng một tấm hình ở trang 35.
    19 “La Question des Paracels”, đăng trong l’Eveil Economique de l’Indochine, số 777 (26 tháng 2 năm 1933)
    20 Mặc dầu là thái-độ của người Pháp thì chỉ có tính-cách “không liên-tục” và “do-dự trong hành-động”, nhưng nó cũng “đem lại một giá-trị bảo-lưu mà hiệu-quả chỉ thấy được sau khi nó hoàn-tất” (Ch Rousseau, Revue Générale de Droit Internationale Public, Juillet-Septembre 1972 p 836)
    21 Tìm hiểu định-nghĩa của “thềm lục-địa” đọc Third United Nation Conference on the Law of the Sea; Official Records, Vol. IV, Part VII, pp 155 et 162. Công-Ước về Luật về Biển ngày 30 tháng 4 năm 1882 ghi-nhận rằng chủ-quyền của một quốc-gia có thể mở rộng 200 hải-lý tính từ bờ hay là đến 350 hải-lý trong những trường-hợp đặc-biệt.

    (Source: http://www.bgvn.net/)

    Thanks bác Khách Qua Đường, Mai Thái Lĩnh và các tác giả viết:
    Bác Khách Qua Đường thu thập và tập trung các bài liên quan đến biên giới Việt Trung vào một nơi, theo bài của bác Mai Thái Lĩnh. Như vậy việc tham khảo sẽ dễ dàng hơn

    Thanks bác Khách Qua Đường, Mai Thái Lĩnh và các tác giả

    Chào các bác,

    Bác Khách Qua Đường sưu tầm, thu thập thêm các bài viết liên quan theo bài chủ của bác Mai Thái Lĩnh có điểm hay là việc tham khảo được dễ dàng hơn như bác Khách đã nêu lên ở trên, tuy nhiên tôi sẽ dành thời gian để rà soát lại một loạt các phản hồi trong bài này để loại bỏ bớt những bài viết mà nội dung của nó chỉ là những lặp lại những ý đã được bàn luận, phân tích.

    HG

    Bác Khách Qua Đường thu thập và tập trung các bài liên quan đến biên giới Việt Trung vào một nơi, theo bài của bác Mai Thái Lĩnh. Như vậy việc tham khảo sẽ dễ dàng hơn

    Thanks bác Khách Qua Đường, Mai Thái Lĩnh và các tác giả

    Phân Định Lãnh Thổ Việt Nam Giữa Pháp Và Trung Hoa

    Giáo Sư Nguyễn văn Canh

    (Theo Web Ánh Dương)

    Tháng 6 năm 1884, Hiệp ước Patenôtre đặt Vương quốc Annam dưới quyền bảo hộ của Pháp, và từ đó toàn thể Việt nam được đặt dưới sự đô hộ của Pháp.

    Một năm sau, tháng 6 năm 1885, Hiệp ước Thiên tân ký giữa đại diện Pháp là Jules Patenôtre và đại diện Trung Hoa là Lý Hồng Chuơng tại Thiên tân, có tên là Hiệp Ước Hoà Bình, Thân hữu và Thương Mại. Hiệp ước này ra đời có mục đích đặt nền tảng cho các mối liên hệ hoà bình, thân hữu và thương mại giữa Pháp và Trung Hoa như tên gọi cuả văn kiện. Để thực hiện mục tiêu hoà bình này, hiệp ước giúp chấm dứt chiến tranh Pháp-Hoa, qui định sự rút quân đội chính qui Trung Hoa ra khỏi Bắc kỳ và Trung Hoa nhìn nhận Pháp quốc cai trị Việtnam. Điều này có nghĩa là Trung Hoa vĩnh viễn chấm dứt chế độ triều cống của Việt nam đối với dân tộc này có từ thế kỷ thứ X.

    Với Hiệp ước ấy, Pháp quốc thay thế Quốc gia Việt nam về phương diện pháp lý cũng như thực tế, phụ trách giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Trên căn bản này, Hiệp ước Patenôtre và các văn kiện trước đó buộc Pháp quốc phải có nghĩa vụ "từ nay bảo vệ sự vẹn tòan lãnh thổ" của Việt nam, nghĩa là chống lại mọi xâm lăng từ ngoài và các cuộc nổi loạn từ ở bên trong.

    Hiệp ước Thiên Tân chỉ nêu các vấn đề tổng quát, nên về sau có ký 2 Công ước phụ đi vào chi tiết, một về thương mại giữa Pháp và Trung Hoa và một về phân định lãnh thổ.

    Về lãnh thổ, điều 3 Hiệp ước nói rằng: "Trong hạn 6 tháng, các ủy viên của 2 bên sẽ đến tận nơi để nhận diện biên giới. Ở các nơi nào cần, họ sẽ đi đến các địa điểm ấy để lo việc cắm mốc…". Thực tế, việc cắm mốc phải mất 10 năm, từ 1885 đến 1995. Có cả thảy 300 mốc.

    Nhu cầu thiết lập biên giới là hậu quả của đụng chạm giữa Pháp và Trung Hoa trên lãnh thổ Bắc kỳ dựa vì các lý do sau đây:

    Trung hoa bành trướng đất đai vào vùng thượng du Bắc kỳ bắt đầu bằng âm mưu xấu xa về dân chúng (dành dân chiếm đất); cho phép các đám trộm cướp Trung Hoa chiếm đóng lâu dài; rút lui quân đội chính qui Thiên Triều và loại bỏ giặc Cờ Đen; duy trì tham vọng một quốc gia Trung Hoa trong một vùng đất càng lớn càng tốt trên vương quốc Annam như được chứng kiến sau 1885. Việc thiết lập biên giới có cắm mộc, loại hiện đại, không những chấm dứt đợt xâm nhập dân chúng quan trọng và mới đây, mà còn ngăn chặn tận gốc một trong những làn sóng người di dân trong vùng Đông Nam Á....

    Để thi hành điều 3 của Hiệp ước Thiên tân, Pháp và Trung hoa đã ký 2 công ước để chi tiết hoá việc phân định biên giới: công ước 1887 và 1895.

    CÔNG ƯỚC 1887:

    Công ước này được ký tại Bắc kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887 do Đại diện của Pháp là Ernest Constans và đại diện Trung Hoa là Hoàng thân K' ing. Văn kiện này được đặt tên là "Công ước liên quan đến phân định lãnh thổ giữa Trung Hoa và Bắc Kỳ". Công ước qui định ranh giới trên Vịnh Bắc Việt và dọc theo tỉnh Vân Nam.

    a) Ranh giới Vịnh Bắc Việt.

    Văn kiện này qui định đường ranh biên giới trên vịnh Bắc Việt: "Bắt đầu từ Quảng đông, thì những điểm tranh chấp nằm phiá Đông và Đông Bắc Móng cái, phiá bên kia biên giới như Ủy Ban Phân Định Lãnh thổ (UB) đã qui định, được giao cho Trung Hoa. Những đảo nằm phía đông đường kinh tuyến Paris 105o 43' của Kinh tuyến Đông, nghĩa là con đường Nam Bắc chạy qua mũi phía Đông của đảo trà cổ và lập thành biên giới (formant la frontière) cũng được giao cho Trung Hoa. Các đảo Go-Tho và các đảo khác ở về phiá Tây của kinh tuyến này thuộc về Annam".

    b) Dọc theo tỉnh Vân Nam.

    Sự phân định ranh giới theo tài liệu được qui định một cách chi tiết theo đường vẽ trên bản đồ tỉnh Vân nam để lập ranh giới giứa hai quốc gia. Căn cứ vào đó chính quyền Trung Hoa và Công sứ Pháp tại Annam và Bắc Kỳ sẽ lo tiến hành cắm mốc theo bản đồ đã qui định và UB đã ký. Có 3 bản đồ kèm theo. Trên bản đồ, biên giới mới (nouvelle frontiere) được vạch bằng đường mầu đỏ và trên bản đồ Vân Nam đưọc chỉ dẫn bằng mẫu tự ABC theo tiến Pháp và chữ Nho theo tiếng Tầu.

    CÔNG ƯỚC 1895:

    Công ước này được ký ngày 20 tháng 6 năm 1895 tại Bắc Kinh giữa đại diện Pháp là August Gerard và Hoàng thân K'ing, đượi gọi là "Công ước bổ túc cho Công ước phân định biên giới giứa Bắc Kỳ và Trung Hoa ký ngày 26 tháng 6 năm 1887".

    Mục đích là điều chỉnh và bổ túc công ước 1887, các biên bản và họa đồ đã được chấp thuận trước đó.

    Nội dung văn kiện này là vẽ lại một số đường ranh biên giới giữa Vân Nam và Annam; giữa một địa điểm của Vân Nam là Long-Po-Tchai và Hắc giang; giữa Vân Nam và Hắc giang từ nhánh Nam-Nap và sông Mekong. Căn cứ vào đó, nhân viên của hai chính phủ sẽ thực hiện việc cắm mốc theo bản đồ đã được chấp thuận.

    TRUNG HOA ĐÒI NHƯƠNG THÊM ĐẤT

    Điều 3 Hiệp ước Thiên tân có nói rằng "ở nơi nào nếu cần, có thể điều chỉnh chi tiết (sửa lại chi tiết cho đúng) để đưa đến một biên giới thực sự cho Bắc kỳ". Phía Trung Hoa vin vào đó, giải thích dấu hiệu này như là giúp đưa đến những sắp xếp sâu rộng, coi như bồi thuờng về đất đai đối với những nhượng bộ chính trị mà Trung Hoa đã ưng thuận ở nơi khác. Lý hồng Chương giải thích cho Đô đốc Rieuner :"Nước Pháp đã được qúa nhiều khi chiếm được Bắc Kỳ, một xứ chư hầu của Trung Hoa từ 600 năm nay... Điều này làm tôi rất đỗi ưu tư cần có một đền bù dưới hình thức nhường một ít đất ở vùng biên giới của Annam đối với tôi như thế là đủ".

    Vì tình hình địa phương rất phức tạp, họ Lý không thể giải quyết vấn đề biên giới được vì chính quyền cấp tỉnh có thể đưa ra một đường lối khác. Phó vương Lưỡng Quảng Zhan Zhi dong, một đối thủ của Lý hồng Chương, lại là biểu tượng của lực lượng chống ngoại xâm, và các ủy ban phân định biên giới gập vô cùng khó khăn. Một thành viên người Pháp và một số nhân viên bị giết ở Hải ninh vào 25 tháng 11 năm 1886. Về vụ giết người này, phía Pháp cho là Zhan chủ mưu. Rồi, nhân dịp giải quyết một vùng tranh chấp đặc biệt, "một khu người Việt nằm trong đất Trung Hoa" (enclave annamite: Nay tác giả bài này không biết nằm ở đâu) và mũi Packlung (bên kia Móng cái, có lẽ độ 20 cây số đường chim bay), tình trạng căng thẳng gần đến đổ vỡ và chiến tranh đã gần kề.

    Tuy nhiên, lại có thương thuyết tiếp theo và công ước về phân định biên giới được ký vào 26 tháng 6, 1887 tại Bắc kinh.

    Trong khi các ủy viên phân định và các nhân viên trắc địa hoạt động, thì Bộ trưởng đặc mệnh tòan quyền, dân biểu Constans được gửi sang để thương thuyết và ký hai công ước phụ đính được trù liệu trong Hiệp ước Thiên tân: công ước về thương mại và công ước về biên giới. Constans theo Charles Fourniau là một kẻ có thế lực theo chủ nghĩa cơ hội, thành công giải quyết quyền lợi thương mại. Và quyền lợi chính trị thôi thúc y kết thúc mau lẹ để y còn trở về hoạt động tại nghị trường. Do đó, có những nhượng bộ về đất đai.

    Công ước phân định biên giới trong tình trạng này đã chấp thuận nhượng một phần lãnh thổ Việt nam cho Trung Hoa ở nới có tranh chấp giữa hai Ủy Ban. Có 2 địa điểm tranh chấp chính được nhượng cho Trung Hoa: 1) trên biên giới Vân Nam, là tổng Tụ long, hòan toàn thuộc về đất của Vương quốc Annam và chừng 3/4 đất đai của tổng này bằng 750 cây số vuông được nhượng cho Trung Hoa và 2) thuộc tỉnh Quảng Đông là mũi Packlung và "khu vực người Việt nằm trong lãnh thổ Trung Hoa". Việc nhượng đất này có hai hậu quả quan trọng : a) một mặt lấy mất đất cuả Việt nam và b) còn xác định lại biên giới hải phận và phần đất dọc theo duyên hải: "Các đảo về phiá Đông cuả đường kinh tuyến Paris 105o 43o của kinh tuyến đông, nghĩa là đường chạy theo hướng đông-bắc qua mũi phía đông đảo Trà cổ và lập thành đường ranh sẽ giao cho Trung Hoa...". Từ đó cho đến nay, không có một thỏa ước nào được ký kết giữa Pháp và Trung Hoa về mặt biển.

    Cuối cùng, trên một đọan thuộc vùng Phong Thổ, phiá tây của Lào cai, giữa sông Hồng Hà và Hắc Giang chưa có công tác trắc địa nào được thực hiện.

    Nguyễn văn Canh
    (11 tháng 2 năm 02)

    ------------
    4 Charles Fourniau, đã trích dẫn tr. 90.

    (Theo Web Ánh Dương)

    Việc « bán đất và nhượng biển » của đảng CSVN là sự thật
    Nghiên-cứu vấn-đề " bán đất và nhượng biển" của đảng CSVN.

    Trương Nhân Tuấn

    (Nguồn : http://www.freewebs.com/bannuoc/index.htm#60847048 )

    Vấn-đề Việt-Nam mất đất và biển cho Trung-Hoa do hậu-quả của các Hiệp-Ước ký năm 1999 và năm 2000 là một sự thật. Từ năm 2001, đã có nhiều người trong nước viết bài lên tiếng tố-cáo CSVN đã « bán đất và nhượng biển » cho Tàu. Những lời tố-cáo này hoàn-toàn hợp-lý vì nội-dung các bài viết đã dựa phần lớn lên thực-tế. Tiếng nói của những người viết ở trong nước biểu-lộ trước hết tình-cảm yêu nước nồng-nàn, nhưng đồng-thời bộc-lộ sau đó lòng can-đảm vô-biên. Hầu hết những người lên tiếng viết về biên-giới đều bị nhà-nước CSVN bắt bỏ tù như Lê Chí Quang, Trần Khuê, Nguyễn Vũ Bình v.v.. Anh Nguyễn Vũ Bình bị kết án 7 năm tù và 3 năm quản-chế ngày 31 tháng 12 năm 2003.

    Người viết bài này sẽ chứng-minh việc « bán đất và nhượng biển » của đảng CSVN là sự thật, bằng cách so-sánh đường biên-giới Việt-Trung theo Hiệp-Ước Biên-Giới 1999 (HUBG 1999) với đường biên-giới theo Công-Ước 1887, cũng như so-sánh tài-liệu của CSVN công-bố năm 1979 với các « đoạn biên-giới theo đường đỏ » của HUBG 1999.
    Lời chứng-minh này thay lời biện-hộ cho những người yêu nước hiện còn đang trong vòng tù-tội vì đã dám nói lên sự-thật về lãnh-thổ quốc-gia.

    I. Phương-pháp so-sánh

    Để tiện việc so-sánh, đường biên-giới sẽ được chia làm ba vùng : Quảng-Đông[1], Quảng-Tây và Vân-Nam như đường biên-giới đã được xác-định do Công-Ước Pháp-Thanh 1887.

    Vùng tiếp-giáp Vân-Nam, nhờ có các biên-bản phân-giới do Ðại-Tá Pennequin[2] thiết-lập, vùng này có thể so-sánh dễ-dàng. Vùng Quảng-Tây, tài-liệu thiếu-sót vì thất-lạc. Ðại-Tá Galliéni[3] có lập biên-bản phân-giới nhưng không mô-tả hướng đi của đường biên-giới. Các biên-bản phân-định 1887 thì chỉ có biên-bản của ông De St Chaffray[4] là có giá-trị. Mặt khác, nội-dung mơ-hồ của Hiệp-Ước Biên-Giới 1999 làm cho đoạn này khó so-sánh. Tuy-nhiên, hai bản tường-trình của Trung-Úy Querette[5] và Trung-Úy Détrie[6], hai nhân-viên thuộc ủy-ban phân-giới, đã ghi lại tóm-tắt tình-trạng đường biên-giới. Vì vậy hai bản tường-trình này cũng có một giá-trị nhứt-định. Ông Quérette phụ-trách đoạn từ Lũng-Ban đến Vân-Nam, ông Détrie phụ-trách đoạn Lũng-Ban đến Ðèo-Lương. Người ta có thể dựa lên các bản tường-trình để bổ-túc cho việc xác-định vị-trị các cột mốc (thí-dụ cột mốc 53 thác Bản-Giốc). Nhật-ký phân-giới của Ðại-Tá Servière[7], sau đó Ðại-Tá Galliéni tiếp-tục, cho chúng ta những chi-tiết quí-giá, thí-dụ vị-trí cột mốc tại núi Khấu-Mai mà biên-bản phân-giới đã không ghi rõ. Ðoạn biên-giới Quảng-Ðông tương-đối ngắn, biên-giới phần lớn là con sông, các biên-bản do Chiniac De Labastide[8] và Galliéni lập rõ-ràng, việc so-sánh không khó. Ðiều quan-trọng, hiện nay tại Văn-Khố Hải-Ngại Pháp tại Aix-En-Provence (CAOM), ngoài hồ-sơ phân-định biên-giới 1887-1897 đã được trình-bày ở các chương trước[9], một số bộ bản-đồ 1/50.000 và 1/100.000 vẫn còn được giữ nguyên-vẹn. Hiệp-ước Lào-Việt 1977 phân-định căn-bản trên bộ bản-đồ SGI xuất-bản năm 1948.

    Việc so-sánh cụ-thể đường biên-giới sẽ dễ-dàng và có thể thực-hiện bất-kỳ lúc nào mà bản-đồ của HUBG 1999 công-bố.

    Theo HUBG 1999, biên-giới vùng Vân-Nam từ giới-điểm số 1 đến giới-điểm số 21. Vùng Quảng-Tây từ giới-điểm 22 đến giới-điểm 52. Phần còn lại thuộc biên-giới Quảng-Ðông[10].

    Ở những nơi có thể so-sánh, ta thấy hai đường biên-giới có một số khác biệt.

    II. Những điểm khác biệt theo nội-dung của các Công-Ước :

    Giới điểm số 1 : đỉnh Khoan-La Sơn, là giao-điểm 3 biên-giới Trung-Hoa – Lào - Việt-Nam. Ðiểm này không trùng-hợp với giới-điểm theo Hiệp-Ước Lào-Việt.

    HUBG 1999 : « Giới điểm số 1 ở điểm có độ cao 1875 của núi Khoan La San (Thập Tầng Đại Sơn), điểm này cách điểm có độ cao 1439 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 2,30 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1691 trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 3,70 km về phía Tây - Tây Bắc, cách điểm có độ cao 1208 trong lãnh thổ Trung Quốc khoảng 2,00 km về phía Nam. ». Hiệp-Ước Việt-Lào[11] : « Khởi đầu từ điểm có tọa-độ 110 G 89’ 03’’ – 24 G 89’ 06’’, điểm này cách điểm cao 1865 – Khoan La San (có ký-hiệu điểm tam-giác) khoảng 120 m (một trăm hai mươi mét) về phía Bắc Tây Bắc, đường biên-giới đi hướng Đông Nam theo sống núi đến điểm cao 1850 (có ký-hiệu điểm tam-giác) ; rồi chuyển hướng Tây Nam theo sống núi Y Ma Ho, trở lại hướng Đông Nam theo sống núi San Cho Kay ... »

    Giới điểm số 3 : Sông Nậm-Xí-Lùng, HUBG 1999 xác-định sông này là đường biên-giới. Nhưng theo bản-đồ CUBG 1887 do August Pavie thiết-lập năm 1893, sông này thuộc về Việt-Nam và cách biên-giới khoảng vài cây số.

    Giới điểm số 6 : Ðường biên-giới 1887 « gặp sông Thiên-Hà » trong khi ở HUBG 1999 « gặp nhánh suối không tên ».

    Ðường biên-giới HUBG 1999 mô-tả : « xuôi sông Bá-Kết rồi xuôi theo suối Lũng Pô (Hồng Nham) và hạ lưu của nó, hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu sông này với sông Hồng, từ đó đường biên giới xuôi sông Hồng, hướng Đông Nam đến hợp lưu sông Hồng với sông Nậm Thi (Nam Khê), tiếp đó ngược sông Nậm Thi (Nam Khê), hướng chung Đông Bắc đến hợp lưu sông Nậm Thi (Nam Khê) với sông Bá Kết (Bá Cát), rồi ngược sông Bá Kết (Bát Tự), hướng chung là hướng Bắc đến hợp lưu sông này với một nhánh suối không tên, sau đó ngược nhánh suối không tên đó, hướng Bắc đến giới điểm số 7. »

    CUBG 1887 : « Từ hợp-lưu sông Long-Bác với sông Hồng, đường biên giới theo trung-tuyến sông Hồng cho đến hợp-lưu của sông này với sông Nam-Tây (Nam Tây Hà 南洗河 HUBG 1999 ghi là sông Nam-Khê, chú-thích tg), sau đó đường biên-giới theo sông Nam-Tây cho đến hợp-lưu giữa nó với sông Bá-Kết (Bá Kết Hà 垻結河), đường biên-giới đi ngược sông Bá-Kết cho đến hợp-lưu giữa nó với con sông có tên Thiên (Thiên Hà 千河), sau đó theo Thiên-Hà cho đến điểm mà con sông nhỏ này bị cắt ngang do con đường từ Cốc-Phương (谷方) đến Lão-Ao-Trang (老凹), tức là cách làng Cốc-Phương 900 thước.[12] »

    Giới điểm số 8 : Có sự khác biệt về hợp-lưu hai con sông Chảy và Nam-Len (Ðông Nhai Hà) theo CUBG 1887, với hợp-lưu của hai con sông Chảy và sông Xiao-Bai theo HUBG 1999.

    HUBG 1999 « Từ giới điểm số 8, đường biên giới xuôi sông Xanh (Qua Sách), hướng chung là hướng Nam đến hợp lưu sông này với sông Chảy, rồi ngược sông Chảy, hướng chung Đông Nam, đến giới điểm số 9. Giới điểm này ở hợp lưu sông Chảy với sông Xiao Bai… ».
    CUBG 1887 : « Từ điểm chấm dứt đoạn biên-giới thứ nhứt trên sông Qua-Sách (Qua Sách Hà 戈 索 河 ), đường biên giới từ điểm này xuôi dòng chảy cho đến hợp-lưu với sông Chảy (Hắc Hà 黑河), đường biên-giới rời sông Qua-Sách bắt qua sông Chảy, đi ngược sông cho đến điểm hợp-lưu với sông Nam-Len (Ðông-Nhai Hà 銅 街 河)[13]. »

    Giới điểm số 9 : Ðường biên-giới 1999, ngoài khoảng « theo đường đỏ » bị thay đổi, còn sai biệt là không theo sông Qua-Nhai như CUBG 1887.

    HUBG 1999 « Từ giới điểm số 9, đường biên giới rời sông, bắt vào sống núi, rồi theo sống núi, hướng chung Đông Nam, qua điểm có độ cao 741 đến điểm có độ cao 1326, sau đó theo đường phân thủy giữa các nhánh của sông Chảy đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh của sông Xiao Bai đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc, qua các điểm có độ cao 1681, 1541, 1716, 2002, 1964, đỉnh núi không tên (Đại Nham Động) đến điểm có độ cao 1804, từ đó, theo đường đỏ trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đến điểm có độ cao 1623, sau đó theo đường phân thủy giữa suối Nàn Xỉn trong lãnh thổ Việt Nam và sông Xiao Bai trong lãnh thổ Trung Quốc, hướng Đông Bắc, qua điểm có độ cao 1638 đến điểm có độ cao 1661, rồi theo khe, hướng Đông Bắc xuống giữa suối Hồ Pả, tiếp đó xuôi suối này đến hợp lưu suối này với một nhánh khác của nó, rồi rời suối bắt vào sống núi, rồi theo sống núi hướng Tây - Tây Bắc, qua điểm có độ cao 1259 đến giới điểm số 10. »

    CUBG 1887 : « Ðường biên-giới sau đó lên bộ theo hướng Ðông-Bắc, trước hết theo đường phân-thủy chia thung-lũng sông Chảy với thung-lũng sông Nam-Len (Ðông-Nhai Hà), sau đó theo đường phân-thủy chia thung-lũng sông Nam-Tùng (Nam Tùng Hà 南松河) và sông Qua-Nhai (Qua Nhai Hà戈街河).

    Ðường biên-giới xuống đột-ngột để bắt vào sông Qua-Nhai, tại điểm cách hợp-lưu sông này với sông Nam-Bắc Hà (南北河) khoảng 300 thước, đi ngược sông cho đến giao-điểm của sông này với đường từ Bảo-Lương Nhai (保良街) đến Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡)[14]. »

    III. Tìm hiểu các đoạn « biên-giới theo đường đỏ »

    Ở các giới điểm 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 17, 21, 22, 24, 26, 27, 31, 34, 35 (thác Bản-Giốc), 36, 39, 42 (Khấu-Mai Lĩnh), 43, 44, 47, 48, 49 (Ðại-Nam Quan), 50, 51, 54 (Trình-Tường) đường biên-giới có thay đổi (theo đường đỏ).

    Ở những nơi « đường biên-giới theo đường đỏ trên bản-đồ đính kèm » thì không thể kiểm-chứng vì các « bản-đồ đính kèm » chưa được CSVN công-bố. Ngoại trừ vùng Ðại-Nam Quan, bản-đồ mang số 249 C và vùng thác Bản-Giốc, bản-đồ mang số 186 C[15].

    Các giới-điểm cũng rất khó kiểm-chứng, mặc dầu đã được mô-tả cao-độ, khoảng-cách với các cao-điểm khác chung-quanh, nhưng không thể nhận-diện nếu không có bản-đồ không-ảnh chụp ba chiều. Tuy-nhiên, nếu đọc nguyên-văn lời tố-cáo của CSVN trước dư-luận quốc-tế năm 1979, về những vụ Trung-Cộng lấn đất từ năm 1954 đến nay, một số nghi-vấn sẽ được giải-tỏa.

    Các đoạn biên-giới « theo đường đỏ » thực ra là những đoạn biên-giới đã được sửa-chữa vì bị Trung-Cộng lấn-chiếm. HUBG 1999 có thể nhằm mục-đích chính-thức-hóa việc chiếm đất của Trung-Cộng. Người ta cho rằng CSVN « bán đất, nhượng biển » vì thế đều có căn-cứ. Nguyên-bản tài-liệu này được chụp hình ở trong chương 9 phụ-lục. Tài-liệu có tựa-đề : « Tình-hình Trung-Quốc lấn chiếm lãnh-thổ Việt-Nam từ năm 1954 đến nay. »[16] Nguyên-văn các đoạn liên-hệ đến « biên-giới theo đường đỏ » như sau :

    1/ Từ xâm-canh, xâm-cư đến xâm-chiếm đất.

    Lợi-dụng đặc-điểm là núi-sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân-dân hai bên biên-giới vốn có quan-hệ họ-hàng, dân-tộc, phía Trung-Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh-thổ Việt-Nam để làm ruộng, làm nương, rồi định-cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm-quyền Trung-Quốc ngang-ngược coi những khu-vực đó là lãnh-thổ Trung-Quốc.

    Khu-vực Trình-Tường thuộc tỉnh Quảng-Ninh là một thí-dụ điển-hình cho kiểu lấn-chiếm đó. Khu-vực này được các văn-bản và các bản-đồ hoạch-định và cắm mốc xác-định rõ-ràng là thuộc lãnh-thổ Việt-Nam: đường biên-giới lịch-sử tại đây đi qua một dải núi cao, chỉ rõ làng Trình-Tường và vùng chung-quanh là lãnh-thổ Việt-Nam. Trên thực-tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình-Tường, những người dân Trung-Quốc sang quá-canh ở Trình-Tường đều đóng thuế cho nhà đương-cục Việt-Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung-Quốc tìm cách nắm số dân sang làm ăn ở Trình-Tường bằng cách cung-cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải, và nhiều hàng khác, đưa họ vào công-xã Ðồng-Tâm thuộc huyện Ðông-Hưng, khu tự-trị Choang - Quảng-Tây. Nhà đương-cục Trung-Quốc ngiễm-nhiên biến một vùng lãnh-thổ Việt-Nam, dài 6 km, sâu hơn 1.300 m thành sở-hữu tập-thể của một công-xã Trung-Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt-Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh-sống ở Trình-Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện-thoại, tự cho phép đi tuần-tra khu-vực này, đơn-phương sửa lại đường biên-gới sang đồi Khâu-Thúc của Việt-Nam. Tiếp đó họ đã gây ra rất nhiều vụ hành-hung, bắt cóc công-an vũ-trang Việt-Nam đi tuần-tra theo đường biên-giới lịch-sử và họ phá-hoại hoa-mầu của nhân-dân địa-phương. Trình-Tường không phải là một trường-hợp riêng-lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung-Quốc tranh-lấn với thủ-đoạn tương-tự như xã Thanh-Loa, huyện Cao-Lộc (mốc 25,26,27) ở Lạng-Sơn, Khẳm-Khau (mốc 17-19), ở Cao-Bằng, Tả-Lũng, Làn-Phù-Phìn, Minh-Tân (mốc 14) ở Hà-Tuyên, khu-vực xã Nam-Chay (mốc 2-3) ờ Hoàng-Liên-Sơn với chiều dài hơn 4 Km, sâu hơn 1 Km; diện-tích hơn 300 héc-ta.

    Có thể nói đây là một kiểu chiếm đất một cách êm-lặng.

    Biên-giới vùng Trình-Tường, hiện nay có tranh-chấp, tương-ứng các cột mốc 30, 31, 32 của CUBG 1887, được xác-định qua biên-bản 21 tháng 12 năm 1893 : «La frontière suivra ensuite le cours de ce même affluent jusqu’à son intersection avec le ruisseau qui prend sa source à 500 mètres de 呈祥 (en annamite Trinh Tuong, en chinois Tcheng Siang) elle suivra ce ruisseau depuis cette intersection jusqu’à sa source de là, elle se dirigera par des lignes droites jusqu’à 北崗 (en annamite Bac Cuong Aï, en chinois Pé Kang Aï), passant par les sommets 675, 812 et 746 qui se trouvent au N.O. de Trinh Tuong.

    Le village de Trinh Tuong appartient à l’Annam ceux de 衞慙 (en annamite Vệ Tàm, en chinois Shu Tsan) et de 矯曹(en annamite Kiểu-Tào, en chinois Kiao Tsao) à la Chine. »

    Ðường biên-giới sau đó là cũng là phụ-lưu nói trên cho tới giao điểm của sông này với con suối mà nguồn của nó cách Trịnh-Tường 呈祥 (Tcheng-Siang) 500 m ; đường biên-giới theo dòng suối này từ giao-điểm cho tới nguồn của nó. Tại đây đường biên-giới theo những đường thẳng cho tới Bắc-Cương Ải 北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía Tây-Bắc Trịnh-Tường.

    Làng Trịnh-Tường thuộc về Việt-Nam ; các làng Vệ-Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu-Tào 矯曹(Kiao Tsao) thì thuộc về Trung-Hoa. »

    Biên-bản đã xác-định rõ rệt làng Trình-Tường thuộc về Việt-Nam. Biên-giới tại đây được xác định là những đường thẳng nối các đỉnh cao 675, 812 và 746. Các đỉnh này ở về phía Tây-Bắc Trình-Tường.
    Ðây là đoạn « biên-giới theo đường đỏ » gần mốc giới 54 của HUBG 1999. Vì chưa biết được hình-dạng « đường đỏ » phân-chia vùng này thế nào nên không thể kết-luận. Theo tài-liệu thì có tới 40 vùng như thế trên biên-giới. Người thông-hiểu tình-hình trong nước nói rằng Việt-Nam mất 750km² đất.

    Biên-giới xã Thanh-Loa, huyện Cao-Lộc, Lạng-Sơn bị lấn ở đoạn Bản-Phiêu Ngoại Sách (cột mốc 25), Pháp-Ca Sơn (26), Bộ-Tác Sơn (27). Vùng này tương-ứng với đoạn « biên-giới theo đường đỏ » ở mốc giới 50.

    Vùng Khảm-Khau (cột mốc 17 Canh-Hoa Ải 19 Lũng-Dương Ca) Cao-Bằng, tương-ứng vùng « đường đỏ » thuộc giới-điểm 44 của HUBG 1999.

    Ðoạn các giới-điểm 46, 47, 48 và 49 thuộc đoạn biên-giới từ Bình-Nhi Quan đến Ðại-Nam Quan.

    2/ Lợi-dụng việc xây-dựng các công-trình hữu-nghị để đẩy lùi biên-giới sâu vào lãnh-thổ Việt-Nam.

    Năm 1955, tại khu-vực Hữu-Nghị Quan, khi giúp Việt-Nam khôi-phục đoạn đường sắt từ biên-giới Việt-Trung đến Yên-Viên, gần Hà-Nội, lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, phía Trung-Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt-Trung sâu trong lãnh-thổ Việt-Nam trên 300m so với đường biên-giới lịch-sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên-giới giữa hai nước đi qua. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, Chính-Phủ Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa đã đề-nghị chính-phủ hai nước giao cho ngành đường sắt hai bên điều-chỉnh lại điểm nối ray cho phù-hợp với đường biên-giới lịch-sử nhưng họ một-mực khước-từ bằng cách hẹn đến khi hai bên bàn toàn-bộ vấn-đề biên-giới thì sẽ xem-xét. Cho đến nay họ vẫn trắng-trợn ngụy-biện rằng khu-vực hơn 300m đường sắt đó là đất Trung-Quốc với lập-luận rằng “không thể có đường sắt nuớc này đặt trên lãnh-thổ nước khác”.

    Cũng tại khu-vực này, phía Trung-Quốc đã ủi nát mốc biên-giới số 18 nằm cách cửa Nam-Quan 100m trên đường Quốc-Lộ để xóa vết-tích đường biên-giới lịch-sử, rồi đặt cột mốc ki-lô-mét 0 đường bộ sâu vào lãnh-thổ Việt-Nam trên 100m, coi đó là vị-trí đường quốc-giới giữa hai nước ở khu-vực này.

    Như vậy, họ đã lấn-chiếm một khu-vực liên-hoàn từ đường sắt sang đường bộ thuộc xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn của Việt-Nam, dài 3.100km (có lẽ ghi sai, m chứ không thể km, chú-thích của tác-giả) và vào sâu đất Việt-Nam 0,500 km. Năm 1975, tại khu-vực mốc 23 (xã Bảo-Lâm, huyện Văn-Lãng, tỉnh Lạng-Sơn), họ định diễn lại thủ-đoạn tương-tự khi hai bên phối hợp đặt ống dẫn dầu chạy qua biên-giới: phía Việt-Nam đề-nghị đặt điểm nối ống dẫn dầu đúng đường biên-giới, họ đã từ-chối, do đó bỏ dở công-trình này.

    Khi xây-dựng các công-trình cầu-cống trên sông, suối biên-giới, phía Trung-Quốc cũng lợi-dụng việc thiết-kế kỹ-thuật làm thay đổi dòng chảy của sông, suối về phía Việt-Nam, để nhận đường biên-giới có lợi cho phía Trung-Quốc.

    Các cầu ngầm Hoành-Mô thuộc tỉnh Quảng-Ninh được Trung-Quốc giúp xây-dựng vào năm 1968. Một thời-gian dài sau khi cầu được xây-dựng xong, hai bên vẫn tôn-trọng đường biên-giới ở giữa cầu; vật-liệu dự-trữ để sửa-chữa cầu sau nầy cũng được đặt ở mỗi bên với số-lượng bằng nhau tính theo đường biên-giới ở giữa cầu. Nhưng do Trung-Quốc có sẵn ý-đồ chỉ xây một cống nước chảy nằm sát bờ Việt-Nam nên lưu-lượng dòng chảy đã chuyển hẵn sang phía Việt-Nam, từ đó phía Trung-Quốc dịch đường biên-giới trên cầu qua sang đất Việt-Nam. Thủ-đoạn như vậy cũng thực-hiện đối với cầu ngầm Pò-Hèn (Quảng-Ninh), đập Ái-Cảnh (Cao-Bằng), cầu Ba-Nậm-Cúm (Lai-Châu)...

    Ðoạn « biên-giới theo đường đỏ » vùng Ðại-Nam Quan tương-ứng mốc-giới 49.

    3/ Ðơn-phương xây-dựng các công-trình ở biên-giới lấn sang đất Việt-Nam. Trên đoạn biên-giới đất liền cũng như các đoạn biên-giới đi theo sông-suối, tại nhiều nơi, phía Trung-Quốc đã tự-tiện mở rộng xây-dựng các công-trình để từng bước xâm-lấn đất.

    Tại khu-vực cột mốc 53 (xã Ðàm-Thủy, huyện Trùng-Khánh, tỉnh Cao-Bằng) trên sông Qui-Thuận có thác Bản-Giốc, từ lâu là của Việt-Nam và chính-quyền Bắc-Kinh cũng đã công-nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung-Quốc đã huy-động trên 2.000 người kể cả lực-lượng vũ-trang lập-thành hàng rào bố-phòng dày-dặc bao-quanh toàn-bộ khu-vực thác Bản-Giốc thuộc lãnh-thổ Việt-Nam, cho công-nhân cấp-tốc xây-dựng một đập kiên-cố bằng bê-tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên-giới, làm việc đã rồi, xâm-phạm lãnh-thổ Việt-Nam trên cồn Pò-Thoong và ngang-nhiên nhận cồn này là của Trung-Quốc.

    Các thị-trấn Ái-Ðiểm (đối-diện với Chi-Ma, Lạng-Sơn), Bình-Mãng (đối-diện Sóc-Giang, Cao-Bằng) vốn đã nằm sát các mốc-giới 43 và 114, lại ngày càng được phía Trung-Quốc mở rộng ra lấn sang đất Việt-Nam từ hàng chục đến đến hàng trăm mét với công-trình nhà-cửa, trường-học, khu-phố ...

    Bằng cách tổ-chức lâm-trường, trồng cây gây rừng, làm đường chắn lửa, đặt hệ-thống điện cao-thế, điện-thoại lấn vào lãnh-thổ Việt-Nam, Trung-Quốc đã biến nhiều vùng đất khác của Việt-Nam thành đất của Trung-Quốc.

    Ðoạn ải Chí-Mã (Ải-Ðiếm Ải Khẩu, không phải Ái-Ðiểm) là cột mốc 44, không phải cột 43. Cột mốc 43 có tên Ðạo-Nê Sơn. Ðoạn này tương-ứng « đường biên-giới theo đường đỏ » cận mốc-giới 51. Cột mốc 114 ở Cao-Bằng có tên Bình-Mãng Ải Khẩu. Ðoạn thác Bản-Giốc « theo đường đỏ » ở khoảng mốc-giới 35.

    4/ Từ mượn đất của Việt-Nam đến biến thành lãnh-thổ của Trung-Quốc.

    Ở một số địa-phương, do địa-hình phức-tạp, điều-kiện sinh-hoạt của dân-cư Trung-Quốc gặp khó-khăn, theo yêu-cầu phía Trung-Quốc, Việt-Nam đã cho Trung-Quốc mượn đường đi lại , cho dùng mỏ nước, cho chăn trâu, lấy của, đặt mồ-mả... trên đất Việt-Nam, họ đã dần-dần mặc-nhiên coi những vùng đất mượn này là đất Trung-Quốc. Khu-vực Phia-Un (mốc 94-95) thuộc huyện Trà-Lĩnh, tỉnh Cao-Bằng là điển-hình cho kiểu lấn-chiếm này. Tại đây, mới đầu phía Trung-Quốc mượn con đường mòn, rồi tự ý mở rộng mặt đường để ô-tô đi lại đuợc vào khu-vực mỏ của Trung-Quốc, đặt đường dây điện, đưa dân đến ở ngày càng đông, lập làng bản mới. Dựa vào thực-tế đó, từ 1956 họ không thừa-nhận đường biên-giới lịch-sử chạy trên đỉnh núi Phia-Un mà đòi biên-giới chạy xa về phía Nam con đường, sâu vào đất Việt-Nam trên 500 mét. Lý-lẽ của họ là nếu không phải đất của Trung-Quốc sao họ có thể làm đường ô-tô, đặt đường điện-thoại được... Nguyên-nhân chủ-yếu của việc họ lấn chiếm là vì khu-vực Phia-Un có mỏ măng-gan.

    Cột mốc 94 tên Kim-Thiền Khẩu và cột 95 mang tên Tứ-Bang Lĩnh. Vùng này tương-ứng « đường biên-giới theo đường đỏ » cận mốc-giới 27.

    5/ Xê-dịch và xuyên-tạc pháp-lý các mốc-giới để sửa-đổi đường biên-giới.

    Ngoài việc lợi-dụng một số các mốc-giới đã bị Trung-Quốc xê-dịch từ trước sai với nguyên-trạng đường biên-giới lịch-sử để chiếm-giữ trái phép đất Việt-Nam, nay phía Trung-Quốc cũng tự ý di-chuyển mốc ở một số nơi, hoặc lén-lút đập-phá, thủ-tiêu các mốc không có lợi cho họ như ở khu-vực Chi-Ma (Lạng-Sơn), khu-vực mốc 136 ở Cao-Bằng... Ðối với những trường-hợp như vậy, họ đều khước-từ đề-nghị của phía Việt-Nam về việc hai bên cùng điều-tra và lập biên-bản xác-nhận. Ngay tại một số nơi mà vị-trí mốc giới đặt đúng với đường biên-giới lịch-sử, họ cũng tìm cách xuyên-tạc đường biên-giới đã rõ-ràng chạy giữa hai mốc như khu-vực Kùm-Mu – Kim-Ngân - Mẫu-Sơn (mốc 41, 42, 43) ở Lạng-Sơn dài trên 2,5 Km, diện-tích gần 1.000 héc-ta, khu-vực Nà-Pảng – Kéo-Trình (mốc 29, 30, 31) ở Cao-Bằng, dài 6,45 Km, sâu vào đất Việt-Nam 1,3 Km, diện-tích gần 200 héc-ta.

    Mốc 41 là Lục-Vinh Sơn, 42 Công-Mẫu Sơn, 43 Đạo-Nê Sơn. Mốc 136 (Cao-Bằng) Bạch-Hoài Đại Ải. Cột mốc 29 Tam-Sắc Sơn, 30 Khấu-Sơn Ngoại Sách, 31 Khô-Liểu Lĩnh.

    6/ Làm đường biên-giới lấn sang Việt-Nam.

    Ðể chuẩn-bị cho các cuộc tiến-công xâm-lược Việt-Nam, liên-tiếp trong nhiều năm trước, phía Trung-Quốc đã thực-hiện kế-hoạch làm đường biên-giới qui-mô lớn nấp dưới danh-nghĩa là để “cơ-giới-hóa nông-nghiệp”. Ðặc-biệt là từ năm 1974 lại đây, họ đã mở ào-ạt những chiến-dịch làm đường, có nơi huy-động một lúc 8.000 người vào công-việc này. Trong khi làm các đường đó, họ phá di-tích về đường biên-giới lịch-sử, nhiều nơi họ đã lấn vào lãnh-thổ Việt-Nam, chỉ tính từ tháng 10 năm 1976 đến năm 1977, bằng việc làm đường biên-giới họ đã lấn vào đất Việt-Nam tại hàng chục điểm, có điểm diện-tích rộng trên 32 héc-ta, sâu vào đất Việt-Nam trên 1 km như khu-vực giữa cột mốc 63-65 thuộc huyện Trà-Lĩnh, tỉnh Cao-Bằng hay khu-vực giữa mốc 1-2 Cao-Ma-Pờ thuộc tỉnh Hà-Tuyên dài 4 km, sâu vào đất Việt-Nam 2 km.

    Vùng Cao-Ma-Pờ, thực ra là Cao-Mã-Bạch, cột mốc số 1 ở trên đèo, cách Tân-Nham 2 dặm và mốc số 2 trên đỉnh đèo ở phía Bắc Cao-Mã-Bạch. Tương-ứng « đường biên-giới theo đường đỏ » cận giới-điểm 21.

    7/ Lợi-dụng vẽ bản-đồ giúp Việt-Nam để chuyển-dịch đường biên-giới.

    Năm 1955-1956, Việt-Nam đã nhờ Trung-Quốc in lại bản-đồ nước Việt-Nam tỉ-lệ 1/100.000. Lợi-dụng lòng tin của Việt-Nam, họ đã sửa ký-hiệu một số đoạn đường biên-giới dịch về phía Việt-Nam, biến vùng đất của Việt-Nam thành của Trung-Quốc. Thí-dụ: họ đã sửa ký-hiệu ở khu-vực thác Bản-Giốc (mốc 53) thuộc tỉnh Cao-Bằng, nơi họ định chiếm một phần thác Bản-Giốc của Việt-Nam và cồn Pò-Thoong.

    8/ Dùng lực-lượng vũ-trang uy-hiếp và đóng chốt để chiếm đất.

    Trên một số địa-bàn quan-trọng, phía Trung-Quốc trắng-trợn dùng lực-lượng vũ-trang để cố đạt tới mục-đích xâm-lấn lãnh-thổ. Tại khu-vực Trà-Mần - Suối-Lũng (mốc 136 – 137) thuộc huyện Bảo-Lạc, tỉnh Cao-Bằng, năm 1953 Trung-Quốc đã cho một số hộ dân Trung-Quốc sang xâm-cư ở cùng với dân của Việt-Nam; sau đó, họ tiếp-tục đưa dân sang thêm hình-thành ba xóm với 16 hộ, 100 nhân-khẩu mà họ đặt tên là Si Lũng theo tên một làng của Trung-Quốc gần đó. Tuy thế, cho đến năm 1957 phía Trung-Quốc vẫn thừa-nhận khu-vực này là đất của Việt-Nam. Từ năm 1957 trở đi, họ tiến-hành việc dựng trường học, bắc dây truyền-thanh đào hố khai-thác than chì rồi ngang-nhiên cắm cờ biểu-thị chủ-quyền lãnh-thổ của Trung-Quốc. Tháng 6 năm 1976, họ đã trắng-trợn đưa lực-lượng vũ-trang đến đóng chốt để đàn-áp quần-chúng đấu-tranh và ngăn-cản việc tuần-tra của Việt-Nam vào khu-vực này, chiếm hẵn một vùng đất Việt-Nam trên 3,2 Km, có mỏ than chì.

    Ở khu-vực giữa mốc 2 – 3 thuộc xã Nậm-Chảy, huyện Mường-Khương, tỉnh Hoàng-Liên-Sơn cũng xãy ra tình-hình như vậy. Năm 1967 – 1968, nhiều hộ người Mèo thuộc huyện Mã-Quan, tỉnh Vân-Nam (Trung-Quốc) chạy sang định-cư ở đây. Phía Việt-Nam đã yêu-cầu phía Trung-Quốc đưa số dân đó trở về Trung-Quốc, nhưng họ đã làm ngơ, lại tiếp-tục tăng số dân lên đến 36 hộ gồm 152 người, vào vùng này thu-thuế phát phiếu vải cho dân, đặt tên cho xóm dân Mèo nầy là “Sìn-Sài-Thàng”, tên của một bản Trung-Quốc ở bên kia biên-giới cách khu-vực nầy 3 Km. Mặc dù phía Việt-Nam đã nhiều lần kháng-nghị, họ vẫn không rút số dân đó đi, trái lại, đầu năm 1976 còn đưa lực-lượng vũ-trang vào đóng-chốt chiếm giữ. Nay họ đã lập thêm đường dây điện-thoại, loa phóng-thanh, dựng trường học, tổ-chức đội sản-xuất, coi là lãnh-thổ của Trung-Quốc.

    Cột mốc 136 có tên Bạch-Hoài Ðại Ải và cột mốc 137 Cốc-Tùng Sơn, tương-ứng vùng « biên-giới theo đường đỏ » ở mốc giới 22. Mốc số 2, trên đường từ Long-Ba-Mỹ đến Bạch-Thạch Nhai, cột số 3 trên đường từ Nam-Trại đến Giáp-Mã-Thạch (Lào-Cai - Vân-Nam, biên-bản số 2 ngày 13 tháng 6 năm 1897), tương-ứng đoạn « đường đỏ » thuộc mốc giới số 9. Trong đoạn này có mỏ than chì ở Suối Lũng.

    IV. Xoá bỏ huyền-thoại « bác cháu ta có công giữ nước ».

    Từ thực-tế cho đến tài-liệu trên, CSVN đã để lộ trước hết cái dại-dột của người lãnh-đạo. Đoạn liên-quan Trình-Tường cũng như nhiều đoạn khác, biết được thái-độ của Trung-Cộng, ta không khỏi tự hỏi « chẳng lẻ đất nước này vô chủ hay sao ? ». CSVN để lộ rõ-rệt hơn bao giờ hết tinh-thần « quốc-tế » nhưng bạc-bẻo với dân và hờ-hửng đối với đất nước.

    Nếu ta trở lại vấn-đề Hoàng-Sa, từ khi chính-phủ CSVN hiện-hữu cho đến năm 1979, chính-phủ này đã nhiều lần lên tiếng công-nhận chủ-quyền của Trung-Cộng tại quần-đảo. Trong khi quân VNCH đang chí-tử với Trung-Cộng tại Hoàng-Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974 để bảo-vệ lãnh-thổ nước nhà, CSVN vẫn im-lặng đồng-lõa với quân xâm-lăng. Những vụ Trung-Cộng lấn đất trên biên-giới cũng thế, đã xãy ra từ 1954, lúc Hồ Chí Minh còn tại-vị. Chúng ta chưa bao giờ nghe ông Hồ lên tiếng phản-đối. Toàn-bộ tài-liệu cho ta biết rõ những âm-mưu lấn đất của Trung-Cộng. Thác Bản-Giốc, ải Ðại-Nam, Trình-Tường, các mỏ khoáng-sản cũng như tham-vọng bành-trướng biển Ðông v.v… CSVN chỉ lên tiếng phản-đối sau 1979, tức sau khi có xung-đột với Trung-Cộng, CSVN bỏ Tàu theo Liên-Xô. Nếu không có cuộc chiến này chắc-chắn họ im luôn. Nhưng sự lên tiếng của họ từ 1979 đến nay có hiệu-quả gì không ? Câu trả lời là Không có gì hết ! Hiệp-Ước 1999 là bằng-chứng cụ-thể cho lời khẳng-định này.

    Ta thấy biên-giới vùng Ðại-Nam Quan (Nam-Quan) đã thay-đổi từ thời còn Hồ Chí Minh. Cột mốc 18 bị « ủi nát » và lấn về Việt-Nam trên 200m. Ðoạn nối ray cũng bị lấn 300m từ thời Hồ Chí Minh. Vấn-đề thác Bản-Giốc trở nên rõ-rệt hơn ở tài-liệu này. CSVN đã biết thác Bản-Giốc thuộc Việt-Nam và họ không thiếu bằng chứng để chứng-minh chủ-quyền của Việt-Nam tại đây.

    Nhiều phần đất đã đổi chủ từ lâu như tài liệu tố-cáo, nhưng cũng có nhiều vùng biên-giới bị thay đổi sau cuộc chiến 1979. Một số cao điểm thuộc lãnh-thổ Việt-Nam đã bị Trung-Hoa chiếm-đóng từ 1979 cho đến hôm nay. Các đoạn biên-giới thuộc giới-điểm 42, 43, 44, 46, 47, 48, 49, 50, 51 đều thay-đổi theo « đường đỏ ». Ðoạn từ giới điểm 40 đến 46, là tổng Ðèo-Lương[17], trước 1887 thuộc Việt-Nam, mất về Tàu do sự trao-đổi của Ðại-Tá Galliéni năm 1894 (xem chương 3). Việt-Nam chỉ còn giữ được các cao-điểm chiến-lược, trong đó có ngọn Khấu-Mai. Sau 1979, các cao điểm chiến-lược đó đều bị Trung-Cộng chiếm.
    Khảo-sát các tài-liệu ta cũng biết cột mốc bị dời đi đã bắt đầu từ khi đường biên-giới phân-định vừa xong (1897). Hồ-sơ SGI (xem phụ-lục chương 9, phần SGI) cho phép ta khẳng-định như thế. Thực-dân Pháp làm ngơ chuyện này vì đối với họ là chuyện nhỏ, vì không phải là đất của cha-ông họ để lại.

    Những lời tuyên-bố trễ-tràng của CSVN không nhằm mục-tiêu đòi lại lãnh-thổ hay lãnh-hải đã bị mất. Hai hiệp-ước đã ký năm 1999 và năm 2000 là hai bằng-chứng hùng-hồn : Thác Bản-Giốc nhượng mất ½, ải Đại-Nam nhượng trên 200m, nhượng núi Khấu-Mai, nhượng trên 11.000km² biển trong Vịnh Bắc-Việt v.v… Nhưng những vùng đất và biển mà CSVN nhượng cho Trung-Cộng mà chúng ta biết được chỉ là phần nổi của một băng-đảo. Khi các bản-đồ của hiệp-ước 1999 được công-bố ta sẽ thấy có thêm bao nhiêu đất bị mất.

    Trong vấn-đề nhượng lãnh-thổ và lãnh-hải của Việt-Nam, Hồ Chí Minh là người có trách-nhiệm lớn nhất. Hồ Chí Minh có chủ-trương nhượng đất, nhượng biển, nhượng hải-đảo từ thập-niên 1950, thời ông còn sống. Các vùng đất được hợp-thức-hóa vào năm 1999 phần lớn là nhượng từ thời Hồ Chí Minh.

    « Các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta có công giữ nước » là khẩu-hiệu ta thường nghe ở trong nước. Thực-tế cho thấy « bác cháu » họ không hề giữ nước. Chúng ta chưa dám nói bác cháu họ đã bán nước. Nhưng phần nói về núi Khấu-Mai, ta sẽ thấy hành-động « các cháu của bác » là hành-động bán nước. « Bác cháu » họ là những người có tội rất nặng trước những vua Hùng.

    Trương Nhân Tuấn

    [1] Theo điều-kiện năm 1887.
    [2] Chủ-Tịch Ủy-Ban phân-giới vùng Vân-Nam 1895-1897.
    [3] Chủ-Tịch Ủy-Ban phân-giới vùng Quảng-Tây 1893-1894.
    [4] Chủ-Tịch Ủy-Ban Phân-Định Pháp 1885-1886.
    [5] Sĩ-quan phụ-trách cắm mốc vùng Quảng-Tây dưới quyền ông Galliéni.
    [6] Idem.
    [7] Chủ-Tịch Ủy-Ban phân-giới vùng Quảng-Tây 1891-1893.
    [8] Chủ-Tịch Ủy-Ban phân-giới vùng Quảng- Đông 1889-1891.
    [9] Lời giới thiệu : Bài viết này trích trong sách « Biên-Giới Việt-Trung 1885-2000 - lịch-sử thành-hình và những tranh-chấp », sẽ xuất-bản khoảng tháng 10 năm 2005. Sách dày 850 trang, trình bày cụ-thể đường biên-giới lịch-sử và đường biên-giới theo Công-Ước 1887, với đầy-đủ tài-liệu gốc. Giá bán 32 $US hay 28 Euros (cộng thêm cước-phí : Hoa-Kỳ 13 $US, Châu-Âu 8 Euros). Liên-lạc : [email protected] hay viết thư về địa-chỉ : Ngô Quốc Dũng, N° 3 parc du Château, 78 rue des Polytres, Marseille 13013, France.
    [10] Việc so-sánh đặt trên những điều-kiện của công-ước 1887.
    [11] Xem La Nouvelle Frontière Lao-Vietnam, tác-giả Bernard Gay (Histoires des frontière de la Péninsule indochinoise – 2. Sous la direction de P.B. Lafont). NXB Harmattan, Paris.
    [12] Xem biên-bản số 2 : Từ hợp-lưu sông Long-Bác với sông Hồng đến sông Qua-Sách. Chương 4.
    [13] Xem biên-bản số 3 : Từ Qua-Sách Hà đến Cao-Mã Bạch thuộc Bắc-Kỳ đến Tân-Nhai thuộc Vân-Nam. Chương 4.
    [14] Như ghi chú 3.
    [15] Bản-đồ do ông Nguyễn Ngọc Giao công-bố trên internet.
    [16] Tài-liệu này do ông Thái Văn Cầu gởi cho. Tác-giả trân-trọng cám-ơn.
    [17] Tổng Đèo-Lương trên bản-đồ tương-ứng với lỗ hổng phía Đông-Bắc Cao-Bằng, giáp giới với Lạng-Sơn.

    TUYÊN BỐ NGÀY 12/11/1982 CỦA CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ LÃNH HẢI VIỆT NAM

    Sau khi ký kết Hiệp Định Phân Định Lãnh Hải và Vùng Đặc Quyền Kinh Tế với Trung Quốc tháng 12 năm 2000 để dâng cho Trung Quốc 9% diện tích Vịnh Bắc Bộ (tức khoảng 11000 km vuông) đảng CSVN đã trâng tráo tuyên truyền với đồng bào trong nước là Vịnh Bắc Bộ trước đây chưa hề được phân định nên nay phải làm để bảo vệ lãnh hải và giữ tình thân thiện với người bạn vàng Trung Quốc.

    Thực ra đây là một sự LÁO KHOÉT trắng trợn vì ngày 12/11/1982 đảng CSVN (qua chính phủ nước CHXHCN Việt Nam) đã ra tuyên bố về đường cơ sở để đo đạc lãnh hải nước ta và đệ trình cho Liên Hiệp Quốc.

    Trong bản tuyên bố này có điều (3) như sau:

    (3) Vịnh Bắc Bộ (Tonkin Gulf) là vịnh nằm giữa hai nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc; đường biên giới lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phân định theo Công Ước phân định biên giới ngày 26 tháng 6 năm 1887 ký kết giữa nước Pháp và Triều Đình Nhà Thanh của Trung Quốc.

    Phần của vịnh thuộc về Việt Nam tạo thành vùng biển lịch sử và là vùng nội hải thuộc quyền tài phán của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Đường cơ sở từ Đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh sẽ được định nghĩa sau khi giải quyết xong vấn đề liên hệ tới đường đóng của vịnh.

    Điều này cho ta thấy ít nhất là từ năm 1982 (cho đến năm 2000 trước khi ký Hiệp Định nói trên) đảng CSVN đã chủ trương Vịnh Bắc Bộ đã được phân định theo Công Ước lịch sử Pháp Thanh ngày 26/6/1887. Nhưng sau đó vì muốn bảo vệ sự sống còn của Đảng, CSVN đã hèn hạ phản bội Tổ Quốc và quỳ gối dâng biển cho Tàu (sau khi đã dâng đất). Tội bán nước này của đảng CSVN sẽ bị ghi vào lịch sử VN.

    Mời các bạn xem bản dịch và nguyên văn tiếng Anh của Tuyên Bố 12/11/1982 này dưới đây.

    Kính, Trúc Lê.

    -------

    TUYÊN BỐ NGÀY 12/11/1982 CỦA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VỀ ĐƯỜNG CƠ SỞ CỦA LÃNH HẢI VIỆT NAM

    Thực hiện những qui định trong đoạn 1 về tuyên cáo về lãnh hải, vùng phụ cận, đặc khu kinh tế và thềm lục địa do chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam công bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 sau khi đã được Ban Thường Vụ Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Viet Nam phê chuẩn,

    Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lập bản tuyên bố sau đây về đường cơ sở từ đó bề rộng của lãnh hải Việt Nam sẽ được đo đạc:

    (1) Đường cơ sở từ đó lãnh hải của thềm lục địa Việt Nam được đo đạc là đường tạo nên bởi những đoạn thẳng nối liền những điểm mà tọa độ được ghi trong danh sách trong Phụ Bản đính kèm theo đây.

    (2) Đường cơ sở của lãnh hải Việt Nam khởi đầu từ điểm O – giao điểm của hai đường cơ sở để đo bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng Hòa Nhân Dân Kampuchia, tọa lạc trên biển trên đường nối Quần Đảo Thổ Chu với Đảo Poulo Wai – và chấm dứt tại Đảo Cồn Cỏ, sẽ được vẽ dựa theo các tọa độ ghi trong Phụ Bản đính kèm theo các bản đồ tỷ lệ xích 1/100,000 do Hải Quân Nhân Dân Việt Nam xuất bản trước năm 1979.

    (3) Vịnh Bắc Bộ (Tonkin Gulf) là vịnh nằm giữa hai nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc; đường biên giới lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phân định theo Công Ước phân định biên giới ngày 26 tháng 6 năm 1887 ký kết giữa nước Pháp và Triều Đình Nhà Thanh của Trung Quốc.

    Phần của vịnh thuộc về Việt Nam tạo thành vùng biển lịch sử và là vùng nội hải thuộc quyền tài phán của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Đường cơ sở từ Đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh sẽ được định nghĩa sau khi giải quyết xong vấn đề liên hệ tới đường đóng của vịnh.

    (4) Đường cơ sở để đo bề rộng lãnh hải của các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ được xác định trong một văn kiện sắp tới tuân theo đoạn 5 của tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    (5) Vùng biển nằm sau đường cơ sở và đối diện với bờ biển hoặc các hải đảo của Việt Nam cấu thành vùng nội hải của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    (6) Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chủ trương rằng mọi bất đồng với các nước khác liên quan tới sự khác biệt về vùng biển và thềm lục địa sẽ được giải quyết qua thương thuyết trên căn bản tôn trọng nền độc lập và chủ quyền quốc gia của nhau theo đúng luật quốc tế và quy tắc hiện hành.

    HÀ NỘI, ngày 12 tháng 11 năm 1982.

    (National legislation – DOALOS/OLA – United Nations)

    Phụ Bản
    TỌA ĐỘ CỦA CÁC ĐIỂM TẠO THÀNH CÁC ĐOẠN THẲNG CỦA ĐƯỜNG CƠ SỞ
    TỪ ĐÓ BỀ RỘNG CỦA LÃNH HẢI CỦA VIỆT NAM ĐƯỢC ĐO ĐẠC

    (Đính kèm Bản Tuyên Bố ngày 12 tháng 11 năm 1982 của Chính Phủ
    nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam)

    ĐIỂM DIỄN TẢ ĐỊA LÝ VĨ ĐỘ (B)
    KINH ĐỘ (Đ)
    O Trên đường phân định biên giới
    Tây-Nam của vùng biển lịch sử của
    nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
    Việt Nam và nước Cộng Hoà Nhân
    Dân Kampuchia.

    A1 Tại Đảo Nhạn, Quần Đảo Thổ Chu,
    tỉnh Kiên Giang…… 09 o 15’0 103 o
    27’0

    A2 Tại Đảo Đá Lẻ nằm về phía Đông-
    Nam của Đảo Hòn Khoai, tỉnh
    Minh Hải………… 08 o 22’8 104 o
    52’4

    A3 Tại Đảo nhỏ Tai Lớn, Đảo
    Côn Đảo, Khu Hành Chánh
    Côn Đảo Vũng Tàu……. 08 o 37’8 106 o
    37’5

    A4 Tại Đảo nhỏ Bông Lang,
    Đảo Côn Đảo…… 08 o 38’9 106 o

    40’3
    A5 Tại Đảo nhỏ Bảy Canh,
    Đảo Côn Đảo……. 08 o 39’7 106 o

    42’1
    A6 Tại Đảo nhỏ Hòn Hai (nhóm
    Phú Quí), tỉnh Thuận Hải… 09 o 58’0 109 o

    05’0
    A7 Tại Đảo nhỏ Hòn Dơi, tỉnh
    Thuận Hải………….. 12 o 39’0 109 o

    28’0
    A8 Tại Mũi Đại Lãnh, tỉnh
    Phú Khánh……….. 12 o 53’8 109 o

    27’2
    A9 Tại Đảo nhỏ Ông Căn, tỉnh
    Phú Khánh……….. 13 o 54’0 109 o

    21’0
    A10 Tại Đảo Lý Sơn, tỉnh
    Nghĩa Bình……….. 15 o 23’1 109 o

    09’0
    A11 Tại Đảo Cồn Cỏ, tỉnh
    Bình Trị Thiên……… 17 o 10’0 107 o
    20’’6

    (Bản dịch của Trúc Lê – Tên các đảo và “hòn” (Đảo nhỏ) bỏ dấu qua suy đoán –không chắc hẳn là chính xác)

    Sau đây là nguyên bản tiếng Anh lưu trữ tại Liên Hiệp Quốc:

    Statement of 12 November 1982 by the Government of the Socialist Republic of Viet Nam on the Territorial Sea Baseline of Viet Nam

    In implementing the provisions of paragraph 1 of the statement on the territorial sea, the contiguous zone, the exclusive economic zone and the continental shelf issued by the Government of the Socialist Republic of Viet Nam on 12 May 1977 after being approved by the Standing Committee of the National Assembly of the Socialist Republic of Viet Nam,

    The government of the Socialist Republic of Viet Nam makes the following statement on the baseline from which the breadth of the territorial sea of Viet Nam shall be measured:

    (1) The baseline from which the territorial sea of the continental territory of Viet Nam shall be measured is constituted by straight lines connecting those points the co-ordinates of which are listed in the annex attached herewith.

    (2) The territorial sea baseline of Viet Nam which starts from point O – the meeting point of the two baselines for measuring the breadth of the territorial sea of the Socialist Republic of Viet Nam and that of the People’s Republic of Kampuchea, located in the sea on the line linking the Tho Chu Archipelago with Poulo Wai Island – and which ends at Con Co Island shall be drawn following the co-ordinates listed in the attached annex on the 1/100,000 scale charts published by the Vietnamese People’s Navy prior to 1979.

    (3) The Gulf of Bac Bo (Tonkin Gulf) is a gulf situated between the Socialist Republic of Viet Nam and the People’s Republic of China; the maritime frontier in the gulf between Viet Nam and China is delineated according to the 26 June 1887 Convention of frontier boundary signed between France and the Qing Dynasty of China.

    The part of the gulf appertaining to Viet Nam constitutes the historic waters and is subjected to the juridical of internal waters of the Socialist Republic of Viet Nam.

    The baseline from Con Co Island to the mouth of the gulf will be defined following the settlement of the problem relating to the closing line of the gulf.

    (4) The baseline for measuring the breadth of the territorial sea of the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagos will be determined in a coming instrument in conformity with paragraph 5 of the 12 May 1977 statement of Government of the Socialist Republic of Viet Nam.

    (5) The sea as lying behind the baseline and facing the coast or the islands of Viet Nam constitutes the internal waters of the Socialist Republic of Viet Nam.

    (6) The Government of the Socialist Republic of Viet Nam holds that all differences with countries converned relating to different sea areas and the continental shelf will be settled through negotiations on the basis of mutual respect for each other’s national independence and sovereignty in conformity with international law and practice.

    HANOI, 12 November 1982.

    (National legislation – DOALOS/OLA – United Nations)

    Annex
    THE CO-ORDINATES OF THE POINTS ESTABLISHING THE STRAIGHT BASELINE
    FROM WHICH THE BREADTH OF THE TERRITORIAL SEA OF VIET NAM IS MEASURED
    (Attached to the 12 November 1982 Statement by the
    Government of the Socialist Republic of Viet Nam)

    POINTS GEOGRAPHICAL DESCRIPTION LATITUDE (N)
    LONGITUDE (E)
    O On the south-western demarcation
    line of the historic waters of
    the Socialist Republic of Viet
    Nam and the People’s Republic of
    Kampuchea.

    A1 At the Island of Nhan, Tho Chu
    Archipelago, Kien Giang province 09 o 15’0 103 o
    27’0

    A2 At Da Le Island which is south-
    East of Hon Khoai Island, Minh
    Hai province………… 08 o 22’8 104 o
    52’4

    A3 At Tai Lon Islet, Con Dao
    Islands, Con Dao Vung Tau
    Administrative sector……. 08 o 37’8 106 o
    37’5

    A4 At Bong Lang Islet, Con Dao
    Islands…………. 08 o 38’9 106 o

    40’3
    A5 At Bay Canh Islet, Con Dao
    Islands…………. 08 o 39’7 106 o

    42’1
    A6 At Hon Hai Islet (Phu Qui group),
    Thuan Hai province…….. 09 o 58’0 109 o

    05’0
    A7 At Hon Doi Islet, Thuan Hai
    province………….. 12 o 39’0 109 o

    28’0
    A8 At Dai Lanh Cape, Phu Khanh
    province………….. 12 o 53’8 109 o

    27’2
    A9 At Ong Can Islet, Phu Khanh
    province………….. 13 o 54’0 109 o

    21’0
    A10 At Ly Son Island, Nghia Binh
    province………….. 15 o 23’1 109 o

    09’0
    A11 At Con Co Island, Binh Tri
    Thien province…………… 17 o 10’0 107 o
    20’’6

    (Source: National legislation – DOALOS/OLA – United Nations)

    (Theo Web Đàn Chim Việt)

    Từ Công-Ước Bắc-Kinh 1887 đến Hiệp-Ðịnh Phân-Ðịnh Vịnh Bắc-Bộ 2000 : Non Nước Ngậm-Ngùi. (tiếp theo)

    Trương Nhân Tuấn

    Phần 2 : Hiệp-Ðịnh Phân-Ðịnh Vịnh Bắc-Bộ 25 tháng 12 năm 2000 : Hiệp-Ðịnh bất-bình-đẳng.

    Hiệp-Ðịnh Phân-Ðịnh Vịnh Bắc-Bộ giữa hai nước Trung-Hoa và Việt-Nam, ký-kết 25 tháng 12 năm 2000, bắt đầu có hiệu-lực kể từ ngày 30 tháng 6 năm 2004. Chi-tiết hiệp-định được Tổng-Trưởng Bộ Ngoại-Giao CSVN Nguyễn Dy Niên giải-thích khá đầy-đủ qua cuộc trả lời phỏng-vấn các phóng-viên Thông-Tấn-Xã Việt-Nam và báo Nhân-Dân vào ngày 1 tháng 7 năm 2004. Nội-dung bài phỏng-vấn được đăng trên các báo điện-tử ở trong nước.

    Ðây là một hiệp-định phân-định biên-giới được xếp vào thể-loại « bất-bình-đẳng » vì những người ký-kết đã bỏ qua tất-cả những yếu-tố lịch-sử đã có ở vịnh Bắc-Việt cũng như bất-chấp căn-bản công-bằng của quốc-tế công-pháp hiện-thời liên-quan đến việc phân-chia lãnh-hải giữa hai nước. Hiệp-định 25 tháng 12 năm 2000 đã gây thiệt-hại rất nhiều cho quốc-gia Việt-Nam. Sơ-đồ và bảng ghi tọa-độ các điểm cơ-bản của đường phân-định (bảng nầy do Nguyễn Ngọc Giao công-bố):

    (Sơ-đồ và bảng ghi tọa-độ các điểm cơ-bản của đường phân-định)

    Một số chi-tiết đáng chú-ý liên-quan đến hiệp-định được Nguyễn Dy Niên công-bố, ghi lại như sau :

    “Hai bên thống nhất một đường phân định với 21 điểm kéo dài từ cửa sông Bắc Luân ra đến Cửa Vịnh phía Nam, trong đó từ điểm 1 đến điểm 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 đến điểm 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích Vịnh. Đường phân định đi cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý (25% hiệu lực). Đảo Bạch Long Vĩ là một đảo nhỏ của Việt Nam (diện tích khoảng 2,5 km2) lại nằm gần như ở giữa Vịnh Bắc Bộ (cách bờ biển Việt Nam khoảng 110 km, cách bờ đảo Hải Nam-Trung Quốc khoảng 130 km), tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế chỉ được hưởng một phần hiệu lực hạn chế trong phân định. Đảo Cồn Cỏ cũng là một đảo nhỏ nhưng nằm gần bờ của Việt Nam hơn (cách bờ khoảng 13 hải lý) nên được hưởng 50% hiệu lực trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại đường đóng cửa Vịnh. Đây là một kết quả công bằng đạt được trên cơ sở luật pháp và điều kiện cụ thể của Vịnh (bờ biển của ta dài hơn của Trung Quốc, ta có nhiều đảo trong Vịnh, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm gần chính giữa Vịnh) Trong Hiệp định, hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ. Theo đó, mỗi bên tự chủ tiến hành việc thăm dò, khai thác một cách độc lập các tài nguyên khoáng sản trong phạm vi thềm lục địa của mình . Đối với những cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định, hai bên thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác. Ngoài ra, Hiệp định cũng quy định về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong Vịnh Bắc Bộ cũng như hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước.”

    • Nhận-xét 1 : Phủ-nhận nội-dung Công-Ước 1887. Nhận-xét đầu-tiên là Hiệp-Ðịnh 2000 phủ-nhận hoàn-toàn tinh-thần Công-Ước 1887, phần biểu-hiện qua « đường đỏ ». Theo những tài-liệu đã công-bố, từ năm 1974 đã có những cuộc thương-thuyết về biên-giới, lãnh-hải giữa Việt-Nam và Trung-Hoa. Hai bên có bất-đồng trầm-trọng về vai-trò của « đường đỏ » trong Vịnh Bắc-Việt. Phe Bắc-Kinh cho « đường đỏ » chỉ là đường « quản-lý hành-chánh », trong khi phe VN thì cho rằng « đường đỏ » có vai trò phân-chia hải-phận. Nhưng từ khi có những nhân-vật thân Tàu lên nắm đảng CSVN, chủ-trương của VN thay đổi 180°. Chủ-trương của VN hiện nay là chủ-trương của Tàu. Vì thế gần đây, Lê Công Phụng, bây giờ Nguyễn Dy Niên, cho rằng Vịnh Bắc-Việt chưa hề được phân-định nên cần phải phân-định lại. Lê Công Phụng còn cho rằng đây là một « thắng lợi lớn » của Việt-Nam. Nhưng từ khi người viết tìm ra được bản-đồ vùng « cực Ðông » Bắc-Việt đính-kèm công-ước 1887, những ghi-chú trên đó cho thấy Vịnh Bắc-Việt đã được phân-định. Câu hỏi đặt ra là Việt-Nam đã có « thắng-lợi » nào ở Hiệp-Ðịnh năm 2000 ? Không thấy ai trong đảng CSVN giải-thích. Cũng không thấy ai giải-thích việc thay-đổi chủ-trương 180°, từ của Việt-Nam đổi thành của Tàu, trên quan-điểm về vai-trò của « đường đỏ ». So-sánh với Công-Ước 1887, lấy diện-tích phần lõm (4306 phút vuông ) trừ cho phần diện tích lồi (832 phút vuông), ta thấy Việt-Nam bị thiệt-hại khoảng 3474 phút vuông, tương ứng 3474 dặm vuông, tức vào khoảng 11.930 Km², chưa trừ sai số « géodésique ». (xem hình 3)

    (Hình 3) :

    • Nhật-xét 2 : Từ điểm 1 đến điểm 9 trên bản-đồ của hiệp-định 2000, đường phân-định lãnh-hải xê-dịch không đáng kể. Ðường nầy tương-đối chính-xác vì nó gần như phù-hợp với cách chia lãnh-hải theo luật quốc-tế về biển, là đường phân-định thẳng góc với đường bờ biển (gọi là đường α, cắt đảo Hải-Nam tại điểm gọi là a). Nhưng từ điểm 9 đến điểm 10, thuộc đường phân-chia vùng kinh-tế độc-quyền và thềm lục-địa, thì sự phân-chia không công-bằng. Ta nhận thấy đoạn thẳng (9,10) không nằm trên đường (α) tức tạo thành đường thẳng với các điểm 7, 8, 9, mà gẫy gập về hướng Việt-Nam. Lý ra, điểm 10 phải ở vị trí 10’, là điểm gần nhất cách bờ Việt-Nam cũng như bờ Trung-Hoa. Ðiểm nầy cũng là trung-điểm của đoạn nối bờ biển Việt-Nam với đảo Hải-Nam trên đường (α). Ta thấy Việt-Nam bị thiệt-hại, toàn vùng tam giác (9, 10, 10’) ước-lượng trên 1500 Km² bị nhượng cho Trung-Hoa. Nếu cho rằng đường (9,10) bị gập là do ảnh-hưởng các đảo nhỏ Vị-Châu (Weizhou) và Tà-Dương (Xieyang) thì không đúng. Ðường (9,10) cách khoảng 100 Km đảo Vị-Châu. Nếu các đảo Bạch-Long-Vĩ và Cồn-Cỏ của Việt-Nam không có vùng kinh-tế độc-quyền thì các đảo nhỏ của Tàu không lý-do gì mà được hưởng. Riêng về điểm 10, kiểm-soát bằng compas, điểm nầy không hề được chia theo đường trung-tuyến (xem hình 4).

    • Các điểm 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19 đều không nằm trên đường trung-tuyến, tương-tự như điểm 10. Các điểm nầy đều lấn sang vùng biển của Việt-Nam (xem hình 4).

    • Ðiểm 21, kiểm-soát bằng compas, cho thấy đảo Cồn-Cỏ không có hiệu-lực 50% như ông Nguyễn Dy Niên công-bố (xem hình 4).

    • Nhận-xét 3 : Hải-Nam là một đảo, cũng như hai đảo Bạch-Long-Vĩ và Cồn Cỏ. Trên căn-bản pháp-lý nào đảo Hải-Nam được hưởng mọi đặc-quyền như lục-địa, đó là lãnh-hải, vùng tiếp-cận, vùng kinh-tế độc-quyền, thềm lục-địa…, trong khi đảo Bạch-Long-Vĩ và đảo Cồn Cỏ cũng là đảo, thì không ? Theo Luật Quốc-Tế về biển thì không có một khoản nào cho phép một đảo nầy có nhiều đặc-quyền hơn đảo khác.

    Ðiều thứ 121 của Công-Ước về Biển 1982 có ghi :

    1. Une île est une étendue naturelle de terre entourée d'eau qui reste découverte à marée haute. (Ðảo là một dải đất tự-nhiên, có nước bao-bọc chung-quanh và không bị nước phủ lúc thủy-triều lên)
    2. Sous réserve du paragraphe 3, la mer territoriale, la zone contiguë, la zone économique exclusive et le plateau continental d'une île sont délimités conformément aux dispositions de la Convention applicables aux autres territoires terrestres. (Một đảo có hải-phận, vùng tiếp-cận, vùng kinh-tế độc-quyền và thêm lục-địa riêng, ngoại trừ điều-kiện ghi dưới phần 3)
    3. Les rochers qui ne se prêtent pas à l'habitation humaine ou à une vie économique propre, n'ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental. (Những bãi đá (cồn đá) mà người ta không thể sinh-sống, hoặc tạo một nền kinh-tế tự-tại thì không có vùng kinh-tế độc quyền cũng như không có thềm lục-địa).

    • Ðảo Bạch-Long-Vĩ cũng như đảo Cồn-Cỏ là những « dải đất tự-nhiên, có biển bao-bọc, không bị nước phủ khi thủy-triều cao », có dân sinh-sống và có một nền kinh-tế tự-túc là trồng-trọt và đánh cá, tại sao chúng không có lãnh-hải, vùng tiếp-cận, vùng kinh-tế độc-quyền và thềm lục-địa ?

    • Trong trường-hợp Hiệp-Ðịnh 2000, hỏi ông Nguyễn Dy Niên, trên căn-bản « luật-pháp và thực-tiễn quốc-tế » nào, nhắc lại lời ông đã trả lời phỏng-vấn, mà đảo Hải Nam có đặc quyền nhiều hơn lục-địa Việt-Nam ? Tất-cả các điểm trên đường phân-định không ở vị-trí cách đều bờ biển Việt-Nam và Hải-Nam, chúng đều lấn về phía Việt-Nam (xem hình 4).

    • Vấn-đề đo-đạc là nhiệm-vụ của các nhân-viên trắc-địa, tuy-nhiên, ở đây chúng ta có thể đưa ra một cái nhìn sơ-lược về đường trung-tuyến trong vịnh. Trên hình 4, ta thấy, nếu chúng ta bỏ qua hiệu-lực của các đảo thì đường trung-tuyến nầy vẫn có lợi cho Việt-Nam nhiều hơn là đường phân-định theo Hiệp-Ðịnh 2000.

    Cách đo nầy trước hết là xác-định hai đường chuẩn giới-hạn : đường thứ 1 là đường (α), là đường xuất-phát từ điểm giao-giới trên đất liền giữa VN và Trung-Hoa thẳng góc với đường bờ biển, cắt đảo Hải-Nam tại điểm a. Ðường thứ 2 là đường nối mũi Oanh-Ca với đảo Cồn Cỏ, cũng là đường nối cửa Vịnh Bắc-Việt. Ta có hai đường bờ biển đối xứng nhau, được giới-hạn bởi hai đường chuẩn trên. Mỗi bờ ta đặt ra một số điểm chuẩn nhất-định. Ðương-nhiên, vì quyền-lợi của hai bên, những điểm chuẩn nầy được chọn là những điểm xa bờ nhất.

    Chúng ta biết trong trường hợp vịnh Bắc-Việt, chiều ngang rộng nhất chỉ có 310Km, tức 176 hải-lý. Ðiều 57 của luật về biển xác-định vùng kinh-tế độc-quyền không quá 200 hải-lý. Nếu áp-dụng luật nầy thì hải-phận hai bên chồng-lấn lên nhau. Vì thế người ta mới chia hải-phận bằng cách xác-định đường trung-tuyến. Ðường nầy được định-nghĩa qua điều 15 của luật biển có ghi trên.

    Có nhiều phương-pháp toán-học để xác-định đường trung-tuyến nếu ta biết tọa-độ những điểm chuẩn ở hai bờ. Ở đây, để đơn-giản, ta có thể dùng compas, lấy tâm là những điểm chuẩn, vạch những vòng tròn có đường bán-kính (tỉ-lệ theo bản-đồ) 88 hải-lý (176/2 hải-lý). Những giao-điểm của những vòng tròn cho phép ta vẽ một đường trung-tuyến gần đúng. So-sánh đường trung-tuyến nầy ta thấy rằng phần biển bên VN vẫn lớn hơn so với lối phân-chia theo Hiệp-Ðịnh 2000.

    Ðiều quan-trọng là ta không tính đến hiệu-lực các đảo Bạch-Long-Vĩ và đảo Cồn Cỏ. Nếu ta áp-dụng tinh-thần luật về biển, các đảo nầy có lãnh-hải, vùng kinh-tế độc-quyền và thềm-lục-địa, thì tâm của đảo là một điểm chuẩn, ta thấy đường trung-tuyến sẽ lấn sang bên Trung-Hoa rất nhiều.

    Việc nầy cho ta kết-luận là Hiệp-Ðịnh 2000 không hề đặt căn-bản trên luật-pháp quốc-tế về biển mà nó được phân-chia theo ý muốn của Tàu.

    (Hình 4) :

    Kết-luận : Hiệp-Ðịnh phân-định Vịnh Bắc-Bộ là một kết-ước bất-bình-đẳng. Một kết-ước nào đó được ký-kết giữa hai hay nhiều quốc-gia được gọi là bất-bình-đẳng khi một bên (quốc-gia) không được tự-chủ trong quá-trình thương-lượng và ký-kết. Các hiệp-ước ký vào thế-kỷ thứ 19 giữa Trung-Hoa và các đế-quốc như Anh, Pháp, Ðức, Nhật, Nga, Bồ … hay những hiệp-ước giữa Việt-Nam và Pháp đã ký dưới triều nhà Nguyễn là những hiệp-ước bất-bình-đẳng. Vào thời-điểm nầy triều-đình Trung-Hoa cũng như Việt-Nam bị uy-hiếp bằng vũ-lực. Quân Tàu thua các cường-quốc trên mọi mặt-trận, cũng như Việt-Nam thua Pháp, nên buộc phải ký nhượng những đặc-quyền kinh-tế hay cắt nhượng đất-đai cho những cường-quốc nầy để được yên-thân, riêng Việt-Nam sa vào vòng lệ-thuộc. Các hiệp-ước đó ta gọi là những hiệp-ước bất-bình-đẳng. Trung-Hoa và Việt-Nam phải ký-kết mà không có sự chọn lựa nào khác. Theo Công-Ước Vienne 1969 về hiệu-lực của các hiệp-ước, một quốc-gia có quyền hủy-bỏ tất-cả các hiệp-ước bất-bình-đẳng, ngoại trừ những hiệp-ước liên-quan đến việc phân-chia lãnh-thổ.

    Hiệp-định phân-định vịnh Bắc-Bộ là một hiệp-định bất-bình-đẳng vì đây là sản-phẩm của sự thương-lượng giữa hai đảng cộng-sản : CSVN và đảng CS Trung-Hoa. Không một người dân Việt-Nam nào biết đến nội-dung và diễn-tiến việc ký-kết nầy.

    Chúng ta nhận thấy, từ việc hoãn-ký thương-ước với Hoa-Kỳ, để cho Trung-Hoa ký trước, vào cuối thập-niên 90, cho đến những vụ nhượng đất qua Hiệp-Ðịnh 1999 phân-định biên-giới, ngày nay nhượng biển qua Hiệp-Ðịnh 2000, chứng-tỏ thái-độ lệ-thuộc của đảng CSVN vào đảng CS Trung-Hoa. Trong hơn 400 đại-biểu bỏ phiếu thông-qua Hiệp-Ðịnh 2000 vào tháng 6 năm 2004, dường như chỉ có 1 phiếu chống. Tạm gọi 1 phiếu đó là nhứt điểm lương-tâm. Sắp tới vấn đề Hoàng-Sa, Trường-Sa và hải-phận biển Ðông cũng sẽ được phân định. Hoàng-Sa thì đã như xong, những phản-ứng của đảng CSVN về việc nầy chỉ để lấy lệ, nhằm trấn-an dư-luận, hơn là nhằm mục-tiêu lấy lại. Theo François Joyaux trong cuốn « La Tentation Impériale » thì đã có tới 10.000 ( ?) dân Tàu được cho định-cư tại các đảo Hoàng-Sa. Một số tài-liệu khác thì tại Hoàng-Sa, Trung-Cộng đã cho xây-dựng một phi-trường có thể tiếp-nhận phi-cơ chiến-đấu và vì vùng biển chung-quanh Hoàng-Sa có độ sâu đặc-biệt, có thể nay mai Trung-Cộng sẽ cho xây căn-cứ tiềm-thủy-đĩnh. Hoàng-Sa đã biến thành một bàn đạp vững-chắc để Trung-Cộng tiến về vùng biển phía Nam. Hoàng-Sa cũng đã trở thành một pháo-đài vừa phòng-ngự vừa tiến-công vững-chắc, không những vừa có khả-năng ngăn-chặn mọi bước tiến của bất-kỳ đại-cường nào, mà còn có dư tiềm-lực để đánh-tan mọi lực-lượng quân-sự nào muốn chen chân vào đây. Tại quần-đảo Trường-Sa thì Việt-Nam đã mất ¾ khu-vực. Trung-Cộng bắt đầu kiểm-soát được khu-vực biển nầy nhờ ở sự ngoan-ngoãn và thần-phục của những nhà lãnh-đạo CSVN. Nhưng hành-động nhu-nhược và bất-tài của đảng CSVN đã gây thiệt-hại nặng-nề cho đất nước Việt-Nam và thái-độ thần-phục nầy đe-dọa sự tồn-vong của dân-tộc Việt-Nam.

    Ðối-diện với một nước Tàu đã xác-định được vị-trí « đại-cường » trên thế-giới hôm nay. Nhìn lại đường-lối chính-trị bất nhất của Trung-Hoa từ hơn nửa thế-kỷ qua, từ tình « đồng-chí anh em » khắn-khít với Liên-Xô, sau trở thành đối-thủ không nhân-nhượng với nước nầy, cuối cùng trở nên hòa-hoản với Nga sau khi Liên-Xô sụp-đổ. Từ thế đối đầu mất còn với Hoa-Kỳ và Nhật-Bản trên hai thập-niên, cuối cùng Trung-Hoa nhờ tiền bạc cũng như khoa-học kỷ-thuật của hai nước nầy để phát-triển. Từ tư thế đàn anh của thế-giới thứ 3, Trung-Hoa thử giúp-đỡ các nước trong khối nầy nhưng họ không có khả-năng nên không giúp được gì, tuy-nhiên, khi họ có khả-năng thì họ lại quay lưng không giúp. Nhìn lại văn-hóa Trung-Hoa để kiểm-nhận ra rằng dân-tộc nầy không có thói quen tôn-trọng những hiệp-ước đã ký-kết. Theo nhận xét của một học-giả Tây-Phương, những kết-ước đối với Trung-Hoa chỉ có giá-trị trong một lúc nhất-định nào đó, trong một hoàn-cảnh kinh-tế, chính-trị, quân-sự… nào đó. Khi hoàn-cảnh thay-đổi thì kết-ước sẽ không được tôn-trọng. Ta có thể kiểm-chứng việc nầy qua những truyện Tàu, hay lịch-sử giao-tiếp giữa Việt-Nam và Trung-Hoa. Tưởng Giới Thạch có phát-biểu một câu đại-ý « không-gian của dân Hán được mở ra tùy theo sự cần-thiết để sinh-tồn của giống dân nầy và biên-cương của nước Tàu được xác-định bằng những mốc văn-hóa Trung-Hoa ». Ðiều nầy có nghĩa vùng đất hay biển nào mà người Tàu thấy cần-thiết, nếu có khả-năng, thì họ sẽ chiếm vùng đất hay biển đó và nơi nào ảnh-hưởng nền văn-minh Trung-Hoa thì nơi ấy thuộc Tàu. Ta có thể thấy hiệu-quả việc nầy qua trường-hợp Tây-Tạng, Tân-Cương… vùng Biển Ðông, Hoàng-Sa, Trường-Sa v.v…

    Ðường-lối chính-trị « quanh-co » của Trung-Hoa và tham-vọng bành-trướng của nước nầy hơn bao giờ hết đe-dọa toàn vùng Ðông-Nam-Á, nhưng nặng-nề nhất là Việt-Nam vì lý do địa-lý chiến-lược.

    Nhìn lại Việt-Nam, tập-đoàn lãnh-đạo bất-tài trong công-việc kinh-bang tế-thế, bất-xứng vì không giữ-gìn được toàn-vẹn đất nước, cá-nhân họ đều là những người bất-nghĩa, bất-nhân và tư-cách hèn-hạ.
    Vì thế, nguy-cơ mất nước Việt-Nam hiện nay chỉ có 2 : sự tồn-tại của đảng CSVN và sự phát-triển mạnh-mẽ về mọi phương-diện của Trung-Cộng.

    Trương Nhân Tuấn
    ________________________________________
    [1] Charles Fourniau, Agrégé d’histoire, Docteur d’Etat en Histore. La Frontière sino-vietnamienne et le face à face franco-chinois à l’époque de la conquête du Tonkin, Biên-giới Việt-Trung và sự đối-đầu của hai nước Pháp-Trung vào thời-kỳ chinh-phục Bắc-Kỳ, trang 85 đến trang 103, trong quyển Les Frontière du Vietnam, nxb Harmattan, Paris 1989. Trang 92
    [2] François Joyaux, Géopolitique de l’Extrême Orient.
    [3] Công-trình nầy bắt đầu từ tháng 4 năm 1885, hồ-sơ CAOM, GGI, INDO, 65355.
    [4] Những địa-phận nầy là : Vùng mũi Pak-lung (Bạch-Long) ở phía bắc Móng-Cái, tiếp-giáp với tỉnh Quảng-Ðông; vùng được gọi là “section 2”, tức là tổng Tụ-Long và vùng gọi là “section 5”, tức toàn vùng hữu-ngạn sông Hồng. Hai vùng sau tiếp-giáp với tỉnh Vân-Nam. Công-ước 26-6-1887 quyết-định nhượng vùng mũi Bạch-Long và toàn-bộ tổng Tụ-Long (hai vùng nầy đều thuộc Việt-Nam) cho Tàu. Một số xã thuộc tổng Phương-Ðộ, gần Tụ-Long và 9 xã rưỡi thuộc tổng Bát-Tràng (thuộc tỉnh Quảng-Ninh) thì bị nhượng sau nầy do đại-tá Pennequin (phụ-trách phân-giới vùng Vân-Nam) và đại-tá Gallieni (phụ-trách phân-giới vùng Lưỡng-Quảng).
    [5] Xem www.ifrance.com/truongnhantuan
    [6] CAOM, GGI, INDO, 65355.
    [7] La Frontière sino-vietnamienne et le face à face franco-chinois à l’époque de la conquête du Tonkin, Biên-giới Việt-Trung và sự đối-đầu của hai nước Pháp-Trung vào thời-kỳ chinh-phục Bắc-Kỳ, trang 85 đến trang 103, trong quyển Les Frontière du Vietnam, nxb Harmattan, Paris 1989. Trang 92.
    [8] “Ðường Biên-Giới Trên Biển của Việt-Nam”, La Frontière maritime du Vietnam, Pierre-Bernard Lafont, từ trang 235 đến trang 243, trong quyển Les Frontières du Vietnam, do chính ông làm chủ-biên, nxb Harmattan, Paris 1989. Trang 236-237.
    [9] Xem biên-bản “Proces-verbal de délimitation N° 1: De Tchouk-san à Chima” ở trang nhà ghi trên.
    [10] trích từ La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, nxb Harmattan 1996, Monique Chemillier-Gendreau.
    [11] Ðọc Lettre du Commandant Chiniac de Labastide, Président de la Commission d’abornement des frontières sino-annamites, à Monsieur le Gouverneur Général de l’Indochine. Au sujet des travaux de l’abornement. đọc thêm Lettre du Commandant Chiniac de Labastide, Président de la Commission d’abornement des frontières sino-annamites, à Monsieur le Gouverneur Général de l’Indochine. Objet: Inconvénients et dangers de la frontière admise entre Kalong et Bac-Cuong-Ai par la Commission française de délimitation. Ðăng trong www.ifrance.com/truongnhantuan
    [12] M. Chemillier-Gendreau, Giáo-Sư các ngành Khoa-Học Chính-Trị và Công-Pháp tại trường Ðại-Học Paris VII, tác-giả quyển La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys, nxb Harmattan 1996.
    [13] Một trường-hợp tương-tự: Án-lệ 14 tháng 2 năm 1985 giữa Cộng-H òa Guinée và Guinée-Bissau. Công-ước 12-5-1886 Pháp-Bồ bị đặt vấn-đề. Công-Ước nầy có vẽ một đường vòng trên biển để phân-biệt những đảo thuộc P áp với những đảo thuộc Bồ-Ðào-Nha. Nước Cộng-Hòa Guinée cho rằng đường nầy có giá-trị như là một đuờng biên-giới trên biển. Tòa-án không chấp-nhận vì công-ước 1886 chỉ quan-hệ đến biên-giới trên đất liền.
    [14] Paul-Marie Neis sinh ngày 28 tháng 2 năm 1852, tốt-nghiệp trường Y-Sĩ Hải-Quân Brest, đến Tonkin năm 1879.

    (Theo Web Con Ong)

    CSVN đăng tài liệu về Cắt biển cho Trung Quốc

    (Theo Tạp chí Lướt Sóng)

    HẢI NGOẠI - Tạp chí Lướt Sóng vừa phổ biến trên các diễn đàn Internet bài phân tích "Sau Khi Mất Đất, Việt-Nam Mất Tới Biển: Hơn Một Nửa Vịnh Bắc-Việt thuộc Trung-Cộng," trong này ghi rõ các phần CSVN cắt lãnh hải tặng cho Trung Quốc dựa theo chính các tài liệu của Đảng CSVN đang lưu giữ trên trang web của nhà nước.
    Lướt Sóng viết tóm lược như sau:

    "Sau một thời-gian dài im-lặng, Đảng Cộng-Sản Việt-Nam đã phổ-biến tin-tức liên-hệ đến Hiệp định phân định Vịnh Bắc-Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ qua hai bài viết:

    - Bài của Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại giao (CSVN) - http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6_lecongphung.htm

    - Bài tóm tắt sự kiện, Tạp Chí Tư Tưởng Văn Hóa số 3, 2001- http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong/032001/13_kyhiepdinh.htm

    Từ trước đến nay, dân-chúng Việt-Nam (VN) chưa khi nào được Đảng Cộng-Sản và Chính-quyền Hà-Nội cung cấp đầy đủ tin tức hay chi tiết liên quan đến tình-trạng biên-giới trên bộ cũng như ngoài biển với Trung-Cộng (TC). Lần này, nhân dịp mừng Đại-hội lần IX (1), Đảng Cộng-Sản VN cho công-bố chính-thức chuyện này trên Website mới của họ vào ngày 10/04/2001. Phải có những lý-do sâu xa bắt buộc họ phải làm như vậy. Đáng kể nhất là áp-lực mạnh mẽ từ phía đảng Cộng-sản Trung-Hoa. Có lẽ đã đến lúc Trung-Cộng ra oai, muốn bạch-hóa những thành-tích lấn-chiếm của họ...

    Đặc-biệt, Lướt-Sóng trình-bày một số bản đồ minh-chứng mà CSVN đã ém nhẹm vì sợ lộ-liễu quá.

    Chủ-quyền Vịnh Bắc-Việt trong cổ-thời

    Vịnh Bắc-Việt trong cổ-thời hoàn toàn thuộc chủ-quyền Việt-Nam. Ngoài Sử Việt-Nam, Sử Trung-Hoa cũng ghi-nhận vùng biển này là Biển Giao-Chỉ hay Giao-Chỉ-Dương. Không những tên biển được xác-nhận rõ-ràng, mà theo nhà Địa-lý-Học Edward H. H, Schafer, ngay cả tên đảo Hải-Nam - đảo tiếp-giáp - cũng một thời có nghiã là tỉnh của Việt-Nam. Ông viết trong cuốn sách tựa đề Châu-Nhai "Shore Of Pearls" (Berkley & London 1970, trang 9) như sau: "In Han period, when it (Hainan) begins to appear in Chinese texts, "South Of the Sea" referred to the Vietnamese provinces, as we would style them..." Về hải-thương, Schafer ghi-nhận hầu hết sản-phẩm được đưa tới bằng đường biển. Thuyền từ phía Tây-Nam là Đại-Việt vượt ngang Giao-Chỉ-Dương để đến đây. "Southwest of Hainan is that great sea called "Chiao-Chih Ocean" (Shore Of Pearls, trang78).

    Chủ-quyền Vịnh Bắc-Việt theo Thỏa-Ước 1887

    "Sau khi Nhóm Trí Thức Việt Nam Hải Ngoại ra Tuyên Cáo ngày 18/12/2000, phản-đối việc phân ranh bất-hợp-pháp lãnh thổ VN, Giáo-Sư Nguyễn-Văn-Canh đã viết thêm về vấn đề ấy. Theo đó, trong một phiên họp thương-thuyết Việt-Hoa vào tháng 8/1974, phiá VC viện dẫn Công Ước 1887 về biên giới dựa trên kinh tuyến Greenwich, 108 độ 3 phút 13 giây Đông (hay kinh tuyến Ba Lê 105 độ 43' của đường kinh tuyến Đông) làm đường phân ranh lãnh thổ v.v.... Tuy nhiên phía Trung-Hoa (TH) đã phản bác rằng đường ranh Đỏ ấy có mục tiêu chỉ dẫn quyền sở hữu chủ các đảo mà thôi, không phải là đường phân ranh về lãnh thổ. Vì thế các cuộc họp không đạt được kết quả.

    Căn cứ vào đó, phiá TH kêu nài rằng VN chiếm tới 2/3 lãnh thổ trong vịnh Bắc Việt, rằng TH phải ký hiệp ước ấy vì ở thế yếu, do Pháp ép buộc. Nhưng không bao giờ phiá TH nói tới sự kiện rằng khi Pháp điều đình với TH, Pháp đã cắt một phần đất thuộc Lai Châu bây giờ, cho TH nhập vào Vân Nam để đổi lấy làn ranh ấy. Riêng về việc cắt một phần lãnh thổ như trên cho TH, Pháp đã làm một việc bất hợp pháp. Mặt khác, hình thể VN chạy theo hình chữ S. Từ mỏm đầu chữ S, nơi giáp ranh giữa VN và TH, Uỷ Ban Pháp Hoa Phân Định Lãnh Thổ kẻ một đường mầu Đỏ Bắc-Nam là một điều công bằng và hợp lý. Phần lãnh hải nằm về phiá Tây của đường ranh thuộc VN. Phần lãnh hải này thuộc VN cũng phù hợp với Thuyết Lãnh Thổ Kế Cận mà Công Pháp Quốc tế vẫn hằng nhìn nhận.

    Cuối cùng, đường Mầu Đỏ trên bản đồ có mục đích phân chia quyền sở hữu chủ các hải đảo trong vịnh, như TC nói, nếu không phải là đường ranh phân chia lãnh thổ, thì là đường gì?

    Diễn-tiến Âm-mưu lấn biển và Vùng Hand-Off

    Cũng theo Giáo-Sư Nguyễn-Văn-Canh, với kiểu ăn nói cố hữu của CS như vậy, TC trong nhiều năm qua đã lạm dụng quyền hành và đơn phương nới rộng chủ quyền của mình trong Vịnh Bắc Việt.

    Ngày 19 và 30/8/1992, 2 tàu của TC được đưa ra khơi để tìm dò dầu hỏa trong vịnh Bắc Việt. Rồi ngày 30/9, tàu Nam Hải 6 được đưa vào vùng mục tiêu mà Hà Nội nói là ở 112 cây số Đông Nam hải cảng Ba Lạt. Tàu khác tên là Phấn Đấu 5 đã hoàn tất công tác nghiên cứu địa chất vào 30/8 tại vùng Nam vịnh Bắc Việt. Tàu này hoạt động ngay tại của bể Hải Phòng, cách tỉnh Thái Bình 70 dậm (khoảng 120 cây số). Dù bị VC phản đối, TC trả lời rằng các tàu khoan dầu ấy hoạt động trong phạm vi lãnh thổ TH chiếu theo làn ranh của Vịnh. Thực-sự, các tàu ấy đã xâm phạm quá sâu vào phiá Tây của vịnh, sau khi vượt qua đường ranh Mầu Đỏ.

    Trong suốt 3 thập-niên 70, 80, 90 bất chấp luật-pháp; Trung-Cộng ngang nhiên tự-động vẽ ra vùng biển "Hands-Off Area" cấm Việt-Nam không được động-chạm đến. Còn TC vẫn tiếp-tục gửi tàu tới thăm dò. Khu vực này rất rộng lớn, kéo dài 2 độ vĩ-tuyến (từ 18 đến 20 độ Bắc) rộng suốt 1 độ (từ 107 đến 108 độ Đông) 120HLx 60HL= 7,200HL vuông.

    Vùng Hand-Off có gì?

    Bằng đủ mọi cách âm-mưu, Trung-Cộng nhắm chụp dựt khu Trung-ương của Vịnh Bắc-Việt. Tại sao vậy?

    Để trả lời, người ta chỉ có một câu độc-nhất: Ở đó có nhiều tiềm-năng dầu khí.

    Theo nguyên-lý căn-bản, Việt-Nam đương-nhiên sở-hữu khu-vực trung-ương của Vịnh Bắc-Việt theo thỏa-ước 1887. Một lý-lẽ khác hiện-hữu còn mạnh mẽ hơn nhiều lần nữa: Đảo Bạch-Long-Vĩ của Việt-Nam nằm ở ngay vùng giữa Vịnh.

    Ngay trước khi kỹ-thuật khai-thác dầu khí chưa tiến-bộ, các nhà địa-chất-học đã biết loại tài-nguyên quý-giá này thường nằm kẹt trong những lớp thủy-tra-thạch do sông ngòi bồi đắp liên-tục từ hàng triệu năm về trước. Trong Vịnh Bắc-Việt, sông Hồng tạo ra vùng những lớp kết-tầng này.

    Bản-đồ và Tài-liệu của Đặc-San Petroleum News (USA, Feb. 1984) chỉ cho thấy thủ-đoạn của Trung-Cộng âm-mưu với các Công-ty ngoại-quốc xúc-tiến việc thăm-dò và khai-thác dầu lửa và khí đốt, thọc sâu vào phần biển Việt-Nam. Kinh-nghiệm thu-hoạch nhiên-liệu ở thềm lục-địa phiá Đông-Nam Nam-phần cho biết dầu lửa không có nhiều ở vùng châu-thổ Cửu-Long-Giang, cũng không tìm thấy gần bờ biển. Các túi dầu khí nằm tại vùng thủy-tra-thạch phiá ngoài khơi của Côn-Sơn.

    Vào thập-niên 1970, nhiều báo-cáo về tiềm-năng dầu hỏa và khí đốt trong vùng biển VN đã hoàn-tất. Chúng tôi xin trình-bày bản-đồ của Selig S. Harrison chỉ rõ ràng những khu-vực thủy-tra-thạch kết-tầng và những khu-vực mà các hãng dầu khí mong đợi để khai-thác. (An informative and interesting discussion of these reports can be found in Selig S. Harrison, China. Oil and Asia: Conflict Ahead? New York: Columbia University Press, 1977: 42-46.)

    Vì thế, Trung-Cộng mạnh tay nhất-định chiếm cho hết khu-vực thủy-tra-thạch giữa vùng biển sâu của Bắc-phần, đúng ngay địa-điểm có khả-năng chứa đựng dầu khí nhiều nhất.

    Đường Phân-định Mới và Vùng Biển Chiến-lược TC

    Sau khi thi-hành kế-hoạch với nhiều âm-mưu dài-hạn qua nhiều thập-niên, nay thời-cơ thực chín mùi; đã đến lúc Trung-Cộng ra tay chộp lấy thành-quả chính-thức. TC đã ép buộc được Hà-Nội ký-kết một hiệp-ước hoàn-toàn có lợi cho họ. Từ sở-hữu 2/3 Vịnh Bìển, nay Việt-Nam chỉ còn giữ được trên lý-thuyết một nửa (hay 53%) vịnh Bắc-Việt mà thôi.

    Trên thực-tế, phần sở-hữu lại khác đi rất xa. Về tài-nguyên dầu khí, có thể TC đã chiếm gần trọn khu-vực chính. Đặc-biệt phần khai-thác ngư-nghiệp rất tệ-hại cho VN. Theo dự-đoán như dưới đây, tài nguyên hải-sản sát bờ của VN còn giữ được là một phần ba, nhưng phần tài nguyên vùng biển sâu đã thực-sự bị cướp đoạt tới 3/4 sản-lượng. Trong khi đó, hơn một nửa dân-chúng Việt-Nam trông chờ Chính-quyền bảo-vệ nguồn sống muôn đời đành chịu thất-vọng?

    Thoạt nhìn, các Chiến-lược-gia nhận ngay ra rằng Trung-Cộng đã hoàn-toàn siết được cổ Bắc Việt-Nam (và cả Việt-Nam nói chung) khi họ vô-hiệu-hóa hoàn-toàn vị-trí chiến-lược của đảo Bạch-Long-Vĩ.

    Ngay từ lâu đời, Ông Cha ta đã chiếm đảo này để làm thế "ỷ-dốc" cho toàn-thể Đại-Việt. Thời Pháp, Hải-Quân họ cũng lo chuyện phòng-thủ này. Chính Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại giao Hà-Nội là Trưởng Phái-đoàn Thương-thuyết cũng biết vậy. Ông này viết: Phần Vịnh phía ta có khoảng 1 300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km... Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng... Thế mà nay theo thỏa-ước 2001, TC đã tạo được khu "biển chiến-lược" kè sát nước ta, chỉ cách Bạch-Long-Vĩ 15 Hải-lý (hay là chừng 1/2 tầm Hải-pháo thường, không kể đến Hỏa-tiễn của chiến-hạm mới TC). Đó là chưa kể tàu ngụy-trang đánh cá TC còn được phép đến gần đảo 7.7 HL (Bờ nam Bạch-Long-Vĩ nằm trên vĩ độ 20 độ 07 phút 7 Bắc, xem thêm phần hợp-tác nghề cá).

    Hiệp-định Mới Về Đánh Cá và Vùng Biển khả-dụng TC.

    Nguyên-văn Hiệp-định mới thiết-lập "vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20 độ xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý : đại bộ phận cách bờ của ta 35 - 59 hải lý và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý".

    Ngày nay, TC đương-nhiên đến gần bờ biển nước ta, có 2 điểm rất sát chỉ cách bờ 28 hải lý. Vì địa thế nằm ở vòng ngoài, Việt-Nam không phải chỉ đóng góp một nửa khu-vực đánh cá chung một cách hợp-lý mà đã bị ép buộc phải nhượng nhiều hơn, tới gần gấp rưỡi phần Trung-Cộng (#16.5% diện tích Vịnh).

    Xem xét bản-đồ để ước-lượng, chúng ta thấy Trung-Cộng đã được nghiễm-nhiên thừa-hưởng tới gần 2/3 mặt biển (47% + 16.5% + 1% (cửa Bắc-Luân) = 64.5% diện-tích Vịnh).

    Ai cũng biết rằng để nuôi sống 1,300,000,000 dân-chúng thiếu-thốn protéine, Trung-Cộng đã từ lâu phát-triển các hạm-đội đánh cá xa bờ hùng-hậu vào bậc nhất nhì trên thế-giới. Đối đầu lại, Việt-Nam có khả-năng gì? Nếu Trung-Cộng muốn "đưa bắp thịt ra oai", đem toàn Hạm-đội ngư-thuyền viễn-duyên vào lần lượt "diễn-hành" trong Vịnh Bắc-Việt. Chỉ sau một mùa cá, toàn thể các loại cá nước sâu sẽ tuyệt-chủng, không còn một con sống sót để lại cho ngư-dân chúng ta.

    ...

    Ưu-thế của VN bị Cộng-Sản bỏ qua vì Cắt Biển Cầu Thân

    Cho dù yêu-cầu về đường Brévié trong Hiệp-ước Pháp-Hoa 1887 có bị Trung-Cộng bỏ qua, những yếu-tố căn-bản pháp-lý hiện-hành cũng vẫn tạo nhiều ưu-thế cho chủ-quyền Việt-Nam. Cho dù không phải là chuyên-gia Luật Biển, chúng tôi cũng xin đơn-cử một vài điều căn-bản xác-quyết như sau:

    - Hình-thể Thềm Lục-địa Việt-Nam kéo dài chạy thoai thoải ra biển rõ rệt chiếm ưu-thế hơn bờ biển sâu của Đảo Hải-Nam.

    - Bạch-Long-Vĩ với các yếu-tố dân-sinh, lịch-sử, kinh-tế xứng đáng được hưởng quy-chế một hòn đảo, tương-tự như Hải-Nam hay bất cứ một hòn đảo nào khác. Về địa-lý, Bạch-Long-Vĩ là hòn đảo lớn rất rộng, có diện tích tới hơn 2,5 km2, xuýt xoát Đảo Cồn Cỏ (3 cây số vuông). Trong các sách quốc-tế về Hải-Hành, đảo Bạch-Long-Vĩ được mô-tả là một đối-vật quan-trọng cho người đi biển, độ cao sừng sững lên tới 186 feet. Chắc-chắn không có một "người được gọi là hiểu biết" nào lại đồng-ý xếp hải-đảo nổi tiếng Bạch-Long-Vĩ (huyện-đảo này gần 1,000 dân-cư) đồng-hạng với một hòn đá trơ-trọi cùng quy-chế tối-thiểu 15 hải-lý cho đặc-quyền kinh-tế như vậy!

    - Chiều dài bờ biển lục-địa Việt-Nam khúc khuỷu bao quanh Vịnh dài gần gấp 2 lần bờ biển đối-diện của đảo Hải-Nam và bán-đảo Liễu-Châu thuộc Trung-Cộng. Hai ngàn đảo VN cũng là một con số áp-đảo khi so sánh với chừng 5 hải-đảo của Hải-Nam.

    - Dân-cư Việt-Nam sinh-sống tiếp-cận với vịnh Bắc-Việt trong vòng đai cách biển 60 hải-lý hiện nay lên tới 40 triệu người. Dân-số này nhiều gấp 4 đến 6 lần dân-số duyên-hải Trung-Cộng, tuỳ theo cách tính toán. Dân Trung-Hoa sống ở phiá Tây bán-đảo Liễu-Châu rất thưa thớt. Dân-số đảo Hải-Nam chỉ có khoảng 7 triệu người mà thôi. Nhiều lắm trong khu-vực liên-hệ (40% duyên-hải của đảo Hải-Nam) từ bán-đảo Liễu-Châu tới Mũi Oanh-Ca, dân-cư không quá 3, 4 triệu. Không có một thành-phố nào của TC đáng kể là to lớn như hàng chục đô-thị của Việt-Nam.

    - Khảo-cổ văn-minh-học thế-giới và cả sử Trung Hoa cũng chứng-minh rằng những người Việt đã từng làm chủ mọi trong khi người Tàu chỉ mới xuất-hiện ngoài biển này từ thời Hán, tức là mới 2 ngàn năm mà thôi. Sử Trung-Hoa lại còn ghi rõ những chi-tiết là ngoài vùng Châu-nhai phiá Bắc đảo, dân-cư đảo Hải-Nam không chịu chấp-nhận Hoa-thuộc, luôn luôn kháng-chiến dành quyền tự-chủ. Cho đến thời-gian gần đây, tình-hình mới tạm ổn!

    Chuyện Khó Hiểu: Đường Căn-bản của Duyên-hải VN

    Bờ biển và bờ đảo thường lởm chởm, chỗ lồi chỗ lõm. Các đường ranh giới vì vậy rất ngoằn ngoèo phức-tạp. Để giải-quyết vấn-đề chung cho các quốc-gia duyên-hải hay quần-đảo, một sự đồng-ý đã được đưa vào Luật Biển LHQ. cho phép những nước đó được vẽ những đoạn Đường Thẳng Căn-bản (Baselines) nối liền các mũi đất và đảo. (U.N. Convention on the Law of the Sea, Dec. 10, 1982, pt. 11, S 3, 21 I.L.M. 1261, 1273; Kenneth R. Simmonds, U.N. Convention on the Law of the Sea 1982 at B27 (1983). Part II, # 3).

    Ý-thức sớm sự quan-trọng này nên vào ngày 12-11-1982, Việt-Nam công bố một số Đường Căn-bản (mà họ gọi là Đường Cơ-Sở) từ Poulo Wai đến Đảo Cồn Cỏ. Các Đường Cơ-Sở trong vịnh Bắc-Việt (tức từ Đảo Cồn Cỏ đến Đảo Trà Cổ) hoàn-toàn không được vẽ.

    Theo luật gia Kriangsak Kittichaisariee, nếu chỉ kể bốn đoạn (162, 161, 149 và 105 hl) trong 10 đoạn thẳng căn bản (dài tổng-cộng 850hl), nội hải (internal waters), Việt-Nam cũng đã chiếm tới 27,000 dậm vuông. (Law of the Sea and Maritime Boundary Delimitation in South-East Asia, Oxford University Press, 1992: 16-17.) Đường căn-bản như vậy làm gia-tăng diện-tích những khu-vực thuộc chủ-quyền quốc-gia lên rất nhiều.

    Giới Luật-gia cho dù đồng-ý hay không về cách-thức vẽ đường cơ-sở ấy, họ cũng đều nghĩ rằng Việt-Nam rất quyết-tâm trong việc bảo-vệ lãnh-hải. Tất cả đã nhầm lẫn lớn vì sự mềm yếu của Hà-Nội ngay sau đó... Gần 20 năm đã qua đi trong một yên-lặng khó hiểu, chưa bao giờ người ta thấy Đảng CS hay Nhà Nước VN phổ-biến các đường cơ-sở cho những hải-đảo chằng-chịt tại Vịnh Bắc-Việt. Trong thương-thảo, phái-đoàn HàNội không giám hó hé gì với Bắc-Kinh, để Trung-Cộng mặc-tình thao-túng.

    Mối Hại Kinh-khủng Trong Tương-lai Ngắn hạn và Dài hạn

    Gần đây, dân Việt-Nam bắt đầu tiêu-thụ nhiều thịt hơn tổ-tiên của họ trước đây. Người sống ở thành-thị có thể đã quên là còn nhiều đồng-bào với mình tại vùng duyên-hà, duyên-hải vẫn thường ngày chỉ có cá với cơm! Nhiều thống-kê quốc-tế vẫn ghi-nhận trung-bình hàng năm một người Việt-Nam cần ít nhất là 35 kilo cá. Người Pháp đã ước-lượng 2/3 (66%) số protein nuôi sống nước Việt-Nam đến từ hải-sản. Luật-gia Mark J. Valencia ước-lượng tỷ-số đó ít nhất cũng đạt tới 50% (Nguyên-văn: In the 1970s, per capital consumption of fish in Vietnam was at least 35 kilograms, and 50 percent of animal protein came from fish. (Vietnam: Fisheries and Navigation Policies and Issues, Valencia, Mark J.; in Ocean Development and International Law, Printed in the UK, Vol. 21, 1990, pp. 431-445.)

    Một khi mất Biển, nguồn lợi đánh cá suy-giảm, tài-nguyên dưới lòng biển thuộc ngoại-bang. Và... ô-nhiễm sẽ tới ngay. Trung-Cộng từ lâu nổi tiếng bất cần hậu-quả, miễn sao vơ vét cho đầy túi tham. Tại Vịnh Bắc-Việt, nay mai Trung-Cộng sẽ khai-thác lòng biển để lấy dầu lửa và khí đốt. Tai-nạn thảm-khốc tràn dầu chắc chắn xảy ra, Việt-Nam sẽ một mình chịu-đựng mọi khốn khổ ô-nhiễm. Gió thổi, nước trôi quanh năm từ Đông Bắc xuống Tây Nam lập tức mang Thần Chết đến ngay bờ biển và duyên-hải chúng ta. Vì địa-thế trên gió, trên nước; Trung-Cộng vẫn an-bình để sống chết mặc bay!

    Ngoài ra, nhìn xa về tương-lai cũng không phải là chuyện viển vông. Dòng lịch-sử dân-tộc đã chẳng dài nhiều ngàn năm đấy sao? Ngày xưa, Vịnh Bắc-Việt từng ăn sâu tới tận Việt-Trì. Ngày nay, vùng châu-thổ Sông Hồng đang tiếp-tục lấn nhanh ra biển. Trong khi chu-kỳ nóng lạnh của trái đất xoay chuyển, mực nước biển hạ xuống mỗi khi băng đá gia-tăng tại hai cực địa-cầu..., rồi sẽ có giai-đoạn bờ biển kéo dài ra tới đảo Bạch-Long Vĩ. Với những điều-kiện không thể cho là giả-tưởng khi Vịnh Bắc-Việt thâu nhỏ lại trong tương-lai, Trung-Hoa sẽ hoàn-toàn sở-hữu cả Vịnh Biển.

    Xa hơn chút nưã - đến một ngày nào đó - cả hai bên bờ vùng Biển một thời được gọi là "vịnh Bắc-Việt" đều thuộc lãnh-thổ Trung-Hoa. Xin mời người đọc xem thiết-đồ chúng tôi trình-bày dưới đây.

    Đường phân thủy và một đường phân ranh hợp-lý

    Trung-Cộng đã chấp-nhận quan-niệm cổ-truyền "dùng đường phân thủy làm ranh-giới" trên lục-địa (xem thông-báo về hiệp-ước biên-giới của CSVN). Đường phân- thủy ngoài biển cũng phải được tôn-trọng. Chúng tôi trình-bày đường phân-thủy của Vịnh Bắc-Việt vì sự liên-hệ của nó gắn chặt với địa-thế đáy biển VN (đặc biệt là Vịnh Bắc-Việt) chạy dài rất xa ra ngoài khơi. Khi TC tranh-luận kịch-liệt với Nhật-Bản về chủ-quyền Thềm Lục-địa quanh khu-vực đảo Điếu-Ngư (Daio Dao - Uotshuri-Shima 25o45' N 123o29' E), họ đã dùng ưu-thế địa-lý này và đã được một số Chuyên-gia Luật Biển bênh-vực, cho là hữu-lý.

    Một nhận-xét nữa của giới Luật-gia cũng cho thấy đoạn cuối của đường Phân-Thủy cũng không xa bao nhiêu với đường Kinh-tuyến 108 độ 3 phút 13 giây Đông (của Công Ước 1887 về biên giới đã nói ở trên)
    Tại sao mà luật-lệ lại không đồng-nhất (universal) và Việt-Nam lại bị thiệt-thòi quá nhiều như vậy. Chính-quyền Hà-Nội rồi ra sẽ phải trả lời câu hỏi được đặt ra rất hợp-lý này.

    Chỉ có sự chia cắt hợp-lý hải-phận mới đem lại một nền hòa-bình trên Biển. Là một nhóm người nhỏ bé nghiên-cứu một vấn-đề ngoài lãnh-vực chuyên-môn của mình, BBT Lướt-Sóng không có khả-năng trình luận-án khó-khăn như phân-định Vịnh Bắc-Việt. Tuy vậy, trong khi sưu-tầm tài-liệu, chúng tôi tìm thấy có nhiều cá-nhân và tổ-chức luật-pháp rất quan-tâm cho Hòa-bình Thế-giới, đã đi tìm những giải-pháp công-bằng cho cả hai quốc-gia Hoa-Việt.

    Chính-quyền Chân-chính Phải Quyết-tâm Bảo-vệ Lãnh-thổ

    Việc phân chia hải-phận Vịnh Bắc-Việt cũng như việc xác-định chủ-quyền Quốc-gia chúng ta trong những vùng đất, vùng biển nào khác đều quan-trọng. Một chính-quyền chân-chính phải quyết-tâm bảo-vệ lãnh-thổ.

    Công-pháp Quốc-Tế đứng về phía Việt-Nam. Trong tinh-thần thượng-tôn luật-pháp, ý-thức của nhân-loại đang gia-tăng về một trật-tự cần-thiết trên biển; thời-gian hiển-nhiên cũng đứng về phía dân-tộc chúng ta. Điều cần-thiết lúc này là Việt-Nam phải làm sáng-tỏ chính-nghiã chủ-quyền của mình cùng cộng-đồng thế-giới. Nếu vì đối-phương hiếp-đáp, áp-bức trong bàn hội-nghị mà cuộc điều-giải bất- thành, Việt-Nam cần đưa vụ vịnh Bắc-Việt này (cũng như những tranh-chấp các quần-đảo Hoàng Sa Trường Sa) ra trước Tòa-Án Quốc-Tế.

    Sau nữa, toàn dân trong cũng như ngoài nước hy-vọng rằng nhà cầm-quyền Cộng-Sản Việt-Nam không nên muối mặt ký-kết thêm hiệp-định bất bình-đẳng một lần nữa. Dù chót đã hứa với Bắc-Kinh sẽ thoả-thuận về những tranh-chấp Biển Đông trong những năm tới, Cộng-sản Hà-Nội nên hồi-tâm lại. Phải đặt quyền-lợi quốc-gia trên hết. Không hèn, hãy phản công lại mới được chứ!"

    Toàn văn bài viết và phóng ảnh hai bản đồ trước và sau khi cắt biển cầu thân đăng ở địa chỉ Internet:

    http://groups.yahoo.com/group/HoiNghi/message/18060

    NHỮNG CÂU HỎI XUNG QUANH VỤ KÝ KẾT CÁC HIỆP ÐỊNH VỀ BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG

    Trần Trọng Nghĩa

    (Theo Vietnam News Network)

    Trong hơn nửa thế kỷ qua, trên cương vị độc quyền lãnh đạo đất nước ta, đảng cộng sản đã gây cho Việt Nam không biết bao nhiêu là tai họa vô cùng to lớn trên mọi lãnh vực. Muốn chỉnh đốn lại, cũng phải trải qua nhiều thế hệ sau mới hoàn tất được. Nhưng so với việc ký kết các hiệp ước, hiệp định cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc cho Trung Quốc, cộng sản Hà Nội đã đi đến tột cùng của tội ác : Tội bán nước. Tội phản bội Tổ Quốc. Việc làm tồi bại này của cộng sản Hà Nội sẽ di hại nặng nề hơn nữa cho các thế hệ mai sau.

    Sau khi ông Ðỗ Việt Sơn, một đảng viên cộng sản hồi hưu tung ra bức thư ngỏ, đề nghị Quốc Hội không thông qua bản "Hiệp Ðịnh phân định Vịnh Bắc Bộ" vì phía Việt Nam bị quá nhiều thiệt thòi, toàn dân ta, thậm chí đông đảo cán bộ, đảng viên cấp trung và cấp dưới ở trong nước, và đặc biệt là cộng đồng người Việt trên thế giới mới biết và chú ý tìm hiểu vấn đề. Cả nước bàn tán xôn xao. Dư luận ngày càng lan rộng. Từ trong đảng ra đến ngoài dân chúng. Ở trong nước, người ta đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc mà không biết hỏi ai. Vì hỏi thì sợ bị quy chụp là phản động. Chế độ đã quy định, người dân không có quyền lo việc nước. "Việc nước để Nhà Nước lo". Lại càng không có quyền thắc mắc về những gì đảng và Nhà Nước làm. Vì đảng lãnh đạo luôn luôn "sáng suốt". Nhưng lần này, việc xẩy ra vô cùng trọng đại, trái ngược lại tất cả những gì đảng và Nhà Nước vẫn tuyên truyền, nhồi nhét trong nhân dân. Ðảng và Nhà Nước thì vẫn miệng câm như hến. Không công bố nội dung các bản hiệp ước, hiệp định về biên giới và lãnh hải đã ký với Bắc Kinh. Trong đảng, ngoài dân chỉ được thông tin từng mẩu, từng khúc... đứt đoạn. Người dân chỉ còn cách hỏi nhau. "Ta mất những gì ?", "Tại sao lại phải cắt đất ?", "Ðảng có thật là đảng yêu nước và vì dân tộc hay không ?", "Sức ép nào khiến đảng và Nhà Nước phải ký ?". Và còn rất nhiều câu hỏi khác nữa.

    Việt Nam mất những gì ?

    Ải Nam Quan ?

    Người dân hỏi nhau "Hình như mất Ải Nam Quan rồi thì phải ?". Ðiều này ông Lê Công Phụng, người phụng mạng Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), với tư cách là thứ trưởng Ngoại Giao và là trưởng phái đoàn Hà Nội đi thương thuyết với Bắc Kinh, đã xác nhận rõ ràng trên môi trường "ảo" của trang internet VASC Orient rằng : "hiện nay chúng ta công nhận mục Nam Quan là của Trung Quốc". Như thế, câu được ghi trong sử sách, trong văn chương, văn hóa Việt Nam "Nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau", không còn đúng với thực tế nữa. Từ đó, lại nảy sinh ra câu hỏi "Ải Nam Quan là do ta xây hay Tàu xây ?". Lục lại sử cũ, ông Trần Gia Phụng tại Canada đã ghi lại trong bài "Chuyện một chiếc Ải đã mất" như sau : "Theo Ðại Nam nhất thống chí, do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn xong dưới triều vua Tự Ðức (trị vì 1847-1883), ải Nam Quan "cách tỉnh thành [Lạng Sơn] 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 [1725] nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là "Ðại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề "Trấn Nam Quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 [1728] triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm tân sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh.Phía bắc cửa có "Chiêu đức đài", đàng sau đài có "Ðình tham đường" (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có "Ngưỡng đức đài" của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ". Theo sử liệu này, ông Trần Gia Phụng cũng viết "Ải Nam Quan gồm hai phần kiến trúc: Thứ nhất, phần kiến trúc do chính quyền Trung Hoa xây dựng từ thế kỷ 16 gồm có cửa quan và những cơ sở phụ thuộc phía bắc ải. Thứ nhì, phần kiến trúc do chính quyền Ðại Việt xây dựng phía nam ải, gồm có "Ngưỡng đức đài" và hai dãy hành lang tả hữu, và có bia được lập vào thế kỷ 18 ghi địa giới hai nước".

    Vấn đề không nằm ở cái "cửa Ải Nam Quan", mà là lãnh thổ Việt Nam từ xưa đến nay, sử sách vẫn chép là, ở phía Bắc khởi đi từ Ải Nam Quan. Nhưng cộng sản Hà Nội qua lời của Lê Công Phụng đã đưa ra lập luận mới là "cửa khẩu""mốc cây số 0". Trụ cây số 0 này, theo Lê Công Phụng nằm phía nam cửa Ải Nam Quan 200m. Nhiều người khẳng định là cả cây số. Ông Phụng nói : "Tính cột mốc số 0 trở về phía Nam là lãnh thổ của Việt Nam. Từ cột mốc số 0 trở về phía Bắc là của Trung Quốc". Cũng nên nhớ là thực dân Pháp đô hộ nước ta từ hậu bán thế kỷ 19 và việc mở quốc lộ 1 chỉ được thực hiện sớm lắm là cuối thế kỷ 19 và việc đo đạc, có xi măng đúc trụ cây số cũng không sớm hơn đầu thế kỷ thứ 20. Trong lúc đó, sử sách ta từ nhiều trăm năm trước đã ghi chép, biên giới phía bắc nước ta là Ải Nam Quan. Cha con Phi Khanh, Nguyễn Trãi đã giả biệt nhau tại Ải Nam Quan vào đầu thế kỷ thứ 15. Vậy, lập luận của cộng sản Hà Nội nói nước ta bắt đầu ở phía Bắc từ cây số 0 là ngụy biện để che dấu tội cắt nhượng đất đai tổ tiên cho Trung Quốc. Thực sự ta đã mất một vùng đất đai quan trọng tại địa điểm lịch sử Nam Quan, trong đó có những công trình kiến trúc của ta như "Ngưỡng Ðức Ðài".

    Thác Bản Giốc ?

    Người dân cũng nêu câu hỏi "Việt Nam mất thác Bản Giốc ?". Liên quan đến chuyện này, Lê Công Phụng đã nói "Về thác Bản Giốc, thì đây là điều rất phức tạp". Lê Công Phụng cho biết là "trong Công Ước giữa nhà Thanh và Pháp, thác Bản Giốc chỉ thuộc về ta có 1/3 thôi; và theo thực trạng cột mốc được cắm từ thời nhà Thanh thì chúng ta cũng chỉ được 1/3 thác". Ðược hỏi tại sao hàng bao năm nay, bao nhiêu du khách, bao nhiêu người trách nhiệm trong chính quyền tới đây, lại không thấy ai đề cập đến cái cột mốc này thì Lê Công Phụng biện bạch : "Cột mốc không nằm sát Bản Giốc. Khi chúng tôi khảo sát thì mới thấy cột mốc nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét. Vì vậy nên cũng không mấy ai quan tâm đến cột mốc ở thác Bản Giốc". Vụ Việt Nam chỉ có 1/3 thác chỉ mới xuất hiện từ khi Hà Nội ký hiệp định biên giới với Bắc Kinh. Trước đó, chính Lê Công Phụng cũng đã thú nhận là "Ngay Trung Quốc cũng không nói đấy là của Trung Quốc". Câu hỏi được đặt ra là trước đó, đường biên giới ở cách thác Bản Giốc bao xa về phía Bắc ? Hà Nội đã tổ chức ở đây như một địa điểm du lịch và khai thác toàn bộ thác này. Ðể biện bạch cho việc Việt Nam mất thác Bản Giốc, Lê Công Phụng nói rằng : "Lẽ ra theo thực tiễn thì chúng ta chỉ được 1/3. Nhưng sau đàm phán, chúng ta và bạn đã thỏa thuận thác Bản Giốc được chia đôi, mỗi bên được 50%. Hiện nay, cả hai bên đang tiến hành khai thác du lịch phía bên mình".

    Vấn đề ở đây là Bắc Kinh đã nêu lý do Hiệp Ước 1887 giữa "thực dân Pháp và Nhà Thanh" ký kết không công bằng đối với Trung Quốc và đòi Hà Nội phải thương thuyết và phân định lại biên giới. Nhưng đến Thác Bản Giốc thì Lê Công Phụng lại vin vào Hiệp Ước này để che dấu tội cắt nhượng đất đai biên giới.

    Mất hơn 700 cây số vuông đất biên giới ?

    Trong bức thư ngỏ gửi lãnh đạo cộng sản Hà Nội, ông Ðỗ Việt sơn đã viết : "yêu cầu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao điều trần nói rõ nội dung số cây số vuông đã nhượng cho Trung Quốc so với Hiệp định Pháp - Thanh và nguyên nhân đi tới ký kết". Qua nhiều nguồn tin khác nhau, người dân trong nước đã có những con số về diện tích này, tuy không giống nhau nhưng đều trên 700 cây số vuông. Dư luận bàn tán "bao nhiêu là đúng thực tế ?". Liên quan đến vấn đề này, Lê Công Phụng nói : "Nói chuyện chúng ta mất 700 km2, theo tôi nghĩ, hoàn toàn không thực tế. Bởi lẽ là chúng ta dựa trên đường biên giới mà thực dân Pháp và nhà Thanh đã phân định với nhau hơn 100 năm nay, chỉ đàm phán về 227 km2 thôi". Với thực tế hiển nhiên là người dân địa phương và người dân trong nước không còn tới được Ải Nam Quan, thác Bản Giốc và nhiều vùng biên giới khác, Lê Công Phụng không thể chối là đường biên giới còn nguyên vẹn và CSVN không đánh mất đất Tổ được. Vì thế ông ta đã quanh co đưa ra con số 227 km2 mà ông nói là có sự "chênh nhau" trên bản đồ tại "164 điểm". Ông nói thêm rằng : "Trong 227 km2 đó, chúng ta đàm phán với Trung Quốc từ năm 1993, đi đến ký kết ngày 30/12/1999. Chúng ta được khoảng trên dưới 113 km2 và Trung Quốc được trên dưới 114 km2". Từ đây lại bật ra những câu hỏi khác "ta mất 114 cây số vuông, chắc trong đó có Ải Nam Quan ? có thác Bản Giốc ?"; "Có thật ta chỉ mất có 114 cây số vuông hay nhiều hơn nữa ?"; "Không chừng 780 cây số mới là đúng thực tế ?" v.v... Cho đến khi nào dân ta được tận mắt xem thấy nguyên văn bản Hiệp Ước mà cộng sản Hà Nội vẫn dấu kín như bưng, thì câu hỏi này vẫn lan tràn trong dân chúng.

    Vịnh Bắc Bộ và Hoàng Sa - Trường Sa ?

    Thư ngỏ của ông Ðỗ Việt Sơn là nhằm "Ðề nghị không thông qua hiệp định biên giới Việt-Trung". Liên quan đến "Vịnh Bắc Bộ", ông Sơn viết : "Qua lời thông báo của một vị lãnh đạo của thành phố Hải Phòng tại CLB Bạch Ðằng tháng 2/2001 thì Vịnh Bắc Bộ chia đôi ta được 53%, Trung Quốc 47%. Sao kỳ lạ thế !". Người dân cũng thắc mắc như ông Sơn : "theo Hiệp định biên giới Việt Trung mới đây ta đã nhượng bộ cho Trung Quốc hàng trăm cây số vuông đất liền và hàng ngàn cây số vuông ở Vịnh Bắc Bộ (so với Hiệp định Pháp - Thanh đã ký cuối thế kỷ XIX)" ? Ðể biện minh cho việc mất "hàng ngàn cây số vuông trong Vịnh Bắc Bộ", Lê Công Phụng đã mang Công Ước Quốc Tế về luật biển năm 1982 để lòe thiên hạ và hoàn toàn phủ nhận sự phân định vịnh Bắc Việt do Pháp và nhà Thanh ký kết trước đây. Ðược hỏi là hiệp ước này có được xem là cơ sở đàm phán không, Lê Công Phụng nói : "Chúng ta không xem như vậy được, bởi lẽ nó hoàn toàn không phù hợp với luật pháp quốc tế, tức là Công ước về biển của Liên Hợp Quốc năm 1982". Thực chất, trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển - Phần thứ 10, liên quan đến "Các địa trung hải hay vùng biển bán khép kín (Vịnh)", điều 122 viết : "Nhằm mục đích của Công Ước, người ta hiểu "địa trung hải hay vùng biển bán khép kín" là một vịnh, một bể, hay một biển bao quanh bởi nhiều quốc gia và thông với một biển khác hoặc đại dương bởi một cửa hẹp, hoặc được cấu tạo toàn bộ hay chủ yếu, bởi những lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia". Ðiều 123 về sự "hợp tác giữa các quốc gia ven bờ các địa trung hải hay vịnh" quy định các quốc gia liên hệ hợp tác với nhau trong việc hành xử quyền hạn và thi hành những nghĩa vụ được quy định bởi Công Ước. Các nước này có thể trực tiếp thương thảo với nhau hay qua trung gian một tổ chức các quốc gia trong vùng. Không có điều nào nói là Hiệp Ðịnh Pháp Thanh khi xưa là trái với luật pháp quốc tế.

    Trái lại, để có thể dâng cho Bắc Kinh hơn 11.000 km2 trên Vịnh, cộng sản Hà Nội đã vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển khi họ tước đoạt quyền có lãnh hải, có vùng đặc quyền kinh tế và có thềm lục địa của Ðảo Bạch Long Vĩ. Lê Công Phụng đã lừa bịp dân ta khi tuyên bố : "... về quy chế đối với đảo Bạch Long Vĩ, vì đây là hòn đảo rất đặc biệt nằm ở giữa vịnh, mà thông thường các đảo nằm giữa vịnh thì không có vùng pháp lý xung quanh; nhưng đối với đảo Bạch Long Vĩ thì chúng ta đạt một vùng bao bọc xung quanh là 15 cây số". Thực chất Công Ước về Luật Biển, phần thứ 8, điều 121 về "Quy Chế Các Hải Ðảo" nói rõ :

    1/ Một hải đảo là một vùng đất tự nhiên được bao bọc bởi nước và vẫn hiện hữu khi thủy triều cao.
    2/ Ngoại trừ như đã quy định bởi đoạn 3, vùng lãnh hải, vùng hải phận, vùng kinh tế dành riêng và thềm lục địa của một hải đảo được phân định đúng theo những điều khoản của Công Ước được áp dụng cho các vùng đất liền khác.
    3/ Các rặng đá không có người ở và có một sinh hoạt kinh tế riêng biệt, không có vùng đặc quyền kinh tế.

    Như vậy không có chuyện đảo nằm giữa vịnh là không có vùng pháp lý bao quanh.

    Về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì nhiều bằng chứng rõ ràng là đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội đã thừa nhận là thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc từ những thập niên 50. Và từ 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực "tái chiếm" các hòn đảo mà cộng sản Hà Nội đã dâng hiến cho họ trước đây. Ðể chữa thẹn Lê Công Phụng đã ngụy biện : "chúng ta cũng đang đấu tranh rất là mạnh với các bên liên quan trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa".

    Lý do nào khiến cộng sản Hà Nội cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải ?

    Câu hỏi hằn trong đầu của cán bộ, đảng viên và dân chúng tại Việt Nam là "Tại sao lãnh đạo đảng và Nhà Nước lại ký các hiệp ước, hiệp định về biên giới với Trung Quốc ?". "Tại sao lại chấp nhận những thiệt thòi cho Việt Nam quá đáng như vậy ?"... Câu trả lời có thể tìm thấy ngay trong bức thư đầu xuân Nhâm Ngọ của Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi : "không phải vì đất nước chúng ta thua một cuộc chiến, nhưng vì những kẻ cầm quyền muốn xin thế lực ngoại nhân bảo vệ cho cái ghế của họ". Thực vậy, trong lịch sử thế giới và cả ở nước ta, sau một cuộc chiến tranh, bên thua trận thường bị bắt buộc phải cắt đất, cắt biển cho bên thắng trận. Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc sau khi nối lại, theo đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội thì hiện rất tốt đẹp. Ngày 29/11/2001, báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của chế độ cộng sản Hà Nội đã bình luận về chuyến "viếng thăm" Trung Quốc của tổng bí thư Nông Ðức Mạnh như sau : "Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, gắn bó từ lâu. Tình hữu nghị Việt - Trung được lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp đã trở thành tài sản chung quý báu của hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Việc lãnh đạo cấp cao hai bên thường xuyên thăm viếng lẫn nhau có vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển. Tuyên bố chung giữa hai Tổng Bí thư tháng 2-1999 xác định phương châm "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", là phương hướng cơ bản, lâu dài phát triển quan hệ hai nước đánh dấu giai đoạn mới của quan hệ Việt - Trung".

    Trong lúc đó thì Lê Công Phụng đã tiết lộ một chi tiết đáng chú ý. Ông ta nói : "Có lẽ là dư luận rất quan tâm, ngay cả những người nói là ''Việt Nam bán đất, người Việt Nam cắt đất cho Trung Quốc'' thì phần nào cũng thể hiện sự quan tâm của họ đối với đất nước, với Việt Nam. Nhưng trong đó cũng không ít người có ý xấu, kích động tinh thần dân tộc, gây phức tạp cho quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc". Chi tiết này cho thấy, cộng sản Hà Nội rất ưu tư về mối quan hệ giữa họ và Bắc Kinh. Nói cách khác, họ lo sợ mối bang giao này xấu đi. Tại sao ?

    Trái với luận điệu tuyên truyền trên tờ Nhân Dân khi nói rằng quan hệ "gắn bó" từ lâu, cuộc chiến tranh biên giới giữa hai bên mới xảy ra được một con giáp còn hằn sâu dấu ấn trên trận địa lẫn trong lòng mọi người, việc cộng sản Hà Nội phải "hồi đầu" quy thuận thiên triều Bắc Kinh sau khi Liên Xô sụp đổ chắc chắn đã phải kèm theo một cái giá rất đắt. Cứ theo dõi những cuộc "viếng thăm" Bắc Kinh của các vị đầu lãnh đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội, mà thực chất chỉ là những lần triều kiến, khấu tấu thiên triều, người ta cũng đoán được phần nào những yêu sách, những sức ép từ Bắc Kinh đè lên đầu Hà Nội. Cũng không phải ngẫu nhiên mà ngay từ những ngày đầu nối lại bang giao, Bắc Kinh đã bắt buộc cộng sản Hà Nội phải giải quyết tức tốc vấn đề biên giới trên đất liền, trên vịnh Bắc Bộ và trên biển Ðông. Bắc Kinh đã hối thúc bằng các phái đoàn sang Hà Nội. Bắc Kinh còn gọi cả Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh sang tận Bắc Kinh để đốc thúc và ra hạn là phải ký trước năm 2000. Có như vậy thì thiên triều Bắc Kinh mới ban cho cộng sản Hà Nội "16 chữ vàng" mà Hà Nội coi như khuôn vàng thước ngọc, như sắc chỉ tấn phong, như ách bảo hộ của đế quốc Trung Cộng.

    Chiêu Bài dân tộc của cộng sản Hà Nội có còn đứng vững không ?

    Từ khi xuất hiện trên đất nước ta, Hồ Chí Minh và bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản luôn tìm cách "gắn liền đảng với dân tộc". Vì thế mà đã có không ít người, từ người nông dân với trình độ học thức thấp kém đến một số trí thức đã vì "lá cờ dân tộc" này mà đi theo chủ nghĩa, đi theo đảng cộng sản. Ngày hôm nay, trước hành động tình nguyện cắt đất Tổ dâng cho ngoại bang, đông đảo cán bộ, đảng viên, và người dân trong nước đang sững sờ với những câu khỏi không có giải đáp : "Ðảng có thật vì dân vì nước không ?"; "Cách mạng vô sản có phục vụ cho dân cho nước không ?"; "Lá cờ dân tộc đảng phất trước đây để huy động toàn dân ta đứng lên kháng chiến chống quân xâm lược phải chăng là giả ?"; "Dân tộc ta có phải đã bị một nhóm người cộng sản đội lốt dân tộc lừa gạt hay không ?". Ở vị trí của những ai đặt các câu hỏi này, thật là khó trả lời. Vì ít nhiều gì họ đã giúp cho đảng có ngày hôm nay. Nhìn nhận mình bị lừa, mình sai lầm... là một chuyện không dễ làm. Nhưng phương ngôn Tây Phương có câu "Chỉ có kẻ đần độn mới không biết nhận sai lầm". Thực ra, vấn đề không nằm ở chỗ luận bàn sai lầm hay không sai lầm. Vấn đề là phải nhìn cho rõ thực chất của cộng sản. Cộng sản chủ trương "tam vô" và nhắm tới "thế giới đại đồng". Hồ Chí Minh trong chuyến viếng thăm Ðền Vạn Kiếp thờ Ðức Trần Hưng Ðạo, đã chẳng đề bài thơ ngạo mạn, gọi tiền nhân bằng bác, xưng tôi để nói lên chủ trương đó sao ? Thơ rằng :

    Vốn tay hào kiệt, vốn anh hùng,
    Tôi bác cùng chung nợ kiếm cung.
    Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc,
    Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
    Bác đưa một nước qua nô lệ,
    Tôi dẫn năm châu đến đại đồng.
    Bác có linh thiêng cười một tiếng,
    Mừng tôi cách mạng sắp thành công

    Như vậy, ngay từ đầu, không một tay lãnh đạo cộng sản nào nghĩ rằng dân tộc, tổ tiên, quốc gia, lãnh thổ vv... là những giá trị cao quý. Họ làm cách mạng để diệt đi tất cả những thứ đó. Ngọn cờ dân tộc họ đã phất lên trong quá khứ chỉ là lá cờ giả hiệu. Với ngọn cờ giả hiệu đó, họ đã lừa bịp được dân chúng Việt Nam, lừa được thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngày hôm nay, mọi người, kể cả cán bộ, đảng viên cũng đã thấy rõ chiêu bài dân tộc cộng sản Việt Nam đưa ra không còn đứng vững nữa.

    Trước đây, họ đã hy sinh quyền lợi Tổ Quốc, quyền lợi dân tộc, xương máu nhân dân... vì lợi ích của chủ nghĩa, của phe cộng sản thế giới, cho mục tiêu nhuộm đỏ thế giới. Ngày nay, chủ thuyết đã phá sản, thế giới cộng sản đã tan rã. Chỉ còn mấy nước dựa lưng vào nhau trong nỗ lực sinh tồn. Vì bọn người này đã mất hết lương tri và dân tộc tính, cho dù ngày nay không còn chủ thuyết, họ vẫn không hồi đầu về với cội nguồn, dân tộc. Trái lại, họ hồi đầu quy thuận thế lực ngoại bang để mưu lợi cho phe cánh, cho cá nhân. Họ hết còn "trong sáng" như lời tuyên truyền. Thực chất, họ không bao giờ trong sáng cả. Những lời nói nhân nghĩa, yêu nước của họ chỉ là giả dối, lường gạt. Vì thế họ đã nhanh chóng bị tha hóa. Dư luận đồn về tác phong bẩn thỉu của những tay lãnh đạo cộng sản Hà Nội từ đầu tới giờ. Tin đồn Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài "mỹ nhân kế" hồi năm 1988, có đứa con rơi là gái. Người ta còn kháo nhau rằng đầu lãnh cộng sản Hà Nội đã bán nước với giá 2 tỷ mỹ kim... Thực ra, Bắc Kinh chẳng cần bỏ ra một số tiền to như vậy để mua lấy đất đai, mặt biển của tập đoàn lãnh đạo chóp bu Hà Nội. Sức ép chính trị, kinh tế, ngoại giao của họ, nhất là hậu thuẫn cho đảng tiếp tục cầm quyền đủ khiến Hà Nội tình nguyện bán nước.

    Kết Luận.

    Phần kết luận của bài này xin dành để trả lời câu hỏi "Chế độ cộng sản hiện nay tại nước ta có còn lý do để tồn tại hay không ?". Khi tìm cách trả lời những câu hỏi được đặt ra xung quanh việc cộng sản Hà Nội ký kết các văn kiện bán nước cho Trung Quốc, người ta đã thấy rõ :

    Thứ nhất, tập đoàn cộng sản Hà Nội đã phản lại quyền lợi của Tổ Quốc, phản lại xương máu của đồng bào, chiến sĩ đã đổ ra bảo vệ từng tấc đất, gang sông.
    Thứ nhì, từ đầu đến ngày hôm nay, họ đã và còn tiếp tục lừa gạt nhân dân ta để phục vụ cho họ.
    Thứ ba, họ cam tâm bán rẻ tổ quốc để đánh đổi lấy sự che chở, hậu thuẫn của Bắc Kinh hầu củng cố độc tài thống trị trên đất nước ta.
    Thứ tư, toàn bộ tập đoàn lãnh đạo đảng và Nhà Nước cộng sản Việt Nam đã tự đứng ra ngoài vòng dân tộc Việt Nam, đã tha hóa, tham ô, bóc lột, bán nước cầu vinh, làm tay sai cho ngoại bang.

    Một chế độ được hình thành bởi những con người như thế, với đường lối như thế, phản bội tổ quốc như thế, không có lý do nào tồn tại trên đất nước Việt Nam. Ðã đến lúc, toàn dân ta phải đứng lên, vứt bỏ sự lãnh đạo phản bội của đảng CSVN, cùng nhau quyết tâm bảo vệ bờ cõi, giữ lấy chủ quyền và giành lại chính quyền về tay nhân dân.

    Trần Trọng Nghĩa

    NHỮNG CÂU HỎI XUNG QUANH VỤ KÝ KẾT CÁC HIỆP ÐỊNH VỀ BIÊN GIỚI VIỆT – TRUNG

    Trần Trọng Nghĩa

    (Theo Vietnam News Network)

    Trong hơn nửa thế kỷ qua, trên cương vị độc quyền lãnh đạo đất nước ta, đảng cộng sản đã gây cho Việt Nam không biết bao nhiêu là tai họa vô cùng to lớn trên mọi lãnh vực. Muốn chỉnh đốn lại, cũng phải trải qua nhiều thế hệ sau mới hoàn tất được. Nhưng so với việc ký kết các hiệp ước, hiệp định cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc cho Trung Quốc, cộng sản Hà Nội đã đi đến tột cùng của tội ác : Tội bán nước. Tội phản bội Tổ Quốc. Việc làm tồi bại này của cộng sản Hà Nội sẽ di hại nặng nề hơn nữa cho các thế hệ mai sau.

    Sau khi ông Ðỗ Việt Sơn, một đảng viên cộng sản hồi hưu tung ra bức thư ngỏ, đề nghị Quốc Hội không thông qua bản "Hiệp Ðịnh phân định Vịnh Bắc Bộ" vì phía Việt Nam bị quá nhiều thiệt thòi, toàn dân ta, thậm chí đông đảo cán bộ, đảng viên cấp trung và cấp dưới ở trong nước, và đặc biệt là cộng đồng người Việt trên thế giới mới biết và chú ý tìm hiểu vấn đề. Cả nước bàn tán xôn xao. Dư luận ngày càng lan rộng. Từ trong đảng ra đến ngoài dân chúng. Ở trong nước, người ta đặt ra nhiều câu hỏi, nhiều thắc mắc mà không biết hỏi ai. Vì hỏi thì sợ bị quy chụp là phản động. Chế độ đã quy định, người dân không có quyền lo việc nước. "Việc nước để Nhà Nước lo". Lại càng không có quyền thắc mắc về những gì đảng và Nhà Nước làm. Vì đảng lãnh đạo luôn luôn "sáng suốt". Nhưng lần này, việc xẩy ra vô cùng trọng đại, trái ngược lại tất cả những gì đảng và Nhà Nước vẫn tuyên truyền, nhồi nhét trong nhân dân. Ðảng và Nhà Nước thì vẫn miệng câm như hến. Không công bố nội dung các bản hiệp ước, hiệp định về biên giới và lãnh hải đã ký với Bắc Kinh. Trong đảng, ngoài dân chỉ được thông tin từng mẩu, từng khúc... đứt đoạn. Người dân chỉ còn cách hỏi nhau. "Ta mất những gì ?", "Tại sao lại phải cắt đất ?", "Ðảng có thật là đảng yêu nước và vì dân tộc hay không ?", "Sức ép nào khiến đảng và Nhà Nước phải ký ?". Và còn rất nhiều câu hỏi khác nữa.

    Việt Nam mất những gì ?

    Ải Nam Quan ?

    Người dân hỏi nhau "Hình như mất Ải Nam Quan rồi thì phải ?". Ðiều này ông Lê Công Phụng, người phụng mạng Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), với tư cách là thứ trưởng Ngoại Giao và là trưởng phái đoàn Hà Nội đi thương thuyết với Bắc Kinh, đã xác nhận rõ ràng trên môi trường "ảo" của trang internet VASC Orient rằng : "hiện nay chúng ta công nhận mục Nam Quan là của Trung Quốc". Như thế, câu được ghi trong sử sách, trong văn chương, văn hóa Việt Nam "Nước Việt Nam trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau", không còn đúng với thực tế nữa. Từ đó, lại nảy sinh ra câu hỏi "Ải Nam Quan là do ta xây hay Tàu xây ?". Lục lại sử cũ, ông Trần Gia Phụng tại Canada đã ghi lại trong bài "Chuyện một chiếc Ải đã mất" như sau : "Theo Ðại Nam nhất thống chí, do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn xong dưới triều vua Tự Ðức (trị vì 1847-1883), ải Nam Quan "cách tỉnh thành [Lạng Sơn] 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 [1725] nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là "Ðại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề "Trấn Nam Quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 [1728] triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm tân sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh.Phía bắc cửa có "Chiêu đức đài", đàng sau đài có "Ðình tham đường" (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có "Ngưỡng đức đài" của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ". Theo sử liệu này, ông Trần Gia Phụng cũng viết "Ải Nam Quan gồm hai phần kiến trúc: Thứ nhất, phần kiến trúc do chính quyền Trung Hoa xây dựng từ thế kỷ 16 gồm có cửa quan và những cơ sở phụ thuộc phía bắc ải. Thứ nhì, phần kiến trúc do chính quyền Ðại Việt xây dựng phía nam ải, gồm có "Ngưỡng đức đài" và hai dãy hành lang tả hữu, và có bia được lập vào thế kỷ 18 ghi địa giới hai nước".

    Vấn đề không nằm ở cái "cửa Ải Nam Quan", mà là lãnh thổ Việt Nam từ xưa đến nay, sử sách vẫn chép là, ở phía Bắc khởi đi từ Ải Nam Quan. Nhưng cộng sản Hà Nội qua lời của Lê Công Phụng đã đưa ra lập luận mới là "cửa khẩu""mốc cây số 0". Trụ cây số 0 này, theo Lê Công Phụng nằm phía nam cửa Ải Nam Quan 200m. Nhiều người khẳng định là cả cây số. Ông Phụng nói : "Tính cột mốc số 0 trở về phía Nam là lãnh thổ của Việt Nam. Từ cột mốc số 0 trở về phía Bắc là của Trung Quốc". Cũng nên nhớ là thực dân Pháp đô hộ nước ta từ hậu bán thế kỷ 19 và việc mở quốc lộ 1 chỉ được thực hiện sớm lắm là cuối thế kỷ 19 và việc đo đạc, có xi măng đúc trụ cây số cũng không sớm hơn đầu thế kỷ thứ 20. Trong lúc đó, sử sách ta từ nhiều trăm năm trước đã ghi chép, biên giới phía bắc nước ta là Ải Nam Quan. Cha con Phi Khanh, Nguyễn Trãi đã giả biệt nhau tại Ải Nam Quan vào đầu thế kỷ thứ 15. Vậy, lập luận của cộng sản Hà Nội nói nước ta bắt đầu ở phía Bắc từ cây số 0 là ngụy biện để che dấu tội cắt nhượng đất đai tổ tiên cho Trung Quốc. Thực sự ta đã mất một vùng đất đai quan trọng tại địa điểm lịch sử Nam Quan, trong đó có những công trình kiến trúc của ta như "Ngưỡng Ðức Ðài".

    Thác Bản Giốc ?

    Người dân cũng nêu câu hỏi "Việt Nam mất thác Bản Giốc ?". Liên quan đến chuyện này, Lê Công Phụng đã nói "Về thác Bản Giốc, thì đây là điều rất phức tạp". Lê Công Phụng cho biết là "trong Công Ước giữa nhà Thanh và Pháp, thác Bản Giốc chỉ thuộc về ta có 1/3 thôi; và theo thực trạng cột mốc được cắm từ thời nhà Thanh thì chúng ta cũng chỉ được 1/3 thác". Ðược hỏi tại sao hàng bao năm nay, bao nhiêu du khách, bao nhiêu người trách nhiệm trong chính quyền tới đây, lại không thấy ai đề cập đến cái cột mốc này thì Lê Công Phụng biện bạch : "Cột mốc không nằm sát Bản Giốc. Khi chúng tôi khảo sát thì mới thấy cột mốc nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét. Vì vậy nên cũng không mấy ai quan tâm đến cột mốc ở thác Bản Giốc". Vụ Việt Nam chỉ có 1/3 thác chỉ mới xuất hiện từ khi Hà Nội ký hiệp định biên giới với Bắc Kinh. Trước đó, chính Lê Công Phụng cũng đã thú nhận là "Ngay Trung Quốc cũng không nói đấy là của Trung Quốc". Câu hỏi được đặt ra là trước đó, đường biên giới ở cách thác Bản Giốc bao xa về phía Bắc ? Hà Nội đã tổ chức ở đây như một địa điểm du lịch và khai thác toàn bộ thác này. Ðể biện bạch cho việc Việt Nam mất thác Bản Giốc, Lê Công Phụng nói rằng : "Lẽ ra theo thực tiễn thì chúng ta chỉ được 1/3. Nhưng sau đàm phán, chúng ta và bạn đã thỏa thuận thác Bản Giốc được chia đôi, mỗi bên được 50%. Hiện nay, cả hai bên đang tiến hành khai thác du lịch phía bên mình".

    Vấn đề ở đây là Bắc Kinh đã nêu lý do Hiệp Ước 1887 giữa "thực dân Pháp và Nhà Thanh" ký kết không công bằng đối với Trung Quốc và đòi Hà Nội phải thương thuyết và phân định lại biên giới. Nhưng đến Thác Bản Giốc thì Lê Công Phụng lại vin vào Hiệp Ước này để che dấu tội cắt nhượng đất đai biên giới.

    Mất hơn 700 cây số vuông đất biên giới ?

    Trong bức thư ngỏ gửi lãnh đạo cộng sản Hà Nội, ông Ðỗ Việt sơn đã viết : "yêu cầu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao điều trần nói rõ nội dung số cây số vuông đã nhượng cho Trung Quốc so với Hiệp định Pháp - Thanh và nguyên nhân đi tới ký kết". Qua nhiều nguồn tin khác nhau, người dân trong nước đã có những con số về diện tích này, tuy không giống nhau nhưng đều trên 700 cây số vuông. Dư luận bàn tán "bao nhiêu là đúng thực tế ?". Liên quan đến vấn đề này, Lê Công Phụng nói : "Nói chuyện chúng ta mất 700 km2, theo tôi nghĩ, hoàn toàn không thực tế. Bởi lẽ là chúng ta dựa trên đường biên giới mà thực dân Pháp và nhà Thanh đã phân định với nhau hơn 100 năm nay, chỉ đàm phán về 227 km2 thôi". Với thực tế hiển nhiên là người dân địa phương và người dân trong nước không còn tới được Ải Nam Quan, thác Bản Giốc và nhiều vùng biên giới khác, Lê Công Phụng không thể chối là đường biên giới còn nguyên vẹn và CSVN không đánh mất đất Tổ được. Vì thế ông ta đã quanh co đưa ra con số 227 km2 mà ông nói là có sự "chênh nhau" trên bản đồ tại "164 điểm". Ông nói thêm rằng : "Trong 227 km2 đó, chúng ta đàm phán với Trung Quốc từ năm 1993, đi đến ký kết ngày 30/12/1999. Chúng ta được khoảng trên dưới 113 km2 và Trung Quốc được trên dưới 114 km2". Từ đây lại bật ra những câu hỏi khác "ta mất 114 cây số vuông, chắc trong đó có Ải Nam Quan ? có thác Bản Giốc ?"; "Có thật ta chỉ mất có 114 cây số vuông hay nhiều hơn nữa ?"; "Không chừng 780 cây số mới là đúng thực tế ?" v.v... Cho đến khi nào dân ta được tận mắt xem thấy nguyên văn bản Hiệp Ước mà cộng sản Hà Nội vẫn dấu kín như bưng, thì câu hỏi này vẫn lan tràn trong dân chúng.

    Vịnh Bắc Bộ và Hoàng Sa - Trường Sa ?

    Thư ngỏ của ông Ðỗ Việt Sơn là nhằm "Ðề nghị không thông qua hiệp định biên giới Việt-Trung". Liên quan đến "Vịnh Bắc Bộ", ông Sơn viết : "Qua lời thông báo của một vị lãnh đạo của thành phố Hải Phòng tại CLB Bạch Ðằng tháng 2/2001 thì Vịnh Bắc Bộ chia đôi ta được 53%, Trung Quốc 47%. Sao kỳ lạ thế !". Người dân cũng thắc mắc như ông Sơn : "theo Hiệp định biên giới Việt Trung mới đây ta đã nhượng bộ cho Trung Quốc hàng trăm cây số vuông đất liền và hàng ngàn cây số vuông ở Vịnh Bắc Bộ (so với Hiệp định Pháp - Thanh đã ký cuối thế kỷ XIX)" ? Ðể biện minh cho việc mất "hàng ngàn cây số vuông trong Vịnh Bắc Bộ", Lê Công Phụng đã mang Công Ước Quốc Tế về luật biển năm 1982 để lòe thiên hạ và hoàn toàn phủ nhận sự phân định vịnh Bắc Việt do Pháp và nhà Thanh ký kết trước đây. Ðược hỏi là hiệp ước này có được xem là cơ sở đàm phán không, Lê Công Phụng nói : "Chúng ta không xem như vậy được, bởi lẽ nó hoàn toàn không phù hợp với luật pháp quốc tế, tức là Công ước về biển của Liên Hợp Quốc năm 1982". Thực chất, trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển - Phần thứ 10, liên quan đến "Các địa trung hải hay vùng biển bán khép kín (Vịnh)", điều 122 viết : "Nhằm mục đích của Công Ước, người ta hiểu "địa trung hải hay vùng biển bán khép kín" là một vịnh, một bể, hay một biển bao quanh bởi nhiều quốc gia và thông với một biển khác hoặc đại dương bởi một cửa hẹp, hoặc được cấu tạo toàn bộ hay chủ yếu, bởi những lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia". Ðiều 123 về sự "hợp tác giữa các quốc gia ven bờ các địa trung hải hay vịnh" quy định các quốc gia liên hệ hợp tác với nhau trong việc hành xử quyền hạn và thi hành những nghĩa vụ được quy định bởi Công Ước. Các nước này có thể trực tiếp thương thảo với nhau hay qua trung gian một tổ chức các quốc gia trong vùng. Không có điều nào nói là Hiệp Ðịnh Pháp Thanh khi xưa là trái với luật pháp quốc tế.

    Trái lại, để có thể dâng cho Bắc Kinh hơn 11.000 km2 trên Vịnh, cộng sản Hà Nội đã vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển khi họ tước đoạt quyền có lãnh hải, có vùng đặc quyền kinh tế và có thềm lục địa của Ðảo Bạch Long Vĩ. Lê Công Phụng đã lừa bịp dân ta khi tuyên bố : "... về quy chế đối với đảo Bạch Long Vĩ, vì đây là hòn đảo rất đặc biệt nằm ở giữa vịnh, mà thông thường các đảo nằm giữa vịnh thì không có vùng pháp lý xung quanh; nhưng đối với đảo Bạch Long Vĩ thì chúng ta đạt một vùng bao bọc xung quanh là 15 cây số". Thực chất Công Ước về Luật Biển, phần thứ 8, điều 121 về "Quy Chế Các Hải Ðảo" nói rõ :

    1/ Một hải đảo là một vùng đất tự nhiên được bao bọc bởi nước và vẫn hiện hữu khi thủy triều cao.
    2/ Ngoại trừ như đã quy định bởi đoạn 3, vùng lãnh hải, vùng hải phận, vùng kinh tế dành riêng và thềm lục địa của một hải đảo được phân định đúng theo những điều khoản của Công Ước được áp dụng cho các vùng đất liền khác.
    3/ Các rặng đá không có người ở và có một sinh hoạt kinh tế riêng biệt, không có vùng đặc quyền kinh tế.

    Như vậy không có chuyện đảo nằm giữa vịnh là không có vùng pháp lý bao quanh.

    Về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì nhiều bằng chứng rõ ràng là đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội đã thừa nhận là thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc từ những thập niên 50. Và từ 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực "tái chiếm" các hòn đảo mà cộng sản Hà Nội đã dâng hiến cho họ trước đây. Ðể chữa thẹn Lê Công Phụng đã ngụy biện : "chúng ta cũng đang đấu tranh rất là mạnh với các bên liên quan trong vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa".

    Lý do nào khiến cộng sản Hà Nội cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải ?

    Câu hỏi hằn trong đầu của cán bộ, đảng viên và dân chúng tại Việt Nam là "Tại sao lãnh đạo đảng và Nhà Nước lại ký các hiệp ước, hiệp định về biên giới với Trung Quốc ?". "Tại sao lại chấp nhận những thiệt thòi cho Việt Nam quá đáng như vậy ?"... Câu trả lời có thể tìm thấy ngay trong bức thư đầu xuân Nhâm Ngọ của Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi : "không phải vì đất nước chúng ta thua một cuộc chiến, nhưng vì những kẻ cầm quyền muốn xin thế lực ngoại nhân bảo vệ cho cái ghế của họ". Thực vậy, trong lịch sử thế giới và cả ở nước ta, sau một cuộc chiến tranh, bên thua trận thường bị bắt buộc phải cắt đất, cắt biển cho bên thắng trận. Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc sau khi nối lại, theo đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội thì hiện rất tốt đẹp. Ngày 29/11/2001, báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của chế độ cộng sản Hà Nội đã bình luận về chuyến "viếng thăm" Trung Quốc của tổng bí thư Nông Ðức Mạnh như sau : "Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, gắn bó từ lâu. Tình hữu nghị Việt - Trung được lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp đã trở thành tài sản chung quý báu của hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Việc lãnh đạo cấp cao hai bên thường xuyên thăm viếng lẫn nhau có vai trò hết sức quan trọng thúc đẩy quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển. Tuyên bố chung giữa hai Tổng Bí thư tháng 2-1999 xác định phương châm "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", là phương hướng cơ bản, lâu dài phát triển quan hệ hai nước đánh dấu giai đoạn mới của quan hệ Việt - Trung".

    Trong lúc đó thì Lê Công Phụng đã tiết lộ một chi tiết đáng chú ý. Ông ta nói : "Có lẽ là dư luận rất quan tâm, ngay cả những người nói là ''Việt Nam bán đất, người Việt Nam cắt đất cho Trung Quốc'' thì phần nào cũng thể hiện sự quan tâm của họ đối với đất nước, với Việt Nam. Nhưng trong đó cũng không ít người có ý xấu, kích động tinh thần dân tộc, gây phức tạp cho quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc". Chi tiết này cho thấy, cộng sản Hà Nội rất ưu tư về mối quan hệ giữa họ và Bắc Kinh. Nói cách khác, họ lo sợ mối bang giao này xấu đi. Tại sao ?

    Trái với luận điệu tuyên truyền trên tờ Nhân Dân khi nói rằng quan hệ "gắn bó" từ lâu, cuộc chiến tranh biên giới giữa hai bên mới xảy ra được một con giáp còn hằn sâu dấu ấn trên trận địa lẫn trong lòng mọi người, việc cộng sản Hà Nội phải "hồi đầu" quy thuận thiên triều Bắc Kinh sau khi Liên Xô sụp đổ chắc chắn đã phải kèm theo một cái giá rất đắt. Cứ theo dõi những cuộc "viếng thăm" Bắc Kinh của các vị đầu lãnh đảng và Nhà Nước cộng sản Hà Nội, mà thực chất chỉ là những lần triều kiến, khấu tấu thiên triều, người ta cũng đoán được phần nào những yêu sách, những sức ép từ Bắc Kinh đè lên đầu Hà Nội. Cũng không phải ngẫu nhiên mà ngay từ những ngày đầu nối lại bang giao, Bắc Kinh đã bắt buộc cộng sản Hà Nội phải giải quyết tức tốc vấn đề biên giới trên đất liền, trên vịnh Bắc Bộ và trên biển Ðông. Bắc Kinh đã hối thúc bằng các phái đoàn sang Hà Nội. Bắc Kinh còn gọi cả Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh sang tận Bắc Kinh để đốc thúc và ra hạn là phải ký trước năm 2000. Có như vậy thì thiên triều Bắc Kinh mới ban cho cộng sản Hà Nội "16 chữ vàng" mà Hà Nội coi như khuôn vàng thước ngọc, như sắc chỉ tấn phong, như ách bảo hộ của đế quốc Trung Cộng.

    Chiêu Bài dân tộc của cộng sản Hà Nội có còn đứng vững không ?

    Từ khi xuất hiện trên đất nước ta, Hồ Chí Minh và bộ máy tuyên truyền của đảng cộng sản luôn tìm cách "gắn liền đảng với dân tộc". Vì thế mà đã có không ít người, từ người nông dân với trình độ học thức thấp kém đến một số trí thức đã vì "lá cờ dân tộc" này mà đi theo chủ nghĩa, đi theo đảng cộng sản. Ngày hôm nay, trước hành động tình nguyện cắt đất Tổ dâng cho ngoại bang, đông đảo cán bộ, đảng viên, và người dân trong nước đang sững sờ với những câu khỏi không có giải đáp : "Ðảng có thật vì dân vì nước không ?"; "Cách mạng vô sản có phục vụ cho dân cho nước không ?"; "Lá cờ dân tộc đảng phất trước đây để huy động toàn dân ta đứng lên kháng chiến chống quân xâm lược phải chăng là giả ?"; "Dân tộc ta có phải đã bị một nhóm người cộng sản đội lốt dân tộc lừa gạt hay không ?". Ở vị trí của những ai đặt các câu hỏi này, thật là khó trả lời. Vì ít nhiều gì họ đã giúp cho đảng có ngày hôm nay. Nhìn nhận mình bị lừa, mình sai lầm... là một chuyện không dễ làm. Nhưng phương ngôn Tây Phương có câu "Chỉ có kẻ đần độn mới không biết nhận sai lầm". Thực ra, vấn đề không nằm ở chỗ luận bàn sai lầm hay không sai lầm. Vấn đề là phải nhìn cho rõ thực chất của cộng sản. Cộng sản chủ trương "tam vô" và nhắm tới "thế giới đại đồng". Hồ Chí Minh trong chuyến viếng thăm Ðền Vạn Kiếp thờ Ðức Trần Hưng Ðạo, đã chẳng đề bài thơ ngạo mạn, gọi tiền nhân bằng bác, xưng tôi để nói lên chủ trương đó sao ? Thơ rằng :

    Vốn tay hào kiệt, vốn anh hùng,
    Tôi bác cùng chung nợ kiếm cung.
    Bác đuổi quân Nguyên thanh kiếm bạc,
    Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
    Bác đưa một nước qua nô lệ,
    Tôi dẫn năm châu đến đại đồng.
    Bác có linh thiêng cười một tiếng,
    Mừng tôi cách mạng sắp thành công

    Như vậy, ngay từ đầu, không một tay lãnh đạo cộng sản nào nghĩ rằng dân tộc, tổ tiên, quốc gia, lãnh thổ vv... là những giá trị cao quý. Họ làm cách mạng để diệt đi tất cả những thứ đó. Ngọn cờ dân tộc họ đã phất lên trong quá khứ chỉ là lá cờ giả hiệu. Với ngọn cờ giả hiệu đó, họ đã lừa bịp được dân chúng Việt Nam, lừa được thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngày hôm nay, mọi người, kể cả cán bộ, đảng viên cũng đã thấy rõ chiêu bài dân tộc cộng sản Việt Nam đưa ra không còn đứng vững nữa.

    Trước đây, họ đã hy sinh quyền lợi Tổ Quốc, quyền lợi dân tộc, xương máu nhân dân... vì lợi ích của chủ nghĩa, của phe cộng sản thế giới, cho mục tiêu nhuộm đỏ thế giới. Ngày nay, chủ thuyết đã phá sản, thế giới cộng sản đã tan rã. Chỉ còn mấy nước dựa lưng vào nhau trong nỗ lực sinh tồn. Vì bọn người này đã mất hết lương tri và dân tộc tính, cho dù ngày nay không còn chủ thuyết, họ vẫn không hồi đầu về với cội nguồn, dân tộc. Trái lại, họ hồi đầu quy thuận thế lực ngoại bang để mưu lợi cho phe cánh, cho cá nhân. Họ hết còn "trong sáng" như lời tuyên truyền. Thực chất, họ không bao giờ trong sáng cả. Những lời nói nhân nghĩa, yêu nước của họ chỉ là giả dối, lường gạt. Vì thế họ đã nhanh chóng bị tha hóa. Dư luận đồn về tác phong bẩn thỉu của những tay lãnh đạo cộng sản Hà Nội từ đầu tới giờ. Tin đồn Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài "mỹ nhân kế" hồi năm 1988, có đứa con rơi là gái. Người ta còn kháo nhau rằng đầu lãnh cộng sản Hà Nội đã bán nước với giá 2 tỷ mỹ kim... Thực ra, Bắc Kinh chẳng cần bỏ ra một số tiền to như vậy để mua lấy đất đai, mặt biển của tập đoàn lãnh đạo chóp bu Hà Nội. Sức ép chính trị, kinh tế, ngoại giao của họ, nhất là hậu thuẫn cho đảng tiếp tục cầm quyền đủ khiến Hà Nội tình nguyện bán nước.

    Kết Luận.

    Phần kết luận của bài này xin dành để trả lời câu hỏi "Chế độ cộng sản hiện nay tại nước ta có còn lý do để tồn tại hay không ?". Khi tìm cách trả lời những câu hỏi được đặt ra xung quanh việc cộng sản Hà Nội ký kết các văn kiện bán nước cho Trung Quốc, người ta đã thấy rõ :

    Thứ nhất, tập đoàn cộng sản Hà Nội đã phản lại quyền lợi của Tổ Quốc, phản lại xương máu của đồng bào, chiến sĩ đã đổ ra bảo vệ từng tấc đất, gang sông.
    Thứ nhì, từ đầu đến ngày hôm nay, họ đã và còn tiếp tục lừa gạt nhân dân ta để phục vụ cho họ.
    Thứ ba, họ cam tâm bán rẻ tổ quốc để đánh đổi lấy sự che chở, hậu thuẫn của Bắc Kinh hầu củng cố độc tài thống trị trên đất nước ta.
    Thứ tư, toàn bộ tập đoàn lãnh đạo đảng và Nhà Nước cộng sản Việt Nam đã tự đứng ra ngoài vòng dân tộc Việt Nam, đã tha hóa, tham ô, bóc lột, bán nước cầu vinh, làm tay sai cho ngoại bang.

    Một chế độ được hình thành bởi những con người như thế, với đường lối như thế, phản bội tổ quốc như thế, không có lý do nào tồn tại trên đất nước Việt Nam. Ðã đến lúc, toàn dân ta phải đứng lên, vứt bỏ sự lãnh đạo phản bội của đảng CSVN, cùng nhau quyết tâm bảo vệ bờ cõi, giữ lấy chủ quyền và giành lại chính quyền về tay nhân dân.

    Trần Trọng Nghĩa

    Ðề nghị Quốc Hội không thông qua Hiệp Ðịnh Biên Giới Việt – Trung

    ÐỖ VIỆT SƠN

    (Theo Web Hận Nam Quan)

    Thứ Tư 17 tháng mười 2001

    Kính gửi :
    - Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh,
    - Chủ tịch Nước Trần Ðức Lương,
    - Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An,
    - Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải,

    Tháng 2 năm 2001, trong bản góp ý với Dự thảo báo cáo chính trị của Ðại hội IX, tôi đã có kiến nghị lên Ðại hội Ðảng, Chính phủ, Quốc hội không thông qua Hiệp định biên giới Việt Trung, vì đây là một Hiệp định mà phía Việt Nam nhượng bộ quá nhiều. Theo tôi, đó là một sai lầm lớn của Ðảng và Chính phủ mà dân tộc ta chưa triều đại nào chịu nhượng bộ nhiều như thế.

    Cuối năm nay, Quốc hội sẽ họp, sau khi suy nghĩ và trao đổi với một số các vị lão thành cách mạng trong Câu lạc bộ Bạch Ðằng, tôi trân trọng đề nghị ông Nguyễn Văn An - Chủ tịch Quốc hội mới được bầu - đưa vấn đề này ra trước Quốc hội, yêu cầu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao điều trần nói rõ nội dung số cây số vuông đã nhượng cho Trung Quốc so với Hiệp định Pháp - Thanh và nguyên nhân đi tới ký kết.

    Suốt 4000 năm lịch sử kể cả thời Bắc thuộc cho đến hơn 1000 năm độc lập tự chủ, nhiều triều đại phong kiến lúc yếu cũng chưa bao giờ nhượng cho phong kiến Phương Bắc một tấc đất, một hòn đảo, cùng lắm chỉ cống nạp thiên triều ít ngà voi châu báu ; lúc mạnh như thời Lý Nhân Tông đã đòi vua Tống phải hoàn trả ta 2 động, 8 huyện ở biên giới do bọn đầu mục thổ dân dâng cho nhà Tống. Vua Tống đã phải trả lại.

    Thế mà ngày nay, theo Hiệp định biên giới Việt Trung mới đây ta đã nhượng bộ cho Trung Quốc hàng trăm cây số vuông đất liền và hàng ngàn cây số vuông ở Vịnh Bắc Bộ (so với Hiệp định Pháp - Thanh đã ký cuối thế kỷ XIX).

    Qua lời thông báo của một vị lãnh đạo của thành phố Hải Phòng tại CLB Bạch Ðằng tháng 2/2001 thì Vịnh Bắc Bộ chia đôi ta được 53%, Trung Quốc 47%.
    Sao kỳ lạ thế ? Vịnh Bắc Bộ (Golfe du Tonkin) là của Việt Nam cơ mà !

    Tôi không rõ sứ thần Trung Quốc đã khôn khéo thế nào, dùng lời ngon ngọt ra sao mà đã làm mềm lòng sứ thần Việt Nam, thò tay vào ký Hiệp định trước tháng 12/2000. Có điều kỳ lạ là Trung Quốc đề ra kế sách ký Hiệp định biên giới Việt - Trung và sát nhập Ðài Loan vào Trung Quốc trước thiên niên kỷ mới. Ta là một nước độc lập có chủ quyền, có cơ sở pháp lý đầy đủ lại vui vẻ làm theo, còn Ðài Loan là đất đai của Trung Quốc họ lại không tuân theo ý đồ đó.

    Có người giải thích rằng : ta không ký không được. Phải chăng ta sợ Trung Quốc mang quân sang đánh ta ?
    Trung Quốc là nước lớn nhưng không phải dễ dàng uy hiếp được ta. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh trong 10 thế kỷ vừa qua, Phương Bắc đã 10 lần mang quân sang xâm lược nước ta, nhưng cả 10 lần phong kiến Phương Bắc đều thất bại thảm hại. Kể cả trận mới đây nhất, tháng 2/1979, cộng sản Trung Quốc đã mang quân đánh nước ta, định dạy cho Việt Nam một bài học, trái lại họ đã học được bài thất bại cay đắng.

    Thực ra lúc này Trung Quốc rất cần ổn định để phát triển kinh tế, họ chỉ doạ được những người nhát gan yếu bóng vía, chứ làm sao doạ được dân tộc Việt Nam anh hùng, bất khuất.

    Nếu ta không ký mà họ đem quân đánh ta, cả thế giới sẽ ủng hộ ta và nhân dân ta triệu người như một đoàn kết sẽ đứng lên cầm vũ khí quét sạch quân thù. Nói thế thôi, chứ Trung Quốc không dại gì đem quân gây chiến với Việt Nam.

    Tiếc thay, cả người cho ý kiến lẫn người đi ký đã không nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Họ quên mất rằng biết bao sứ thần Ðại Việt qua nhiều triều đại đã làm cho phong kiến Phương Bắc phải kính nể, khâm phục. Thậm chí có sứ thần không chịu khuất phục đã bị phong kiến Phương Bắc chém đầu, gây một vết nhơ cho lịch sử đối ngoại của Bắc Triều, càng làm rạng danh đất nước Việt Nam.

    Nghe nói trong hội đàm, Trung Quốc đã nêu lên : trước đây nhà Thanh yếu, Pháp mạnh nên mới có Hiệp định như vậy ; tại sao đoàn ta không có ai biết nói : mạnh yếu trước kia chưa rõ, bây giờ Trung Quốc là nước lớn, Việt Nam là nước nhỏ, có phải vì thế mà Trung Quốc ép buộc Việt Nam phải nhân nhượng ?

    Ðã là anh em, là đồng chí "như môi với răng", sao lại nỡ lấn đất chiếm đảo của Việt Nam ?

    Lẽ ra :

    Nghĩa tình hữu nghị từng xây dựng
    Tôn trọng biên thùy nước mới an

    Không phải tự nhiên ông Giang Trạch Dân gợi ý Ðại hội Ðảng ta nên tiếp tục để đồng chí Lê Khả Phiêu là Tổng Bí thư.
    Dân tộc ta có một nền văn hiến sáng ngời, trung dũng tuyệt vời.
    Ðảng ta, dân tộc ta đã làm cuộc Cách mạng Tháng 8-1945 vĩ đại, sau đó đã đánh thắng 2 đế quốc hung bạo nhất của thời đại, mà lại chịu để cho Trung Quốc ép ký một hiệp định bất bình đẳng như vậy sao ?

    Tôi đề nghị ông Nguyễn Văn An với chức danh Chủ tịch Quốc hội thay mặt Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước - kiên quyết không thông qua Hiệp định biên giới Việt - Trung, cả trên đất liền và trên biển, đảm bảo quyền lợi cho Tổ quốc và danh dự cho dân tộc.

    Các ông biết rõ hơn ai hết : chỉ có một Hiệp định thương mại Việt - Mỹ ký đã hơn một năm nay, Hạ viện Mỹ đã thông qua, Thượng viện Mỹ cũng đã thông qua, thế mà hai viện còn phải ngồi chờ Tổng thống duyệt Hiệp định mới có hiệu lực. Hiệp định biên giới Việt - Trung còn quan trọng hơn nhiều, sao không đưa ra Quốc hội bàn mà đã vội ký kết ? Bây giờ tuy có muộn nhưng Quốc hội nghe điều trần rồi kiên quyết không thông qua và báo cho Trung Quốc biết, thì sự không thông qua ấy vẫn có giá trị. Trong khi chờ đợi hai bên gặp lại, yêu cầu Trung Quốc cứ coi Hiệp định Pháp - Thanh còn nguyên giá trị.

    Ðất này công sức của cha ông
    Khai phá ngàn năm giống Lạc Hồng
    Xương máu bao đời mới có được
    Xin đừng để thẹn với non sông.

    Nhân đây, tôi cũng đề nghị với Quốc hội và Chính phủ : từ nay về sau tất cả các Hiệp định quan trọng có liên quan đến lợi ích Tổ quốc đều phải theo nguyên tắc : được Quốc hội bàn và thông qua mới có giá trị.

    Ví dụ : Hiệp định chiến tranh và hoà bình, Hiệp định biên giới và trên biển đa phương và song phương, Hiệp định kinh tế quan trọng giữa hai Chính phủ, .v.v...
    Tôi tin tưởng Quốc hội Chính phủ sẽ làm được việc này. Nhân dân Việt Nam sẵn sàng đoàn kết xung quanh Quốc hội, Chính phủ và Ðảng để đòi Trung Quốc phải công nhận Hiệp định Pháp - Thanh đồng thời trả lại cho Việt Nam các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Xin gửi lời chào kính trọng.

    Ðỗ Việt Sơn

    78 tuổi đời, 54 tuổi Ðảng.
    Hội viên CLB Bạch Ðằng.
    ÐC : 26/14-125 Tô Hiệu - Hải Phòng
    ÐT : 031.739039

    (Theo Web Hận Nam Quan)

    Những điều mờ ám tội lỗi đằng sau 2 bản Hiệp định

    (Nguồn: http://songthan.free.fr/archiver/08vietnamtrunghoa002.html )

    * Không cho công luận biết nội dung Hiệp định * Sức ép của Trung Quốc * Hệ quả cuả đường lối đối ngoại sai lầm * Mọi người Việt yêu nước phải lên tiếng.

    Bùi Tín

    Ngày 14-01-2002 Radio RFI đã phỏng vấn ông Bùi Tin tại Paris, về 2 bản Hiệp định Việt-Trung do phóng viên Thụy Khuê thực hiện, dưới đây là bản ghi nguyên văn cuộc phỏng vấn .

    Lời RFI : - Ngày 27-12-2001 vừa qua lễ cắm mốc biên giới Việt-Trung được cử hành tại Móng Cái, việc cắm mốc này sẽ được thực hiện trong 3 năm và là thành quả của hiệp định biên giới và lãnh hải Việt-Trung đã được ký kết ngày 30-12-1999 và ngày 25-12-2000. Nhưng nội dung của hiệp định không được công bố, nhà báo Thành Tín tức Bùi Tín sẽ phân tích cùng quý vị những sự kiện đã sẩy ra cùng dư luận trong nước chung quanh việc ký kết 2 hiệp định này .

    RFI : - Thưa anh Bùi Tín, anh là người theo dõi rất sát vấn đề hiệp định biên giới Việt-Trung, vậy trước hết xin anh sơ lược nhắc lại cùng thính giả RFI diễn biến của sự việc này ?

    Bùi Tín : - Vâng dư luận trong nước bàn tán khá nhiều về 2 hiệp định vừa ký với Trung Quốc, hiệp định phân định lãnh thổ trên bộ và hiệp định phân định lãnh hải vịnh Bắc-bộ, cho đến nay tin tức chính thức của nhà nước, thì chỉ biết hiệp định trên bộ đã được ký ngày 30-12-1999 và hiệp định vịnh Bắc-bộ ký ngày 25-12-2000, thế mà dư luận không được biết gì rằng là 2 hiệp định ấy dài bao nhiêu, nội dung điều khoản ấy ra làm sao ? thế mà không có một bản đồ nào kèm theo để công bố bình thường như các nước khác cả , do đó nhân dịp đại hội 9 thì cụ đảng viên lão thành Đỗ Việt Sơn, Hải Phòng, 54 tuổi đảng đã gửi thư công khai đặt vấn đề phải chăng ta đã nhượng bô cho Trung Quốc quá nhiều qua 2 hiệp định ấy, và do đó yêu cầu Quốc hội và đại hội đảng công khai thảo luận vấn đề này, và nếu đó là 2 hiệp định bất bình đẳng thì không nên thông qua, và nhân dịp cuối năm ( 2001 ) thì có 26 nhân vật tiêu biểu đấu tranh cho dân chủ đã lên tiếng yêu cầu đưa ra công khai vấn đề này, và cũng đã đặt vấn đề phải chăng 720 km2 đã bị mất, và một loạt cao điểm đã bị chuyển về tay của Trung Quốc, và vịnh Bắc-bộ phải chăng ta đã mất 10% diện tích, thêm nữa từ tỷ lệ của hiệp ước Patenötre ( 1885 ) là 62/38 bây giờ chuyển thành 45/46 do đó mà 10% diện tích giàu tài nguyên, hải sản, hơi đốt, dầu mỏ và du lịch bị chuyển nhượng sang phía Trung Quốc, thế thì 26 nhân vật này phần lớn là những người đấu tranh cho dân chủ như tướng Trần Độ, nhà Khoa học Nguyễn Thanh Giang, ông Hoàng Minh Chính, Đại tá Phạm Quế Dương, và nhà luật học trẻ Lê Chí Quang đã đặt vấn đề là phải công khai tất cả vấn đề đã ký kết với Trung Quốc như thế nào ? và Quốc hội phải nghe một cuộc điều trần đặc biệt của những lãnh đạo đảng cho biết là ai đã thông qua và thông qua làm sao ?

    RFI : Thưa anh, theo tin mới nhất cho biết, thì việc cắm mốc biên giới đã bắt đầu thực hiện ngày 27-12-2001, vậy thì sự việc này có thể được hiểu như thế nào ? theo anh thì tại sao lại có sự cắm mốc khá vội vàng như thế trong khi nội dung hiệp định thì lại không được công bố ?

    Bùi Tín : - Như vậy tức là hiệp định biên giới trên bộ đã có hiệu lực rồi, do đó mà 11 vị có mặt tại Hà Nội lại viết thư khẩn cấp chất vấn nhà nước và chính phủ, để yêu cầu mở cuộc điều trần đặc biệt và nên công khai điều này, thì dư luận bàn rằng qua hiệp định như thế cổng Nam-quan cũ ở ngay trên mép cổng Nam-quan biên giới, thì bây giờ đã ở sâu trong nội địa của Trung Quốc, và cột mốc số 1 bị di về phía Đồng Đăng, có người nói là 2 Kilomet có người nói là đến 4, 5 Kilomet, và quan trọng hơn nữa là 36 điểm trên 70 điểm tranh chấp thì đã thuộc về phía Trung Quốc, phần lơn là những cao điểm dọc 6 tỉnh biên giới có giá trị rất lớn về an ninh và quốc phòng, thế mà tin tức từ bộ Ngoại-giao và Ban biên giới chính phủ cho biết từ năm 1993 hai bên đã thương lượng nhưng mà đến đầu năm 1999 thì đột nhiên tổng bí thư Giang Trạch Dân gặp tổng bí thư Lê Khả Phiêu yêu cầu là cuộc thảo luận đó không nên kéo dài nữa và nên sớm chấm dứt để đi đến ngã ngũ, và cần ký hiệp-ước trên bộ trước năm 1999 kết thúc, và ký hiệp định vịnh Bắc bộ trước năm 2000 kết thúc, do đó mà 2 hiệp định này bị sức ép, như thế thì hiệp định này đã ký vào ngày 30-12-1999 tức là ngày cũng giáp cuối năm, và hiệp định vịnh Bắc bộ ký ngày 25-12-2000 cùng vào những ngày cuối năm, việc cắm mốc biên giới cũng bị phía Trung Quốc ép là cần phải làm sớm trước năm 2001 kết thúc, do đó mà bắt đầu ngày 27-12-2001 vừa rồi .

    RFI : - Thưa anh, với kinh nghiệm của một người làm chính trị như anh, thì anh thấy việc ký kết hiệp định như vậy, thì điều quan trọng nhứt là điều gì ?

    Bùi Tín : - Thì ta điều biết là vấn đề biên giới, vấn đề lãnh thổ, là vấn đề thiêng liêng, có ghi trong hiến pháp, là nhà nước và công dân có nghĩa vụ để bảo vệ an toàn lãnh thổ bất khả xâm phạm của tổ quốc, lẽ ra thương lượng thì phải có công luận để mà làm chỗ dựa, ta phải cần nói rõ là công luận ở Việt Nam phải quan tâm như thế, Nhưng mà ngược lại phía Việt Nam đã làm một việc đàm phám bí mật, do dó mà bị sức ép, có thế nói là phía Trung Quốc mỉa mai, và cái quan trọng là kết quả đường lối chính trị, đường lối đối ngoại sai lầm, bởi vì trong thời đổi mới đáng lẽ phải hội nhập thực sự với thế giới dân chủ văn minh, với Liên hiệp quốc, với pháp luật quốc tế thì chúng ta có chỗ dựa, bởi nền ngoại giao mở công khai không ai có thể ép được ta trong thời đại ngày nay cả, nhưng trái lại một số người lãnh đạo đã đề ra ở trong nội bộ đảng đường lối đối ngoại không đúng, coi như là Trung Quốc thay cho Liên Sô để làm chỗ dựa cho Việt Nam sau khi Liên Sô sụp đổ, bởi vì rằng hai nước cùng chung một chế độ chính trị xã hội chũ nghĩa, cùng chung một cơ sở lý luận Marx-Lenine, cùng chung một nền chuyên chính của một đảng duy nhất, do đó phải dựa vào nhau để mà tồn tại, cho nên đó là đường lối không đúng, bởi vì nó chỉ là ghép lại những mảnh vụn của phe xã hội chủ nghĩa, nền tảng học thuyết của Lenine đã phá sản rõ rệt rồi, cho nên đường lối đối ngoại ấy rất là nguy hiểm, Trung Quốc do biết như thế mà ép luôn ta, và ép rất mạnh, họ đã ép ký 2 hiệp định như thế, và họ còn bắt ta phải tách vấn đề quần đảo Hoàng Sa mà họ đã chiếm vào năm 1974 và vấn đề quần đảo Trường Sa họ đã chiếm vào năm 1988 ra, không bàn đến trong hiệp định vịnh Bắc-bộ, rồi đây sẽ bàn đến vấn đề giao thông trên vịnh Bắc-bộ, buôn bán trao đổi kinh tế ở dọc biên giới, phần khác nữa họ biết đây là thời cơ đảng Cộng-sản Việt Nam yếu và sẽ thần phục họ .

    RFI : - Để kết thúc hôm nay, thì xin hỏi anh một câu là : theo ý anh đứng trước vấn đề hiệp định biên giới này, người Việt rút ra được những kinh nghiệm thực tế gì khi mà hành động hoặc khi mà thương lượng đối với Trung Quốc ? .

    Bùi Tin : - Tôi thấy nhân dịp này thì cần phải nghiên cứu lại đường lối đối ngoại của ta, hai nữa là công khai hóa nội dung đàm phán với Trung Quốc ra sao ! trong 7-8 năm qua để mà dẫn đến hiệp định này, không thể để bộ chính trị mà coi thường Quốc hội như thế, mà không đưa ra bàn luận với Quốc hội, nghe nói là chỉ có ban thường vụ Quốc-hội nghe và thông qua thôi, ngay cả ban chấp hành trung ương đảng Cọng sản Việt Nam cũng không biết, vì bộ chính trị đã làm thay tất cả thế là lạm quyền vì bộ Chính trị không do cử tri bàu ra , họ trấn an mọi người là hãy tin bộ chính trị, thế thì cái này rất trái với nguyên tắc đề ra : mọi việc quan trọng của đất nước thì dân phải biết, dân bàn và dân kiểm tra và đồng thời có luật buộc những người lãnh đạo nhà nước và đảng phải trả lời chất vấn công khai của công dân, do đó tôi thấy là lúc này mỗi người công dân lương thiện hãy lên tiếng để mà thảo luận vấn đề này như là xâm phạm đến cái gì thiêng liêng nhất của bản thân mình, như đất đai của mình vậy, bởi vì đất đai của Tổ Quốc là thiêng liêng của mọi người ; tôi nghĩ là một lực lượng mấy nghìn nhà báo lên tiếng và tất cả những người cầm bút lương thiện có công tâm, có tinh thần công dân phải lên tiếng, vì đụng đến vấn đề an ninh của quốc gia, lãnh thổ và Tổ Quốc thì mọi người công dân già hay trẻ cũng đều phải lên tiếng, như là các chiến sĩ dân chủ vừa qua đã lên tiếng vậy. Nhân đây tôi cũng nói thêm là trong mối quan hệ bất bình đẳng với Trung Quốc, là chúng ta phải dứt khóat dựa vào thế giới văn minh ngày nay, để hội nhập thực sự, đồng thời trong quan hệ đối với Lào và đối với Cao-miên chúng ta cũng phải công khai nói rằng chúng ta đã có cái xử sự như một nước lớn đối với họ trong vấn đề biên giới, và chúng ta cũng sửa chữa những sai lầm về phía Việt Nam, cũng như là chúng ta không thể để cho Trung Quốc hiếp đáp mãi ta được .

    Thụy Khuê : - Xin cảm ơn anh Bùi Tín .

    Lời tòa soạn : Thông thường radio RFI phát thanh bằng tiếng Việt có 2 triệu thính giả ở Việt Nam. Có thể nghe qua Website của FRI và đài VNCR ở California ( Hoa Kỳ )

    Bài Ca Bán Đất

    LTS: Sau đây là bài thơ "Bài Ca Bán Đất" của các cán bộ cộng sản lão thành tại Hà Nội.
    Qua bài thơ này độc giả có thể thấy được sự phẫn nộ ở trong nước lên cao đến mức độ nào. Các vị này đều là đảng viên Cộng sản nhưng họ đã dõng dạc chửi thẳng "Cộng Sản Việt Nam" là bọn bán nước. Những tiếng "cuối đời" và "không thể bỏ qua" cũng thực ý nghĩa.

    Bài ca bán đất

    Kính gửi Quốc hội khoá X,
    kỳ họp thứ X, tháng 12-2001.
    Nhại thơ Bút Tre:

    Quốc hội đại biểu của dần (của dân)
    Mà không ai dám chất vần lấy nửa câu (chất vấn)
    Biên giới hiệp định lõm sâu
    Đất đai bị mất, vẫn vểnh râu quai hàm !

    Vào bài:
    Hoan hô cộng sản Việt Nam,
    Cuối đời bán cả giang san nước nhà.
    Bản Giốc cảnh đẹp của ta, (1)
    Nay còn đâu nữa để mà ngắm trông.
    Trường Sa mù mịt biển Đông,
    Cả Hoàng Sa nữa mất tong còn gì. (2)
    Mục Nam quan giữa biên thùy,
    Nay lùi xa tắp thấy gì nữa đâu. (3)
    Ngước trông lệ nhỏ rầu rầu,
    Suối Phi Khanh cũng qua cầu người ta. (4)
    Mấy nghìn năm! Thật xót xa!
    Trách ai cắt đất để mà vinh thân.
    Mặc cho cuộc thế xoay vần,
    Cuối đời đầy túi, cóc cần cái chi.
    Quốc hội một lũ ù lì,
    Nhưng còn bia miệng sẽ ghi muôn đời,
    Việc này không thể buông trôi!

    Tháng 12 năm 2001
    Các lão thành Hà Nội

    (1) Thác Bản Giốc, Cao Bằng. Có rất nhiều bức ảnh chụp cảnh đẹp nổi tiếng này lưu truyền khắp trong nước và cả nước ngoài. Nay đã thuộc về Trung Quốc.
    (2) Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta tháng 1-1974, bấy giờ còn trong tay quân đội Sài Gòn. Sau này chiếm nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa của ta vào tháng 3-1988.
    (3) Trước ở cổng Mục Nam quan, ta và Tàu gác chung. Bên này cổng là đất ta, bên kia cổng là đất Tàu. Không biết thế nào mà bây giờ đất ta lại lùi mãi về phía Đồng Đăng gần 1 kilômét. Đứng ở cái vạch trắng phân chia ranh giới không nhìn thấy Mục Nam quan nữa.
    (4) Đấy là một vạt đất lõm xuống trước Mục Nam quan. Tương truyền Nguyễn Trãi tiễn Phi Khanh biệt nhau ở đây. Phi Khanh khuyên con về rửa nhục cho nước. Cả hai cha con đều khóc, thành vạt suối ở chỗ đất lõm, dân gian gọi là suối Phi Khanh.

    CHIỀU DÀI BIÊN GIỚI VIỆT-HOA: CSVN và Trung Cộng loan tin khác nhau về chiều dài biên giới Việt-Hoa

    (Trích báo Gọi đàn số 154, nǎm thứ 3, thứ Nǎm 24/01/02)

    Ngày 27/01/01, báo Nhân Dân, cái loa tuyên truyền chính thức của đảng CSVN loan tin về buổi lễ cắm mốc biên giới đầu tiên giữa hai nước CSVN và Trung Cộng diễn ra trong cùng một ngày tại một vị trí thuộc tỉnh Móng Cái.

    Ðại diện cao cấp nhất của Hà Nội là thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng và phía Trung Cộng thấy xuất hiện trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao tên Vương Nghị. Vị trí thỏa thuận để cắm mốc là ở hai đầu cầu Bắc Luân thuộc thị xã Móng Cái bên phía Việt Nam và thị xã Ðồng Hưng thuộc Trung Cộng.

    Ngoài sự mô tả kích thước của cột mốc làm bằng đá hoa cương, báo Nhân Dân số ra ngày kể trên còn viết rằng chiều dài biên giới trên bộ giữa hai nước là 1.350km.

    “Theo thỏa thuận tại vòng đàm phán lần thứ 8 giữa hai đoàn đại biểu cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ giữa hai nước, hai bên đã quyết định cắm mốc quốc giới đầu tiên tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái và từ nǎm 2002 sẽ triển khai công tác phân giới, cắm mốc trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước dài 1.350km. Theo kế hoạch, việc phân giới cắm mốc sẽ được hoàn thành trong vòng ba nǎm với số lượng trên 1.500 mốc giới phải cắm.”

    Tuy nhiên, theo bản tin Anh ngữ của cơ quan truyền thông nhà nước Trung Cộng tường thuật về buổi lễ ký kết hiệp định biên giới trên bộ giữa ngoại trưởng Trung Cộng Ðường Gia Triền, và ngoại trưởng CSVN hồi cuối nǎm 1999 là Nguyễn Mạnh Cầm tại Quốc tế Trung tâm, Bắc Kinh, thì chiều dài biên giới hai nước ngắn hơn nhiều.

    Bản tin này nói chiều dài biên giới giữa hai nước là 1.200km (740 dặm Anh). Bản tin này còn viết: “Hiệp định biên giới trên bộ được ký kết đã hoàn tất các cam kết đạt một thỏa ước (biên giới giữa hai nước) trước nǎm 2000. Trước đây đã được Tổng Bí Thư Ðỗ Mười đến Bắc Kinh bàn luận rồi sau đó, người kế vị là Lê Khả Phiều lập lại ý nguyện (đạt một hiệp định biên giới).” Sau đó, bản tin này viết: “Bản Hiệp định Biên giới trên bộ giải quyết được những tranh chấp dọc biên giói chung giữa hai nước dài 1.200km (740 dặm).”

    Như vậy sự sai biệt về chiều dài biên giới giữa hai hai nước, qua hai bản tin khác nhau từ hai phía, là 150km.

    (Theo Web Ánh Dương)

    Biên giới việt trung: đi tìm sự thật sau những che giấu (phần 2)

    Nguyễn Ðình Sài, Kỹ sư công chánh 16-12-2002

    (Theo Web Diễn Đàn Dân Chủ)

    IV. Sự thật về Ải Nam Quan

    Từ đầu năm đến nay, người ta thường thấy có những bài báo tranh luận về chủ quyền của ải và cổng Nam Quan. Nhận thấy sự tranh luận này khá dai dẳng, và nhân dân Việt Nam đã bị ảnh hưởng khá nhiều về những xuyên tạc, bóp méo sự thật, người viết xin trình bày dưới đây những gì mình sưu tầm được về Ải Nam Quan.

    1- Sửa sai những luận điệu xuyên tạc.

    Một cách tổng quát, những người ủng hộ những lời tuyên bố của Thứ Trưởng Ngoại Giao CSVN Lê Công Phụng cho rằng "Ải Nam Quan thuộc Trung Quốc" đã dựa vào một số sai lầm sau đây:

    a. Lầm lẫn về hai chữ ải và cổng:

    Trong thời gian đầu phát khởi cuộc tranh luận, có người đã tưởng lầm rằng Ải Nam Quan là "Cổng" Nam Quan. Sự thật, "ải" là một vùng chật hẹp giữa hai ngọn núi song song, nơi đó có một vị trí mà người xưa đã dùng để cất lên một "cổng" phân định ranh giới giữa hai nước. Điều này đã được một số sử gia chấn chỉnh và bây giờ không còn thấy vị ký giả ấy lập lại nữa.

    b. Hiểu sai ý nghĩa của chữ Nam Quan:

    Có người định nghĩa chữ Nam Quan là "cửa phương nam" theo như sự diễn giải của người Tàu, để rồi cho rằng cửa đó thuộc Tàu, vì nếu thuộc Việt thì phải gọi là "Bắc Quan" tức là cửa phương bắc. Đó là sự sai lầm khá căn bản, vì Nam Quan chỉ là một danh từ riêng đã có từ lâu đời, như các ải Du Thôn, Cẩm Thành, Ba Ôn, Khấu Sơn, Quỷ Môn, v.v..., dọc theo biên giới Việt Trung vậy. Nam Quan cũng là tên gọi vắn tắt của tên chính thức là Đại-Nam Quan, nghĩa là "Cửa quan của nước Đại-Nam".

    c. Hồ đồ về chủ quyền của ải Nam Quan:

    Căn cứ vào sách Sử Ký do sử gia Tàu viết về việc Án Sát Cam Nhữ Lai "tu bổ" lại Nam Quan rồi đặt tên cho cổng là "Trấn Nam Quan", có người đã lý luận rằng cả vùng ải Nam Quan đều thuộc về Trung Quốc nên người Tàu mới có quyền tu bổ cửa ải. Đây là sự thiếu hiểu biết cặn kẽ về sử nước ta. Sử sách VN có đề cập đến tên và chủ quyền lãnh thổ trên vùng Nam Quan từ nhiều đời trước. Điển hình là trong tập thơ "Lạc Đạo" (Con Đường Vui Thú), bài Đường thi "Vườn Phúc Hưng", Thượng Tướng Thái Sư Trần Quang Khải đã có nhắc đến "Ải Nam" sau khi đánh bại giặc Mông Cổ lần thứ 3. Hai câu cuối được Phan Huy Chú dịch như sau:

    Báo giặc Ải Nam không khói lửa
    Bên giường một giấc ngủ ngon lành"
    [8]

    Câu đầu xác định quyền kiểm soát và trấn thủ toàn thể Ải Nam Quan của người Việt Nam, từ thời nhà Trần hoặc xưa hơn.

    Chủ quyền ải Nam Quan cũng có ghi rõ trong lịch sử thời nhà Lê dấy nghiệp. Năm 1427, đạo quân nhà Minh từ Quảng Tây kéo đến ải Nam Quan định sang giải vây cho Vương Thông đang bị Bình Định Vương Lê Lợi vây khổn ở Thăng Long, nhưng đã bị các tướng giữ ải là Lê Lựu và Lê Bôi phục kích đánh tan [9].

    d. Lẫn lộn ngôn ngữ Tàu và Việt:

    Trên tất cả các loại bản đồ Việt Nam (kể cả bản đồ du lịch của nhà nước CSVN), quốc tế (Pháp, Mỹ), và Trung Quốc (theo chữ alphabetic), đều có ghi rõ ba chữ "Ải Nam Quan". Chữ "nam" là ngôn ngữ của Việt Nam chứ không phải chữ Tàu. Ngược lại, cũng trên các bản đồ đó, thì người Tàu viết các địa danh của Trung Quốc là "nan" thay vì "nam", và họ sẽ viết là "Zhen-nan guan" (Trấn Nam Quan) giống như "Hainan" (đảo Hải Nam), "Nansha" (quần đảo Nam Sa tức là Hoàng Sa của VN), và "Nanhai" (Nam Hải). Ngược lại trên các bản đồ đó, chữ "Nam" vẫn giữ nguyên. Điều này chứng tỏ chữ Nam Quan từ xưa đến nay luôn luôn là địa danh và là một danh từ riêng của người Việt Nam đặt ra.

    e. Thiếu kiến thức về kỹ thuật đo đạc của ngành trắc lượng:

    Có người căn cứ vào chi tiết trong bản văn Hiệp Ước Pháp Thanh, ghi rằng hai cột mốc số 25 của đoạn 2 và cột mốc số 1 của đoạn 3, trồng ở phía nam cổng Nam Quan trên đường từ Đồng Đăng đến Nam Quan, cách cổng 100 m, để kết luận rằng "cổng Nam Quan thuộc Trung Quốc". Đó là một lầm lẫn tai hại do sự thiếu hiểu biết về kỹ thuật đo đạc gây ra. Sự thật, đường biên giới chạy từ đỉnh núi dọc bức tường đá xuống thung lũng đến chính giữa bức tường của công sự Đại-Nam Quan (Tàu gọi là Trấn-Nam Quan). Đến đây, thay vì cắm mốc vào giữa công sự, các nhà đo đạc (surveyors) Pháp đã trồng hai cột mốc cách biên giới chính thức (là cổng) 100 m, nhằm mục đích đánh dấu cho việc đo đạc được liên tục. Sở dĩ đặt mốc về phía nam vì: một là phía này bằng phẳng hơn phía bắc núi đá lởm chởm khó tìm, hai là vùng phía nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp, tránh cho chuyện quân Thanh dời chỗ hay phá hủy nó đi. Đây chỉ là một mốc đánh dấu, danh từ chuyên môn ngành trắc lượng gọi là "offset" mà các nhà đo đạc thường làm khi gặp trở ngại như tảng đá hay tòa nhà, không thể đặt mốc vào đó được. Bản văn (record) vẫn có diễn tả (description) cho các mốc đánh dấu này, chứ không viết rằng đó là đường biên giới. Bởi vì cổng Nam Quan mới là biên giới thật sự của hai nước. Điều đó quá hiển nhiên đến nổi các nhà đo đạc người Pháp khi đặt các cột mốc cách cổng đúng 100 m đã không cần ghi chú kỹ, vì không thể ngờ rằng sau này có kẻ dùng các mốc đó để giành giật chủ quyền cổng Nam Quan cũng như lấn chiếm thêm biên giới.

    f. Trích dẫn sai lạc về sử sách:

    Có người đã sửa đổi nguyên văn sử sách hay trích dẫn lộn xộn để xuyên tạc về chủ quyền của ải và cổng Nam Quan. Người này cho rằng cổng Nam Quan do người Tàu cất từ đời "Gia Tĩnh nhà Minh" thế kỷ 16, để từ đó lý luận rằng vì cổng được xây bởi người Tàu, nên cả vùng đất phải thuộc Tàu. Người này trích dẫn hai bộ sách cổ trên 100 năm. Một bộ có tựa đề "Phương Đình Dư Địa Chí", bộ kia là "Đại Nam Nhất Thống Chí". Tuy nhiên, nếu đối chiếu với bản scan của các bộ sách kèm theo bài viết này, thì sự thật không phải như thế; mà ngược lại, hai bộ sách đều ghi rõ Ải Nam Quan thuộc về lãnh thổ Việt Nam, cũng như cổng Nam Quan là do người Việt Nam xây lên. Các sách này ghi là cửa Nam Quan có lẽ cất vào thời Gia Tĩnh nhà Minh, chứ không ghi là do nhà Minh xây lên! Mặc dù sách "Nhất Thống Chí" có ghi nhận "Án Sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại" cổng, nhưng điều đó chỉ nói lên vào thời gian đó (thế kỷ 18), người Tàu có giúp tu bổ lại cái cổng biên giới giữa hai nước đã được người Việt xây dựng từ 200 năm trước rồi, tuyệt không thể chỉ vì có sự tu bổ đó mà cho rằng Trung Quốc là sở hữu chủ cả đất đai Việt Nam. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề sách cổ.

    Dù sao, cho đến nay đảng CSVN cũng như vị "ký giả" và "nhà bình luận" ủng hộ các luận điệu của đảng CSVN vẫn chưa chứng tỏ bằng các chứng tích cụ thể, như các bản chụp (scan) hình ảnh hay bản đồ để thuyết phục tuyên truyền dân chúng. Họ đã lợi dụng phương tiện báo chí có sẵn cùng các xảo thuật trích dẫn để khuynh đảo dư luận hầu mong dẹp tan cuộc chống đối của các phong trào phản kháng.

    g. Trí trá về sự hiện hữu của Cây Số Zero.

    Có người viết bài tự thuật rằng đã được "tự do" lên thăm và chụp hình Nam Quan. Tấm hình chụp cây số Zero (0) được đưa lên internet với lời chú thích là cây số 0 ấy đã được "Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cho lệnh trồng bên gốc cây si." Chúng ta có thể tin đây là một sự phổ biến gián tiếp của nhà nước CSVN. Như vậy, rõ ràng là sau khi ký nhượng toàn thể biển Đông, rồi đến nhượng đất biên giới, ông PVĐ đã cho xây cất cây số 0 có lẽ để đánh dấu và phòng ngừa Bắc Kinh đòi thêm về sau này. Đây là sự phòng xa "khôn mà không ngoan", vì nó thú nhận sự dâng nhượng thực sự lãnh thổ VN cho Trung Quốc. Không có lý do gì mà tự nhiên một Thủ Tướng lại ra lệnh trồng cây số 0 cho một con đường như thế!

    2- Sự thật trong những bộ sử cổ xưa:

    Những bằng cớ cho thấy Nam Quan là một phần lãnh thổ của Việt Nam có thể được tìm thấy trong bộ sách Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu, một danh nho vào thời nhà Nguyễn. Tác giả diễn tả khá chi tiết về Cổng Nam Quan từ trang 451 đến 453 (hình 6, 7, 8)
    . Tác giả viết rằng:

    "Ải Nam Quan ở địa phận 2 xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, 2 bên có núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khóa, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là Nam Quan (một tên là Đại Nam quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam quan." [10]

    Hình 6, 7, 8 - Phương Đình Dư Địa Chí, trang 451-453

    Dữ kiện của đoạn trên chứng tỏ quyền kiểm soát toàn vẹn của chính quyền nước ta vào thời đó trong việc mở và đóng khóa cửa quan. Hiển nhiên tên Đại Nam quan là danh từ riêng của Việt Nam đặt, chứ không phải do Trung Quốc đặt để ám chỉ là "cửa phía nam" như có người lầm tưởng.

    Cuốn sách còn ghi lại văn bia của Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang, trong đó có câu mở đầu như sau:

    "Khi nước ta có cả Đất Ngũ Lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau này thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên làm cửa quan, có Đài là Vọng Đức..." [11].

    Đoạn này có ba điểm đáng chú ý:

    a.- Khi xưa nước ta có cả đất Ngũ Lĩnh, nhưng nay vùng núi Ngũ Lĩnh đã nằm trong địa phận Bằng Tường của Trung Quốc rồi.

    b.- Ải Nam Quan là đường rãnh hẹp giữa hai rặng núi phía nam của vùng Ngũ Lĩnh. Như vậy cửa quan vào đời Lý, Trần ngày xưa có thể nằm ở phía bắc hai rặng núi đó, nhờ vậy mà việc phục kích phòng thủ của dân tộc ta đã hữu hiệu từ cả ngàn năm trước.

    c.- Các chữ "lấy đất Văn Uyên làm cửa quan" chứng tỏ quyền chọn lựa, chủ quyền lãnh thổ toàn ải, và công trình xây cất nguyên thủy cửa ải rõ ràng là do người Việt Nam chứ không phải người Tàu.

    Cũng theo cuốn "Dư Địa Chí", 5 năm sau khi được bổ về làm Tổng Trấn Lạng Sơn, ông Nguyễn Trọng Đang đã cho người xây dựng lại cửa ải và đài canh gác ở trên cổng, tất cả đều làm bằng gạch. Vật dụng được cung cấp bởi 22 đơn vị dưới quyền. Nhiều công nhân xây cất được tuyển mộ và giao cho 4 trưởng toán chỉ huy. Việc xây cất mất hơn nửa năm trời mới xong. Tòa công sự được dùng làm nơi canh gác và nơi tạm trú cho các quan sứ giả của triều đình.

    Chứng cớ Ải Nam Quan là đất Việt Nam còn được tìm thấy qua các bản đồ cũ trong cuốn "Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời" của sử gia Đào Duy Anh [12]. Vào thời Hán, Quận Giao Chỉ bao gồm cả đất Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ. Từ đời nhà Lý thế kỷ 11 đến cuối thời Lê Trang Tông giữa thế kỷ 16, biên giới Việt Nam vẫn được giữ nguyên vẹn. Cũng trong sách này, có ghi rõ các huyện của tỉnh Lạng Sơn, trong đó có Huyện Uyên với huyện lỵ có tên là Đồng Đăng (hình 9). "Thiên Hạ Quận Quốc chép cửa Pha Lũy - tức Nam Quan - là thuộc huyện Uyên". Cuốn sách của Đào Duy Anh xuất bản lần thứ nhất có cả một chương về địa giới Việt Trung, nhưng khi tái bản vào năm 1995 thì toàn bộ chương này đã bị bỏ đi, với lời chú của "Viện Sử Học Việt Nam" như sau:

    "Năm 1975 tác giả (Đào Duy Anh) có bổ sung và sửa chữ bản in lần thứ nhất, với ý định tái bản ở miền Nam. Sau khi xem lại tác giả đã bỏ chương nói về biên giới Việt Nam qua các đời vì thấy tài liệu chưa được đầy đủ. Trong lần tái bản này, chúng tôi đã thực hiện theo di cảo của tác giả lưu lại khi qua đời" [13].

    Hình 9 - "Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời", Đào Duy Anh

    Thật là một điều phí phạm đáng tiếc: Cả một công trình tham khảo tài liệu đã được xuất bản, sau tác giả còn dày công bổ sung và sửa chữa, thế mà chỉ vì "tài liệu chưa đầy đủ" lại hủy bỏ đi! Theo tập quán của những nhà khoa học cũng như viết sử, khi tác giả thấy công trình của mình chưa hoàn hảo thì vẫn trình bày ra kèm theo ghi chú, để người sau tiếp nối cho đầy đủ, chứ không bao giờ lại có trường hợp hủy hoại công trình nghiên cứu dở dang của mình. Vì không có di cảo hay thủ bút của tác giả, làm sao để đời sau biết sự thật đúng như thế, hay nhà xuất bản đã đục bỏ đi theo kiểm duyệt của nhà nước?
    Bộ sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" được Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn ra bằng chữ Nho, tương tự như chữ Hán của Tàu, gồm 25 quyển, đến năm 1971 đã được dịch ra tiếng Việt [14]. Căn cứ vào tập 3, trang 366 và 367 (hình 10, 11), có những chi tiết trái ngược với sự tuyên truyền của CSVN và của hai vị "ký giả" và "bình luận gia" từng viết bài cho rằng "Ải Nam Quan thuộc Tàu". Sau đây là những chi tiết đó:

    a.- Ải Nam Quan là đất của huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn, từ thời nhà Trần đến thời Lê thịnh vẫn còn như thế.

    b.- Cổng Nam Quan, cách Lạng Sơn 31 dặm (khoảng 19 km) về hướng Bắc của tỉnh lỵ Lạng Sơn. Theo văn bia của Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang, thì cổng, cùng với đài canh gác nằm trên cổng, đã được xây đầu tiên bởi người Việt Nam, vào thời Gia Tĩnh nhà Minh tức là cùng thời niên hiệu Nguyên Hòa của vua Lê Trang Tông (1533-1548). Tên nguyên khởi do người Việt đặt cho cổng Nam Quan là "cửa Nam-Giao" hay "Đại-Nam Quan". "Đại Nam" là tên của nước ta từ thời xưa mà về sau triều Nguyễn Minh Mạng đã dùng lại.

    c.- Trong thời gian cổng Nam Quan được xây, Việt Nam có tới hai triều đại: Bắc Triều do Mạc Đăng Dung soán ngôi Lê Cung Hoàng lập ra nhà Mạc từ năm 1527. Nam Triều của vua Lê Trang Tông được Nguyễn Kim phò tá lập ra chống lại nhà Mạc. Hai bên đánh nhau đến năm 1592 thì nhà Mạc bị đánh bại, vua Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt về chém bêu đầu. Tuy nhiên, nhờ có nhà Minh can thiệp nên con cháu Mạc Đăng Dung vẫn được giữ đất Cao Bằng và Lạng Sơn thêm ba đời, cho đến năm 1625 mới dứt hẳn. Như vậy, nếu lời của Nguyễn Trọng Đang chính xác, thì cổng Nam Quan có thể do Mạc Đăng Dung dựng lên tại địa thế hiểm yếu của thiên nhiên, để kiểm soát sự xâm nhập biên giới của thổ phỉ Tàu từ phía bắc.

    d.- Đến đời Nguyên Hoà thứ 8, năm 1541, trước sự uy hiếp của nhà Minh, Mạc Đăng Dung phải tự trói mình cùng bầy tôi đi "qua Trấn Nam Quan đến Mạc phủ của nhà Minh dâng biểu xin hàng. Đến đây mới thấy Sử (Ký) chép tên Trấn Nam Quan." Chi tiết này chứng minh rằng cho dù trong thời bại trận, cả Ải Nam Quan lẫn cổng Nam Quan vẫn còn là lãnh thổ và tài sản của Việt Nam. Như vậy hiển nhiên họ Mạc đã dâng cho Tàu một phần của vùng khe núi Ải Nam Quan phía bắc của cổng, gồm năm động và đất Khâm Châu, còn cái cổng thì vẫn là tài sản của Việt Nam, chỉ bị Tàu đổi tên ở bảng hiệu phía Bắc mà thôi. Nói cách khác, trước khi họ Mạc đầu hàng, nguyên cả hai rặng núi song song dài khoảng 7 km cấu thành Ải Nam Quan và Suối Phi Khanh đều thuộc về Việt Nam. Ngay cả lúc hai bên chiến tranh, quân Tàu cũng không dám khinh xuất xâm phạm ải và cổng Nam Quan của Việt Nam. Sách Sử Ký của Tàu thay vì chép tên cổng là "Đại-Nam Quan", thì đổi thành "Trấn Nam Quan".

    e.- Đối chiếu với bộ sách Nhất Thống Chí, sách Việt Nam Sử Lược của sử gia Trần Trọng Kim cũng nói đến chủ quyền cửa Nam Quan thuộc Việt Nam như sau:
    "Năm Đinh Dậu (1537) vua nhà Minh sai Cừu Loan làm Đô Đốc đem quân đến đóng gần cửa Nam Quan rồi sai đưa người thư sang bảo Mạc Đăng Dung phải đưa sổ ruộng đất sang nộp và chịu tội thì được tha cho khỏi chết" [15].

    Một đoạn khác, khi Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh cũng có ghi:
    "Ngày hôm ấy (mùng năm tết Kỷ Dậu 1789) vua Quang Trung dốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long, sai tướng đem binh đuổi đánh quân Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé Bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy một người nào!" [16]

    f.- Năm 1792, với sự yêu cầu chính đáng của Quang Trung Hoàng Đế, vua Càn Long nhà Thanh đã chấp thuận trả lại các phần đất thuộc Quảng Tây và Quảng Đông cho Việt Nam trong đó có nguyên vẹn vùng núi Ngũ Lĩnh ở Bằng Tường. [17] Tiếc thay, các vùng đất đó chưa được bàn giao lại cho Việt Nam thì Quang Trung băng hà, và từ đó Việt Nam chưa sản xuất được một vị anh hùng nào đủ hùng tài đại lược để đòi lại phần đất này.

    g.- Vào khoảng tiền bán thế kỷ 17, đời vua Lê Thần Tông (1619-1643) và chúa Trịnh Tráng, thì nhà Minh bị nhà Thanh tiêu diệt. Đến năm Ung Chính thứ 3 thời nhà Thanh, (tức là đời Lê Dụ Tông thứ 20, niên hiệu Bảo Thái thứ 5, năm 1725, gần 200 năm sau khi người Việt xây cổng Nam Quan và đài canh vào thời nhà Minh), thì "án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại" cổng Nam Quan. Rồi 3 năm sau đó (Ung Chính thứ 6, năm 1728) thì làm bảng để trên mặt bắc của cổng là "Trấn Nam Quan" bằng chữ Tàu. Như vậy, có thể trong thời gian này, nhà Thanh đã đề nghị tình nguyện "tu bổ" lại cổng Nam Quan để rồi sau này người Tàu lấy cớ mà giành giật chủ quyền cổng Nam Quan của người Việt.

    h.- Đến đời Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (năm Giáp Thìn - 1773), thì Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang cho khởi công trùng tu lại đài canh gác. Sau trên nửa năm xây cất, sang năm Ất Tỵ, đài mới hoàn tất và được đặt tên là Vọng Đức Đài, với tấm biển đề "Đại-Nam Quan" quay về hướng nam, đối chiếu tương đương với biển đề Trấn-Nam Quan ở mặt bắc ("việc làm phải theo thời thế, không dám làm hơn người trước"). Bấy giờ là "năm Ất Tỵ, mùa Xuân, trước ngày Vọng (vua ta) ba ngày" [18]. Lời chú trên bia của ông hàm ý ngưỡng vọng đức độ của vua Lê Hiển Tông, bấy giờ sắp kỷ niệm sinh nhật 57 tuổi, làm vua đã được 34 năm, chứ không phải "ngưỡng vọng vua Tàu" như vài người đã lầm tưởng một cách tai hại.

    i.- Tuy nhiên, đến đời Càn Long nhà Thanh, năm Tân Sửu, (tức là năm 1781, khoảng 7 năm sau khi Vọng Đức Đài của Việt Nam được xây cất), nhằm vào thời Lê mạt, thì lần đầu tiên đài canh của Tàu mới được xây cất và đặt tên là "Chiêu Đức Đài" ở mặt bắc nằm trên cổng, phía bắc đài có "nhà giữ ngựa" gọi là "đình tham đường". Như vậy, trên cổng có hai đài kiểm soát, phía bắc là Chiêu Đức của Tàu và phía Nam là Vọng Đức của Việt.

    j.- Căn cứ vào các tài liệu trên, thì cho đến hậu bán thế kỷ 18, vẫn còn kiến trúc đồ sộ của cổng Đại-Nam Quan và Ngưỡng (hay Vọng) Đức Đài của Việt Nam nằm trên cổng, với bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang dùng làm nơi nghỉ ngơi mà Đốc Trấn Nguyễn Trọng Đang đã xây lên bằng cả một công trình gạch đá mất trên nửa năm trời. Như vậy, cho đến thời gian đó, cổng Nam Quan vẫn là sở hữu của Việt Nam, và là biên giới của hai nước. Tàu chỉ góp công tu bổ cổng cũng như xây đài ở mặt bắc và sử dụng chung mà thôi, giống như hiện nay Trung Quốc đang được Việt Nam cho sử dụng chung ga xe lửa tại Đồng Đăng để kiểm soát người nhập cảnh vậy. Góp công tu bổ để được cho sử dụng chung, rồi lại lật lọng đòi luôn sở hữu chủ tài sản của lân bang, thái độ của người Tàu ngang ngược như thế đã đành, mà thái độ của đảng CSVN và một vài người Việt ra sức bênh vực cho "chủ quyền" của người Tàu thì thật là cổ kim chưa từng có.

    Trên đây là những bằng chứng rõ ràng từ bộ Nhất Thống Chí và một số sách sử khác về chủ quyền VN đối với toàn ải và cổng Nam Quan. Những "viên chức ngoại giao", những "ký giả", và những "nhà bình luận" đã diễn giải trái ngược với những tài liệu lịch sử ấy, có thể vì họ đã quá vội vàng trong việc tra cứu lịch sử và các niên đại, hoặc vì họ đang có một "sứ mạng bí mật" nào đó mà phải diễn giải sai lạc như thế. Đời xưa, mỗi lần có tranh chấp biên giới với Tàu thì các vua quan nước ta cương quyết tranh cãi, nhất định không nhượng bộ một tấc đất cho ngoại bang. Đời nay thì không những viên chức ngoại giao và lãnh đạo CSVN bí mật dâng nhượng đất đai cho Tàu, không khác gì cha con Mạc Đăng Dung vì muốn bảo vệ ngôi báu mà chịu hàng phục nhà Minh, mà một số người ở hải ngoại cũng đã vô tình hay cố ý toa rập với đảng CSVN và hết lòng bênh vực cho bọn cướp nước ta. Thật chưa bao giờ đất nước và dân tộc Việt Nam mang phải đại nạn như lúc này!

    3- Sự thật trên các tấm hình

    Hiện nay, có ba hình ảnh liên hệ đến cổng Nam Quan được đưa lên internet, một tấm hình đen trắng và hai hình màu:

    Hình 12- Đại Nam Quan, 1891

    a.- Tấm hình đen trắng (hình 12) được tìm thấy trong một thư viện của Pháp trên hình có ghi chú bằng chữ "La rivière de Nam Quan à la frontière". Tấm hình này cho thấy công sự cổng hình cầu vòng bằng đá nằm giữa thung lũng hẹp. Trên cổng là một tầng lầu có tường vôi trắng với 3 cửa chính diện và một cửa hông nằm chính giữa vách. Trên tầng lầu vôi trắng này là một tầng lầu nữa, có mái ngói nhưng không có vách, có vẻ là một chòi canh gác. Từ hai bên hông cổng có tường đá xây hướng thẳng góc với vách tường lên đến đỉnh đồi hai bên. Trên đồi bên phải là một số nhà, có vẻ là đồn trại canh phòng. Đằng sau là núi non trùng điệp với thung lũng hẹp kéo dài. Tấm hình đen trắng là hình chụp của cổng Nam Quan hơn 100 năm về trước, với hình thể giống như sự diễn tả trong hai bộ sách Phương Đình Dư Địa Chí và Đại Nam Nhất Thống Chí. Có thể đó là toà công sự được Tổng Đốc Nguyễn Trọng Đang xây cất lại vào năm 1774, và Pháp trùng tu lại 117 năm sau đó theo HĐ 1887.

    b.- Tấm hình thứ hai là hình màu (hình 13), được đăng trên National Geographic Magazine, không rõ năm nào, có ghi chú phía dưới: "The Porte de Chine stands at the Indo-China's Northern Frontier"; và tiếp theo với dòng chữ nhỏ hơn: "Where the old Mandarin Road enters China, it passes through the archway of the China Gate. Stone walls extend from the gate on each side to meet the hills which gird the narrow valley". Tấm hình này cho thấy công sự cũng có cổng hình cầu vòng và tường đá. Nhưng phía trên cổng chỉ có một tầng lầu thay vì hai tầng như tấm hình đen trắng. Tầng lầu này có mái ngói, tường sơn màu vàng, có một cửa hông nằm lệch qua một bên. Bức tường đá chạy lên đỉnh đồi theo sống núi, vùng đất trên đỉnh đồi chật hẹp, không có nhà cửa như tấm hình đen trắng. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, dọc các tỉnh biên giới Việt Trung có nhiều cửa ải. Riêng vùng biên giới dọc tỉnh Lạng Sơn có tới 12 cửa ải, các cửa quan trọng gồm có Binh Nhì, Cảm Môn, Nguyệt Hoa, Du Thôn, Quỷ Môn, v.v..., có vài cửa ải ghi rõ là thuộc "địa phận nước Thanh", đa số cửa khác trong đó có cửa Ải Nam Quan ghi rõ là ở địa phận nước ta. Vì không giống với tấm hình đen trắng, nên tấm hình màu đăng trên National Geographic Magazine có thể là cửa ải Du Thôn hay cửa Tân Thanh hoặc cửa ải nào khác, chứ không phải là cổng Nam Quan. Theo cả hai sách Dư Địa ChíNhất Thống Chí thì ải Du Thôn:
    "Cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 30 dặm về phía bắc, ở địa phận Du Thôn xã Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp thôn Điếu -sách, châu Thượng Thạch nước Thanh, từ ải này đến Trấn Nam Quan đi theo đường núi, ước hết hai trống canh rưỡi, phàm việc giao tống công văn và khách buôn đi lại, đều do cửa ải này." [19]

    Hình 13 - Cổng Nam Quan, National Geographic

    c.- Tấm hình thứ ba cũng là một hình màu (hình 14), có vẻ mới nhất và rõ nhất, được phổ biến trên internet, có lẽ là Mục Nam Quan mà ông Lê Công Phụng đã nhiều lần nhắc đến trong các bài phỏng vấn ông ấy. Nhiều người lầm tưởng đó là cổng Nam Quan hiện nay. Sự thật không phải thế. Nếu quan sát kỹ, người ta sẽ nhận ra sự khác biệt nhau về kiến trúc và vị trí xây cất của công sự này đối với các công sự ở hai tấm hình kia. Toà công sự này có ba tầng lầu xây trên một quảng trường bằng phẳng, có cổng hình cầu vòng bằng ô xi-măng (cement blocks). Ba tầng lầu trên cổng được kiến trúc theo kiểu của người Tàu, với hành lang bên ngoài và hàng rào có chạm trổ mỹ thuật. Khác với hai tấm hình trước, cổng cầu vòng không có cánh cửa, người ta có thể nhìn thấy xuyên qua cổng cầu vòng, đàng sau là một toà nhà mái ngói đỏ tọa lạc trên một khoảng trống bằng phẳng, chứ không có núi non trùng điệp như vùng thung lũng chật hẹp của Ải Nam Quan. Trước mặt cổng cầu vòng là ba chữ "Mục Nam Quan" và trên mái là cột ang-ten, chứng tỏ một công sự thời hiện đại. Đây là công sự mới do Trung Quốc xây lên vào giữa thập niên 1960. So với vị trí đích thực nguyên thủy của cổng Nam Quan và căn cứ vào địa thế bằng phẳng không núi non, thì Mục Nam Quan nằm cách xa phía nam cửa ải, trong bình nguyên sông Kỳ Cùng. Đường biên giới mới bị lùi lại gần Đồng Đăng, chỉ còn cách Đồng Đăng vài cây số mà thôi. Đó là hậu quả của sự đồng thuận của CSVN bằng lòng nhượng toàn vùng các ải hiểm trở trong tỉnh Lạng Sơn, để đổi lấy tiếp liệu và quân trang vũ khí cho cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960.

    Hình 14 - Mục Nam Quan

    Đối chiếu địa thế trong các tấm hình, chúng ta tự hỏi: Làm sao chỉ trong vòng 100 năm mà vùng Ải Nam Quan lại có thể bị san thành bình địa để từ đó cổng Đại Nam Quan bị biến mất đi, và cổng Mục Nam Quan được xây dựng lên từ lưu vực sông Kỳ Cùng, sát Đồng Đăng? Vùng cổng Đại Nam Quan với hai dãy núi đá hiểm trở không phải là một địa thế dễ san bằng. Theo hiệp ước Pháp Thanh, nó có công sự gồm cổng Nam Quan rất kiên cố, với đài kiểm soát của cả hai quốc gia nằm ở trên, nhà khách trọ phía VN làm bằng gạch ngói do Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang xây lên năm 1774, và hai cột mốc bằng đá do các nhà trắc lượng Pháp xây để đánh dấu khoảng cách 100 m đến biên giới chính thức là cổng Nam Quan. Ngoài ra, lại có trại lính trên đỉnh núi nữa, có lẽ do Pháp xây lên. Cho dù Trung Quốc có phá hủy các công sự của họ đi mà xây lại công sự mới, thì nhất định họ không thể có quyền phá hủy luôn Vọng Đức Đài do Việt Nam xây lên, nếu không có sự thỏa thuận của nhà cầm quyền Việt Nam. Vậy ai đã thỏa thuận cho vụ phá hủy một cách mờ ám các công trình phòng thủ của tiền nhân Việt Nam?

    4- Sự thật qua các bản đồ hiện đại

    Đối chiếu các bản đồ vùng Đồng Đăng - Ải Nam Quan của Nha Địa Dư có từ trước 1950, với các bản đồ vào những năm 1964, 1976, 1998, và 2002, chúng ta sẽ thấy kinh ngạc trước sự di chuyển không ngừng của đường biên giới dần về phía Nam.

    Hình 15 - Bản đồ thời Pháp thuộc, trước năm 1954

    Bản đồ Nha Địa Dư VNCH (hình 15) là bản đồ thời Pháp thuộc đến lúc đất nước bị chia đôi. Bản đồ này có hình màu được tìm thấy trong cuốn sách Nước Tôi Dân Tôi [20]. Trên bản đồ này ghĩ rõ các chữ "Ải Nam Quan" nằm trên đường biên giới được đánh dấu bằng chữ thập, hiển nhiên là một địa danh của Việt Nam, khác với các địa danh bằng tiếng Tàu trong lãnh thổ Trung Quốc, như địa danh "Long Tcheou" (Long Châu) chẳng hạn. Khoảng cách từ Đồng Đăng lên Nam Quan khoảng 8-9 km.

    So sánh bản đồ Nha Địa Dư với bản đồ hội United States Geographic Society (hình 16) được tìm thấy trên internet năm 1967, thì có sự rút ngắn khoảng 4-5 km từ Đồng Đăng lên biên giới. Điều này cho thấy sự thay đổi đã xảy ra trong thời khoảng từ 1954 đến 1967. Một cách chính xác hơn, sự thay đổi bắt đầu từ khi Trung Quốc ào ạt viện trợ quân sự cho miền Bắc xâm chiếm miền Nam vào đầu thập niên 1960.

    Hình 16 - Bản đồ United States Geographic Society, 1967

    So sánh bản đồ USGS 1967 với bản đồ du lịch của nhà nước nhà nước CSVN (hình 17), thì có sự khác biệt là 2 km. Bản đồ du lịch của nhà nước đến nay vẫn chưa được điều chỉnh theo Hiệp Ước 1999, vẫn còn có thể được tìm thấy trên một web site có địa chỉ như sau:
    http://goasia.about.com/gi/dynamic/offsite.htm?site=http://home.vnn.vn/english/map/

    Hình 17 - Bản đồ du lịch nhà nước CSVN

    Khoảng tháng 3 năm 2002, có một bản đồ vùng Ải Nam Quan được một người tên là Dieu Van đưa lên các diễn đàn nghị luận ảo (email groups) và quả quyết là bản đồ của Hiệp Ước 1999 (hình 18), mặc dù Hà Nội đang tuyệt đối giữ bí mật. Bản đồ này cho thấy toàn đường biên giới trong vùng đã đổi dời thêm về phía nam so với bản đồ trên internet của nhà nước CSVN. Căn cứ trên tỷ lệ khoảng cách 20 km từ Lạng Sơn đến Đồng Đăng [21], chúng ta có thể thấy ít nhất là 2 km đã bị nhượng cho Trung Quốc qua Hiệp Ước 1999 và đường biên giới đã đến sát Đồng Đăng, gần ngã ba Quốc lộ 1 và Quốc lộ 4. Như vậy đoạn đường của Quốc lộ 1 từ Quốc Lộ 4 lên ải Nam Quan dài gần 10 km đã mất khoảng 8-9 km, chỉ còn đoạn đường xuyên qua huyện Đồng Đăng mà thôi!

    Hình 18 - Bản đồ (được cho là) hiệp ước Việt-Trung 1999

    Có người cho rằng bản đồ mới được phổ biến trên các diễn đàn nghị luận vào tháng 3 năm 2002 là "ngụy tạo", nhưng họ lại không đưa ra bằng cớ ngụy tạo chỗ nào. Đã thế, người phổ biến bản đồ ấy còn bị "chụp mũ" là "cộng sản". Đó là một điều vừa khôi hài vừa ấu trĩ, vì CSVN không bao giờ tiết lộ những gì có thể phương hại cho họ. Mặt khác, bản đồ đó trông rất tinh vi, không thể nào ngụy tạo được. Người viết phỏng đoán rằng bản đồ "Hiệp Ước 1999" có lẽ được lấy từ các websites của Trung Quốc hoặc Đài Loan.

    Điểm đáng chú ý là đường biên giới khá sát với Quốc lộ 4 và quận lỵ Đồng Đăng. Đối chiếu với bản đồ năm 2002 (hình 19), mà người viết có từ một nguồn khác, thì bản đồ năm 2002 tương đối thô sơ hơn nhưng hình như chưa được biểu thị đúng thực tế về các giới điểm và đường biên giới mới. Vì vậy mà người viết phổ biến bản đồ này với sự dè dặt.

    Hình 19 - Bản đồ biên giới năm 2002

    Theo hình chụp của Giáo Sư Trần Đại Sỹ thì cổng Hữu Nghị (hình 20) hiện nay là trạm kiểm soát thông thương của Việt Nam. Cổng Hữu Nghị nằm sát ngoại ô Đồng Đăng, tại một vị trí hoàn toàn không có dấu vết của cổng Nam Quan, Vọng Đức Đài xây năm 1774, cũng như các rặng núi đá ở hai bên thung lũng. Theo một chính khách từng về VN và lên tham quan biên giới, thì tại vị trí cổng Hữu Nghị, người ta không thể nhìn thấy Mục Nam Quan vì cách Mục Nam Quan ít nhất 500 m.

    Hình 20 - Cổng Hữu Nghị (chụp từ phía TQ), hình GS Trần Đại Sỹ

    Hiển nhiên, vị trí mới của biên giới hiện nay đã được di chuyển với sự thỏa thuận hay đổi chác ngầm giữa hai đảng cộng sản VN và TQ. Rất có thể trong thời gian từ 1958 đến 1960, song song với việc ký lá thư nhượng Biển Đông cho Trung Quốc, ông Phạm Văn Đồng cũng đã ký một văn thư tương tự, nhượng toàn vùng ải Nam Quan và thác Bản Giốc cho Trung Quốc. Chúng ta đã biết rằng "lá thư nhượng biển" mới bị TQ đưa ra, cùng với bản tuyên bố về lãnh hải Trung Quốc, để làm bằng chứng, đối phó với việc CSVN đổi giọng (nhưng rất yếu ớt) đòi dành lại chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có lẽ vì lo sợ Bắc Kinh lại trưng thêm bằng cớ về việc Hà Nội đã nhượng bộ ải Nam Quan và thác Bản Giốc cho họ, mà Hà Nội đã không dám dành chủ quyền hai địa danh này. Do đó, vụ sang nhượng phần đất này không hề được Hà Nội xem là thuộc "những vùng tranh chấp" của 227 km2.

    V. Kết luận

    Hiện nay, rất khó khăn để các chuyên gia từ hải ngoại về tìm hiểu vị trí đích thực của ải Nam Quan đã và đang bị CSVN ra sức ngăn chặn. Ngay cả người trong nước, từng liên hệ mật thiết với chế độ, vẫn gặp trở ngại và không ngớt bị hù họa, tù đày chỉ vì họ đã nói lên sự thật về sự mất mát lãnh thổ. Nếu một ngày nào đó, hai quốc gia thỏa thuận cho một toán chuyên gia quốc tế thông thạo về ngành công chánh và trắc lượng (Professional Civil Engineers and Land Surveyors) đến khảo sát bằng các dụng cụ tối tân hiện nay, chắc chắn họ sẽ tìm ra các dấu vết của cổng Đại-Nam Quan hiện hữu từ 100 năm trước, cho dù Trung Quốc đã phá hủy nó đi để phi tang. Thật là một mâu thuẫn cực kỳ phi lý khi ông Lê Công Phụng cho rằng trọn vẹn hai rặng núi đá, thung lũng, tòa công sự cổng Đại Nam xây bằng đá, và các đài canh xây bằng gạch, tất cả đã bị san thành bình địa sau 110 năm mà lịch sử không hề ghi lại biến cố thiên nhiên nào, rồi cùng lúc lại tuyên bố là cột mốc tý hon đã được tìm thấy để căn cứ vào đó mà xác định biên giới theo HĐ Pháp Thanh 1887.

    Không sớm thì muộn, các bản đồ mới sẽ "xuất hiện" để được kiểm chứng và đối chiếu với các bản đồ cũ có trước khi Bắc Kinh và Hà Nội nắm chính quyền trên hai quốc gia. Những bản đồ cũ này chắc chắn còn được lưu trữ trong thư viện các quốc gia liên hệ đến Việt Nam trong quá khứ hay hiện tại, nhất là Trung Quốc, Pháp, và Hoa Kỳ. Hy vọng rằng khi các bản đồ đã được "công khai hóa", lúc bấy giờ sẽ không còn các tranh luận dai dẳng về việc CSVN sang nhượng bao nhiêu lãnh thổ VN cho TQ, mà sẽ có một cuộc thảo luận ý nghĩa và hữu ích hơn:

    Nhân dân Việt Nam sẽ làm gì để giành lại đất đai đã mất?

    Đó là một "ngõ bí" mà nhà nước đã và đang phải tìm mọi cách tránh né. Đó cũng là một vấn nạn mà nhân dân Việt Nam không dễ dàng có đối sách giải đáp. Bởi vì nhân dân Việt Nam đang phải đối phó với hai trở ngại lớn: một lân bang vô cùng nham hiểm luôn luôn tìm cách thôn tính Việt Nam, và một chế độ vô cùng tàn ác đối với nhân dân, mạt sát những người yêu nước là "phản động" chỉ vì họ muốn bảo vệ lãnh thổ của tổ tiên.

    Tài liệu dẫn chứng:

    (1) U.S. International Institute for Strategic Studies (IISS - FAS, January 30, 2000)
    (2) "The issue of South China Sea", Ministry of Foreign Affairs Peoplés Republic of China, June 2000.
    (3) BBC News Online: "China Ends Huge Mine Clearing Programme," Asia-Pacific, August 12, 1999.
    BBC "China Clears Thousands of Landmines on Vietnamese Border", January 6, 1998; ("Qiu Daxiong, deputy commander of the Guangxi Military Area Command, said the mine clearing operation, is expected to clear 120 zones on nearly 20 million sq.m. of ground").
    (4) Datacom Ad Network, "China, Vietnam Pledge To Resolve Border Dispute", Apr 5, 2000
    (5) Bản dịch biên bản Pháp-Thanh năm 1891 về HĐ 1887 (đã được phổ biến trên các diễn đàn).
    (6) Bài phỏng vấn LCP tháng 10-02, lời LCP
    (7) Nước Tôi Dân Tôi, Đông Tiến, 1989, Vũ Nguyệt Minh, trang 52.
    (8) Các Triều Đại Việt Nam, Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh Niên, 1995, trang 109.
    (9) Việt Sử Tân Biên - Quyển 2, Phạm Văn Sơn, NXB Văn Hữu Á Châu, 1958, trang 442
    (10) Phương Đình Dư Địa Chí - Nguyễn Văn Siêu, NXB Tự Do Sài Gòn, 1959, trang 451
    (11) Phương Đình Dư Địa Chí, trang 452
    (12) Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, Đào Duy Anh, NXB Thuận Hóa - Huế, 1995, trang 71&72
    (13) Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, trang 15
    (14) Đại Nam Nhất Thống Chí, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB Khoa Học Xã Hội, 1971, Tập 3, trang 366-367
    (15) Việt Nam Sử Lược, Quyển 2, Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục VNCH, trang 16
    (16) Việt Nam Sử Lược, quyển 2, trang 134
    (17) Các Triều Đại Việt Nam, Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh Niên, 1995, trang 231. Tuy nhiên, theo Việt Nam Sử Lược, quyển 2, trang 143, "sau khi nghe tin Quang Trung mất thì các quan sứ dìm vụ cầu hôn và đòi đất lưỡng Quảng đi, không cho Thanh Triều biết", tức là không có chuyện vua Càn Long đồng ý gả con và trả đất cho Quang Trung.
    (18) Phương Đình Dư Địa Chí, trang 453.
    (19) Đại Nam Nhất Thống Chí, trang 367
    (20) Nước Tôi Dân Tôi, trang 12.
    (21) Viet Nam, Robert Storey, trang 506

    Nguyễn Đình Sài

    (Theo Web Diễn Đàn Dân Chủ)

    Vấn đề Biên Giới và Hải Ðảo Việt Nam

    Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế

    (Theo Web Hưng Việt)

    Vấn đề biên giới trên đất liền & trên biển

    - 1858 Pháp nổ phát súng đầu tiên đánh vô Ðà Nẵng.
    - 1862 Pháp chiếm miền Nam.
    - 1884 đặt ách thống trị trên toàn quốc Việt Nam.
    - 1895 Pháp vẽ bản đồ Ðông Dương sau khi ký hiệp ước với triều đình Mãn Thanh ấn định biên giới dài 1300 km giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    Ðể chống Pháp, Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng Sản Ðông Dương, hoạt động ở cả Việt - Miên - Lào, với sự trợ giúp của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Năm 1941, Hồ Chí Minh về Việt Nam lập chiến khu dọc theo biên giới tiếp giáp với Trung Quốc. Ðể bảo đảm an toàn, đoạn đường chót tầu hỏa và đường bộ của Trung Quốc ăn sâu vào lãnh thổ Việt Nam có nơi 500 mét, nhiều nơi đến cả cây số và dùng nơi này làm cơ quan đầu não, huấn luyện cán bộ, dưỡng quân, tiếp nhận và cất dấu vũ khí. Nếu Pháp hành quân hay dùng máy bay oanh tạc vùng này, Trung Quốc sẽ la ầm lên là vi phạm lãnh thổ của họ.

    - 1954 chia đôi đất nước.

    Vì cần phát động chiến tranh với miền Nam, hai đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc ký thỏa thuận ngầm đường biên "hậu phương lớn", "núi liền núi sông liền sông" và Phạm Văn Ðồng còn chính thức gửi công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 lên tiếng công nhận hải phận của Trung Quốc là 12 hải lý, tính nhờ Trung Quốc bảo vệ dùm 3/4 biển Ðông bên ngoài lãnh hải Bắc Việt vì lúc đó Hà Nội chưa có Hải Quân.

    - 1972 Trung Quốc ký thông cáo chung Thượng Hải với Mỹ để lộ rõ ra chiều hướng chuyển từ đối đầu sang hợp tác, cho phép Mỹ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam kéo theo tiến trình giải quyết chiến tranh VN với hiệp định Paris ra đời vào ngày 27-1-1973.

    - Tháng Giêng năm 1974, Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ quần đảo Hoàng Sa giao chiến với Hải Quân Trung Quốc. Quần đảo này nằm ở 14o 30 đến 17o00 độ vĩ bắc và 111o 30 - 114o00 độ kinh đông, ngang ngoài khơi tỉnh Ðà Nẵng. Hải Quân VNCH đi vòng đánh từ Bắc xuống, Hải Quân Trung Quốc bọc đánh từ phía Nam lên. Hải Quân VNCH thua, Trung Quốc chiếm giữ đảo và giam giữ một số tù binh nhưng đối xử tử tế và sau đó thả cho về. Sự việc xẩy ra chỉ hai ngày sau khi Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger gặp những nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Mỹ không lên tiếng và Hải Quân Mỹ đang tuần tra trong vùng khi xảy ra tranh chấp đã phớt lờ không can thiệp, bênh vực Hải Quân VNCH, nhưng điều kinh ngạc và nổi bật nhất là chính quyền Hà Nội đã không có một lời phản kháng. Nếu Hà Nội tự nhận là đại diện hợp pháp cho Việt Nam và nếu họ còn cho là Hoàng Sa là của Việt Nam thì trên phương diện pháp lý họ phải lên tiếng phản đối Trung Quốc xâm lăng và xác nhận chủ quyền khi một cuộc tranh chấp như thế xẩy ra. Cũng trong thời gian này, Trung Quốc, Việt Nam Cộng Hòa, Malaysia, Philippine, Brunei lên tiếng đòi chủ quyền quần đảo Trường Sa ngang ngoài khơi Vũng Tàu.

    - Từ năm 1975 đến cuối năm 1978, biên giới Việt Nam - Campuchia triền miên rối loạn. Ðầu năm 1979 Việt Nam tiến quân sang Campuchia.

    Trung Quốc liền ra tay đánh vào biên giới phía Bắc của Việt Nam, nói là trừng phạt dậy cho Việt Nam một bài học, Trung Quốc coi vùng mà trước đây Hà Nội giao cho họ nhờ bảo đảm an toàn dùm là phần đất của họ.

    - 1991 Việt Nam và Trung Quốc nối lại quan hệ ngoại giao. Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển được đặt ra thương thảo lại, nhưng khi ngồi vào bàn hội nghị, Việt Nam bị thất thế vì Trung Quốc đưa ra những văn kiện ký kết năm 1958 giữa hai chính phủ và hai đảng và vì đã không lên tiếng xác nhận chủ quyền ở Hoàng Sa khi xảy ra cuộc tranh chấp năm 1974 giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa. Hà Nội muốn trở lại đường biên giới ký kết giữa Pháp và triều đình Mãn Thanh, nhưng Bắc Kinh bác, bắt phải dựa trên những ký kết với nhau trong quá khứ, lấy lý do là hai đảng vẫn còn hiện hữu mà lại đang nắm chính quyền, không có chuyện công nhận những việc mà phong kiến và thực dân thiết lập. Phía Việt Nam đuối lý, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, nhượng bộ hoàn toàn những đòi hỏi của Trung Quốc, mất gần 1000 km2 trên vùng biên giới phía Bắc. Thua me gỡ bài cào, Hà Nội dở trò tiểu bá lấn chiếm biên giới Lào và Campuchia. Phiá Lào và Campuchia muốn trở lại đường biên giới mà Pháp vẽ năm 1895, nhưng Việt Nam lại bác bỏ, chỉ muốn dựa trên cột mốc mới ấn định bởi một vài văn kiện do Hà Nội ép Lào và Campuchia ký hồi gần đây, lưu manh hơn nữa là Hà Nội đưa dân đến lập nghiệp chiếm cứ những vùng đất ăn gian. Hiện nhân dân Lào và Campuchia rất phẫn uất về vụ nàỵ

    Cuối năm nay 2001, Quốc Hội bù nhìn Việt Nam mới lén lút thông qua hiệp ước về biên giới Việt Trung. Không một người dân nào được biết rõ nội dung của bản hiệp ước này, Hà Nội chỉ loan báo vắn tắt là hai bên sẽ cắm mốc biên giới vào đầu năm 2002. Chúng ta đòi hỏi nhà cầm quyền Hà Nội phải công bố đầy đủ chi tiết về bản hiệp ưóc biên giới này và chúng ta sẽ không công nhận bất cứ nhượng bộ nào về đất đai cho ngoại bang.

    Vấn đề Hoàng Sa & Trường Sa

    Nhờ những tiến bộ về khoa học nhất là trong phạm vi kỹ thuật vi điện tử nhân loại đã bắt đầu có thể khai thác tài nguyên ở dưới đáy biển. Lục địa chỉ chiếm có 29% diện tích của trái đất và nguồn tài nguyên đã cạn vì bị khai thác dòng dã qua bao nhiêu thế kỷ trong khi đó biển cả chiếm đến 71% mà tài nguyên phong phú còn nguyên vẹn chưa từng bị khai thác vì không có kỹ thuật. Do đó, lục địa không còn là miếng mồi ngon cho các siêu cường tranh chấp nữa, mục tiêu béo bở bây giờ là đáy biển. Trước đây, khi sức mạnh chi phối thế giới là quân sự, một số các hòn đảo được coi là quan yếu vì là vị trí chiến lược giúp cho vấn đề hành quân. Nhưng nay sức mạnh chi phối thế giới đang chuyển dần sang kinh tế, một số những hòn đảo khác đột nhiên trở thành quan trọng vì có liên quan trực tiếp đến bản đồ tài nguyên dưới đáy biển. Hoàng Sa và nhất là Trường Sa nằm trong trường hợp nàỵ

    Chính vì vậy mà qua bao nhiêu thế kỷ không có những tranh chấp đáng kể gì về hai quần đảo này nhưng đùng một lúc vào năm 1974 nhiều nước đã nhao nhao lên đòi chủ quyền về hai quần đảo nàỵ

    Vấn đề khai thác đáy biển dẫn đến vấn đề phân chia tài nguyên dưới đáy biển. Chắc chắn các siêu cường nắm kỹ thuật cao muốn soạn thảo các luật có lợi cho mình. Ðã có đề nghị: Ðáy biển sâu hơn 200 m thuộc về tất cả các nước. Xuống sâu hơn 200m ai có kỹ thuật khai thác tài nguyên kiếm được sẽ thuộc về người đó. Ai cũng hiểu là chỉ có các siêu cường giầu có mới có đủ điều kiện và kỹ thuật để làm.

    Vấn đề khai thác lòng biển và đáy biển sẽ còn nhiều tranh cãi và tranh chấp. Một số nước đã đơn phương tuyên bố thềm lục địa thuộc về quốc gia họ dài tới 200 hải lý, hải phận nước này chồng nên hải phận nước kia gây nên tranh chấp liên quan đến nhiều quốc giạ Các nước giầu thực sự quan tâm đến phạm vi rộng lớn hơn nhiều đó là khai thác tài nguyên sâu trong lòng đáy biển ở trong hải phận quốc tế. Ðối với các đảo mà chủ quyền không rõ ràng có nhiều nước tranh chấp, họ có chiều hướng ủng hộ quốc tế hóa những đảo đó, nhằm có bảo đảm về an ninh và không bị quốc hưũ hóa trong khi khai thác. Vì lợi nhuận nhiều, họ sẵn sàng trả tiền thuê cao, các quốc gia tranh chấp sẽ chia nhau theo một thỏa thuận nào đó.

    Lập trường của dân tộc ta

    Chúng tôi quan niệm rằng, đất nước Việt Nam là của chung cho mọi người dân Việt Nam, tất cả mọi công dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước đều có bổn phận bảo vệ lãnh thổ, tài nguyên của Việt Nam do tiền nhân đã dày công để lạị Không ai được độc quyền yêu nước và cũng không một ai, một đoàn thể hay đảng phái nào trong bất cứ hoàn cảnh nào có thể nhân danh dân tộc Việt Nam ký kết những văn kiện bán nước cho ngoại bang. Trên căn bản đó, chúng tôi đề nghị :

    Về vấn đề biên giới trên bộ

    Nhân dân ta không bị ràng buộc bởi hiệp định phân định đường biên giới trên bộ mới ký kết năm 2001 giữa Hà Nội và Bắc Kinh và cũng sẽ không công nhận cột mốc sắp cắm mà chỉ coi đây như một bước sai lầm đâm lao phải theo lao của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam, đặt quyền lợi của đảng trên quyêấĨn lợi tổ quốc, dâng đất để được Trung Quốc ủng hộ, hy vọng được tiếp tục ngồi lại thống trị nhân dân ta. Nhân dân ta không coi những thỏa thuận ngầm giữa Hà Nội và Bắc Kinh là có giá trị, toàn bộ vấn đề biên giới trên bộ phải trở lại bản đồ do Pháp vẽ năm 1895 cho cả ba biên giới tiếp giáp Trung Quốc, Lào và Campuchia. Sở dĩ chúng tôi đề nghị dùng bản đồ này vì đây là bản đồ đầu tiên được vẽ một cách khoa học và vô tư bởi các chuyên viên về địa dư của Pháp. Chỉ có dùng bản đồ biên giới do Pháp vẽ chúng ta mới hy vọng tránh khỏi những tranh chấp triền miên và tạo đuợc một nền hòa bình vĩnh cửu cho bán đảo Ðông Dương. Nhân dân ta cũng tố cáo trước dư luận trong nước và quốc tế sự hèn hạ của tập đoàn Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam để mất đất tổ tiên để lại cho Trung Quốc nhưng lại đi hiếp đáp chiếm đất của Lào và Campuchia.

    Về vấn đề hải đảo

    Nhân dân ta muốn giải quyết hòa bình những tranh chấp về các hải đảo dựa trên:

    - Luận cứ các bên đưa ra dính đến sự hiện diện từ xưa trên đảo.
    - Nằm nhiều ít trên thềm lục địa.
    - Luật biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982.
    - Bảo đảm quyền lợi và an ninh cho giới khai thác tài nguyên đáy biển.

    Ðiều cần nêu lên ở đây là các cường quốc muốn quốc tế hóa các hải đảo đang tranh chấp để khai thác kinh tế với quy chế hư chủ, nghĩa là các nước đang tranh chấp là chủ nhưng không được có các hoạt động quân sự và không có quyền quốc hữu hóa ngược lại họ có quyền tham gia vào các cuộc thương thảo trong việc khai thác vùng biển xung quanh các đảo này và chia lợi nhuận. Chúng ta cần nắm vững điểm này để bảo vệ quyền lợi đất nước trong những cuộc thương thảo tương lai về quy chế của các đảo nàỵ

    Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế
    (Cao Trào Nhân Bản Việt Nam)

    Chuyện khó tin, nhưng có thật (!?)

    Trang Đầu » Trung Quốc, Đảng CSVN

    Trung Quốc hối thúc Việt Nam thực sự tôn trọng chủ quyền – quyền lợi và quyền cai quản của Trung Quốc

    (Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/33889 )

    Không có lý do gì mà không tin vào nội dung của bài báo ngắn sau đây đăng trên trang web của Đài phát thanh quốc tế CRI – Trung Quốc, vốn có tôn chỉ, theo tuyên bố của chính đài này là “tăng thêm sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc với nhân dân các nước trên thế giới”. Chỉ xin góp ý một chút về lỗi dùng từ: Trung Quốc không phải hối thúc, mà là ra lệnh Việt Nam phải thực sự tôn trọng “chủ quyền – quyền lợi và quyền cai quản” của nước đàn anh “bốn tốt, 16 chữ vàng”.
    Cần nhó tuyên bố của Hồng Lỗi “hối thúc” Việt Nam là vào ngày 27/2, đúng ngày Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn hội đàm với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân, mà nội dung quan trọng là về “quan hệ song phương và vấn đề biên giới lãnh thổ.” Phía Việt Nam thì công khai thông báo cho toàn dân rằng trong cuộc hội đàm đó, “Hai bên nhất trí quán triệt thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước cũng như các thỏa thuận liên quan, duy trì các chuyến thăm cấp cao, đi sâu hợp tác trên các lĩnh vực, xử lý thỏa đáng những vấn đề tồn tại, đưa quan hệ hai nước tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực và thế giới.” Như thế, Việt Nam “nhất trí” cho Trung Quốc có chủ quyền, có quyền lợi, có quyền cai quản Trường Sa và Hoàng Sa ư? Rất khó tin. Nhưng trong thời đại Internet, nói năng theo cái cung cách tránh né, che mắt dân của Bộ Ngoại giao Việt Nam trong so sánh với thái độ của phía Trung Quốc, chỉ đưa đến một kết quả: người dân thấy nhục nhã về sự ươn hèn của người đại diện đất nước!

    Bauxite Việt Nam

    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố "Trung Quốc luôn cam kết gìn giữ hòa bình và ổn định tại biển Đông".

    Hình: AFP

    Theo tin trang web Bộ Ngoại giao Trung Quốc: Khi trả lời câu hỏi của phóng viên trong buổi họp báo thường kỳ diễn ra ngày 27/2, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói, Trung Quốc hối thúc Việt Nam thực sự tôn trọng chủ quyền, quyền lợi và quyền cai quản của Trung Quốc.

    Có phóng viên hỏi: Trước việc Trung Quốc tiến hành nghiên cứu hải dương trên vùng biển hữu quan, quan chức Việt Nam trong bài phát biểu mới yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hoạt động đe dọa tới chủ quyền lãnh thổ của quần đảo Tây Sa và Nam Sa Việt Nam, Trung Quốc có sự phản ứng gì?

    Người phát ngôn Hồng Lỗi nói, Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hòn đảo Nam Hải và vùng biển xung quanh. Trung Quốc tiến hành hoạt động xây dựng bình thường và triển khai bất cứ hoạt động gì trên quần đảo Tây Sa hoàn toàn là công việc trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc hoàn toàn không thể chấp nhận cách nói của Việt Nam. Trung Quốc hối thúc Việt Nam thực sự tôn trọng chủ quyền, quyền lợi và quyền cai quản của Trung Quốc.

    Nguồn: http://vietnamese.cri.cn/421/2012/02/28/1s168863.htm

    Ông Lê Công Phụng lưỡi hơi bị cứng

    Bùi Tín

    (Nguồn: http://radiochantroimoi.wordpress.com/2008/11/14/ong-le-cong-ph%E1%BB%A5ng-l%C6%B0%E1%BB%A1i-h%C6%A1i-b%E1%BB%8B-c%E1%BB%A9ng/ )

    Ông Lê Công Phụng từng là trưởng ban đàm phán về biên giới của Việt nam những năm 1996 đến 2.000; ông cũng từng là trưởng ban biên giới , là thứ trưởng ngoại giao, nay là đại sứ Việt nam tại Hoa kỳ.

    Tháng 10 vừa qua ông đã trả lời phỏng vấn của nhà báo Lý Kiến Trúc, tạp chí Văn hoá ở Nam Cali (Hoa kỳ), nói về 2 Hiệp định Việt – Trung về biên giới : Hiệp định 30-12-1999 (trên bộ) và Hiệp định 25-12-2.000 (về Vịnh Bắc bộ). Mục đích của ông Phụng là thanh minh rằng 2 hiệp định ấy rất công bằng, bình đẳng, hợp lẽ, hợp luật quốc tế, phía Việt nam không hớ, không bị ép, không thua thiệt gì cả .

    Là người theo dõi tình hình, tôi đã gửi đến ông Lý Kiến Trúc và ông Lê Công Phụng 7 câu hỏi, để yêu cầu ông Phụng trả lời, – trả lời riêng hay chung thì tuỳ ông – , nhằm soi sáng công luận trong và ngoài nước về một vấn đề cực kỳ hệ trọng của đất nước.

    Ngay sau đó, nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn ở Marseille (Pháp), tác giả cuốn sách “Biên giới Việt – Trung, 1885 – 2000 ” – 856 trang, đã lên tiếng chứng minh rằng ông Phụng đã nói không đúng sự thật, nghĩa là sai, nói dối, đặc biệt về các khu vực Ải Nam Quan, thác Bản Dốc, vùng Bằng Tường, Quảng Ninh, Hà Giang và Vịnh Bác bộ…

    Ông Phụng im thin thít, cho đến nay. Ông có thể trả lời riêng, hoặc gửi báo Văn hoá của ông Lý Kiến Trúc, hoặc qua một tờ báo ở trong nước, hoặc qua mạng thông tin internet của Bô ngoại giao.

    Tôi không hỏi ông Phụng về một địa danh cụ thể nào. Tôi chỉ hỏi ông về một số nét không bình thường, khác lạ và yêu cầu ông giải thích sao cho hợp lý, trôi chảy.

    Đây không phải những vướng mắc riêng, mà là của khá đông bạn bè tôi. Xin nhắc lại vài câu hỏi để bà con ta cùng biết.

    Biên giới Việt-Trung theo hiệp định 1999

    Hình: Biên giới Việt-Trung theo hiệp định 1999

    * Trước hết, tại sao từ khi đàm phán (năm 1992) đến khi kết thúc (năm 2000), không thông báo cho nhân dân, cho dư luận biết về quá trình đàm phán diễn ra, như hồi đàm phán Việt – Mỹ (1968 – 1973) : công khai hoá mỗi buổi họp, ai tham gia, đề tài tranh cãi, thông báo về từng phiên họp, từng buổi tiến triển ra sao …; tại sao cũng không báo cáo cho Quốc hội, hay cho Ban thường trực quốc hội ? Sau khi ký đến 6 tháng mới báo cáo cho quốc hội (ngày 9-6-2000), mà báo cáo quá sơ sài, không có thảo luận, chất vấn gì cả, đối với một vấn đề hệ trọng đến vậy? Ông suy nghĩ ra sao về tình hình như thế ? Nó không bình thường ở chỗ không công khai, như có nhiều điều khuất tất, cần che dấu nhân dân, không tận dụng sức ép của công luận, của dư luận của thế giới.

    * Tại sao 2 hiệp định đều ký vào những ngày cuối cùng của năm (30/12 và 25/12) , và cứ vào mỗi giữa năm phía Trung quốc đều nhắc rằng “lãnh đạo cao nhất của 2 đảng đã thoả thuận sẽ ký xong trước khi năm nay kết thúc”. Đó là sức ép ghê gớm. Họ ép tổng bí thư phía Việt nam phải hứa, lấy đó ép đoàn đàm phán. Có ai đi đàm phán lại bị động, để đối phương ép thời hạn buộc phải thoả thuận có lợi cho họ như thế !

    * Vì sao các tập bản đồ chi tiết tỷ lệ 1/25.000 được ghi nhận là “bộ phận cấu thành của hiệp định” lại không được công bố, bị dấu kỹ đến nay ? Viện lý do bản đồ lớn quá, in không hết được, là không ổn, vì có thể phổ biến trên mạng internet, tỷ lệ mấy cũng đủ. Cuối năm nay, 2 bên sẽ đặt xong hơn 2 ngàn cột mốc dọc 1400 km biên giới, sẽ ký Hiệp định thư kết thúc việc cắm mốc, kèm theo bản đồ chi tiết tỷ lệ 1/5.000, phía Việt nam có ý định công bố cho nhân dân biết tập bản đồ biên giới cực kỳ chi tiết này hay không ?

    * Về phân chia Vịnh Bắc bộ, ông Phụng có biết khi tranh cãi chủ quyền của một vịnh, đã có những tiêu chuẩn và kinh nghiệm là : – số dân mỗi bên sinh sống nhờ vào vịnh là bao nhiêu ? ( số dân Việt nam ở đông Bắc bộ và bắc Trung bộ là 24 triệu, số dân ở phía Tây đảo Hải Nam và bán đảo Lôi châu chỉ có 8 triệu, nghĩa là 3/1); – chiều dài đường cơ sở ven bờ biển và ven các đảo (Việt nam có hàng ngàn đảo, Trung quốc chỉ có 4 đảo, đường cơ sở phía Việt nam gấp hàng trăm lần phía Trung quốc ); – số sông mỗi bên với tổng lưu lượng nước chảy hàng năm cùng tổng số phù sa đóng góp vào hình thành Vịnh của mỗi bên : phía Việt nam có hơn 20 con sông lớn nhỏ, các sông Hồng, Lô, Đà, Thương, Đáy, Mã, Chu, Lam, Gianh… trong khi Trung quốc chỉ có 2 con sông nhỏ, về lượng nước và phù sa, phía ta gấp hàng chục lần Trung quốc. Ta có đòi 3/4 diện tích Vịnh Bắc bộ cũng là thoả đáng.

    Trong khi chờ lưỡi ông Phụng khỏi cứng, xin kể chuyến đi thăm thác Bản Dốc do Sứ quán Tàu ở Hànội tổ chức, mời phóng viên các báo, quan chức vụ báo chí bộ thông tin truyền thông và bộ ngoại giao Hànội, được nhà báo Điếu Cày và cô phóng viên Nụ kể lại rất sinh động.

    Đoàn xe sang trọng, từ Hànội, qua Bằng tường đi sâu sang đất Quảng Tây rồi quay lại phía Nam, ghé thăm đệ nhất Hùng Quan ở Phương Nam, một thắng cảnh giá trị và ăn khách du lịch bậc nhất ở phía Nam, với khách sạn 3 tầng, nhà nghỉ hiện đại mái đỏ như son, bãi xe rộng lớn. Các phóng viên Việt nam sững sờ, ngỡ ngàng, khám phá ra chuyện lạ: đây chính là khu Bản Dốc của Việt nam ta đã bị lấn chiếm và chính thức hoá bằng Hiệp định 25-12-2000. Các bạn cay đắng nói với nhau :

    “Ôi ! thì ra mình được họ rước về thăm ngôi nhà của… chính mình !”. Không biết nên cười hay khóc ! Các quan chức bộ thông tin vẫn hý hửng một cách lỳ lợm, còn lườm nguýt bộ hạ : “Cấm nói với nhau bằng tiếng Việt, các đồng chí bạn giỏi tiếng Việt lắm đấy, nghe không !”.

    Xin hỏi ông Phụng : ông nghĩ gì về sự kiện chủ nhà được mời về thăm ngôi nhà của chính mình ? Và ông biết chăng, nhà báo Điếu Cày đang nằm trong tù một phần do dám khóc trước sự kiện kỳ quặc này đấy.

    Bùi Tín
    Paris 14-11-2008.
    —-
    Mời quí vị tìm đọc thêm vấn đề biên giới qua 2 cuốn sách do Nhà xuất bản Sự Thật phát hành tại Hà nội năm 1979:
    - Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua.
    - Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    Hãy cảnh giác với Bắc Triều.

    Lê Chí Quang

    (Theo Web VN Đi Tới - http://www.shcd.de/)

    Thứ tư ngày 5/9/2001, một ngày đầu thu, trời nắng nhẹ, không khí dịu mát như thể ủng hộ học sinh trong ngày khai giảng năm học mới. Nhưng ngược lại với thời tiết, một bầu không khí chính trị oi nồng, gay gắt đã xuất hiện ngay từ sàng sớm. Từ các cơ quan bảo vệ pháp luật, từng đoàn xe đặc chủng, ôtô, mô tô, nối đuôi nhau toả về mọi ngóc ngách của thành phố, trong một chiến dịch vây bắt những người dân chủ tại Hà Nội, chỉ vì họ ngây thơ dám xin thành lập hội: "Nhân dân Việt Nam ủng hộ Ðảng và nhà nước chống tham nhũng"( Hội này do hai ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê xin thành lập ngày 2/9/2001) . 6 giờ 30 phút sáng. Tốp CA đầu tiên ập vào nhà ông Ðại tá Phạm Quế Dương, khi ông còn chưa ngủ dậy. Họ áp giải ông đi lên CA. Nhà ông bị lục soát, một số đĩa mềm máy tính bị lấy mất và họ còn cho ém khoảng 10 CA tại nhà ông để phục tất cả những người đến chơi nhà ông hôm đó; 8 giờ sáng, một tốp CA ập vào nhà ông Hoàng Minh Chính, và ông cũng bị đưa lên CA. 9 giờ 15 phút, ông Trần Khuê và bạn ông là bà Nguyễn Thị Thanh Xuân cũng chung số phận, sau đó họ bị chục xuất về TP HCM. 9 giờ 30 phút, Nguyễn Vũ Bình từ nhà tôi đến chơi nhà ông Chính cũng bị triệu tập lên CA. 14 giờ 20 chiều cùng ngày đến lượt tôi, cũng vinh dự được xe đặc chủng của CA ghé tận cổng, đưa lên CA quận Ðống Ða. Tất cả những người trên, trong giấy triệu tập của CA đều ghi rõ : "...Hỏi việc có hoạt động liên quan đến an ninh quốc gia".

    Cả thẩy những người bị triệu tập và được mời lên CA để làm việc trong ngày hôm đó, và những ngày tiếp theo là khoảng 20 người. Những người được mời là người thân trong gia đình hoặc bạn bè đến thăm những người có tên nêu trên. Họ được mời dưới hình thức, CA viết giấy ngay tại chỗ, hoặc đến tận nhà, và nếu không đi thì lập tức họ bị áp giải ngay. Cũng trong ngày hôm đó điện thoại ngà các ông Hoàng Minh Chinh, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Nguyễn Ðắc Kính, Trần Dũng Tiến, Và Nguyễn Vũ Bình bị cắt. Ngày thứ tư 5/9 được gọi là ngày thứ tư đỏ.

    Tại sao cơ quan CA lại phải huy động một chiến dịch rộng lớn nhất từ trước đến nay để câu lưu những người chủ trương thành lập và tham gia "Hội chống tham nhũng". Việc làm này, trước tiên xét dưới góc độ pháp lý, thì đây là việc làm trắng trợn vi phạm pháp luật VN, cụ thể là: Xâm phạm quyền tự do lập hội của công dân, theo điều 69 của Hiến Pháp, điểu 123 và 129 của bộ luật Hình sự, ( Tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân), đã vi phạm công ước về nhân quyền mà VN đã tham gia ký kết ngày 24/9/1982.

    Nếu chống tham nhũng là hợp ý Ðảng, lòng dân, đúng chủ trương của Ðảng và nhà nước, thì tại sao cơ quan CA lại cho câu lưu họ ?. Hay là vì những người này là những người dân chủ tiến bộ, đã có nhiều bài viết công khai góp ý, phê phán nhiều đường lối sai làm của Ðảng và nhà nước, mà bị CA cho là bọn diến biến hoà bình nên đã liệt kê họ trong sổ đen...!

    Tại sao xin thành lập Hội để "giúp Ðảng và nhà nước chống tham nhũng" và "không hoạt động chính trị" mà lại bị CA đàn áp dữ dội như vậy ?. Xin hãy nghe ý kiến của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, trả lời phỏng vấn đài RFI hôm 10/9 ta sẽ thấy rõ:

    Thứ nhất: Ðây là việc làm của những lực lượng bảo thủ trong nội bộ Ðảng muốn dằn mặt tân Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, và những gương mặt trẻ chung sáng suốt và tiến bộ trong Bộ chính trị là chớ có tìm cách thoát ra khỏi ảnh hưởng của họ.

    Thứ hai: Việc làm này nhằm phá hoại Hiệp định thương mại Việt Mỹ, phá hoại quan hệ Việt-Mỹ và làm xấu mặt VN trên trường quốc tế để thế giới tẩy chay VN hòng làm VN chui vào ống tayáo của TQ.

    Thứ ba: Họ (tức những người chủ trương thành lập hội chống tham nhũng) hơi ngây thơ khi thành lập hội vì chống tham nhũng là chống ai? Là chống lại những kẻ lợi dụng Ðảng để tham nhũng và vơ vét là chống lại họ, làm quyền lực của họ có thể bị lung lay nên họ phải ra taymột cách hoảng hốt. Ðảng kêu gọi chống tham nhũng là để mỵ dân thôi, một khi, có một tổ chức thực sự muốn chống tham nhũng, thì họ sẽ đàn áp ngay.

    Những nhận xét, phân tích trên của Tiến sỹ Thanh Giang là hoàn toàn chính xác. Riêng đối với luận thuyết thứ 2 theo suy đoán của tôi là có một thế lực đen tối đứng đằng sau chỉ đạo và dật giây, đó là chính quyền Bắc Kinh. Họ đang chỉ huy các thế lực tay sai được cài sâu trong nội bộ Ðảng, nhằm không chỉ phá hoại quan hệ Việt- Mỹ, mà còn làm cản trở sự hội nhập của VN vào nền kinh tế thế giới, làm chúng ta khủng hoảng trầm trọng, phá sản về kinh tế, từ đấyTQ dễ bề nô dịch rồi thôn tính VN.

    Những mưu đồ của Trung Quốc.

    Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chủ yếu gắn liền với công cuộc chống xâm lăng và mưu đồ đồng hoá của Bắc Triều. Từ hàng nghìn đời nay, không một thế kỷ nào, không một triều đại nào mà TQ không tìm cách đô hộ VN. Ngay cả khi mà tình đoàn kết tưởng như keo sơn nhất, TQ vẫn tìm mọi cách thức để làm suy yếu nhằm mục đích thôn tích VN. Như chúng ta đều đã biết. Hiệp định Gơnevơ làm chia cắt hai miền Nam- Bắc 1954 là do Chu An Lai và Dalles thông đồng với nhau cùng xúi VN và Pháp ký. Sau đó TQ lại xúi ta mang quân đội vào Nam, gây nên cuộc nội chiến Nam-Bắc. Họ viện trợ từng viên đạn, gói lương khô, từng bộ quần áo cho ta để anh em một nhà đánh lẫn nhau, trong khi đó họ thu hồi Hồng Kông, Ma Cao họ lại không tốn một viên đạn... Nhân lúc anh em một nhà đánh nhau, lợi dụng lúc Miền Nam sơ hở, họ chiếm quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1973. Năm 1975 khi QÐ Miền Bắc đánh gần đến Sài Gòn thì tại Anh Quốc một vị Ðại Sứ TQ có đến gặp Ðại Sứ VNCH là Vương Văn Bắc hỏi rằng "...Có cần chúng tôi đưa Chí nguyện quân sang đánh HN để giúp VNCH không." (Hồi ký của Vương Văn Bắc-Từ toà Bạch ốc đến Dinh Ðộc Lập). Tại Cămpốt, sau năm 1975 họ xúi Khơ Me Ðỏ tàn sát đồng bào mình để một ngày nào đó họ đưa người TQ sang chiếm Cămpốt. Năm 1978 một quan chức ngoại giao TQ đã có lần ngỏ lời muốn mở con đường từ TQ qua VN sang Cămpốt chính là ý đồ đó. Việc này không thực hiện được khi ngày 15/1/1979 quân đội VN tiến vào giải phóng Nômpênh. Trong cơn tức tối ngày 17/2/1979 TQ mang quân xâm lược nước ta tại 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Rất may cho ta lúc đó ta được dư luận thế giới ung hộ, và nhất là Liên Xô. Ông Brêgiơnhép tuyên bố "Nhà cầm quyền TQ hãy dừmg tay lại nếu còn chưa muộn" Không thực hiện được ý đồ trên bộ, năm 1982 lợi dụng lúc ta suy yếu TQ cho Hải quân chiếm một phần quần đảo Trường Sa. Cũng từ đó quan hệ VN và TQ xấu đi. Ðến năm 1991 khi hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao và kinh tế thì cũng là lúc TQ chuyển sang ý đồ thôn tính VN bằng KT.

    Lịch sử xa xưa hễ cứ lúc nào các triều đại phong kiến VN suy yếu, là Phương Bắc, nhân cơ hội đó xâm chiếm nước ta. Nhưng những lúc đó bao giờ dân tộc ta cũng xuất hiện những Anh hùng dân tộc, phất cao nhọn cờ khởi nghĩa, cùng toàn thể dân tộc đánh đuổi ngoại xâm, thu hồi non sông về một cõi. Tên tuổi của họ sáng mãi ngọn lửa tranh đấu giải phóng dân tộc. Các triều đại phong kiến của ta chưa bao giờ ta phải mất một tấc đất nào cho TQ. Ngay cả những kẻ hèn nhát như Mặc Ðang Dung quỳ gối xin hàng, hay Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà cũng chưa giám dâng đất cho TQ. Thế mà giời đây, khi cộng đồng nhân loại đã văn minh hơn, "cá lớn không thể nuốt cá bé" dễ dàng như xưa thì ai đó lại can tâm cúi đầu xin dâng phần lãnh thổ, lãnh hải cho TQ để mong bán đất cầu vinh, mong sự bảo trợ cho quyền lãnh đạo độc tôn của mình. (Thàng 12/1999 VN và TQ thông qua Hiệp định biên giới trên bộ, và tháng 12/2000 thông qua HÐ Vịnh Bắc Bộ, làm thiệt hại cho nước ta khoảng 720 km2 trên bộ và 10% diện tích Vịnh Bắc Bộ, những diện tích mà ta bị mất tại vịnh Bắc Bộ, đều là những khu vực giàu tài nguyên hải sản, khí đốt và giàu mỏ ). Xưa kia Họ Mạc, họ Lê đã bị lịch sử lên án thì giờ đây những Mạc "Ðỏ", Lê "Ðỏ" đang bán nước, cầu vinh, lại đang được tung hô như những anh hùng dân tộc.

    Kể từ khi Liên Bang Xô Viết tan rã và giải thể, nước Nga suy yếu vì lâm vào khủng hoảng kinh tế, TQ tỏ rõ với thế giới muốn thay thế vị trí siêu cường của Nga trước đây để trở thành cực kia của thế giới và sẵn sàng đối đầu trực tiếp với Mỹ.

    Về Ngoại giao:

    Gây sức ép với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới để buộc họ phải công nhận Ðài Loan là một tỉnh của TQ. Liên minh và viện trợ cho các nước thuộc thế giới thứ 3 để gây ảnh hưởng với các nước này. Ðầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển nhất là những nước không có quan hệ thân thiện với Mỹ. Liên minh với các quốc giaTrung á thuộc Liên Xô cũ, bằng Hiệp ước Mậu dịch tự do Thượng Hải. Ðầu tư trực tiếp vào Lào, CămPốt. và một số các nước tại khu vực Nam á. Từ năm 2000-2001 TQ đầu tư hơn 200 triệu USD vào Cămpốt; Trong năm 2000 và 2001 TQ tiến hành hàng loạt các chuyến uý lạo tại các nước tại các nước Nam và Tây á như Lào, Căm pốt, Nê Pan, Miến Ðiện... Riêng trong một năm trở lại đây, tất cả các nhân vật hàng đầu của TQ như: Dang Trạch Dân; Trì Hạo Ðiền; Thạch Quảng Sinh; Lý Bằng đều đã đến thăm Cămpốt.

    Về Quân sự :

    Tăng cường khả năng quốc phòng, bằng việc hiện đại hoá lực lượng tên lửa hạt nhân. Phóng vệ tinh nhân tạo phục vụ mục đích do thám. Tự đóng tầu sân bay, tăng số lượng tàu ngầm hạt nhân, hiện đại hoá Hải quân, Không quân, và các hệ thống thông tin liên lạc phục vụ quân đội. Cấm bay tại eo biển đài loan. Củng cố và xây dựng các căn cứ tại các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa đã chiếm của VN, và thường xuyên cho tập trận tại khu vực này .Trong Năm 2001 TQ liên tục xâm phạm vào khu vực lãnh hải của Philipin và Nhật Bản. Và gần đây nhất TQ đã cho hạ thuỷ tại Biển Ðông 20 tầu tuẫn tiễu, nhằm bảo vệ những khu vực mà TQ đã chiếm của VN.

    Về Kinh Tế :

    Ðến nay Sau 15 năm đấu tranh, tháng 11/2001 TQ sẽ là thành viên chính thức của tổ chức thương mại TG, nó sẽ gây tác động to lớn đối với các nước Ðông Nam á , trong đó có VN.

    Hiện nay, những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của VN, cũng gần giống với TQ. Với trình độ công nghệ còn thấp, hàm lượng công nghệ chưa cao, chủ yếu là các mặt hàng tập chung nhiều lao động, như nông sản, giày dép, dệt may.... đang là những mặt hàng xuất khẩu chủ chốt và mang tính chiến lược của VN. Thị trường tiêu thụ những mặt hàng này là Nhật Bản, EU và một số nước trong khu vực. Tuy nhiên đây là một trong nhưng mảng mạnh của hàng xuất khẩu TQ. Sau khi ra nhập tổ chức WTO, với những lợi thế được ưu đãi về thuế quan, được bình đẳng trong giải quyết tranh chấp thương mại ... chắc chắn hàng hoá TQ với giá rẻ hơn nhiều lần sẽ chiếm uy thế cạnh tranh, để đánh bật sản phẩm cùng chủng loại của VN trên thị trường QT. dự tính kim ngạch trao đổi thương mại của TQ sẽ tăng mạnh từ 324 tỷ USD năm 1998 lên 600 tỷ USD năm 2005. Bên cạnh đó, TQ cũng phải mở cửa thị trường đối với các thành viên của WTO . Hàng rào thuế quan được nới lỏng, hàng nông sản của các nước phát triển với giá thành hạ, chất lượng cao, sẽ tràn vào TQ, tạo ra sức ép cạch tranh rất lớn đối với hàng nông sản của VN.

    Về vốn đầu tư nước ngoài:

    TQ sẽ cải tổ cơ cấu và cải tiến các thể chế tài chính, cho phù hợp với quy định của WTO, phải nới lỏng các quy chế đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, môi trường đầu tư sẽ được cải thiện, Ngày càng hấp dẫn và có tính cạch tranh hơn, như vậy các dòng vốn quốc tế sẽ chuyển mạnh sang TQ, thay vì VN và các nước khác. Dự tính vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ tăng từ 45 tỷ USD năm 1998 lên 100 tỷ USD năm 2005. Các thống kê về đầu tư QT cho thấy, riêng lượng vốn FDI do các nước phát triển đầu tư vào nhau đã chiếm tới 2/3 tổng số FDI toàn thế giới, còn các nước đang phát triển phải cạnh tranh nhau để được nhận 1/3 số còn lại. Nếu TQ thu hút được nhiều đầu tư hơn có nghĩa là cơ hội cho VN ta sẽ ít đi. Ðầu tư vào VN giảm liên tục trong năm nay cũng là vì lý do đó. Khủng hoảng KT tại Ðài Loan và Singapo Mã Lai, Hàn QUốc hiện nay là bởi các nguồn vốn ồ ạt chảy vào TQ, và hàng hoá của TQ có sức cạnh tranh mạnh với hàng hóa của hai nước trên.

    Một vài dự đoán

    Theo dự tính của Ngân Hàng thế giới WB đến năm 2010 TQ sẽ nuốt hết thặng dư nông nghiệp của toàn Châu Âu. bởi vậy mục tiêu có tính chiến lược và trước mắt là tiến xuống và làm suy yếu các nước ở phía nam trong số đó các VN. Việc xâm lấn 2 quần đảo của VN cũng là không ngoài mục đích đó. Năm 1997 đầu tư vào ÐNA của TQ chỉ chiếm 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài, đến nay đầu tư vào ÐNA của TQ đã chiếm 80% tổng vốn đầu tư nước ngoài. VN trong con mắt của TQ là một miếng mồi ngon Có vị trí chiến lược về địa chính trị, lại là miếng mồi dễ nuốt nhất vì được sự hậu thuẫn của các thế lực đen tối, bảo thủ, và tay sai luồn sâu leo cao trong bộ máy nhà nước.

    Theo dự tính của tôi, nếu VN không gia nhập được WTO vào 2006 tức là năm hiệp định AFTA có hiệu lực thì nền kinh tế VN sẽ phá sản, bởi những lý do sau:

    Ðầu tư nước ngoại vào VN trong mấy năm qua liên tục giảm, vì do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước trong khu vực. (TQ lại không nằm trong nhóm các nước này nên TQ không bị ảnh hưởng).
    TQ sẽ gia nhập WTO vào tháng 11 ngày. nên đã thu hút nhiều nguồn vốn hơn.

    Do sự mất giá của các đồng tiền của các nước trong khu vực, tạo lợi thế cạch tranh rất lớn đối với hàng xuất khẩu của các nước đó với VN.

    Nền Kinh tế VN hiện nay là một nền KT bong bóng với những chỉ số giá hàng tiêu dùng liên tục giảm (thiểu phát gia tăng vì cung đã vượt quá cầu), báo hiệu một nền kinh tế đang bị chững lại ,cái bong bóng có thể vỡ bất cứ lúc nào. Bởi bất cứ một nền kinh tế nào, có lạm phát thì mới có phát triển (lạm phát ở đây là mức lạm phát thấp, và có kiểm soát được, nó báo hiệu chỉ số cung không đủ cầu) Nông sản, cà fê, gạo, hoa quả xuất khẩu mấy năm nay bị rớt giá liên tục, thậm trí ta phải chặt bỏ 185 nghìn Ha cafe.

    Thử dạo qua hàng hoá tại thị trường VN ta sẽ thấy rõ, hàng hoá TQ, hoặc của TQ giả nhãn hiệu của các nước khác chiếm đến 60-70 % tại thị trường VN. Từ các đồ gia dụng đến các máy móc công nghiệp. Xe máy TQ tràn nập thị trường VN, văn hoá, phim ảnh TQ được quảng cáo không công trên các thương tiện tông tin đại chúng từ sáng tới tối.
    Ðến năm 2006 Hiệp định AFTA có hiêụ lực, hàng hoá của các nước trong khu vực sẽ ùa vào VN, vì các hàng rào thuế quan đã được gỡ bỏ, sẽ đánh bật các hàng hoá của VN ngay tại thị trường VN. Hàng hoá của chúng ta thông thường có giá cao hơn từ 5%-40% các mặt hàng cùng loại của các nước trong khu vực. Mà không chỉ hàng hoá của các nước trong khu vực, hàng hoá của các nước thứ ba, nhập cảng vào các nước ASEAN đóng gói và xuất sang VN miễn là có 40% định lượng được sản xuất tại nước đó cũng được miễn thuế Hải quan, vì đó là quy định của AFTA.

    Vào lúc đó hàng hoá của VN sẽ không xuất khẩu được sang các nước trong khu vực, cũng như sang các nước EU, hoặc Nhật Bản,bởi những lý do đã nêu trên. Công nhân sẽ mất việc làm, nông dân không bán được nông sản, các khu chế xuất sẽ giải thể....sinh viên ra trường sẽ thất nghiệp.

    Ðó chính là lúc TQ sẽ nhảy vào đầu tư, mua lại các công ty, các khu chế xuất, các nông trường, đồn điền.... toàn bộ nền KT của ta sẽ phụ thuộc rất nhiều vào TQ. Trong xã hội ngày nay, ai nắm quyền lực về KT, người đó sẽ nắm luôn quyền lực về chính trị (theo dự đoán của Ngân hàng TG đến năm 2005 lượng dự trữ ngoại tệ của TQ sẽ đạt 180 tỷ USD), TQ hoàn toàn có khả năng khống chế được nền kinh tế nước ta . Lúc đó ta sẽ trở thành một bang hay một tỉnh của TQ.

    Và lực lượng này đang tìm cách cho TQ tiếp cận thị trường VN. Gần đây nhất chúng ta được biết họ đã bật đèn xanh cho nhà thầu HISG chúng thầu sân vận động Mẽ Trì. Ðể mỵ dân và báo chí, họ cũng tạo ra một cuộc đấu thầu công khai, nhưng tất cả chỉ là một trò hề kệch cỡm, không đãnh lừa nổi ai. Một nhà thầu không đủ tư cách pháp nhân, cũng như các thủ tục đấu thầu cần thiết, và thiết kế thì chắp vá, thay đổi đến hàng chục lần mà vẫn không đạt yêu cầu nhưng vẫn được chúng thầu mặc dù báo chí và hội kiến trúc, hội xây dựng đã lên tiếng phản đối, nhưng chính ông Khải tuyên bố một câu xanh rờn: "...Ðấu thầu lại thì phức tạp lắm, cái nào rẻ thì cho làm...". Ðể xoa dịu báo chí và nhân dân Bộ chính trị và ban Tư Tương Văn Hoá TW đã cho họp các Tổng biên tập các báo và loan báo rằng: " Nhà thầu HISG là một công ty của Ban tài chính TW Ðảng CSTQ, đây là sự hợp tác của hai Ðảng anh em." Một tên Mafia TQ lại trở thành đồng chí của Ðảng thì cũng không có gì lạ cả, Hẳn nhiều người còn nhớ những kẻ dao búa như Khánh Trắng và chủ chứa như Lê Tân Cương cũng từng được họ giới thiệu là đồng chí rồi còn gì.... Gần đây nhân chuyến thăm của Lý Bằng hôm 7/9, họ lại bật đèn xanh cho một Cty của TQ khai thác quặng nhôm ở Ðắk-Lắk, và nhân hội nghị của EMM 3 tại HN, họ tìm cách đưa VN vào quỹ đạo của TQ bằng cách nâng kim ngạch buôn bán của hai nươc lên 5 tỷ USD vào năm 2005. Và theo nhiều nguồn tin thì TQ cũng đang mon men đến dự án thuỷ điện Sơn La của VN.

    Ðôi khi tôi cứ nghĩ không biết có phải người ta đang ngủ mơ hay không. Khi xưa, trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng, TQ đã từng lợi dụng việc giúp VN xây dựng đường xá và nhiều công trình XD khác họ đã bí mật cho đào hầm bí mật chứa vũ khí để một ngày tìm cách quay lại xâm lược VN. Giờ đây lại cho TQ vào những vùng có tính nhậy cảm như tại Tây Nguyên hay Sơn La, thì không hiểu họ còn nghĩ gì đến an ninh quốc gia hay không.

    Cách tốt nhất để kứu vãn nền kinh tế nước ta hiện nay là đưa VN sớm hội nhập vào nền KT thế giới và để thoát khỏi ảnh hưởng của TQ là: Tổng Thống Mỹ nhanh chóng thông qua Hiệp định thương mại Việt- Mỹ ( xin đưa 1 ví dụ :chỉ riêng lượng tôm mà VN xuất khẩu sang Mỹ hàng năm đạt 300 triệu USD) ,và VN sớm được gia nhập tổ chức thương mại thế giới., vì tại đó các doanh nghiệp VN có cơ hội mở rộng thị trường buôn bán được ưu đãi với 134 quốc gia, và cơ hội đầu tư nước ngoài vào VN sẽ rộng lớn hơn. Và người VN tại Hải ngoại nếu còn yêu dân tộc VN thì hãy trở về để XD đất nước.

    Ðương nhiên chính quyền Bắc kinh biết được những lợi ích đó nên họ luôn tìm cách phá hoại sự hội nhập của VN vào thế giới văn minh.

    Chính vì những lý do đó, khi biết được VN và Mỹ đàm phán để thông qua hiệp định thương mại Việt- Mỹ .TQ luôn luôn dật dây cho các lực lượng bảo thủ trong Ðảng trì hoãn việc ký kết và thông qua Hiệp định, và ở trong nước họ luôn luôn đật giây cho các thế lực tay sai đàn áp những người dân chủ.

    Cuộc vật lộn gay go

    Ngay trước chuyến thăm của Tổng Thống Clinton tới VN 11/2000. Trước đó, Chủ tich TQ là Giang Trạch Dân có lời mời cấp tốc ông Trần Ðức Lương sang TQ. để thăm dò thái độ của VN với Mỹ. Tại đây TQ đề nghị cho VN vay 53 triệu USD, trong đó chỉ phải trả lãi 1/3. Và TQ còn hứa sẽ cho VN vay tiếp 300 triệu USD với lãi xuất thấp. (một sự tử tế bất ngờ chưa từng sảy ra). Nhưng kèm theo đó, phía TQ muốn ta ký hiệp định Vịnh Bắc Bộ ngay sau khi Tổng thống Mỹ rời khỏi VN. Trước và sau chuyến thăm của TT Mỹ, ban TTVH TW đã cho họp Tổng biên tập các báo trí và loan báo rằng phải đăng ảnh của ông Clinton nhỏ hơn ảnh của ông Giang Trạch Dân đã từng được đăng trên báo trong chuyến thăm VN trước đây.

    Trước thềm Ðại hội Ðảng lần thứ IX một phái đoàn ngoại giao của TQ đã bí mật sang VN nằm để ủng hộ cho ông Phiêu được ở lại thêm 1 nhiệm kỳ nữa, vì họ nghĩ rằng họ Lê, là đồng minh của mình, nhưng sự việc không đơn giản như vậy:

    Lê Khả Phiêu, tuy là cánh tay phải của Lê Ðức Anh ở quân khu 9 và Căm pốt, nhưng trước khi được Lê Ðức Anh đặt vào chiếc ghế Tổng bí thư đó, Ông Phiêu, đã có thời làm trưởng ban kiểm tra TW. Trong thời gian này ông Phiêu được tiếp súc với nhiều hồ sơ mật, nên ông Phiêu đã có nhiều nhận thức về nhiều bộ mặt trong Ðảng. Ông đã nhiều lần gặp tướng Trần Ðộ, và ông Hoàng Minh Chính. Càng về thời gian cuối sau này, ông Phiêu càng bừng tỉnh và nhận thức được nhiều vấn đề. Nhất là sau khi ông bị các lực lượng tay sai dật giây để đàm phán ký các hiệp định bán nước đã nêu trên. Cuối cùng trong hội nghị trù bị ông đã đi nước cờ liều. Ðược sự ủng hộ của cánh quân đội cụ thể là Lê Thanh Ngân và Phạm Văn Trà, Ông đã quyết định tổ chức cuộc họp tại thành HN, (Phố Lý Nam Ðế) thay vì tại Hội trường Ba Ðình như các kỳ họp trước, và sử dụng lữ đoàn 144 là lữ đoàn tinh nguệ của QÐ để bảo vệ đại hội thay vì lực lượng cảnh vệ quốc gia của bộ CA như trước đây, để hòng gây sức ép với phe bảo thủ và tay sai trong Ðảng. Theo nhiều nguồn tin được tiết lộ từ thâm cung :Trong hội nghị đã có lúc ông Phiêu chỉ mặt LÐA và ÐM mà bảo rằng: " Các ông bảo tôi ngu, thế lúc các ông đặt tôi vào chiếc ghế này, sao các ông không bảo tôi ngu ...".

    Cuộc họp diễn ra rất căng thẳng, mà không đi đến ngã ngũ. Mà cũng bởi Ông Phiêu còn non gan nên không dám dùng QÐ để ra tay, nên phải mất 4 kỳ họp trù bị mới đi đến ngã ngũ. Ðến những ngày cuối cùng, không hiểu sao PVT, lại đứng về phe bảo thủ. Mất chố dựa vào QÐ, ông Phiêu như hổ mất nanh vuốt, đành đi đến thoả hiệp. Như chúng ta đã thấy, các vị cố vấn phải rút lui, ông Phiêu và ông Ngân cũng mất chức.

    Ông Nông Ðức Mạnh, một người thuộc phái chung dung, ôn hoà được bầu làm Tổng bí thư một cách đầy bất ngờ. Sau đại hội trù bị ông Phiêu đã chỉ mặt PVT mà bảo rằng: "Ðồ phản bội". Bởi thế PVT vẫn còn được giữ nguyên chức vụ, mặc dù trước đó đã bị Bộ Chính Trị cảnh cáo vì không làm tròn nhiệm vụ.

    Muốn kứu vãn tình thế, trong kỳ Ðại hội Ðảng đích thân Hồ Cẩm Ðào một nhân vật quan trọng thứ hai trong Ðảng CSTQ bay sang tận nơi để dự, nhưng sự việc đã ngã ngũ. Cứ nhìn bộ mặt của họ Hồ trong đại hội và khi ra về ta cũng thấy rõ.

    Trong một cuộc họp báo sau Ðại hội Ðảng, khi được hỏi về quan hệ Việt-Trung, ông Nông Ðức Mạnh có nhắc lại 16 chữ vàng " Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. ỏn định lâu dài. Hướng tới tương lai". Sau đó ông Mạnh có lời mời tới các nhà lãnh đạo TQ sang thăm VN. Lúc đầu phía TQ từ chối họ lấy cớ, khi nào ông Nông Ðức Mạnh sang TQ trước rồi họ mới sang VN sau ( khi xưa các vua chúa VN khi lên ngôi đều phải sang TQ báo công và xin được nhận làm chư hầu, ngày nay họ cũng muốn ông Nông Ðức Mạnh làm như vậy).

    Tuy nhiên ông Nông Ðức Mạnh không dễ đầu hàng ngay. Ông Mạnh đã đi nước cờ xuất Mã bằng chuyến thăm uý lạo đồng minh thân cận của VN là Lào, để cùng cố tình đoàn kết. Sau đó ông Mạnh ngồi chờ các nhà lãnh đạo TQ.

    Tuy bị mất những con át chủ bài nhưng những lực lượng tay sai còn được cài lại trong Ðảng vẫn còn khá đông .Sau kỳ Ðại hội Ðảng như muốn làm hài lòng các quan thầy tại TQ, và cũng muốn để ra uy với Tân Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh "ta vãn kiểm soát được tình hình" chỉ hai ngày sau Ðại Hội, họ cho tiến hành ngay việc bắt giam và khám nhà ông Vũ Cao Quận một con chim đầu đàn trong phong trào dân chủ tại Hải Phòng. Và về phần mình, chính quyền CSTQ tức tốc gửi những thông điệp đón chào tân Tổng bí thư bằng việc cấm tàu đánh cá của ta được hoạt động tại khu vực quanh đảo Hoàng Sa, và cho cấm biển để bắn đạn thật, nhằm mục đích ủng hộ lực lượng bảo thủ trong Ðảng và để cảnh cáo ông NÐM "chớ có tìm các thoát khỏi ảnh hưởng của họ.".
    Tiếp sau đó là hàng loạt các hành động đàn áp những tiếng nói dân chủ tại VN, như việc câu lưu Tướng Trần Ðộ lên CA, tịch thu tập bản thảo của Ông, cùng hàng loạt các vụ đàn áp tôn giáo như Nguyễn Văn Lý; Thích Quảng Ðộ; Thích Huyền Quang; Lê Quang Liêm;...

    Vụ Thứ tư đỏ xảy ra hôm 5/9/01 cuối cùng đã bóc trần bản chất của họ. Họ làm việc đó ngay khi Hạ Viện Mỹ đang họp để thông qua HÐTM. Họ không cần đến HÐTM Việt Mỹ nữa, vì họ đã có TQ rồi, và TQ sẽ giúp cho họ giữ mãi được địa vị thống trị. Họ làm việc đó như thế là để trải tấm thảm đỏ nhân quyền kiểu TQ để đón quan thầy của họ là Lý Bằng . Họ tưởng rằng làm như vậy là thực hiện được mưu đồ đó.

    Như đã nói ở trên ông Nông Ðức Mạnh là người ôn hoà sáng suốt và không bè phái nên ông không tiến hành thăm TQ ngay mà ngồi chờ TQ sang thăm VN. Không thể đợi được hơn, nhà cầm quyền TQ bèn xuống thang cử Chủ tịch QH Lý Bằng sang thăm VN. nhưng thực chất họ xuống thang theo kiểu Mao Trạch Ðông, "Lùi một bước để tiến ba bước" Chuyến thăm đó là để củng cố quan hệ KT Việt-Trung, nhưng thực chất là để lên dây cót tinh thần cho cỗ máy tay sai đã rệu rã và già nua phải chạy nhanh hơn nữa trong lòng TQ, và cũng để hà hơi tiếp sức cho các lực lượng đó chống phá những người yêu dân chủ tiến bộ tại VN, hòng làm mất uy tín của ông Nông Ðức Mạnh và các gương mặt trẻ trong Bộ Chính Trị, phá hoại khẩu hiệu Dân chủ, đoàn kết, đổi mới, phát triển vừa được đại hội thông qua. Cùng chuyến thăm này ta thấy có Lưu Bằng Bộ trưởng VH TQ. Lưu Bằng đã họp với ban Tư tưởng VH TW để rồi họ cùng đồng ca bản thánh ca đã lạc lõng với thế giới văn minh là ý thức hệ CSCN và định hướng XHCN.

    Trong nội bộ Ðảng hiện nay đang chia làm hai phe. Phe cấp tiến chủ yếu là những lực lượng trẻ, thông minh và sáng suốt muốn VN có quan hệ tốt đẹp với tất cảc các quốc gia kể cả Mỹ, còn phe kia là các lực lượng bảo thủ già nua vẫn chưa từ bỏ ý nghĩ "Mỹ là kẻ thù số một, và Mỹ vẫn chưa từ bỏ giã tâm xâm lược VN". Lực lượng này lại đang giữ một số vị trí quan trọng trong Ðảng và trong QÐ cho nên họ đã quyết định ngả sang TQ.

    Liệu một lần nữa dân tộc ta có lỗi hẹn với thế giới văn minh không ?.

    Liệu ông Nông Ðức Mạnh là người không bè phái, vây cánh không được QÐ ủng hộ, không hiểu Ông có đứng vững được trước làn sóng Phương Bắc này không ?.

    Liệu giờ đây 16 chữ vàng trong quan hệ Việt-Trung có thể trở thành câu thần chú của chiếc vòng kim cô dân chủ mang mầu sắc Thiên An Môn, có thể siết vào đầu hơn 76 triệu đồng bào VN không ?.

    Liệu dân tộc ta có phải chịu thêm một tầng áp bức, mới mà tầng áp bức này còn tàn khốc hơn tầng áp bức trước không ?.

    Thế đấy, cuộc vật lộn sẽ còn rất cam go. Chỉ mong sao Ban chấp hành Trung Ương mới với nhiều gương mặt trẻ trung hơn, học thức hơn, tỉnh táo hơn, hãy sáng suốt cảnh giác với Bắc Triều, đừng để cái hoạ nô dịch nghìn năm ngày nào lại oan nghiệt tròng vào cổ nhân dân ta một lần nữa... Hãy thức thời chủ động hội nhập vào thế giới tiên tiến, thực hiện chủ trương đề xuất của nhà trí thức yêu nước lỗi lạc Nguyễn thanh Giang : "Tựa vào sức nâng toàn cầu mà phát huy nội lực" , xây dựng đất nước dân chủ, giầu mạnh đủ sức tự cường dõng dạc tuyên bố:

    "... Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    nhữ đẳng hành khan thủ bại hư "

    Tôi viết bài này khi đang bị kìm kẹp trong vòng vây nghiệt ngã của các lực lượng bảo thủ và tay sai cho Bắc Triều. Biết rằng, bài viết này không làm cho hào quan lấp lãnh trên đầu tôi mà trái lại càng đẩy tôi lún sâu thêm vào vòng nguy hiểm. Ngay như đối với một công thần của cách mạng , mà họ còn ngang nhiên tuyên bố xanh rờn: "... Sẵn sàng hy sinh Hoàng Minh Chính để bảo vệ chế độ". Huống chi tôi chỉ là con tốt đen dễ dàng bị biến thành vật tế thần cho bàn thờ Bắc Triều. Dẫu sao trước hiểm hoạ khôn lường của tồn vong đất nước, tôi dám nề hà xả thân, bởi tôi tâm niệm câu nói của Hàn Phi Tử: : " Nước mất, mà không biết là bất tri; biết mà không lo liệu, là bất trung; lo liệu, mà không liều chết là bất dũng." Chỉ mong sao tấc lòng nhỏ mọn này, được lương tri dân tộc trong và ngoài nước soi thấu, và hết lòng, hết sức chỉ giáo.

    Hà Nội ngày 1/10/2001.

    Lê Chí Quang

    Ðịa chỉ 22 phố Trung Liệt ÐÐ. HN
    Ðiện thoại : 8.514000.

    (Theo Web VN Đi Tới - http://www.shcd.de/)

    Quan Điểm Của Nhà Văn Vũ Thư Hiên Trước Vấn Đề Hiệp Ước Biên Giới

    VŨ THƯ HIÊN

    Thứ bảy 28 tháng mười hai 2002

    (Theo Web Hội Đồng VN Bảo Toàn Đất Tổ)

    Xin ghi lại dưới đây một đoạn trong phần phát biểu của nhà văn Vũ Thư Hiên...

    ... Chuyện quan hệ giữa hai quốc gia Việt-Trung xưa nay vốn là chuyện phức tạp và tế nhị. Các triều đình Trung Quốc quen coi Việt Nam là một phiên quốc, nhưng khi Việt Nam là một nước độc lập, tự chủ thì họ không bao giờ từ bỏ tham vọng bành trướng, bá quyền. Nước ta là nước nhỏ và yếu, Trung Quốc là nước lớn và mạnh. Khỏe thì dùng sức, yếu thì dùng mưu là lẽ thường ở đời, không phải lúc nào cũng có thể dụng binh để đối phó với kẻ thường trực có manh tâm xâm lược. Ngay cả khi người anh hùng dân tộc Quang Trung đánh thắng quân Thanh rồi mà cũng vẫn phải nhún nhường xin vua nhà Thanh phong vương. Thế nhưng khi phái bộ của sứ thần nhà Thanh sang tới nước ta, vua Quang Trung rất biết cách đối phó. Vua nước ta không chịu đón tiếp ngay mà nói thác rằng mình đang bận việc ở phương Nam, xin phái bộ Tàu cứ ở bên kia sông Hồng cái đã, chờ nhà vua từ Nam ra rồi mới sửa quốc lễ trọng thể nghênh đón tại kinh thành. Phái bộ nhà Thanh chờ mãi, chắc hẳn phải sống trong điều kiện thiếu tiện nghi, lại còn bị muỗi cắn nữa, chịu không nổi, đành phải xin vào Thăng Long trước, nằm chờ ở công sứ quán vậy. Quang Trung thế là thắng một nước cờ ngoại giao trong sự giữ quốc thể. Phái bộ nhà Thanh xin nhà vua cống ba thớt voi, vua Quang Trung không đưa, nói rằng đàn voi chiến của nhà vua đang bận chiến trận ở xa, không kịp điều về. Theo sử chép, khi tấn công đồn Hà Hồi và Ngọc Hồi, Quang Trung dùng tới hai trăm thớt voi, ba con voi không phải là nhiều, nhưng không phải cứ nhà Thanh đòi gì thì mình phải chịu nấy. Trong chuyện nhỏ này ta lại thấy cái mưu lược và thái độ cứng cỏi của của Quang Trung. Người xưa như thế, người nay thế nào ?

    Bây giờ nước Việt ta không còn chế độ quân chủ, khi việc nước chỉ do một nhà vua quyết định. Đảng cộng sản xưng mình dân chủ, nhưng trong mọi việc liên quan tới quyền lợi quốc gia nhất nhất lấy mình làm trung tâm, coi mình ở bên trên dân tộc, ký hiệp định biên giới với Trung Quốc không cần bàn bạc với ai, thậm chí việc lớn như phân định lãnh thổ quốc gia với các nước láng giềng cũng không thèm đưa ra bàn bạc trong Quốc hội, đến nỗi những người được coi như dân bầu lên để thay mặt dân bàn việc nước cũng không biết, chỉ đưa một Ban thường vụ Quốc hội thông qua cho đủ lệ, là một cách hành xử vừa tùy tiện vừa khinh thường ý dân. Đến lúc thấy dân phản ứng mới đưa một anh thứ trưởng bộ ngoại giao thiếu học ra cãi chầy cãi cối. Tôi nói cãi chầy cãi cối là vì anh này nói "thác Bản Giốc ta tưởng là của ta, bạn cũng không nói là của bạn" đến lúc thấy có cọc mốc ở giữa dòng suối (có ai cắm cọc ở giữa dòng suối ?) đo ra mới biết ta chỉ được hưởng một phần ba thác, "nhưng bạn chiếu cố ta, cho ta hưởng một nửa". Cái cách phân định biên giới này trong một thế giới hiện đại nghe tức cười quá. Rồi lại nói nơi có dòng sông thì lấy nơi sâu nhất trên sông làm biên giới. Cứ như thể sông suối xưa nay không có hiện tượng bên lở bên bồi nhiều năm trở thành đổi dòng, xê dịch vị trí ở từng đoạn. Học thức như thế mà làm thứ trưởng Bộ Ngoại giao, lại còn được phụ trách việc biên giới thì lạ quá ! Lại nói chuyện sau khi ký lén lút với các ông Con Trời hiệp định biên giới thì Đảng Cộng Sản cho cán bộ đi giải thích trong nội bộ đảng (chỉ trong nội bộ đảng thôi, không cần cho nhân dân biết) rằng "ta phải ký như thế để chỗ nào nó lấy mất rồi thì đành cho nó, cắm mốc xong nó mới thôi không lấn thêm nữa". Đến khi người ta đặt câu hỏi: "Lấy gì bảo đảm rằng cắm mốc rồi thì nó không lấn nữa ?" thì cán bộ giải thích chịu không trả lời được.

    Nhân đây tôi xin nói một chuyện ngoài lề là: phụ họa với cách giải thích như thế, một tờ báo ở hải ngoại có đăng một bài viết, trong đó tác giả nói rằng trong câu chuyện điện thoại viễn liên với tướng Trần Độ thì được ông cho biết không có chuyện mất đất, bởi vì ông Lê Minh Nghĩa là người đã bị nhà nước bỏ tù trong vụ gọi là "nhóm xét lại chống Đảng" nói như thế, mà ông ấy là người có thể tin được. Từ bài báo này sinh ra tin đồn tướng Trần Độ rút chữ ký của mình ra khỏi một bản tuyên bố của nhiều người bất bình với sự ký kết lén lút hiệp định biên giới. Đến nỗi có nhiều người căm phẫn lên tiếng chửi tướng Trần Độ. Tôi có điện thoại về nói chuyện với tướng Trần Độ sau đó, khoảng hơn một tháng trước khi ông qua đời, Trần Độ bực lắm về chuyện này. Ông nói rằng người ta bịa, ông có nói đến ông Lê Minh Nghĩa, là người có thời làm Trưởng ban biên giới, đã không chịu lui một bước nào trước những đòi hỏi của Trung Quốc, ông Nghĩa chỉ đạt được một điều là tạm gác vấn đề về những điểm tranh chấp lại đó, chờ khi có hoàn cảnh thuận tiện sẽ bàn, và nên có sự tham gia của nước Pháp là một bên đã ký hiệp ước Pháp Thanh về biên giới, chứ ông Nghĩa đã về hưu từ chục năm trước rồi, có liên quan gì tới chuyện biên giới hôm nay...

    Tôi đến dự hội nghị này không phải với niềm tin nó sẽ có ngay những đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ đất đai của tổ tiên, mà để khẳng định rằng khi con dân nước Việt muốn có cùng nhau một tiếng nói chung để bảo vệ bờ cõi thì tôi có mặt...

    Nhà Văn Vũ Thư Hiên

    (Theo Web Hội Đồng VN Bảo Toàn Đất Tổ)

    Thác Bản Giốc của Việt Nam hay của Trung Quốc
    VOA phỏng vấn Mai Thái Lĩnh

    (Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com.au/2012/02/thac-ban-gioc-cua-viet-nam-hay-cua.html#more)

    Duy Ái (VOA) - Vấn đề chủ quyền Thác Bản Giốc lại được dư luận Việt Nam chú ý bàn tán hồi gần đây sau khi Chủ tịch Trương Tấn Sang đến thăm ngọn thác xinh đẹp ở biên giới Việt-Trung được cho là thác nước xuyên quốc gia lớn nhất Á châu. Báo chí Việt Nam hồi tuần qua cũng cho biết Hà Nội và Bắc Kinh đang thương thảo để đạt được Hiệp định về khai thác tiềm năng du lịch khu vực Thác Bản Giốc. Trong nhiều năm qua chính phủ ở Hà Nội cho rằng Việt Nam lẽ ra chỉ có chủ quyền đối với một phần ba Thác Bản Giốc nhưng nhờ thương thuyết nên Trung Quốc nhượng bộ và giờ đây Việt Nam được phân nửa. Tuy nhiên, những người chỉ trích nói rằng Thác Bản Giốc trước đây được coi là thác riêng của Việt Nam. Mời quí thính giả theo dõi thêm chi tiết qua cuộc phỏng vấn nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh sau đây.

    Hình: Thác Bản Giốc - Wikimedia commons - Mike Williams

    VOA: Thưa ông, chắc ông cũng biết là trong chuyến viếng thăm Trung Quốc mới đây, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh có đề cập tới ý định thương thuyết với Trung Quốc để ký kết hiệp định về khai thác tiềm năng du lịch Thác Bản Giốc. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hồi đầu tháng 12 vừa qua cũng đã đến thị sát Cao Bằng và đi thăm Thác Bản Giốc. Với tư cách là một người bỏ công nghiên cứu rất nhiều về vấn đề chủ quyền Thác Bản Giốc xin ông cho thính giả của VOA được biết sơ qua về tình hình hiện nay ở khu vực này?

    Ông Mai Thái Lĩnh: Qua thông tin của báo chí trong nước, trong những năm gần đây và mãi cho tới ngày nay việc khai thác du lịch ở Thác Bản Giốc có một sự mất cân bằng giữa hai bên. Phía Trung Quốc hàng năm họ thu hút được khoảng một triệu du khách. Về phía nước ta thì số du khách trung bình chỉ vào khoảng 30.000. Lý do chính là vì cơ sở hạ tầng ở đây còn rất yếu kém, từ đường giao thông cho tới khách sạn, nhà trọ, cũng như các dịch vụ phục vụ du lịch khác. Ngoài ra, còn có một lý khác nữa là giữa hai bên chưa có một hiệp định hợp tác khai thác du lịch.

    Theo một trang blog trong nước (của nhà báo Trương Duy Nhất), có một Việt kiều Canada về nước, muốn đóng góp cho địa phương khoảng nửa triệu đô la để giúp cho tỉnh sửa sang lại cảnh quan du lịch; nhưng khi gặp chính quyền của tỉnh thì họ không chấp nhận. Bởi vì, theo lời một quan chức địa phương, việc chỉnh trang xây dựng khu vực này lệ thuộc vào nội dung của hiệp định hợp tác khai thác. Cho nên mỗi lần bên mình định làm cái gì thì bên kia họ lại phá.

    Tôi nghĩ rằng có lẽ vì lý do này nên trong chuyến đi thăm Trung Quốc lần này Ngoại trưởng Phạm Bình Minh có đưa vấn đề ký hiệp định khai thác chung vào chương trình nghị sự giữa hai bên. Còn theo thông tin của một số người đến thăm Thác Bản Giốc, ở phía thượng lưu (phía trên thác) có một cái chợ trời biên giới. Người Việt mình qua lại được. Nhưng ở phía hạ lưu thì vì đường phân chia nằm giữa giòng sông nên nếu đi ra về phía thác chính thì bè của Việt Nam chỉ qua được tới giữa giòng thôi, chứ không thể qua phía bên kia được. Tình hình đại khái là như vậy.

    VOA: Hồi đầu tháng này ông đã cho phổ biến bài nghiên cứu “Sự thật về Thác Bản Giốc”, trong đó ông khẳng định Việt Nam là chủ nhân thực sự của thác nước này. Xin ông vui lòng cho biết những luận điểm chính của ông về vấn đề này.

    Ông Mai Thái Lĩnh: Bài viết của tôi vừa rồi có nhan đề là “Sự thật về Thác Bản Giốc”. Thật ra không phải tất cả đều là ý kiến của tôi, mà đây có thể nói là một công trình tập hợp tất cả những bằng chứng mà nhiều bài viết trước đây – nhiều người đã viết trong vòng khoảng chục năm nay, để chứng minh Thác Bản Giốc hoàn toàn là của Việt Nam.

    Trong đó đáng kể nhất là một nhà nghiên cứu ở Pháp, ông Trương Nhân Tuấn, một Việt kiều sinh sống ở Pháp. Ông đã sưu tập được rất nhiều tài liệu thành văn về quá trình ký kết và cắm mốc giữa hai bên -- giữa Pháp và nhà Thanh, vào cuối thế kỷ thứ 19.

    Còn ở trong nước, tôi xin lấy ví dụ như ông Hàn Vĩnh Diệp, một đảng viên cộng sản và là một cán bộ hưu trí. Ông này đã từng 7 lần đến thăm Bản Giốc, từ 1958 đến 2006, và có lần từng ở lại một ngày một đêm ở bờ bắc của sông Quây Sơn. Địa điểm này bây giờ, theo như tác giả viết, đã thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc rồi.

    Tất cả những luận điểm của các tác giả nói trên vẫn còn một số điểm chưa thật chính xác, vẫn còn những lỗ hổng, khiến cho toàn bộ chưa có tính chất thuyết phục. Khó khăn lớn nhất là thiếu những bản đồ chi tiết để giải thích rõ trước đây đường biên giới như thế nào và hiện nay đường biên giới thay đổi ra sao. Nhất là cột mốc số 53.

    Vừa rồi, trong quá trình nghiên cứu, tôi tìm được một số bản đồ. Đặc biệt là qua mạng internet tôi tìm được hai tờ bản đồ, tỉ lệ 1/50,000. Một là bản đồ do Quân đội Hoa Kỳ in năm 65 và một là của Quân đội Nhân dân Việt Nam in năm 1980. Hai bản đồ này về cơ bản thì địa hình rất giống nhau. Chỉ có khác là tờ bản đồ của Việt Nam đã được Việt hóa và điều chỉnh một số điểm, nhất là địa danh. Quan trọng nhất là hai tờ bản đồ này có ghi rõ tọa độ địa lý và có những vòng cao độ, và trong đó đặc biệt là có ghi rõ các cột mốc nằm ở đâu. Cho nên tôi nghĩ rằng những người có trình độ về bản đồ học có thể căn cứ vào cái này để xác định tọa độ các cột mốc một cách hết sức chính xác.

    Ngoài ra còn có một tờ bản đồ chi tiết về đường biên giới mới. Tờ bản đồ này sở dĩ có được là do vào cuối tháng 10 năm 2011 có một đoàn nhà văn quân đội đã lên thăm đồn biên phòng Đàm Thủy ở gần Thác Bản Giốc và chụp ảnh lại bản đồ chi tiết về đường biên giới này.

    So sánh mấy tờ bản đồ với nhau thì chúng ta thấy rõ ràng là cột mốc 53 đã bị dời đi, đường biên giới bị sửa đổi, và do vậy nên ta mất đi một nửa thác chính của thác Bản Giốc. Cho nên có thể nói là với những tư liệu này chúng ta có thể chứng minh được thác Bản Giốc trước đây hoàn toàn là của Việt Nam.

    Và tất cả những điều này rất ăn khớp với tất cả những tư liệu về địa lý trước đây của nước ta, cũng như ăn khớp với những điều mà trong bản “bị vong lục” ngày 15 tháng 3 năm 1979 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố trong cuốn sách “Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc” do Nhà Xuất bản Sự Thật xuất bản vào năm 1979. Có thể nói là tất cả rất có hệ thống và rất chính xác và đã chứng minh rằng Thác Bản Giốc là hoàn toàn thuộc về Việt Nam.

    Hình: Courtesy of MTL - Nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh cho biết ông vừa viết một bài
    'Sự thật về Thác Bản Giốc'

    VOA: Chắc ông cũng biết là ông Lê Công Phụng, người từng giữ chức Trưởng đoàn đám phán cấp chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, cho biết: tại Thác Bản Giốc, Việt Nam chỉ có một phần ba thác, nhưng nhờ thương thuyết cho nên Trung Quốc nhượng bộ, thành ra Việt Nam được nửa thác. Xin ông cho biết ý kiến về tuyên bố của ông Phụng.

    Ông Mai Thái Lĩnh: Theo ông Lê Công Phụng cũng như các quan chức ngoại giao khác, đã công bố qua báo chí Việt Nam, thì theo pháp lý và thông lệ quốc tế, Việt Nam chỉ có được một phần ba thác chính, nhưng qua đàm phán nên cuối cùng Việt Nam có được một nửa thác chính và một phần tư cồn Pò Thoong.

    Nhưng nói theo thực tế và căn cứ vào những tài liệu mà mình nắm được thì đúng ra phải nói như thế này: “theo pháp lý và đúng theo lịch sử thì toàn bộ Thác Bản Giốc là của Việt Nam, nhưng vì Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đoạt và trấn áp, cho nên cuối cùng thì việc thương thuyết của ta hoàn toàn thất bại, cho nên nước ta mất một nửa thác chính.”

    Nhưng điều quan trọng nhất là ngoài chuyện mất đi nửa thác chính, chúng ta mất luôn dải đất chạy dài từ cồn Pò Thoong cho đến chân thác. Trước đây do không có dải đất này, phía Trung Quốc tuy có một đồn trên đỉnh núi, nhưng không bao giờ có thể đặt chân xuống vùng thung lũng sông Quây Sơn ở phía trên Thác Bản Giốc. Ngày nay họ có thể nhờ dải đất này để di chuyển từ hạ lưu thác đến tận thượng nguồn, đến tận cồn Pò Thoong. Cồn này rộng khoảng 2,6 hecta, và họ chiếm hết ba phần tư. Và nếu trong trường hợp chẳng may xảy ra chiến tranh, tôi nghĩ rằng họ có thể chuyển quân từ dưới lên rất dễ dàng; trong lúc trước đây trong thời Pháp thuộc họ không thể nào đặt chân xuống vùng đồng bằng.

    Ngày nay những người biết sử dụng internet có thể dùng những chương trình để xem bản đồ vệ tinh, thì chúng ta có thể thấy họ tập trung xây dựng cơ ngơi, đường sá và có thể cả những công sự phòng thủ và những công trình quân sự rất lớn ở vùng phía dưới thác Bản Giốc.

    Sau khi bài viết của tôi được công bố, trong số các ý kiến phản hồi, có một ý kiến rất đáng chú ý.

    Trong bài viết, tôi nói Trung Quốc bây giờ làm ra vẻ nhân nhượng cho nên họ mới trả lại cho mình một phần tư cồn Pò Thoong và một phần thác chính để mình có được một nửa thác. Nhưng ý kiến này nói rằng ý kiến của tôi là không đúng. Ý kiến này cho rằng Trung Quốc sở dĩ trả lại một phần tư cồn Pò Thoong và một phần thác chính thì không phải là “cho không” mà họ đổi lại để lấy của Việt Nam một phần tư bãi Tục Lãm ở cửa sông Ka Long ở Móng Cái.

    Đây là một ý kiến đáng chú ý và cần tiếp tục nghiên cứu. Nếu điều họ nói là đúng thì có thể nói trong vấn đề đàm phán xung quanh Thác Bản Giốc, phía Việt Nam ta hoàn toàn thất bại. Không đòi lại được gì hết.

    VOA: Theo ông, phía Việt Nam, chính phủ nói riêng và người dân nói chung, nên làm gì trước tình hình hiện nay để khỏi bị thiệt thòi thêm nữa trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc?

    Ông Mai Thái Lĩnh: Tình hình bây giờ…mặc dù các cấp lãnh đạo làm ra vẻ ta và Trung Quốc đang trong quá trình thân thiện, hay có nhiều lạc quan, nhưng theo tôi, tình hình hết sức nghiêm trọng. Bởi vì nếu nhìn một cách hệ thống thì chúng ta thấy kế hoạch xâm chiếm đất đai ở biên giới cũng như lãnh hải, hải đảo đều nằm trong một kế hoạch chung của phía Trung Quốc và được tiến hành qua nhiều thế hệ và được chuẩn bị rất chu đáo. Mà hiện nay trong vấn đề Biển Đông – vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, chúng ta thấy Trung Quốc để lộ ra một tham vọng quân sự rất lớn.

    Theo tin mới nhất mà tôi đọc được, ngân sách quân sự của Trung Quốc trong năm 2011 là gần 120 tỷ đô la và đến năm 2015 sẽ tăng gấp đôi, gần 240 tỉ (con số chính xác là 238,2 tỉ đô la). Ngân sách này còn cao hơn tổng số chi phí quân sự của các cường quốc châu Á gộp lại. Cho nên với một chính sách như vậy, tôi nghĩ, nước ta đang ở trong một nguy cơ rất lớn trong vấn đề Biển Đông.

    Trong khi đó thì về phía chính phủ, chúng tôi thấy chính sách không rõ ràng, và thay đổi từ cực đoan này sang cực đoan khác. Đã có thời kỳ Đảng Cộng Sản đã ghi vào Hiến pháp của Việt Nam: “Trung Quốc là kẻ thù chiến lược lâu dài”. Từ thập niên 90 tới nay lại đổi thành “16 chữ vàng” rồi “4 tốt”, vân vân … trong lúc tình hình thực tế thì không phải là như vậy.

    Cho nên tôi có một số ý kiến như sau:

    Đối với chính phủ:

    - Muốn cho người dân tin tưởng thì chính phủ không thể tiếp tục nói dối dân mà phải thành thật, vì nói dối dân trước sau gì cũng bị người ta phát hiện ra, mà đã phát hiện ra thì dân sẽ không còn tin vào chính phủ nữa. Tốt nhất là phải thành thật thừa nhận những điều mình làm sai trước đây và xin lỗi người dân chứ không thể tiếp tục che đậy được.

    - Nếu muốn được dân tin thì không thể tiếp tục đường lối ngoại giao hết sức phi lý, hết sức kỳ quặc. Mình nói 16 chữ vàng, 4 tốt, trong khi phía Trung Quốc không hề thay đổi chính sách của họ. Họ vẫn lộ rõ tham vọng rất lớn trong vấn đề Biển Đông.

    - Tôi nghĩ chính phủ phải trả tự do vô điều kiện cho những người yêu nước, ví dụ như Điếu Cày hay bà Bùi Thị Minh Hằng. Vì những người này phản đối Trung Quốc vì lòng yêu nước, nên không có lý do gì nhà nước bắt giam họ mà lại bắt giam không đúng theo luật pháp. Không làm được điều này thì dân không tin.

    - Một điều nữa là phải đánh giá đúng công lao của các triều đại trước trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Phải vinh danh những chiến sĩ của chế độ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.

    - Và cuối cùng là phải thực thi các quyền tự do căn bản để người dân có thể tự do tìm hiểu, thảo luận, trao đổi về các vấn đề đối ngoại.

    Còn về phía người dân, chúng tôi nghĩ rằng cần phải làm những công việc sau đây:

    1) Thứ nhất là nên xem xét lại, khảo sát lại tất cả đường biên giới trên bộ trước đây đã mất gì so với đường biên giới cũ. Nhiều người nói việc này không quan trọng, không cần thiết vì là chuyện quá khứ. Nhưng tôi nghĩ vấn đề rất quan trọng bởi vì thật ra vấn đề biên giới trên bộ và vấn đề lãnh hải, hải đảo liên hệ gắn bó với nhau; mà mình không rút ra được bài học lịch sử, thì mình không bao giờ có được những bài học tốt cho tương lai. Một dân tộc không hiểu rõ lịch sử của mình, không đánh giá đúng thành công và thất bại của mình thì không bao giờ có thể tiến được trong tương lai. Như thực tế của nước Nhật là một ví dụ điển hình.

    2) Cần phải đánh giá lại thành công và thất bại của đường lối, chính sách đối ngoại trước đây của nước ta, nhất là trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    3) Tôi nghĩ về phía trí thức và phía người dân, chúng ta cần phải phá bỏ độc quyền trong lĩnh vực đối ngoại. Nhất là phá bỏ độc quyền về thông tin. Tôi thấy có tình trạng hết sức vô lý. Thí dụ như trước đây, khi ký hiệp ước 1999, một hiệp ước quan trọng như vậy mà Quốc hội không biết gì hết – (có biết) cũng chỉ là biết sau khi sự việc đã rồi. Và thậm chí cho tới bây giờ Ải Nam Quan mất như thế nào, mất bao nhiêu đất, Thác Bản Giốc mất như thế nào, tôi nghĩ hầu hết các đại biểu quốc hội các khoá đều không biết gì hết. Về lâu dài, theo tôi nghĩ, phải đấu tranh để có một chế độ dân chủ, để người dân phải có được một cái quyền gì đó - nhất là trong lãnh vực đối ngoại. Ví dụ như cơ quan nào, chức vụ nào chịu trách nhiệm về đối ngoại phải thật sự là do dân bầu, chịu trách nhiệm trước dân. Như vậy người dân có quyền thay đổi cơ quan đó hay người giữ chức vụ đó thông qua bầu cử. Chứ nếu như hiện nay thì tình hình ở Việt Nam rất là bất hợp lý: một tổ chức không do dân bầu ra (như Bộ Chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam là không do dân bầu ra) nhưng lại nắm quyền toàn bộ. Cho nên người dân cũng không có quyền thay đổi Bộ Chính trị đó, không có quyền bãi miễn, không được quyền cách chức hay không có quyền thông qua phiếu bầu để thay đổi. Thế thì toàn bộ lãnh vực đối ngoại gần như độc quyền của một thiểu số trong đảng. Mà như vậy sẽ gây ra tình trạng giống như tình trạng chúng ta thấy trước đây, khi ký hiệp định năm 1999.

    Đó là một số ý kiến bước đầu mà tôi đề ra và tôi nghĩ rằng nếu mình không làm được những điều này thì trong tương lai chắc chắn chủ quyền của chúng ta ở Biển Đông sẽ bị ảnh hưởng rất lớn.

    VOA: Xin cám ơn ông Mai Thái Lĩnh đã dành thời giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn này.

    http://www.voanews.com/vietnamese/news/focus/foa-vietnam-china-land-border-dispute-2-18-12-139576673.html

    http://www.voanews.com/vietnamese/news/focus/foa-vietnam-china-land-dispute-2-21-12-139902373.html
    | 22.2.12

    Đôi điều cần nói lại về Thác Bản Giốc

    Hàn Vĩnh Diệp

    (Nguồn: http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4097)

    “… Chúng tôi là một trong số nhiều người trước đây và cả hiện nay vẫn cho rằng: thác Bản Giốc (cả phần chính và phần phụ) là của Việt Nam đã bị Trung Quốc lấn chiếm …”

    Trong bài trả lời phỏng vấn của các phóng viên báo Pháp luật Tp.HCM về khu vực thác Bản Giốc, ông Vũ Dũng – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao – đặc trách vấn đề biên giới, đã nói: “Công ước Pháp – Thanh và Hiệp định 1999 qui định đường biên giới khu vực này chạy theo trung tuyến dòng chảy sông Quế Sơn, lên thác và tới mốc 53 phía trên. Do đó, phần thác cao rất đẹp của Bản Giốc hoàn toàn nằm bên phía Việt Nam, phần thác thấp nhưng là phần chính nằm ở sông Quế Sơn là thuộc Trung Quốc. Như vậy không có chuyện Việt Nam mất thác Bản Giốc. Tôi cho rằng có người thiếu thông tin nhưng cũng có người cố tình bôi nhọ chúng ta”.

    Cũng trong bài trên, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc dân địa phương phản ánh đất đai của cha ông họ trước đây ở bên kia thác Bản Giốc, ông Vũ Dũng nói: “… Biên giới là một lịch sử dài nên qua lại xâm canh, xâm cư rất bình thường. Sau Hiệp định 1999 hai nước đang giải quyết vấn đề này. Chỗ nào thuộc về Trung Quốc thì trả về Trung Quốc, phần nào của Việt Nam thì trả về cho Việt Nam. Tuyệt nhiên không được hiểu là ta bị mất đất”. [1]

    Chúng tôi là một trong số nhiều người trước đây và cả hiện nay vẫn cho rằng: thác Bản Giốc (cả phần chính và phần phụ) là của Việt Nam đã bị Trung Quốc lấn chiếm. Tất nhiên là cả phần lãnh thổ về phía Bắc, từ cột mốc 53 theo trung tuyến sông Quây Sơn (ông Vũ Dũng nói nhầm là Quế Sơn). Không biết theo ông Vũ Dũng, chúng tôi thuộc loại người thiếu thông tin hay cố tình bôi nhọ! Thiếu thông tin, chắc chưa hẳn, bởi ngoài các tư liệu tham khảo chính thống mà có lần chúng tôi đã dẫn chứng, từ năm 1958 đến 2006, chúng tôi đã bảy lần đến thăm Bản Giốc, có lần ở lại một ngày đêm tại làng Thắc Then bên bờ Bắc sông Quây Sơn (nay thuộc về Trung Quốc). Vì vậy, xin được nói lại đôi điều để công luận xem xét.

    1. Điều trước tiên chúng tôi cảm thấy là qua trả lời phỏng vấn trên, ông Vũ Dũng đã làm “xiếc” ngôn từ, nói theo cách dân gian là “lập lờ đánh lận con đen”. Ông gộp hai văn kiện: Công Ước Pháp – Thanh năm 1887 – 1895 và Hiệp định về phân định biên giới Việt Nam – Trung Quốc 1999 làm một. Theo ông, Hiệp ước 1999 đã phản ánh đầy đủ nhất, trung thực nhất, chính xác nhất hai Công ước đó? Trong cuộc đàm phán về vấn đề Biên giới Việt-Trung năm 1975, phía Việt Nam đã đưa ra Bản dự thảo Hiệp định về đường biên giới quốc gia trên bộ giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa, trong đó, Điều I của Dự thảo Hiệp định ghi: “Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định và cắm mốc theo các văn kiện về biên giới ký kết giữa Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ nhà Thanh, Trung Quốc là đường biên giới quốc gia giữa nước CHXHCH Việt Nam và nước CHND Trung Hoa”. Nghĩa là nguyên trạng đường biên giới (theo đề xuất của ta) là đường được qui định theo Công ước Pháp-Thanh 1887-1895. Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị ấy và kiên quyết đòi lấy đường biên giới hiện trạng, nghĩa là đường biên giới mà họ đã lấn chiếm, sửa lại rất nhiều nơi từ hơn nửa thế kỷ nay. Như vậy, chính Trung Quốc đã phá bỏ Công ước Pháp-Thanh thì sao Hiệp ước 1999 lại “phản ánh đầy đủ nhất, trung thực nhất, chính xác nhất” hai Công ước đó? Hiệp ước 1999 dựa trên cơ sở đường biên giới hiện trạng theo ý đồ của Trung Quốc, có phải như vậy không?

    2. Con sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc chảy vào nước ta ở cửa khẩu Pò Peo – xã Ngọc Khê rồi chảy dọc theo dãy núi đá biên giới giữa 2 nước, các cột mốc biên giới đều đặt trên các đỉnh của dãy núi, phần Bắc và Nam của dòng sông đều thuộc địa phận nước ta, đến làng Bản Giốc, dòng sông phân làm hai nhánh, giữa là một bãi cồn và hạ thấp khoảng 35m, tạo thành thác Bản Giốc ba tầng của dòng chính. Ngoài tên Bản Giốc, thác này còn có tên Đuây Bắc, Lầy Sản, Ngà Moong, Thoong Áng,… Dòng sông phụ tạo thành thác thẳng đứng, không có tên riêng mà vẫn mang tên chung của thác chính, mùa mưa có ba dòng chảy, mùa khô chủ yếu chỉ một dòng chảy, nước rất yếu, không gây ấn tượng gì. Cột mốc 53 (cột mốc cũ, nhưng đã di sang vị trí mới ) đứng trơ trọi bên dòng sông chính trên thác Bản Giốc. Người bình thường xem cột mốc 53 cũng thấy được rõ ràng, cột mốc ấy không đặt đúng địa điểm cũ của nó! Theo ký ức của các cụ già đã từng đi phu cho Tây thì vào thời Pháp, cột mốc biên giới nằm cạnh đồn Tây, tận trên đỉnh của ngọn núi phía Bắc thác Bản Giốc chứ không nằm trên bờ Bắc của dòng sông chính như hiện nay.

    Hiện trạng địa hình khu vực này như sau: từ đường tỉnh lộ Cao Bằng – Trùng Khánh – Hạ Lang rẽ vào phía Bắc khoảng 100m, qua cầu xi măng bắt qua sông Quây Sơn, cạnh đấy là Trạm Kiểm soát của ta, đi vào hơn 500m đến cột mốc 53, ở đây có nhiều hàng quán bán đồ lưu niệm, thức ăn của người địa phương ta, vào sâu khoảng 100m đến Khu du lịch Thác Đức Thiên (tức Bản Giốc) của Trung Quốc nằm trên bờ Bắc sông Quây Sơn. Khách du lịch của ta hoặc ngoại quốc đi từ phía ta sang đều lưu hành tự do, không kiểm soát giấy tờ gì cả. Trên sông dưới Thác Bản Giốc những nhà hàng nổi của họ đi lại tự do trên mặt sông, nhưng các mảng của khách du lịch bên ta thì chỉ được sang đến giữa sông.

    Ảnh 1: Cột mốc 53 không đặt đúng địa điểm của nó

    Như vậy tại sao toàn bộ phần thác Bản Giốc ba tầng lại thuộc Trung Quốc và dòng sông bên dưới thác ba tầng lại lấy trung tuyến làm biên giới? Từ lịch sử và hiện trạng của dòng Quây Sơn – Thác Bản Giốc có thể đoán định: Theo Công ước Pháp – Thanh toàn bộ con sông Quây Sơn, cả bờ Bắc bờ Nam và thác Bản Giốc (ba tầng) là thuộc lãnh thổ nước ta. Cột mốc 53 (cũ) không đặt ở vị trí hiện nay. Hiệp ước 1999 đã xác lập vị trí hiện tại của cột mốc 53, toàn bộ thác Bản Giốc ba tầng và trung tuyến sông Quây Sơn từ dưới thác làm đường biên giới, điều dĩ nhiên là phần lãnh thổ phía Bắc sông từ cột mốc 53 về phía Đông là thuộc về Trung Quốc. Thực trạng đó có phải đúng như ông Vũ Dũng nói “Không thể nói Việt Nam mất đất!”?

    3. Các tài liệu địa lý – du lịch trước đây của người Pháp, của nước ta và địa phương Cao Bằng đều cho rằng: thác Bản Giốc chính là thác ba tầng, (không có tài liệu nào đề cấp đến phần phụ ba dòng phía Nam), và đây mới là thác đẹp nhất nước ta và Đông Dương. Tài liệu của Trung Quốc gọi Thác Đức Thiên 德天 (tức Thác Bản Giốc) là Thác đẹp nhất Trung Quốc và là một trong những Thác đẹp nhất Châu Á. Không biết thẩm mĩ của ông Vũ Dũng thế nào mà ông lại nói ngược lại là “phần thác cao rất đẹp!” (Nói như thế có thể hiểu là phần thác chính ba tầng là bình thường). Ngay chuyện xác định độ cao-thấp như ông Vũ Dũng cũng không đúng, nếu không nói là nhập nhằng. Cả hai phần đều cùng một độ cao nhưng phần chính (hay nói chính xác là Thác Bản Giốc) tạo thành ba tầng – nét đẹp độc đáo của nó một phần chính là ở điểm này. Phần thác phụ ba dòng, ta có thể tìm thấy hàng trăm cái như vậy ở nhiều miền núi nước ta. Không biết ông Vũ Dũng đã đến thác Bạc ở Sa Pa, thác Drap Sáp, thác Prenn, thác Đăm Bơ Ri ..v..v.. chưa, liệu những thác nước ấy có đẹp bằng như thác phụ ba dòng “rất đẹp” của ông không?

    Ảnh 2: Thác Bản Giốc. Bên trái là thác phụ (mà ông Vũ Dũng gọi là phần thác cao), bên phải là thác chính (được ông Vũ Dũng gọi là phần thác thấp)

    4. Khi đề cập đến phần lãnh thổ nước ta từ cột mốc chạy dọc theo bờ Bắc sông Quây Sơn về phía Đông (theo bà con ở địa phương có chiều sâu vào nội địa đến 2, 3 cây số), ông Vũ Dũng lại nói đến chuyện xâm canh xâm cư (!). Đất đai của ông bà tổ tiên ta bị mất hoàn toàn khác với chuyện xâm canh xâm cư ở biên giới. Trên biên giới nước ta với các nước láng giềng, trước đây, chuyện xâm canh xâm cư thường xảy ra. Nhưng, theo chúng tôi hiểu, đất xâm canh xâm cư là đất đai ở những khu vực biên giới đã xác định rõ ràng, người dân bên nước này sang nước kia khai thác hoặc mua để sản xuất, tạm cư và ngược lại. Bản thân những người dân này cũng thấy rõ họ đang canh tác sản xuất, cư trú trên lãnh thỗ nước láng giềng, khi nhà nước hai bên không cho phép, họ tự nguyện rút lui. Còn đất đai mà họ gọi là của “ông bà tổ tiên” là phần lãnh thổ quốc gia, họ được quyền sở hữu, có phải ông Vũ Dũng đã lầm lẫn giữa khái niệm lãnh thổ quốc gia với xâm canh xâm cư hay ông cố tình đánh tráo khái niệm?

    5. Như kết luận của ông Vũ Dũng, không phải riêng chúng tôi mà cả các học giả, nhiếp ảnh gia, nhà địa lý, ký giả .. Pháp, Việt Nam, Tỉnh uỷ – UBND tỉnh Cao Bằng; Huyện uỷ – Uỷ Bản Nhân Dân huyện Trùng Khánh (nơi có thác Bản Giốc), Sở Thương mại – Du lịch tỉnh Cao Bằng, bà con nhân dân xã Đàm Thuỷ – Bản Giốc … đều là những người thiếu thông tin hay cố tình bôi nhọ, khi họ khẳng định thác Bản Giốc (phần ba tầng và phần phụ) và phần lãnh thổ từ cột mốc 53 (bị di dời) bên bờ Bắc sông Quây Sơn về phía Đông đều thuộc Việt Nam và Việt Nam bị mất về tay Trung Quốc theo Hiệp định 1999 (?).

    Ảnh 3: Sơ đồ vùng Thác Bản Giốc (Minh họa và chú thích ảnh: CLB Phan Tây Hồ)

    6. Để làm rõ trước công luận cả nước, chúng tôi xin đề nghị:

    - Ông Vũ Dũng có thể cho biết: Trong Văn kiện “Bị vong lục của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam về việc nhà cầm quyền Trung Quốc gây khiêu khích, xâm lấn lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới” công bố ngày 15/03/1979 đã nhận định: “Đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc chạy suốt trên đất liền và trong vịnh Bắc bộ đã được hoạch định rõ ràng trong các Công ước ký kết giữa Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh trong những năm 1887 - 1895 và đã được chính thức cắm mốc. Đó là một đường biên giới hoàn chỉnh cả trên đất liền và trong vịnh Bắc bộ, có cơ sở lịch sử trong đời sống chính trị lâu đời của hai dân tộc, có giá trị pháp lý quốc tế vững chắc, có đầy đủ yếu tố thực tế để nhìn nhận tại thực địa” (Nhà xuất bản Sự thật – Hà Nội, 1979) , là đúng hay sai? Nếu đúng, sao ông lại nói: “Đường biên giới chúng ta chưa bao giờ được phân định rạch ròi như bây giờ” (Tất nhiên là phân định rạch ròi theo Hiệp định 1999)? Nếu nhận định trên là sai thì sai ở điểm nào?

    - Các vùng lãnh thổ, vùng biển vịnh Bắc bộ nước ta (được hoạch định theo Công ước Pháp-Thanh) bị Trung Quốc lấn chiếm từ thời Tưởng Giới Thạch đến chiến tranh biên giới phía Bắc (cụ thể như các vùng Trình Tường – Quảng Ninh; điểm nối ray đường sắt Việt-Trung, cửa khẩu Hữu Nghị quan; Thanh Lòa – Lạng Sơn, Khẳm Khau, Phia Can – Cao Bằng; Tả Lững, Làn Phù Phìn, Minh Tân – Hà Giang; Nặm Chay – Lào Cai ..v..v.. và ..v..v..) như bản Bị vong lục trên và các tư liệu từ năm 1979 nêu ra đã được giải quyết như thế nào trong Hiệp định 1999 và việc cắm mốc mới vừa qua, nghĩa là Trung Quốc đã trả lại cho Việt Nam chưa hay lại giải quyết theo tinh thần hữu nghị “các chữ vàng” như Khu vực Bản Giốc?

    - Ông Vũ Dũng với tư cách nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao - đặc trách vấn đề biên giới, hay người kế nhiệm ông hiện nay có thể đề nghị Chính phủ cho công bố (có “công chứng” để đảm bảo tính xác thực”) các Bản đồ thực địa biên giới đất liền và vịnh Bắc bộ theo Công ước Pháp – Thanh và Hiệp ước 1999.

    Những điều trên đây không chỉ là ý kiến riêng của chúng tôi mà còn là của rất nhiều người có trách nhiệm trước một vấn đề đại sự của quốc gia, dân tộc và lịch sử. Chúng tôi nghĩ những vấn đề trên có lẽ không thể xem là bí mật quốc gia mà không cho dân biết – dân bàn – dân kiểm tra. Công bố rộng rãi các tư liệu có liên quan đến vấn đề bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ nước ta chính là thực hiện đúng đắn tinh thần “công khai – dân chủ – trung thực – dũng cảm, nhìn thẳng vào sự thật” của Đảng”.

    Hàn Vĩnh Diệp

    [1] Bài phỏng vấn của ông Vũ Dũng đăng lại trong sách Hoàng Sa- Trường Sa của Việt Nam. Nxb. Trẻ. 6/2009. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ cắm mốc mới trên biên giới Việt-Trung, ông Vũ Dũng được điều chuyển làm Đại sứ tại Liên Hiệp Quốc.

    © Thông Luận 2009

    Ðược đằng đầu lân đằng chân

    Thursday, June 16, 2011 6:44:28 PM

    Ngô Nhân Dụng

    (Source: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=132645&z=7 )

    Vào giữa thế kỷ 19, quân Pháp bắt đầu việc đánh chiếm Việt Nam bằng cách tạo áp lực buộc triều đình nhà Nguyễn phải nhượng bộ từng bước một: Mở cửa Ðà Nẵng xong, đem quân chiếm ba tỉnh miền Ðông Nam Phần; rồi chiếm nốt ba tỉnh miền Tây; mươi năm sau tấn công tới Bắc Hà; cuối cùng nuốt gọn cả nước bằng cách quyết định người nào sẽ lên làm vua phần nước Việt Nam còn lại! Chiến lược đó, tục ngữ Việt Nam gọi là “Ðược đằng chân lân đằng đầu!” Nắm được cái đầu là ông vua rồi, họ tiếp tục lấn từng bước một, đặt các đại diện của Pháp ở miền Bắc, miền Trung, từ từ xuống tới các tỉnh. Dần dần những người “đại diện ngoại giao” của Pháp lấn lướt các quan lại triều đình để cuối cùng cả guồng máy cai trị lọt vào tay người Pháp.

    Quan sát hành vi của Trung Quốc lấn chiếm biên giới và hải phận Việt Nam, ta thấy Trung Quốc theo một chiến lược cao hơn người Pháp. Có thể gọi tên ngược lại, là “Ðược đằng đầu lấn đằng chân!” Nắm cái đầu tức là nắm những người cầm quyền ở nước Việt Nam. Nắm được cái đầu rồi thì sau đó mới lấn dưới chân, và lấn từng bước một, nhẹ nhàng sao cho nó không giẫy giụa! Mỗi lần lấn một bước dưới chân, đôi chân muốn cựa quậy nhưng cái đầu không cho cựa, đau đớn cũng không cho kêu, thì cuối cùng cả thân thể cũng đành chịu! Những cái chân không chạy được nữa, cái miệng của người dân không được nói nữa mà chính quyền muốn nói thì há miệng mắc quai; nắm được cái đầu trong tay, những vụ cướp đất, cướp biển chỉ là những chi tiết chiến thuật.

    Nhiều nhà trí thức trong nước cũng nhìn thấy như vậy: Chiến thuật của Trung Quốc khi chiếm các vùng đất và vùng biển nước ta là lấn từng bước một, đặt mọi người trước những “sự đã rồi”, lâu ngày thành quen đi, cái gì cũng “thành bùn” được hết!

    Trên đất liền, là những vụ “cắm cọc biên giới.” Nhà báo Huy Ðức mới lục đống báo cũ, nhắc lại rằng trong các báo Nhân Dân và Sài Gòn Giải Phóng, ngày 19 tháng 3, 1979, Bị Vong Lục của Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã nói: “Phía Trung Quốc đã ủi nát mốc biên giới số 18 nằm cách cửa Nam Quan 100 mét để xóa vết tích đường biên giới lịch sử rồi đặt cột Km Zero sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100m.” Cũng Bị Vong Lục năm 1979 viết: “Năm 1955, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới tới Yên Viên, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray (đường sắt) vào vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam 300m so với đường biên giới lịch sử.” Bị Vong Lục 1979 cũng tố cáo, “toàn bộ thác Bản Giốc và cồn Pò Thoong là của Việt Nam, Trung Quốc chỉ mới đưa 2,000 người sang cưỡng chiếm từ ngày 29 tháng 2, 1976.”

    Trên mặt biển, Trung Quốc đã toan đánh quần đảo Hoàng Sa năm 1958; nhưng khi Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đem tầu chiến ra chống cự thì họ rút lui. Cũng năm đó, chính phủ Bắc Kinh đưa ra một tuyên bố về vấn đề hải phận, thì lại được ông thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở miền Bắc là Phạm Văn Ðồng gửi thư ủng hộ. Năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, bao chiến sĩ hải quân nước ta đã hy sinh trong lúc bảo vệ đất đai của tổ tiên. Chính quyền miền Bắc cũng không hề nói một lời nào để phản đối hành động xâm lăng đó! Lý do chỉ vì với lá thư của Phạm Văn Ðồng năm 1958 thì há miệng mắc quai. Năm 1988, Trung Quốc lại tấn công chiếm các đảo ở Trường Sa, nhưng người kế vị Lê Duẩn đành nuốt hận vì không được Nga Xô cứu giúp; mặc dù chính ông ta đã công nhận Nga là“tổ quốc thứ hai” của mình khi quay mặt chống Trung Quốc.

    Gần đây, chiến thuật lấn từng bước lại diễn ra một cách hung tợn hơn. Ðánh đuổi các ngư dân Việt Nam không cho đánh cá; dân Việt không sợ thì tấn công, cướp tầu, cướp máy, đánh đập, bắt cóc, giam cầm, đòi tiền chuộc. Nhiều người Việt đã nhìn thấy chiến thuật lấn chân mới trong vụ Bình Minh 2 và Viking 2, là biến các vùng biển hoàn toàn thuộc Việt Nam thành một vùng xung đột. Sau khi đã biến một vùng không tranh chấp thành vùng có tranh chấp, gây nên tình trạng căng thẳng ngày càng cao hơn khiến thế giới lo ngại, thì lúc đó Trung Quốc sẽ yêu cầu thảo luận, và cuối cùng thì đề nghị “cắt đôi” phần biển của Việt Nam, chia mỗi bên một nửa!

    Và tình trạng căng thẳng đang tăng lên thật. Trong tuần này, báo chí khắp thế giới loan tin Hải Quân Việt Nam tập trận bằng súng đạn thật, hỏa tiễn thật, và thông báo cho tầu thuyền các nước khác hãy tránh xa. Ðây là lần đầu tiên một cuộc tập trận trên biển được công bố, như để quảng cáo cho mọi người đều biết! Hà Nội lại nhắc nhở lại trên báo chí luật tổng động viên, làm cho không khí ngột ngạt hơn! Nhưng ngay sau đó, Trung Quốc đã thản nhiên gửi tầu Hải Tuần 31, một trong những chiến hạm tuần tiễu lớn nhất tiến vào vùng biển Ðông, nói đó là một hoạt động bình thường! Thế là cả thế giới theo dõi! Không phải chỉ có những nhật báo quốc tế như Le Monde, New York Times, Independent, Japan Times, hay các báo ở vùng Ðông Nam Á cho tới Ðại Hàn đăng tin này, mà cả những tờ báo ở Pakistan, ở Dubai cũng loan tin, rồi thuật tiếp những phản ứng của chính phủ Mỹ! Và Mark Toner, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã chính thức than phiền rằng những biến cố gần đây gây thêm lo ngại đối với an ninh đường biển, và đã làm cho tình hình thêm căng thẳng!

    Ðiều đáng ngạc nhiên là tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại chọn cách bày tỏ thái độ như vậy?

    Lâu nay, những người cầm quyền trong nước vẫn nói họ sẽ chỉ dùng các biện pháp ngoại giao cho các xung đột ở biển Ðông. Nhưng, sau khi các tầu Bình Minh và Viking liên tiếp bị tấn công một cách ngang ngược, đảng cộng sản lại không hề đưa ra một sáng kiến ngoại giao nào cả! Họ không hề xác định lại một cách chính thức với Bắc Kinh bằng cách phủ nhận lá thư của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng năm 1958 một cách minh bạch và công khai! Họ cũng không mời đại diện các nước Ðông Nam Á và Á Châu tới họp để tìm một chính sách chung đối với sự bành trướng của Trung Quốc!

    Tình hình hiện nay đã chín mùi để tổ chức một hội nghị vùng bàn về vấn đề này. Tại hội nghị về an ninh vùng gần đây, một nhân viên an ninh Ấn Ðộ đã nhận xét: “Chúng tôi rất vui mừng trước các lời lẽ hòa hoãn của ông Lương Quang Liệt (Trung Quốc) nhưng cảm tưởng chung hiện nay là các cường quốc Á Châu là họ tiến đền gần nhau hơn chỉ vì thấy phải tìm cách đối phó với chính quyền Bắc Kinh.” Một viên chức ngoại giao Nhật Bản cũng đồng ý. Nhật, Nam Hàn và Úc Châu đã đến gần nhau hơn, và đều liên kết với Mỹ. Một cố vấn của tổng thống Nam Hàn, ông Lee Chung-Min, đã nhận xét: “Trung Quốc đang đẩy chúng tôi tiến đến gần nhau hơn. Nước đó lớn quá khó ngăn họ được, nhưng hầu như chúng tôi đã thấy đến lúc phải hành động để ngăn bớt (sự bành trướng của) Trung Quốc.”

    Việt Nam là nạn nhân trực tiếp do sự bành trướng của Trung Quốc gây ra. Ðáng lẽ Việt Nam phải đứng ra vận động việc liên minh giữa các quốc gia trong các miền Ðông và Nam Á Châu, về kinh tế, tài chánh và an ninh, để có tiếng nói và hành động chung trước sự bành trướng của Trung Quốc. Và đó là một hoạt cuộc tấn công ngoại giao, không thể coi là khiêu khích về quân sự hay xâm phạm chủ quyền của nước nào cả.

    Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã không chọn những hành động ngoại giao kể trên, sau khi Trung Quốc leo thang với những vụ cắt dây cáp tầu dò đấy biển. Ngược lại, họ đã “biểu diễn” những màn quân sự, như công bố việc diễn tập hải quân bằng đạn thật, và khoe khoang thêm về luật tổng động viên.

    Ai cũng biết rằng hai hành động trên không hề có ảnh hưởng nào trên tương quan lực lượng và không hề thay đổi ngôi vị tương đối giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Không một chiếc tầu nào của Trung Quốc bị sứt mẻ. Trong khi đó họ cũng không hề thấy phải nhận lỗi về những vụ leo thang trong ba tuần qua. Hầu như Bắc Kinh hoàn toàn làm ngơ trước những hành động mà người ngoài có thể coi là gây cho tình hình thêm căng thẳng.

    Những người lãnh đạo ở Bắc Kinh có thể đã đọc được những ý nghĩ trong đầu giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ đã nắm chắc cái đầu đó rồi. Họ đã biết, hoặc đã được báo trước về những hành động sắp diễn ra trong tuần này. Họ hiểu rằng chính quyền cộng sản cần một số màn biểu diễn; bề ngoài như thể đang làm dữ, nhưng trên thực tế không gây ra một hiệu quả nào hết. Những hành động đó hoàn toàn không thay đổi cục diện ở biển Ðông, nhưng có thể cho người dân Việt nhìn thấy là bọn cầm quyền có làm, đang làm một cái gì đó! Mục đích duy nhất là làm nguội bớt không khí đấu tranh của người dân Việt Nam.

    Ðây là một sách lược đảng Cộng Sản đã theo từ hơn nửa thế kỷ nay. Họ không muốn dân chúng lên tiếng, không được tham dự, không được quyết định. Mọi vấn đề ngoại giao là độc quyền của đảng. Dân Việt Nam chỉ việc ký ngân phiếu trắng, “ký khống” cho các lãnh tụ đảng quyết định mọi chuyện! Từ mấy tuần qua, sách lược này vẫn được sử dụng. Như một ông hiệu trưởng ngăn không cho sinh viên biểu tình, với lý luận rằng việc ngoại giao khó khăn lắm, phải để yên cho nhà nước từ từ giải quyết! Một ông giáo sư bài nêu lên toàn những “quyết tâm” của người Việt Nam, mà không đưa ra một hành động cụ thể nào cả; nhưng ông ta không quên nêu lên một quyết tâm, là “hoàn toàn đoàn kết với đảng và nhà nước!”

    Nhưng nếu đảng và Nhà nước lại không đoàn kết với dân mà chỉ đoàn kết với người khác, với những đồng chí, anh em của họ thì sao? Như nhà báo Huy Ðức kể, trước cuộc ký kết về biên giới năm 1993, Hà Nội cử những phái đoàn tới quan sát vùng biên giới. Họ đi coi các nơi, rồi họp bàn với các đồng chí Trung Quốc. Nhưng đối với dân thì các phái đoàn này làm việc hoàn toàn trong vòng bí mật. Huy Ðức thuật: “Theo các chiến sĩ biên phòng, thay vì huy động sự góp sức của nhân dân, không hiểu vì lý do gì công việc này đã được tiến hành bí mật.” Một vị đồn trưởng Biên phòng ở Hà Giang nói: “Chúng tôi thuộc địa hình đến từng mili mét nhưng các đoàn khảo sát đã bí mật luôn cả với chúng tôi!” Ðây là một kinh nghiệm cay đắng khi cái đầu của một nước tự tách rời khỏi thân thể!

    Khi một chính quyền hành động minh bạch, công khai trước mọi người dân, khi người dân được tự do hội họp, tự do phát biểu, tự do bỏ phiếu chọn những người nắm quyền, thì không ngoại bang nào có thể nắm cái đầu dân nước đó được! Ngược lại, thì bất cứ cường quốc nào cũng chỉ cần nắm lấy cái đầu một nước, rồi từ từ sẽ lấn chân giành đất, giành biển, quốc gia sẽ rơi vào vòng nô lệ khi nào không biết!

    Ngô Nhân Dụng

    (Source: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=132645&z=7 )

    Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ngày 30-12-1999

    Tiến trình và nội dung các cuộc đàm phán

    Nguyễn Văn Huy

    (Theo Web Thông Luận)

    Bản hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ký ngày 30-12-1999 đã làm dư luận trong và ngoài nước hoang mang. Mất hay không mất đất ? Mất nhiều hay mất ít ? Tất cả còn là bí ẩn. Nội dung bài này trình bày diễn tiến và nội dung những cuộc đàm phán để độc giả rút ra một vài kết luận về vai trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

    Biên giới Việt-Trung từ 1954 đến 1979

    Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Hoa đã được Công ước phân định biên giới ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung ngày 20-6-1895 ấn định khá rõ ràng : chiều dài tổng cộng từ Đông sang Tây là 1.306 km với 341 cột mốc. Làn ranh phân giới này đã không thay đổi cho đến hết thời Pháp thuộc năm 1954.

    Trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), lực lượng Việt Minh lập chiến khu trên vùng Việt Bắc (Thượng Du Bắc Việt, giáp ranh với Trung Quốc). Hang Cóc Bó (thôn Pắc Bó, xã Trung Hòa, huyện Hà Quảng), là nơi Hồ Chí Minh đặt bản doanh, cách biên giới Trung Quốc khoảng 8 km. Cuộc chiến tại Việt Nam trở nên khốc liệt khi Hoa lục lọt vào tay phe cộng sản ngày 1-10-1949. Từ 1950 trở đi, lực lượng Việt Minh được Trung Quốc tích cực giúp đỡ về vũ khí cũng như cố vấn quân sự. Với sự giúp đỡ này, phe Việt Minh đã đánh bật quân Pháp ra khỏi miền Thượng Du, từ Lào Cai đến Tiên Yên trên quốc lộ 4. Hồng quân Trung Quốc nhân dịp cũng chiếm đóng nhiều chốt quân sự quan trọng dọc vùng biên giới trong mục đích ngăn ngừa sự xâm nhập của hơn 5.000 binh lính Tưởng Giới Thạch vừa bị loại khỏi Quảng Tây chạy vào miền Bắc Việt Nam. Từ tháng 4-1954, lực lượng Việt Minh dồn về Điện Biên Phủ đánh trận cuối cùng, những chốt quân sự dọc vùng biên giới Việt-Trung hoặc bị bỏ trống hoặc do hồng quân Trung Quốc trấn giữ.

    Tháng 7-1954, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chính thức được thiết đặt tại miền Bắc, quan hệ giữa hai Đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc trở nên thắm thiết. Sự giúp đỡ của Trung Quốc không những tận tình mà còn cụ thể hơn, những kinh nghiệm xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc đều được đem áp dụng tại Việt Nam. Cố vấn quân sự và chính trị Trung Quốc có mặt trong hầu hết mọi cơ quan công quyền tại Hà Nội. Trong giai đoạn này, các cố vấn Trung Quốc không ngớt than phiền về những hiệp ước bất công mà nhà Thanh đã ký với các đế quốc phương Tây trước đó nhằm gợi ý Hà Nội xét lại hai công ước về biên giới 1887 và 1895. Trong khi đó, dọc vùng biên giới, hồng quân Trung Quốc không những không chịu rút khỏi những chốt quân sự trên lãnh thổ Việt Nam mà còn di chuyển những mốc giới đã cắm từ 1895 tại ba tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, hay thương lượng với những sắc tộc sinh sống dọc biên giới đem làng xã và đất đai hội nhập vào Trung Quốc.

    Cũng nên biết sau 1954, chính phủ Hồ Chí Minh cho thành lập ba khu tự trị dành riêng cho người sắc tộc (khu Thái Mèo ngày 29-4-1955, khu Việt Bắc ngày 10-8-1956 và khu Lào Hạ Yên ngày 25-3-1957) nhằm khuyến khích những lãnh tụ Việt Minh gốc Thượng trên Tây Nguyên tập kết ra Bắc, sau khi đã được huấn luyện quân sự và học tập chính trị xong, sẵn sàng dẫn người bằng rừng vào Nam với hy vọng một khu Tây Nguyên tự trị sẽ được thành lập khi phe cộng sản chiến thắng. Ông Chu Văn Tấn, người Tày, được giao quản trị các khu tự trị trên vùng Thượng Du miền Bắc. Nhưng sau những vụ sang nhượng và đổi chát đất đai giữa người thiểu số với hồng quân Trung Quốc, năm 1958 Hà Nội ra lệnh giải tán tất cả các khu này và đặt dưới quyền lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng Sản Việt Nam ; ông Chu Văn Tấn bị bắt năm 1979 vì tình nghi theo nhóm Hoàng Văn Hoan thân Trung Quốc và đã chết trong tù.

    Sự hiện diện của hồng quân Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam sau 1954 đã làm một số cán bộ, đảng viên đảng cộng sản (Đảng Lao Động thời bấy giờ) bất mãn, nhưng Hà Nội không dám có phản ứng. Tuy vậy cũng đã xảy ra nhiều vụ xô xát võ trang giữa các toán dân quân địa phương Việt Nam với hồng quân Trung Quốc trước những vụ xâm phạm lãnh thổ hay di dời cột mốc biên giới này.

    Để tỏ thiện chí giải quyết vấn đề biên giới một cách hòa bình với người đàn anh vĩ đại phương Bắc, ngày 2-11-1957 ban bí thư trung ương Đảng Lao Động Việt Nam đã gởi một văn thư cho ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, đề nghị hai bên tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 để lại, và giải quyết mọi tranh chấp bằng đàm phán vì "vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đương có hoặc được xác định lại do chính phủ hai nước quyết định ; nhất thiết cấm các nhà chức trách và đoàn thể địa phương không được thương lượng với nhau để cắm mốc giới hoặc cắt nhượng đất cho nhau và giao cho địa phương giải quyết ổn thỏa việc tranh chấp có hành hung, còn mọi việc dời mốc giới hoặc cắt nhượng đất thì nhất thiết đều do trung ương hai bên quyết định". Tháng 4-1958, ban bí thư trung ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc trả lời đồng ý về những đề nghị của phía Việt Nam, nghĩa là tôn trọng hiện trạng đường biên giới lịch sử được Công ước 1887 và 1895 xác lập.

    Ở đây cũng xin lưu ý hai vấn đề : 1. về chữ "hiện trạng", hai bên hiểu khác nhau : đối với Việt Nam, đó là đường biên giới có sẵn từ thời Pháp thuộc ; đối với Trung Quốc, đó là nguyên trạng tình hình chiếm hữu của hai bên ; 2. quyền quyết định về các vấn đề biên giới trực thuộc hai ban bí thư đảng cộng sản chứ không do quốc hội hay chính phủ của hai nước đề nghị hay quyết định.

    Từ 1958 trở đi, vấn đề biên giới không còn được nhắc tới nữa. Nỗ lực của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn này là chuẩn bị tiến chiếm miền Nam, sự giúp đỡ của Trung Quốc rất là cần thiết. Đường xe lửa Hữu Nghị - nối liền Đồng Đăng (Việt Nam) với Bằng Tường (Trung Quốc), được xây dựng từ năm 1965 - đã chính thức nối ray năm 1968 để vận chuyển vũ khí và quân dụng trực tiếp từ Trung Quốc vào miền Bắc, rồi từ đó phân phối vào Nam. Trong lúc xây dựng, điểm nối ray từ Yên Viên đến Đồng Đăng đã bị dời sâu vào nội địa Việt Nam hơn 300 mét, phía Trung Quốc nói rằng đó là mốc biên giới phân chia hai nước. Sau cùng trụ cây số không (km 0) tại Ải Nam Quan được di chuyển vào nội địa Việt Nam 148 mét. Điều đáng trách là Hà Nội chấp nhận sự kiện này, chính Phạm Văn Đồng đã đích thân đến trồng một cây si tại cây số không này để kỷ niệm ngày khánh thành đường sắt hữu nghị. Không những thế, đoàn cố vấn Trung Quốc còn được phép đặt bản doanh tại Yên Bái, phòng hờ khi toàn bộ ban tham mưu Đảng Cộng Sản Việt Nam bị dội bom chết, để tiếp tục chỉ huy cuộc chiến chống Mỹ.

    Năm 1972, Hoa Kỳ thắt lại quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và hiệp định chấm dứt chiến tranh Việt Nam được ký kết năm 1973 tại Paris. Lo sợ bị Trung Quốc bỏ rơi, Hà Nội ngả hẳn về phía Liên Xô để được tiếp tục giúp đỡ trong cuộc tiến chiếm miền Nam. Thái độ này làm phật lòng Trung Quốc vì cho đó là một hành vi phản bội. (Cũng nên biết là quan hệ giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa trong giai đoạn này rất là lạnh nhạt, nếu không muốn nói là thù địch, sau những chiến tranh biên giới phía Bắc Mãn Châu trên sông Amour năm 1963 và sông Oussouri năm 1969. Bắc Kinh tố cáo Mạc Tư Khoa đang thực hiện âm mưu bao vây Trung Quốc bằng cách lôi kéo hai nước Bắc Triều Tiên và Bắc Việt Nam). Để cảnh cáo Hà Nội, một mặt Trung Quốc cho hải quân chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa và toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đầu năm 1974, mặt khác xua bộ binh chiếm giữ một số cứ điểm quân sự quan trọng dọc biên giới phía Bắc các tỉnh Lào Cai, Hà Giang và phía Tây Bắc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, lúc đó toàn bộ chủ lực của Hà Nội đang dồn về miền Nam.

    Xung đột biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ được thế giới biết đến khi xảy ra chiến tranh giữa hai nước năm 1979. Các lực lượng võ trang hai bên luân phiên tràn qua biên giới, có khi dùng cả trọng pháo và chiến xa tấn công hay chiếm đóng những làng xã và chốt quân sự của nhau. Những con số về các cuộc đụng độ do hai bên đưa ra rất khác nhau nhưng người ta vẫn có thể đoán được cường độ xung đột. Tháng 3-1979, bộ ngoại giao Việt Nam cho biết đã xảy ra 179 vụ xung đột võ trang dọc vùng biên giới trong năm 1974, 294 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, 873 vụ năm 1977 và 2.175 vụ năm 1978. Ngày 12-5-1979, Tân Hoa Xã Trung Quốc cho biết đã xảy ra 121 vụ xung đột năm 1974, 439 vụ năm 1975, 986 vụ năm 1976, 752 vụ năm 1977 và 1.108 vụ năm 1978. Vụ lớn nhất là hồi đầu năm 1979, từ ngày 17-2 đến 18-3-1979.

    Ngay sau khi cuộc xung đột biên giới vừa xảy ra, Việt Nam và Trung Quốc liền thỏa thuận trở lại bàn đàm phán để bàn về các vấn đề ngưng chiến và phân định biên giới. Trung Quốc rút quân về bên kia biên giới cuối tháng 3-1979, sau khi đã đập phá hầu hết nhà cửa của người Việt Nam dọc hai bên đường, nhưng vẫn còn chiếm giữ hơn 30 cứ điểm quân sự dọc vùng biên giới và biến chúng thành những công sự phòng thủ kiên cố. Ngoài ra quân Trung Quốc còn trấn giữ nhiều cửa khẩu kinh tế quan trọng như tại Hải Ninh (hay Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh), Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn), Hạ Lang, TràLĩnh, Hà Quảng và Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng).

    Những cuộc đàm phán về biên giới trên đất liền và tình hình biên giới từ 1979 đến 1992

    Cuộc đàm phán lần thứ nhất về biên giới và lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra tại Bắc Kinh ngày 15-8-1974 và kéo dài cho đến cuối năm. Trong cuộc đàm phán này hai bên chỉ trao đổi các vấn đề liên quan đến Vịnh Bắc Bộ (sau vụ Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một số hải đảo trên quần đảo Trường Sa), nhưng không đạt được thỏa thuận nào vì quan điểm của hai bên quá xa nhau.

    Cuộc đàm phán lần thứ hai đã diễn ra tại Bắc Kinh, từ ngày 7-10-1977 đến tháng 6-1978 ở cấp thứ trưởng bộ ngoại giao, và chỉ bàn về biên giới trên đất liền mà thôi. Cả hai phía chấp nhận đường biên giới đã được hoạch định trong hai Công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895 nhưng phía Trung Quốc yêu cầu phải điều chỉnh lại một số nơi để thích hợp với thực tế nhằm "đi đến một đường biên giới mới theo hiện trạng quản lý thực tế hoặc gần với hiện trạng quản lý thực tế", nghĩa là những phần đất và dân cư đã bị họ sáp nhập sau 1954. Hai bên không đạt được thỏa thuận nào và cuộc đàm phán bị gián đoạn.

    Ngày 17-6-1978 hai nước tuyên bố đoạn giao. Trung Quốc tố cáo chính sách bài Hoa tại Việt Nam và ý đồ tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc trên bán đảo Đông Dương và vùng Đông Nam Á, sau khi Việt Nam ký hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia với Lào ngày 18-7-1977. Để trả đũa, Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác (quốc phòng) với Liên Xô ngày 3-11-1978, sự kiện này càng khiến Trung Quốc lo sợ bị bao vây ở phía Nam nên càng muốn "dạy cho Việt Nam một bài học". Cơ hội đã đến khi Việt Nam xua quân vào Kampuchia tấn công quân Khmer Đỏ, do Trung Quốc đỡ đầu, cuối năm 1978. Trong lúc chủ lực bộ đội Việt Nam đang dồn về Kampuchia, ngày 17-2-1979 hơn 220.000 quân Trung Quốc vượt biên giới tấn công vào thủ phủ các tỉnh Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, gây nhiều thiệt hại cho phía Việt Nam về người lẫn của.

    Sau cuộc chiến này, cuộc đàm phán lần thứ ba giữa Việt Nam và Trung Quốc về biên giới và lãnh thổ được nối lại ngày 18-4-1979 ở cấp thứ trưởng bộ ngoại giao tại Bắc Kinh và Hà Nội. Phía Việt Nam đưa ra đề nghị ba điểm : 1. trao trả tù binh, thành lập một vùng phi quân sự từ 3 đến 5 km hai bên biên giới ; 2. bình thường hóa từng bước quan hệ giữa hai nước bằng những phương thức hòa bình ; phát triển kinh tế, văn hóa trên căn bản hai bên cùng có lợi trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau ; 3. "việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới lịch sử để lại và đã được hoạch định bởi các Công ước 1897 và 1895 do chính phủ Pháp và nhà Thanh ký, và đã được phía Việt Nam và Trung Quốc đồng ý chấp nhận". Cuộc đàm phán kéo dài đến giữa năm 1980 thì chấm dứt, hai bên không đi đến một thỏa thuận nào vì còn quá nhiều bất đồng quan điểm : Việt Nam vẫn còn chiếm đóng Kampuchia và Trung Quốc vẫn còn chiếm giữ nhiều khu vực dọc biên giới thuộc Việt Nam. Trong cuộc đàm phán này, lập trường của phía Việt Nam về Kampuchia và biên giới trên đất liền đã tỏ ra rất vững vàng và không nhân nhượng.

    Từ tháng 6-1980 trở đi, xung đột quân sự trên vùng biên giới Việt – Trung gia tăng cường độ. Chỉ trong một ngày 5-7-1980 thôi, Hà Nội cho biết đã có hơn 200 vụ vi phạm biên giới từ phía Trung Quốc và tố cáo Bắc Kinh tiếp tục cho xây dựng các đồn bót quân sự dọc các khu vực tranh chấp. Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh lên án những vụ tấn công vào lãnh thổ của họ từ phía Việt Nam trong các tháng 7, 9 và 10-1980 gây tử thương cho nhiều người và trong ba tháng cuối năm đã có 800 vụ xâm nhập từ phía Việt Nam.

    Sang năm 1981, những cuộc đụng độ võ trang trở nên dữ dội hơn, Trung Quốc cho biết ngày 7-5-1981 một đại đội Việt Nam đã xâm nhập vào xã Meng-dong (huyện Malipo, tỉnh Vân Nam), ngày 10 và 11-5, quân Việt Nam đã gây tử thương cho 23 binh sĩ Trung Quốc tại vùng biên giới giữa Vân Nam và Lạng Sơn. Để trả đũa, ngày 15-5, quân Trung Quốc bắn trọng pháo vào thị trấn Lạng Sơn gây nhiều thiệt hại về nhân mạng và của cải. Trầm trọng hơn hết là ngày 16-5, một trung đoàn Việt Nam từ Lạng Sơn tiến vào khu vực Fakashan ở Vân Nam nhưng bị quân Trung Quốc phục kích giết hơn 150 người. Ngày 22-5, một tiểu đoàn lính Trung Quốc tiến chiếm một ngọn đồi thuộc thị xã Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên.

    Năm 1982 tương đối yên bình nhưng Bắc Kinh tố cáo binh sĩ Việt Nam đã giết 5 người Trung Quốc và gây thương tích cho 24 người khác từ ngày 1-9 đến 15-10-1982, trong khi Hà Nội tố cáo quân Trung Quốc đã gây những thiệt hại tương tự cho phía mình. Tháng 10, Trung Quốc lại tố cáo quân Việt Nam xâm nhập vào lãnh thổ của họ 109 lần, làm tử thương 3 người và gây thương tích cho 11 người khác. Tuy vậy hai bên cũng đã thỏa thuận trao trả tù binh trong tháng 6 : 12 tù binh Việt Nam và 24 tù binh Trung Quốc.

    Đụng độ võ trang tiếp tục xảy ra trong năm 1983. Ngày 16-4, hai bên bắn trọng pháo vào các đồn bót và làng xã của nhau dọc vùng biên giới tỉnh Vân Nam và Lạng Sơn. Ngày 6-7, Trung Quốc trao trả 10 tù binh Việt Nam tại Thủy Khẩu và than phiền sau 14 lần trao trả tù binh, họ chỉ nhận được 300 người trong khi đã giao cho phía Việt Nam 1.716 người. Tranh chấp biên giới tiếp tục trong năm 1984 nhưng ở cường độ thấp hơn, tuy vậy chỉ riêng trong tháng 9, Bắc Kinh tố cáo Việt Nam đã tổ chức hơn 30 vụ xâm nhập vào lãnh thổ của họ.

    Năm 1985 tương đối ít có va chạm. Ngày 16-1, Trung Quốc giao cho phía Việt Nam 15 tù binh và Việt Nam giao lại cho phía Trung Quốc 71 ngư phủ bị bắt giữ trong Vịnh Băùc Bộ. Các tù binh được tiếp tục trao đổi trong ngày 26-8 nhưng liền sau đó, trong hai ngày 6 và 7-9, hai bên lại bắn phá lẫn nhau trên vùng biên giới thuộc huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Tuyên. Nhận thấy những cuộc đụng độ võ trang không giải quyết được gì, từ tháng 9, hai bên thỏa thuận nối lại quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ.

    Tình hình biên giới tương đối lắng đọng từ 1986 đến 1991, không có đụng dộ quân sự quan trọng nào xảy ra. Ngày 10-8-1991, Việt Nam và Trung Quốc chính thức nối lại quan hệ ngoại giao, các vấn đề thương mại và biên giới được ra bàn thảo trở lại. Ngày 7-11-1991 hai nước đã ký một bản Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các tranh chấp trên vùng biên, nghĩa là giữ y nguyên trạng và không gây hấn với nhau. Kể từ sau ngày đó khu vực biên giới được thông thương bình thường và hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam.

    Cuộc đàm phán về biên giới lần thứ tư

    Cuộc đàm phán lần thứ tư về biên giới chính thức bắt đầu từ tháng 10-1992. Đây là cuộc đàm phán dài nhất, bảy năm, từ 1992 dến 1999, và được thảo luận ở nhiều cấp : 6 vòng ở cấp chính phủ và 16 vòng ở cấp chuyên viên. Thái độ thương lượng của hai bên lần này đã diễn ra không cân bằng, phía Trung Quốc giữ thế chủ động và phía Việt Nam ở thế bị động.

    Yếu tố đã làm thay đổi thái độ cứng rắn của phía Việt Nam là sự sụp đổ của khối Đông Âu năm 1989 và Liên Xô năm 1990, Đảng Cộng Sản Việt Nam mất điểm tựa chính trị và quân sự. "Trụ được hay không trụ được" là ám ảnh lớn nhất của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam trong giai đoạn này. Giải pháp được chọn là cầu hòa với Bắc Kinh với hy vọng được ủng hộ để giữ vững quyền lực. Những người chủ xướng thái độ này là các ông Đỗ Mười, tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Lê Đức Anh, chủ tịch nhà nước và Võ Văn Kiệt, thủ tướng chính phủ. Chính ba nhân vật này đã thay mặt đảng và nhà nước chỉ thị trực tiếp cho phái đoàn thương thuyết Việt Nam trong các cuộc đàm phán về biên giới phải nhân nhượng Trung Quốc trên mọi lĩnh vực. Chính vì thế, trong những cuộc đàm phán biên giới về sau, ở cấp chính phủ và chuyên viên, phái đoàn Trung Quốc đã đạt hầu hết những gì mong muốn.

    Nhân chuyến viếng thăm Hà Nội ngày 18-9-1992, thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc, ông Xu Dunkin, cho biết quốc hội Trung Quốc vừa thông qua tháng 2-1992 một đạo luật về chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, nghĩa là trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và yêu cầu phía Việt Nam tôn trọng hải phận của Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ. Đây là lời cảnh cáo đối với Hà Nội khi tố cáo Trung Quốc chiếm hai đảo đảo nhỏ của Việt Nam ngày 8-7-1992 trên quần đảo Trường Sa và cho hãng Crestone Energy dò tìm dầu lửa trong khu vực Biển Đông.

    Tuy vậy hai bên cũng thỏa thuận nối lại các cuộc đàm phán về biên giới trên đất liền ngay sau đó và ngày 19-10-1993, tại Hà Nội, hai bên đã đưa ra một bản thỏa thuận chung, gọi là "Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc". Nội dung thỏa thuận này tập trung vào ba vấn đề : hoạch định đường biên giới trên đất liền ; phân định Vịnh Bắc Bộ và tìm cho ra một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề trên biển (đánh cá, khai thác dầu khí, kiểm soát hàng hải).

    Về hoạch định biên giới trên đất liền, bản thỏa thuận đưa ra một số điều kiện cơ bản để đàm phán như sau :

    1. Hai bên căn cứ vào Công ước hoạch định biên giới giữa nhà Thanh và Pháp ngày 26-6-1887 và Công ước bổ sung công ước hoạch định biên giới ngày 20-6-1895 cùng những văn kiện và bản đồ, hoạch định cắm mốc biên giới kèm theo đã được hai công ước trên xác nhận hoặc qui định. Hai bên sẽ đối chiếu lại toàn bộ đường biên giới trên bộ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc và những mốc giới đã cắm theo qui định của hai công ước đó.

    2. Trao trả cho nhau vô điều kiện các khu vực do hai bên quản lý quá đường biên giới ước định. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cá biệt, có thể xem xét điều chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho quản lý biên giới : khu vực tranh chấp nào đã có dân cư của phía bên kia sinh sống từ lâu đời thì vùng đất đó thuộc về phía bên kia nhằm duy trì cuộc sống ổn định của dân cư.

    3. Biên giới trên sông suối sẽ giải quyết theo công pháp và án lệ (luật pháp và thực tiễn) quốc tế.

    4. Thành lập nhóm công tác liên hợp (cấp chuyên viên) để đàm phán.

    Qua nội dung bản thỏa thuận nói trên, nguyên tắc có lợi cho Trung Quốc và thiệt hại cho Việt Nam là điểm 2 : "trong một số trường hợp cá biệt, có thể xem xét điều chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho quản lý biên giới, thí dụ như các khu vực dân cư hai bên đã sinh sống lâu đời thì duy trì cuộc sống ổn định của dân cư".

    Cũng nên biết sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập tại miền Bắc năm 1954, vùng Thượng Du hưởng một qui chế tự trị tương đối cởi mở. Nhiều bản làng Thái, Mèo, Tày Nùng, vì đã từng hợp tác với Pháp trước kia và sợ bị trả thù, đã xin sáp nhập vào Trung Quốc để được bảo vệ. Hà Nội rất bất mãn về những quan hệ này nên đã giải tán các khu tự trị trong năm 1958 và cử các đảng viên cộng sản gốc Kinh từ đồng bằng lên quản trị trực tiếp. Do thiếu một chính sách dân tộc đúng đắn, sự phân biệt đối xử đã là tác nhân của hàng chục vụ bạo loạn trong các khu dân cư sắc tộc ít người và càng khiến những sắc tộc thiểu số này muốnï tiến gần với Trung Quốc hơn. Khi biết có sự toa rập giữa những nhóm thiểu số sinh sống dọc vùng biên giới với Trung Quốc, Hà Nội cho di dời các làng xã của người thiểu số dọc vùng biên giới xuống những vùng thấp hơn và đưa gia đình cán bộ, bộ đội, công nhân viên gốc Kinh lên lập nghiệp trong những vùng trái độn. Kế hoạch này có tên là chính sách dân tộc. Công tác di dời người thiểu số tiếp tục sau 1975 nhưng lần này vào Tây Nguyên. Trong khi đó, Trung Quốc cũng khuyến khích di dân vào các vùng biên giới trong mục đích xây dựng những vùng trái độn ngăn ngừa mọi sự xâm nhập từ bên ngoài, đương nhiên là dưới sự bảo vệ của quân đội. Chính sách này đã được Bắc Kinh thực hiện từ năm 1950 chứ không phải mới đây.

    Theo nguyên tắc thứ hai của bản thỏa thuận 1993, khi hai phái đoàn đo đạc và phân định gặp một làng xã nào nằm trên đường biên giới thì phải chấp nhận làng xã đó thuộc về quốc gia chủ quản, trong thực tế đa số các làng xã này thuộc về Trung Quốc.

    Kết quả sau cùng của cuộc đàm phán lần thứ tư này là Hiệp ước về biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc được ký kết ngày 30-12-1999 tại Hà Nội giữa hai chính phủ : ông Nguyễn Mạnh Cầm, bộ trưởng ngoại giao đại diện phía Việt Nam và ông Đường Gia Truyền, bộ trưởng ngoại giao đại diện phía Trung Quốc. Hiệp ước này đã được quốc hội Việt Nam (khóa 10, kỳ 7) thông qua ngày 9-6-2000 (Nghị quyết số 36/2000/QH10).

    Những nguyên tắc áp dụng

    Nội dung Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt-Trung ngày 30-12-1999 được áp dụng theo những nguyên tắc như sau :

    1. Lấy Công ước 1897 và 1895 cùng các văn kiên đính kèm để đối chiếu và phân các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau thành loại rõ ràng và loại không rõ ràng để giải quyết :

    - Loại rõ ràng căn cứ theo các qui định của hai công ước Pháp – Thanh để giải quyết, nếu bên nào quản lý quá thì trao trả lại cho bên kia.

    - Loại không rõ ràng thì sử dụng tổng hợp các yếu tố khác nhau (lịch sử, quản lý, địa hình, bản đồ lịch sử, mốc giới, tiện lợi…) để giải quyết theo tinh thần thông cảm, nhân nhường lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

    2. Các khu vực dân cư của hai bên đã sinh sống lâu đời thì duy trì quyền sở hữu đất đai đó cho quốc gia chủ quản nhằm ổn định cuộc sống của dân cư.

    3. Đối với những đoạn biên giới theo sông suối thì những đoạn đã được công ước Pháp – Thanh qui định rõ ràng thì theo công ước đó, còn những đoạn chưa được công ước qui định rõ ràng thì giải quyết theo các nguyên tắc của công pháp và án lệ quốc tế, cụ thể là :

    - Đường biên giới trên các đoạn sông, suối mà tàu thuyền đi lại được thì theo trung tâm luồn chính của tàu thuyền qua lại.

    - Đường biên giới trên các đoạn sông, suối tàu thuyền không đi lại được thì theo trung tâm của dòng chảy hoặc dòng chính.

    4. Đối với các khu vực có pháo đài lịch sử của các bên thì giải quyết trên cơ sở tôn trọng quyền của bên hữu quan đối với các pháo đài đó.

    Trong quá trình đàm phán, hai bên đã trao đổi cho nhau bản đồ đường biên giới (vẽ theo tỷ lệ 1/50.000, nghĩa là 1 cm trên bản đồ bằng 5 km trên đất liền) do mỗi bên xác định, căn cứ vào việc giải thích hai công ước Pháp – Thanh. Qua đối chiếu, phần lớn đường biên giới trên 1300 km do hai bên vẽ ra hoàn toàn giống nhau khoảng 900 km (69%), do đó không có tranh chấp. Số hơn 400 km còn lại (31%), gồm 289 khu vực, là vùng tranh chấp và được chia ra thành ba loại :

    - Loại A : khác nhau vì lý do kỹ thuật do hai bên vẽ chồng lấn lên nhau gồm 74 khu vực.

    - Loại B : khác nhau vì do kỹ thuật do hai bên không vẽ tới gồm 51 khu vực.

    - Loại C : khác nhau vì quan điểm của hai bên trong việc giải thích hai công ước Pháp – Thanh, gồm 164 khu vực.

    Cuộc đàm phán kéo dài trong suốt bảy năm chủ yếu tập trung vào việc giải quyết 164 khu vực loại C này. Hà Nội nói rằng khu vực tranh chấp này khoảng 227 km2, trong khi đối lập trong và ngoài nước ước tính từ 720 đến 789 km2, phần lớn nằm trong hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn.

    Theo Tạp Chí Cộng Sản, số ra tháng 4-2002, tổng số diện tích tranh chấp là 232 km2. Trong đó diện tích những khu vực loại A và B không lớn, khoảng 5 km2 và diện tích khu vực tranh chấp loại C là 227 km2.

    Kết quả được hai bên thỏa thuận trước ngày ký hiệp ước biên giới ngày 30-12-1999 như sau : diện tích tổng cộng của 125 khu vực loại A và B là 5 km2, trong đó 2,6 km2 thuộc về Việt Nam và 2,4 km2 thuộc về Trung Quốc. Kết quả thỏa thuận của 289 khu vực loại C là : 112,3 km2 thuộc Việt Nam và 114,8 km2 thuộc về Trung Quốc. Như vậy Việt Nam được khoảng 114,9 km2, Trung Quốc được 117,2 km2, chênh lệch giữa đôi bên là 2,3 km2 thiên về phía Trung Quốc.

    Trong 164 khu vực loại C này, 4 khu vực có sông suối được phân chia theo công pháp quốc tế, 46 khu vực theo đường chủ trương của Việt Nam, 44 khu vực theo đường chủ trương của Trung Quốc, 18 khu vực gần với đường chủ trương của Việt Nam, 21 khu vực gần với đường chủ trương của Trung Quốc và 31 khu vực nằm giữa đường chủ trương của hai bên.

    Trong 31 khu vực nằm giữa đường chủ trương của đôi bên, cuộc tranh cãi đã diễn ra khá gay go, phía Trung Quốc làm áp lực rất mạnh. Về các pháo đài do chính quyền Pháp và nhà Thanh cũ xây dựng, pháo đài của bên nào thuộc về bên đó theo đường phân tuyến của hai công ước 1897 và 1895. Các cao điểm quân sự bị quân Trung Quốc chiếm đóng sau 1979, chốt nào thuộc lãnh thổ Việt Nam theo đường phân tuyến của hai công ước nói trên phải trả lại cho phía Việt Nam, còn những chốt quân sự nào nằm ở giữa đường biên giới do hai bên chiếm giữ thì phải rút về, không bên nào được phép đóng quân trên đường biên tuyến.

    Riêng khu vực 249C, tức cửa khẩu Hữu Nghị (mới) được phân định như sau : ở khu vực cửa khẩu biên giới đi qua cột km 0, ở khu vực đường sắt biên giới đi qua phía Bắc điểm nối ray và "nhà mái bằng" (tức trạm kiểm soát xuất nhập cảnh của Trung Quốc, được xây tháng 5-1992 tại cửa khẩu Hữu Nghị) nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam 148 mét. Cửa khẩu Hữu Nghị cũ, tức Ải Nam Quan hay Mục Nam Quan, thì nằm sau lưng tòa "nhà mái bằng" cách cột km 0 trên 200 mét, thuộc Trung Quốc.

    Còn thác Bản Giốc (huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) thì được chia như sau : Trung Quốc 50%, Việt Nam 50%, thay vì 2/3 thuộc Trung Quốc và 1/3 thuộc Việt Nam như phía Việt Nam nhìn nhận.

    Một sự mờ ám cố ý

    Khi vừa hay tin bản hiệp ước biên giới trên đất liền vừa được quốc hội thông qua, một phong trào phản đối từ trong nước ra hải ngoại liền nổi lên tố cáo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhượng nhiều phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc cho ngoại bang. Chính quyền Hà Nội đã chống đỡ một cách yếu ớt trước sự bất mãn ngày càng gia tăng trong nội bộ đảng và của dân chúng. Ông Lê Công Phụng, trưởng phái đoàn đàm phán, và bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn viên bộ ngoại giao, đã trả lời nhiều cuộc phỏng vấn do họ dàn dựng để giải thích nhưng không chinh phục được ai. Cuối cùng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhượng bộ trước áp lực của trong và ngoài nước.

    Bản hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 31-12-1999 và được Quốc Hội thông qua ngày 9-6-2000, đã được công bố trên báo Nhân Dân, số ra ngày 29-8-2002, sau hơn một năm rưỡi im lặng. Bản hiệp ước này có 8 điều : điều I ấy các công ước Pháp-Thanh làm căn bản căn bản ký kết ; điều II (dài nhất) xác định làn ranh phân chia hai nước trên 61 giới điểm ; điều III thỏa thuận về vị trí điểm phân chia ba nước Việt-Lào-Trung ; điều IV xác nhận chủ quyền vùng trời và lòng đất theo đường biên giới ; điều V xác nhận nguyên tắc phân tuyến trên sông suối ; điều VI soạn thảo nghị định thư, bản đồ và thành lập ủy ban phân giới và cắm mốc ; điều VII thay thế bản hiệp định tạm thời về vùng biên giới năm 1991 và điều VIII qui định các nguyên tắc hiệu lực hóa bản hiệp ước.

    Thấy gì qua bản hiệp ước này ?

    Trước hết, đây là một văn kiện pháp lý quốc tế mà quốc gia Việt Nam đã long trọng ký kết với quốc gia Trung Quốc về việc phân chia lãnh thổ. Đại diện toàn quyền của chính phủ Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Cầm, bộ trưởng ngoại giao, đã hạ bút ký vào hiệp ước cùng với đại diện toàn quyền của chính phủ Trung Quốc, ông Đường Gia Triền, bộ trưởng ngoại giao. Tính chất pháp lý quốc tế và quốc nội của văn kiện này không thể đảo ngược được.

    Thứ hai, người chỉ đạo trực tiếp các cuộc đàm phán về biên giới trên đất liền là Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải những chuyên viên hay cán bộ trong chính phủ tham dự vào các cuộc đàm phán, họ chỉ là các cấp thừa hành không có quyền quyết định. Những cán bộ này đã cố gắng bảo vệ và tranh thủ từng tấc đất của cha ông trong suốt 7 năm thương lượng, nhưng cuối cùng phải vâng lời các cấp lãnh đạo đảng cộng sản để hoàn tất bản hiệp ước đúng hạn kỳ do hai Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận, nghĩa là phải hoàn tất trước cuối năm 1999. Nếu có sự nhượng bộ nào thiệt hại cho phía Việt Nam, trách nhiệm thuộc về Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải những cấp thừa hành.

    Thứ ba, bản hiệp ước này đã được quốc hội Việt Nam chính thức thông qua ngày 9-6-2000, nghĩa là 6 tháng sau đó. Thông qua bằng cách nào và những ai đã thông qua, lịch sử Việt Nam sau này sẽ phê phán nhưng quốc gia Việt Nam phải tôn trọng bản hiệp ước biên giới trên đất liền này. Ban thường vụ quốc hội và những người có mặt trong buổi họp lần thứ 7 của quốc hội khóa 10 ngày 9-6-2000 phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự đồng ý của mình.

    Thứ tư, có một sự mờ ám cố ý của Đảng Cộng Sản Việt Nam khi thỏa thuận ký kết bản hiệp ước. Đây là một văn kiện pháp lý quan trọng nhưng nội dung lại hoàn toàn mang tính kỹ thuật. Không thể trách những đại biểu có mặt trong buổi họp quốc hội khóa 10 lần thứ 7, vì thiếu kiến thức, đã không hiểu hết chi tiết những con số cao điểm ghi trong hiệp ước. Đọc lại kỹ bản hiệp ước này, người ta thấy có một âm mưu che giấu sự thật trong việc đưa ra độ cao của các điểm cao thay vì nêu rõ tên và tọa độ (kinh tuyến và vĩ tuyến) hay khoảng cách giữa các địa danh (làng, xã, huyện) của các cao điểm (núi, đồi, gò, thung lũng), do đó rất khó kiểm chứng vì không ai có đủ dụng cụ và phương tiện để đo đạc và xác định độ cao chính xác của từng cao điểm. Nếu một đỉnh cao nào đó chẳng may bị mưa bão làm sạt lỡ hay bị dân chúng đào xới để khai thác cát đá thì cao độ không còn sẽ đúng nữa và khu vực định ranh đó mất hết giá trị hay không còn chính xác nữa hay sao ?

    Thứ năm, trong Điều II, các giới điểm từ 1 đến 24 còn đưa ra tên một vài con sông nhưng từ giới điểm 25 đến 61, tên những con sông và khe suối hoàn toàn vắng mặt hoặc rất thưa thớt mặc dù các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh có rất nhiều sông suối và khe nước, như thác Bản Giốc hay sông Lênin chẳng hạn. Như vậy phải hiểu là những phần đất nằm bên kia bờ sông đã thuộïc về Trung Quốc, nếu phân chia theo luồng chảy của dòng nước (Điều V). Cũng nên biết là khi người Pháp ký công ước 1887 và 1895 với nhà Thanh, họ đã cố tình định làn ranh phân chia hai nước phía bên kia dãy núi hay bên kia bờ sông là để ngăn ngừa sự xâm nhập của những toán quân Cờ Đen vào lãnh thổ Bắc Kỳ. Chẳng hạn như các khu vực chân núi Kiều Liên Tì, Tây Công Lĩnh, hai bên bờ sông Nho Quế, sông Hắc Giang, sông Ba Vọng, sông Kỳ Cùng, sông Tiên Yên và sông Móng Cái, làn ranh bây giờ là ở giữa dòng sông.

    Thứ sáu, đường đỏ của bản đồ, tức là đường ranh có tranh chấp, không biết phía nào đưa ra và phía nào chấp nhận, ai nhường ai. Việt Nam đã nhượng nhiều phần lãnh thổ quan trọng cho Trung Quốc, đặc biệt là ở những nơi có người sắc tộc cư ngụ dọc vùng biên giới, vì lý do "duy trì cuộc sống ổn định của dân cư " mà đa số sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam sau 1954. Tình trạng này không khác gì người hàng xóm chiếm một góc nào đó trong nhà của mình sau đó lại nói khu vực đó thuộc về họ vì đã cư ngụ từ lâu đời hay để ổn định cuộc sống. Những công dân Trung Quốc đã bị trục xuất ra khỏi khu vực biên giới phía Bắc Việt Nam từ năm 1895, những người xâm nhập sau này là bất hợp pháp.

    Đây là một hiệp ước bất công, chúng ta có quyền tố cáo và phản đối vì trong lúc thương lượng, phía Việt Nam (đảng cộng sản) bị lệ thuộc vào Trung Quốc nên không có sự bình đẳng phải có khi thương lượng. Nhưng dầu sao đây cũng là một sự kiện đã rồi, hiệp ước đã ký và Việt Nam phải tôn trọng. Vấn đề của chúng ta, những người Việt Nam, là làm sao đừng để mất thêm đất nữa về tay Trung Quốc, vì ngay sau khi hiệp ước vừa ký xong, những cuộc đụng độ võ trang dọc vùng biên giới vẫn còn tiếp tục. Giữ đất cho con cháu là trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam, gia tài một cha ông chúng ta để lại không nhiều, chỉ còn một lãnh thổ Việt Nam mà chúng ta tự hào.

    Hậu quả và trách nhiệm

    Kết quả sau cùng của hiệp ước này là Việt Nam bị thiệt thòi rất nhiều. Không kể tới hậu quả thương tổn tinh thần một mọi công dân Việt Nam đếu phải gánh chịu, đất nước chúng ta đang teo hẹp lại. Giới đối lập nói Việt Nam mất từ 720 đến 769 km2, trong khi chính quyền Hà Nội nói chỉ mất 2,3 km2. Sự thật như thế nào, đến nay chưa rõ nhưng nếu quan sát kỹ mọi người sẽ thấy một số mờ ám như sau :

    - Những phần đất phía Tây Bắc trước kia nằm trong lãnh thổ Việt Nam trên hai bờ sông Nậm Là (xã Pa Nậm Cúm, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu), tả ngạn sông Chảy (từ xã Phạ Long đến chân núi Kiều Liên Tì, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai), hai bờ sông Lam (xã Thanh Thủy, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) và tả ngạn sông Nho Quế (từ xã Chắn Pùng đến xã Cóc Pàng, tỉnh Hà Giang) nếu được xác định theo nguyên tắc 2 và 3 thì đều thuộc về Trung Quốc từ 1954 và 1979.

    - Trong tỉnh Cao Bằng, phần đất quanh khu vực thôn Pắc Bó và sông Cam (xã Trung Hòa, huyện Hà Quảng), tả ngạn sông Hắc Giang (Lo Chong) từ Pắc Mường đến Bàn Thắng), hai bờ sông Bằng Giang từ Phục Hóa đến Tà Lủng (huyện Thạch An) có lẽ đã mất về tay Trung Quốc. Trước kia Pắc Bó cách biên giới Trung Quốc từ 8 đến 10 km đường chim bay, nay thì đứng nơi này có thể nhìn sang Trung Quốc rất dễ dàng, tức chỉ còn cách từ một đến hai km. Trung Quốc xác nhận cư dân tại đây đã sinh sống từ lâu đời và là công dân Trung Quốc. Những phần đất nằm trên tả ngạn hai sông Hắc Giang và Bằng Giang theo hai công ước 1887 và 1895 thuộc về Việt Nam, nếu theo nguyên tắc 2 của bản thỏa thuận ngày 19-10-1993 thì biên giới phân chia hai nước nằm ở giữa các dòng sông.

    - Ải Nam Quan trong tỉnh Lạng Sơn, theo hai công ước Pháp - Thanh, trước kia nằm sâu trong nội địa Việt Nam hơn 50 mét, nay thì ngược lại nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc 200 mét. Phần đất hẹp nằm trên tả ngạn nhánh sông Kỳ Cùng thuộc xã Chi Ma cũng thế.

    - Trong tỉnh Quảng Ninh, phần đất tranh cãi nhiều nhất là phía tả ngạn sông Tiên Yên, từ xã Hoành Mô đến Bắc Phóng Sình, có lẽ cũng đã mất nếu bị phân chia theo nguyên tắc 2 của bản thỏa thuận, là theo đường chạy giữa tuyến sông. Đó cũng là trường hợp của phần đất nằm trên tả ngạn sông Móng Cái (Đông Mô) từ thị xã Móng Cái tới xã Thắn Pùn, đối diện với thị xã Đông Hưng của Trung Quốc.

    Việc mất đất là có thật. Mất bao nhiêu và mất chỗ nào, chưa ai có thể xác định rõ. Phải xem bản đồ đính kèm hiệp ước 1999 và đến tận nơi quan sát mới có thể đưa ra số liệu chính xác. Con số 720 hay 769 km2 đất đai bị mất không xa sự thật là bao nhiêu, và cũng có thể bị mất nhiều hơn nữa nếu tính những làng xã biên giới đã bị sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc từ 1954 đến 1957.

    Trách nhiệm thuộc về ai ? Chắc chắn là thuộc về Đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ khi nắm quyền lãnh đạo đất nước đến nay, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chiếm hữu đất nước này làm của riêng cho nên đã muốn làm gì thì làm. Năm 1957 họ đã tự quyền liên lạc với Đảng Cộng Sản Trung Quốc để thảo luận về các vấn đề biên giới mà không cần thông qua Quốc Hội, trên nguyên tắc là cơ quan quyền lực cao nhất như chính hiến pháp của họ đã qui định. Năm 1992 họ đã ra chỉ thị cho các phái đoàn đàm phán nhường nhịn Trung Quốc để kịp hoàn tất hiệp ước biên giới trên đất liền trước cuối năm 1999 và hiệp định phân chia Vịnh Bắc Bộ trước cuối năm 2000.

    Chỉ vì lợi lộc riêng tư mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bán đứng quyền lợi của tổ quốc, nhượng đất và nhượng biển cho ngoại bang. Từ 1954 đến 1957, họ đã để mất nhiều vùng đất địa đầu tổ quốc ; năm 1958 nhắm mắt xác nhận lãnh hải và chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo ở Biển Đông ; từ 1960 đến 1965 để mất Ải Nam Quan, địa danh lịch sử của dân tộc Việt Nam. Năm 1954 họ im lặng trước vụ chiếm đóng nhóm Đông (Amphitrite) quần đảo Hoàng Sa ; năm 1958 còn nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên toàn biển Đông ; năm 1974 làm thinh trước vụ chiếm đóng nhóm Tây (Crescent) quần đảo Hoàng Sa và từ 1982 đã để mất phân nửa quần đảo Trường Sa về tay Trung Quốc.

    Thái độ và những hành động này của Đảng Cộng Sản Việt Nam vi phạm ngay chính Điều Một, điều đầu tiên, của bản hiến pháp mà họ đã ban hành năm 1992 : "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng trời và vùng biển". Lãnh thổ Việt Nam đã không còn toàn vẹn nữa.

    Đảng Cộng Sản Việt Nam rất khó chạy tội trước lịch sử. Ba cuộc chiến tranh mà họ gây ra (chống Pháp, lấn chiếm miền Nam và chiếm đóng Kampuchia), làm thiệt hơn 6 triệu người Việt Nam, đã chỉ đem lại bất công và nỗi nhục thua kém. Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ còn một lối thoát duy nhất là dân chủ hóa đất nước thật nhanh để những người lãnh đạo dân cử sau này đòi lại những phần đất đã mất và dẫn đưa dân tộc Việt Nam ra khỏi lầm than, bắt kịp tiến bộ chung của thế giới.

    Nguyễn Văn Huy

    Biên Giới Việt Hoa II

    Nguyễn Văn Canh

    (Ðưa lên lenduong.net ngày 18/09/2002 )

    Sáng hôm nay, trên Nhật Báo Nhân Dân Điện Tử, lãnh đạo Đảng Cộng Sản đã cho Lê công Phụng, thứ trưởng ngoại giao VC, phụ trách thương thảo hiệp ước, giải thích chi tiết về một số đường ranh biên giới theo Hiệp ước VC và TC ký ngày 29 tháng 12 năm 1999. Các chi tiết này nói tới một số điểm trên bản đồ mà hai bên vẽ để thiết lập đường biên giới mới giữa Việt nam và Trung Hoa.

    Đây là một điểm tích cực đáng ngợi khen, vì ngày 28 tháng 8 vừa qua, lãnh đạo Đảng CSVN (ĐCS) đã phổ biến Hiệp ước theo đòi hỏi của quốc dân Việt, nhưng không phổ biến bản đồ. Vì bộ bản đồ theo khoản chót của điều II Hiệp ước là một phần bất khả phân của toàn bộ Hiệp ước, lại không được kèm theo. Quốc dân Việt đòi hỏi lãnh đạo ĐCS phổ biến bộ bản đồ ấy. Hôm nay Lê công Phụng lên tiếng giải thích một số điểm trên bản đồ mà Đảng CS và Đảng CSTH đã thoả thuận.

    Tuy nhiên, khi đọc những lời giải thích dưới hình thức phỏng vấn trên nhật báo Nhân Dân điện tử, tôi thấy có nhiều điểm thắc mắc, đòi lãnh đạo ĐCS phải đi xa hơn nữa cắt nghĩa cho quốc dân biết, vì lẽ có nhiều mâu thuẫn, có điểm còn che dấu và biện minh lại có sai lạc.

    Tôi đề cập tới sai biệt về cây số lãnh thổ chuyển cho Trung cộng; về đường ranh chạy qua Thác Bản Giốc, và vị trí ải Nam Quan.

    I. SAI BIỆT VỀ CÂY SỐ VUÔNG VÀ ĐẤT BỊ CHIẾM

    Phụng nhắc lại có khác biệt giữa hai bên (Trung cộng và Việt cộng) về 227 km2 như đã nói trong kỳ họp báo với VASC ORIENT vào 28 tháng 1, 02. Sau khi thương thuyết với Trung cộng "ta được 113 km2"TC được "114 km2", như vậy Việt Nam chỉ mất có 1 km2.

    Lãnh đạo ĐCS làm sao giải thích được những sự kiện sau đây:

    1) Lê minh Nghĩa, chủ tịch Ủy Ban Lãnh Thổ và Thềm Lục Địa thuộc Phủ Thủ Tướng tuyên bố vào rằng 1992 Việt Nam mất vào tay Trung cộng 80,000 hectares (hay 80 km2)?

    2). "Trong khoảng 450 km dọc biên giới, hai bên có tranh chấp 164 khu vực". Vậy đó là những khu vực nào trong số 450km? Tôi biết rằng các khu vực này nằm dọc biên giới là 4 tỉnh Lạng sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai. Các địa điểm này trùng hợp với 130 địa điểm mà VC trong thập niên 1980 kêu la rằng TC đã chiếm cứ. Vậy cần phải nói rõ vị trí và diện tích 164 địa điểm đó. TC đã trả lại đất đã chiếm bằng cách nào, để từ đó thiết lập đường ranh mới, và nay dựa trên đó để đi cắm mốc?

    3) VC có loan báo trước đây rằng trong thời gian đánh nhau với TC trong cuộc chiến tranh từ 1979, quân TC đã di chuyển 100 mốc vào nội địa Việt nam. Các cột mốc ấy được cắm theo Hiệp ước Thiên Tân, 1885 và các công ước 1887 và 1895 đã qui định và được hợp thức hoá bằng bản đồ với đường ranh phân định lãnh thổ. Cách giải quyết 100 cột mốc mà VC đã loan báo được thực hiện như thế nào? Có mang cột mốc ấy cắm lại vào chỗ cũ hay không?

    4) Các khu vực chiến lược và các cao địa mà quân TC chiếm đóng, rồi gài hơn 2 triệu quả mìn trong nội địa Việt nam. TC coi các vùng ấy là của chúng. Trong thời gian hai bên ngưng chiến, và cả sau khi thiết lập bang giao, nhân viên bộ ngoại giao VC đến khảo sát địa thế bị lính TC xua đuổi và đe doạ bắn. Các nhân viên này phải rút lui. Lãnh đạo đảng cần phải công bố các chi tiết này.

    Tất cả cá chi tiết trên làm cho người ta kết luận rằng không phải 700 hay 800 km2 chuyển nhượng cho TC, mà có thể cả nghìn cây số vuông.

    II. THÁC BẢN GIỐC.

    Phụng nói "Cũng như ở các khu vực sông, suối khác, đường biên giới ở khu vực này được giải quyết theo tập quán quốc tế là THEO TRUNG TUYẾN ĐƯỜNG CHẢY CHÍNH; việc xác định trung tuyến dòng chảy chính ở thác Bản Giốc sẽ do hai bên cùng đo đạc xác định... Như vậy, hòan toàn không có việc ta mất thác Bản Giốc mà chỉ là việc xác định hướng đi của đường biên giới phù hợp với nguyên tắc xác định hướng đi của đường biên giới trên sông, suối đã được hai bên thoả thuận, phù hợp với tập quán quốc tế ."

    Chính vì vạch đường ranh mới theo hướng đi của đường biên giới, nên hướng ấy trong khu vực Bản Giốc phù hợp với dòng chảy của Thác Bản Giốc. Nghĩa là dòng này chạy xuyên qua Thác, nên hai bên đã thoả thuận chia đôi. Trong bài phỏng vấn với VASC Orient ngày 28 tháng 1, 02, Phụng có nói rằng "trong sử sách của Việt nam và Trung quốc, không ai nói thác này của Trung quốc. Trung quốc cũng không nói đấy là của Trung Quốc. Còn đối với Việt nam thác này đã đi vào sử sách, nhất là sách giáo khoa của học sinh [thác] này thành di tích, điểm du lịch được nhiều người ưa chuộng".

    Như vậy đường ranh giới do công ước 1887 qui định phải nằm ở bên trong lãnh thổ Trung Hoa, nghĩa là bên kia Thác, không phải chạy xuyên qua Thác để rồi chia đôi thác như Phụng nói "Thay vì chúng ta được 1/3, nhưng bạn đã thoả thuận thác được chia đôi".

    III. ẢI NAM QUAN.

    Phụng nói "Đối với đoạn đường bộ, thì Biên Bản hoạch định Pháp-Thanh năm 1886 qui định rằng đường biên giới 'nằm ở phía Nam ải Nam Quan trên đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng'. Khi phân giới, hai bên đã cắm mốc số 18 để xác định đường biên giới và vị trí của mốc này cũng được mô tả là nằm trên đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng ( mốc này đã bị mất).
    Còn trên Bản Đồ cắm mốc Pháp-Thanh năm 1894, thì địa danh Nam Quan ở phía Bắc đường biên giới.
    Như vậy, đường biên giới ở phía Nam của Nam Quan....
    Đối với đọan đường sắt, phía Trung Quốc cho rằng đường biên giới đi qua điểm nối ray, nhưng qua đàm phán, hai phía đã đi đến giải pháp là đường biên giới nằm ở phía Bắc điểm nối ray 148m"

    Có một số vấn đề liên quan đến lời giải thích này:

    1) Ải Nam Quan nằm ở phía Bắc đường ranh giới?

    Ải Nam Quan nào? Tôi thấy có 2 vị trí ải Nam Quan.

    - Trước năm 1885, đã có một đường ranh giới giữa 2 quốc gia. Khi Ủy Ban cắm mốc đến khảo sát địa thế vùng ải Nam Quan để xác định biên giới.
    Vào thời điểm này Ủy Ban đã thấy có cửa Ải Nam Quan. Cửa ải này được Bác sĩ Neis, một thành viên của Ủy Ban cắm mốc người Pháp đề cập trong cuốn "Sur les Frontìères du Tonkin," Le tour du Monde, 1887 như sau trong một hình chụp: Ải này nằm ở khe núi, giữa 2 ngọn núi trọc, cao, mỗi bên cao từ 50 rới 60 thước. Ải này chỉ là một bức tường bằng đá ong, xây nối hai quả núi lại với nhau, ở giữa có một cổng, hình cánh cung ở phía trên, làm lối đi, đủ rộng cho một cỗ xe ngựa. Vì ải nằm ở giữa núi, nên việc cắm mốc trên hai ngọn núi không thực hiện được. Phía Trung Hoa trong Ủy Ban đề nghị xuống một miếng đất phẳng ở phía Nam, cách ải Nam Quan 150 m về phía Nam để cắm mốc phân định ranh giới. Phía người Pháp đi thị sát khu vực, thấy có một con suối chạy theo chân núi và có một miếng đất phẳng cạnh đó, nên đã chấp thuận chọn địa điểm đó để cắm mốc. Như vậy, ranh giới này chạy theo con suối, nằm ở chân núi. Sau khi có đường ranh biên giới mới theo Công ước 1887, thì ải ấy di chuyển về phía Nam so với vị trí cũ. Do vậy, theo công ước 1887, ải ấy nằm ở phía Bắc ranh giới của 2 nuớc, mà Biên bản, cũng như trên Bản đồ ghi và tham chíếu vào đó để xác định vị trí mốc biên giới. Đây là cửa ải có trước 1885.

    - Cửa ải sau 1887. Nay có đường ranh biên giới mới. Người ta xây một cổng của cửa ải mới. Cổng này là một tòa nhà 2, tầng lầu, tầng dứơi là một cổng vòng cung, rất rộng, xe cộ có thể qua lại được. Tầng trên là văn phòng hành chánh. Toà nhà được xây giữa khe núi, có cây cổ thụ xung quanh. Hai bên cổng là hai bức tường đá, chạy trên đỉnh đồi, lên đến tận các núi phía xa. Các bức tường này là ranh giới hai quốc gia (National Geographic Magazine, 1931, hình,tr. 198). Như vậy, đó là cửa ải Nam Quan, dựa trên Hiệp ước Thiên Tân 1885. Cửa ải này nằm trên đường biên giới.

    Vậy cổng ải Nam Quan mới này là điểm phải coi là cứ điểm giữa 2 quốc gia, để xem ĐCS đã nhượng bao nhiêu đất. Không phải là điểm mà Lê công Phụng nói ở trên.

    Thêm vào đó, theo cuốn Sơ Thảo Địa Lý Tỉnh Lạng Sơn do Ty Giáo Dục, thuộc Ủy Ban Hành Chánh Tỉnh Lạng Sơn (do các Giáo Viên Lạng Sơn biên soạn), tháng 8, 1955, thì vị trí ải Nam Quan cũng nằm trên đường biên giới:
    "Từ giữa xã Bảo lâm, biên giới chạy theo hình một cái túi qua khu vực Đồng Đăng, xã Tân Uyên, Tân Thành ( mốc 21,...13) miệng túi là 2 mốc 21 và 13 cách nhau có 3km500; gần đáy túi là cửa Mục Nam Quan, gần 2 mốc số 18 và 19Ạ; ở hẳn đáy túi cách miệng túi tới 7 km là mốc số 16 trên đỉnh núi đá vôi, cách quốc lộ 4 có 200m. Ngày trước, bên này Nam Quan có đồn Đồng Đăng cách Nam Quan 3 km 500 về Tây nam, bên kia Nam Quan có đồn Cao Cấp cách Nam Quan 4km về phía Bắc ( tr. 15).

    Ngoài ra trang 19 có nói như sau: "Cửa Mục Nam Quan, đầu mối quốc lộ số 1, cửa ngõ sang Trung Hoa, đi Liên sô và các nước dân chủ Đông Âu, cách 14 km về phía Tây Bắc".
    Tóm lại, theo cách mô tả trên thì cửa Mục Nam Quan kể từ công ước 1887 nằm trên đường biên giới.

    2) Nhượng bao nhiêu đất?

    a) Về việc nhượng một phần ải Nam Quan, trong cuộc phỏng vấn ngày 28 tháng 1, 02, Phụng nói rằng đã nhượng cho TC là 200 m.
    b) Điểm Nối Ray (nơi giáp nhau giữa hai đường tàu xe lửa).

    Ta cũng cần nhắc lại sự việc về cái gọi là điểm Nối Ray. Sau khi thắng được Miền Bắc, Hồ chí Minh xin với Mao nối dài đường hoả xa của Trung cộng vào nội địa Việt nam, tới điểm bắt đầu đường hoả xa Việt nam từ Hà nội đi lên. Đoạn này dài 300m.

    Đây là điểm nối tiếp giữa hai đường hỏa xa, để Hà nội có thể đi sang Trung Hoa, và đi Mạc tư Khoa, và tới các quốc gia theo xã hội chủ nghĩa. Sở dĩ có đề nghị này là vì cổng của cửa ải quá hẹp, nên không thể dùng làm giao điểm ấy được. Mao đã thực hiện điều này. Nhưng sau khi xây xong, thì Mao coi khu vực này là lãnh thổ Trung Hoa, và họ Hồ không đòi lại được.

    Nay, với Hiệp ước mới và với lới gải thích của Phụng, thì hai bên thoả thuận là "đường biên giới nằm ở phía Bắc điểm nối ray là 148 m". Điều này có nghĩa là Việt nam mất 152 m ở đoạn này.
    Tóm lại qua lời thú nhận của Phụng, Việt nam đã nhượng 352 m trong địa phận Nam Quan.

    Tuy nhiên, vào năm 1992, ký giả quốc tế có trông thấy đồn quan thuế mới của VC nay nằm cách vị trí đồn cũ là 480 m, hay có ký giả khác chứng kiến lính biên phòng VC bắn lính Trung cộng trong khoảng thời gian này vì đã di chuyển cột mốc cây số vào nội địa Việt nam 300m.
    Các chi tiết này cần được trả lời.

    IV. CÁC ĐÒI HỎI.

    Trả lời cuộc phỏng vấn, Phụng nhấn mạnh rằng những thông tin do bọn phản động và cơ hội chính trị tung ra là hòan tòan bịa đặt, không có căn cứ và chỉ nhằm phục vụ cho những ý đồ đen tối.

    Lãnh thổ, lãnh hải là tài sản của dân tộc Việt. ĐCS ký hiệp ước thiết lập biên giới mới với nhiều bằng chứng là có chuyển nhượng tài sản đó. Người Việt trong nước bị bịt miệng, bị bắt giam khi nêu vấn đề này. Người Việt hải ngoại có trách nhiệm đòi hỏi ĐCS phải làm sáng tỏ vấn đề ấy. Điều này không thể bị qui trách một cách ngoan cố là "bịa đặt hay nhằm phục vụ các ý đồ đen tối", một điều mà ĐCS nhai đi nhai lại, ám chỉ người Việt hải ngoại có âm mưu này.

    Lần này, trả lời phỏng vấn, Phụng khôn ngoan hơn, không nói gì đến sự chấp thuận hay chỉ đạo của ĐCS, mà chỉ nhắc đến "Quốc hội- cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước ta phê chuẩn". Như vậy, Phụng có ý đổ trách nhiệm cho Quốc Hội, và đã dấu Đảng ở phía sau.

    Phụng có nói tới 6 nguyên tắc mà hai Chính phủ đã kỳ vào ngày 19 tháng 10 năm 1993 để gỉai quyết vấn đè biên giới. Nguyên tắc 2 có đề cập đến "khảo sát thực địa".

    Với nguyên tắc này, quốc dân Việt nam đòi hỏi ĐCS phải thả ngay các nhà văn Trần Khuê, Bùi minh Quốc, LS Lê chí Quang vì đã đi hay đòi "khảo sát thực địa" mà bị cầm tù. Cũng không được ngược đãi các đảng viên cao cấp, các trí thức như các ông Hoàng minh Chính, Phạm quế Dương, Vũ công Quận, Lý công Luận, Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang v.v. vì đã lên tiếng về vấn đề này. Phải để cho họ tự do đi lại, tìm hiểu vấn đề theo ý họ, dù nhà nước Cộng sản không trả chi phí cho họ đi "khảo sát".

    Quốc dân cũng đòi hỏi ĐCS phải trả lời mọi thắc mắc, phổ biến bộ bản đồ và công khai hoá mọi chi tiết liên hệ cho mọi người dân trong nước biết. Phổ biến trên nhật báo Nhân Dân điện tử chỉ giúp cho một số ít người hải ngoại biết mà thôi. Còn ở trong nuớc, chỉ có 200.000 người vào được mạng lứơi thông tin điện toán và nhưng lại bị kiểm soát gắt gao, thì làm sao dân chúng biết được, dù chỉ trả lời những gì mà ĐCS muốn, chứ không phải những gì dân muốn biết...

    Nguyễn Văn Canh

    (Theo MẠNG LƯỚI TUỔI TRẺ VIỆT NAM LÊN ÐƯỜNG
    http://www.lenduong.net/ - [email protected])________________________________________

    Mang đất của tổ tiên đi cống hiến

    Ngô Nhân Dụng

    (Theo Web Diễn Đàn Dân Chủ)

    Khi nhìn thấy những điều mờ ám, khuất tất trong việc đảng Cộng Sản Việt Nam ký các Hiệp ước Biên giới với Trung Quốc, và những thiệt thòi hiển nhiên mà dân tộc Việt Nam phải chịu, mọi người Việt Nam yêu nước và tranh đấu cho dân chủ phải tự hỏi: Tại sao họ phải làm như vậy? Tại sao có những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam cam tâm gánh lấy tội bán nước mà không tìm cách nào trì hoãn, lảng tránh để khỏi mang mối nhục ngàn đời đó?

    Mục này đã nêu lên nhiều giả thuyết về động cơ của hành động ký kết vội vã những bản hiệp ước biên giới. Nhưng có các lý do chính thức đã được ông Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại giao chủ trì các cuộc đàm phán về biên giới, nêu ra trong bài "phỏng vấn" do cơ quan VASC Orient của đảng đưa lên mạng lưới điện toán toàn cầu.

    Ông Lê Công Phụng nhấn mạnh đến nhu cầu ổn định để phát triển kinh tế, vì biết phát triển kinh tế là mối lo lắng của tất cả mọi người Việt Nam ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ bần cùng hóa vì hệ thống kinh tế cộng sản. Ông Lê Công Phụng nói tới nhu cầu "... làm sao mà duy trì được ổn định nhằm phát triển kinh tế." Ông nhắc lại một lần nữa "... yêu cầu của nhân dân Việt Nam là làm sao có đường biên giới hòa bình, hữu nghị và ổn định với các nước láng giềng; vì chỉ có vậy chúng ta mới tập trung được sức lực để xây dựng, phát triển ..."

    Bây giờ phải đặt một câu hỏi để mọi người cùng suy nghĩ: Hiệp định biên giới có thật sự cần thiết, không có không được, để dân ta sống ổn định và phát triển kinh tế hay không?

    Ðể trả lời câu hỏi đó, chúng ta tự hỏi, nếu chính quyền cộng sản Việt Nam không hấp tấp ký các hiệp ước vào cuối năm 1999 và 2000 theo lời yêu cầu của Bắc Kinh, thì liệu nước Việt Nam có bị mất ổn định hay không? Nói cách khác, liệu Cộng Sản Trung Quốc có xâm lăng hoặc gây hấn nơi biên giới làm đời sống dân ta mất ổn định hay không?

    Câu trả lời chắc chắn là: Không.

    Trên thế giới ngày nay, một cường quốc như Trung Hoa cũng không thể đem quân xâm phạm lãnh thổ một nước láng giềng nhỏ yếu chỉ vì cãi nhau về mấy trăm cây số đường biên giới. Nếu Trung Quốc làm như vậy, tất cả các cường quốc kinh tế khác sẽ phản đối. Hoa kỳ, Nhật Bản, Nga, và các nước trong Liên hiệp Âu châu sẽ chống đối bằng những hành động cụ thể như ngưng giao thiệp, không buôn bán, không đầu tư. Các nước nhỏ vùng Ðông Nam và khối ASEAN càng nghi ngờ và lo sợ về mưu đồ bành trướng của Bắc Kinh, họ sẽ tìm cách lánh xa. Chính quyền cộng sản Trung Quốc phải nhìn thấy hành động xâm lược Việt Nam chỉ mang lại mối lợi quá nhỏ so với những hậu quả gây thiệt hại nhiều hơn. Và họ sẽ không bao giờ xâm lăng như vậy!

    Hiện nay trên thế giới có hàng trăm cuộc tranh chấp biên giới, kéo dài hàng thế kỷ chưa được giải quyết. Sau Ðại chiến Thứ hai, sau khi khối cộng sản Ðông Âu sụp đổ, đều nẩy sinh ra các cuộc tranh tụng về biên giới. Giữa Nhật Bản và Liên xô (Cộng Hòa Nga ngày nay). Giữa các nước Ðức và Tiệp, Áo và Hungary, Bulgari và Rumani, v.v... Nhưng không chính quyền nào nêu lý do "phát triển kinh tế" rồi vội ký kết những hiệp ước biên giới để mua sự ổn định giả tạo. Ông Lê Công Phụng nói rằng những vùng ven biên có dân Trung Hoa đã sang lập nghiệp ở nước ta thì phải cho sáp nhập vào Trung Quốc. Nhưng ở trong các nước Ba Lan, Hungary, Cộng Hòa Tiệp đều có hàng trăm ngàn đến hàng triệu người Ðức sinh sống, không phải vì thế mà các chính phủ này chịu nhường đất cho nước Ðức. Tình trạng biên giới mập mờ đó có khiến cho những nước trên mất ổn định và không thể phát triển kinh tế hay không? Không. Từ khi thoát khỏi chế độ cộng sản, kinh tế các nước Tiệp, Hung, Ba Lan và Ðông Ðức cũ đã phát triển mạnh mẽ.

    Còn thứ bất ổn định nào khác?

    Phải chăng chính quyền cộng sản lo ngại về các đoàn quân buôn lậu đem hàng hóa vượt biên tràn ngập Việt Nam? Ðây là một vấn đề địa phương, các chính quyền địa phương phải giải quyết, đặc biệt phải bài trừ nạn tham nhũng ở địa phương, cả hai bên biên giới. Bao giờ hai chế độ cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam dẹp được tham nhũng thì nạn buôn lậu sẽ chấm dứt, dù có hay không có hiệp ước biên giới mới. Ngược lại, dù có ký bao nhiêu hiệp ước chăng nữa mà nạn tham nhũng vẫn còn thì dân buôn lậu vẫn làm chủ cả hai bên biên giới.

    Cuối cùng, lý do "ổn định để phát triển" mà ông Lê Công Phụng đưa ra hoàn toàn vô căn cứ. Lý do đích thực, thầm kín khiến đảng Cộng Sản Việt Nam phải vội vã làm vừa ý các lãnh tụ ở Bắc Kinh là mối nợ riêng của những người lãnh đạo đảng ở Hà Nội đối với các đàn anh Trung Quốc. Từ khi Cộng Sản Liên xô và Ðông Âu sụp đổ, họ đã bám lấy Cộng Sản Trung Hoa làm chỗ tựa để bảo vệ địa vị độc quyền chính trị và độc quyền kinh tế của các lãnh tụ đảng. Tháng Chín năm 1989 Nguyễn Văn Linh đã dẫn Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô dể xin Trung Quốc viện trơ. Năm 1991 Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt lại sang Trung Quốc xin ủng hộ. Cứ tiếp tục như thế qua thời Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh.

    Phía Cộng Sản Trung Hoa, họ không có nhu cầu và chẳng thấy lợi lộc nào trong việc nối lại bang giao với Việt Nam. Ngay trong việc bảo vệ chủ nghĩa cộng sản ở Trung Hoa họ cũng chỉ nói ngoài miệng. Từ thời Ðặng Tiểu Bình tới Giang Trạch Dân đều đã chọn tư bản hóa dần dần nước Trung Hoa rồi. Họ không cần đến "tình huynh đệ quốc tế vô sản" của các ông Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu nữa! Cộng Sản Việt Nam lúc đó đã thất bại đau đớn ở Cam Bốt, đang bị cô lập với cả thế giới vì xâm lăng Cam Bốt, cũng chẳng có thế lực nào để giúp Trung Quốc trên trường ngoại giao quốc tế. Ngược lại, các lãnh tụ ở Bắc Kinh còn xúi dại Cộng Sản Việt Nam tiếp tục trì hoãn việc bang giao và thương mại với Mỹ, trong lúc chính Bắc Kinh tìm mọi cách làm thân với Washington và ký hiệp định mậu dịch với Mỹ trước.

    Cộng Sản Việt Nam đi cầu viện với thế yếu như vậy, thì Cộng Sản Trung Hoa biết đòi hỏi những gì để đổi lại việc họ ủng hộ chế độ Hà Nội? Ngược lại, Cộng Sản Việt Nam biết đem cống hiến những gì để đổi lấy sự hỗ trợ của Trung Quốc?

    Quý vị có thể suy ra câu trả lời.

    Chẳng có gì hết ngoài đất đai của tổ tiên để lại.

    Ngô Nhân Dụng

    (Theo Web Diễn Đàn Dân Chủ)

    Chọn bạn mà chơi !

    Nguyễn Văn Hòa thực hiện

    (Theo Web Thông Luận)

    LTS : Ngày 18-6-2002 vừa qua, nhà báo Bùi Tín đã trả lời phỏng vấn của báo Cánh Én, xuất bản tại München, Cộng Hòa Liên Bang Đức về quan hệ Việt-Mỹ. Báo Cánh Én do một số trí thức, thanh niên Việt Nam sinh sống ở Cộng Hòa Liên Bang Đức xuất bản hơn 10 năm qua sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Chúng tôi đăng lại sau đây nguyên văn cuộc phỏng vấn.

    - Cánh Én : Thưa ông Bùi Tín, được biết ông vừa tham dự cuộc Hội thảo về quan hệ Việt - Mỹ do AEI tổ chức tại Hoa Kỳ vào tháng Tư năm 2002, xin ông cho biết sơ qua về AEI và lý do nào dẫn đến việc tổ chức cuộc hội thảo.

    - Bùi Tín : AEI là tên gọi tắt của ba chữ American Enterprise Institute. AEI là một trong vài cơ quan nghiên cứu chính sách lớn nhất của Mỹ. Theo tập quán chính trị của nước Mỹ thì không phải là "Bộ chính trị" đề ra đường lối chính sách (cười) ; AEI là một tổ chức do nhiều hiệp hội và cá nhân lập nên, không thuộc đảng phái nào. AEI được điều hành bởi một tập thể bao gồm khoảng 60 các giáo sư đại học, các viện sĩ của các viện nghiên cứu, các nhà tư tưởng, các nhà báo, nhà ngoại giao, bộ trưởng, tướng lĩnh về hưu có trình độ nghiên cứu cao... Hàng năm AEI tổ chức chừng gần một trăm cuộc họp lớn nhỏ trên nước Mỹ và khắp thế giới, trao đổi về mọi tình hình, ví dụ như về quan hệ của Mỹ với Israel, với Trung Quốc hay với Bắc Triều Tiên. AEI đề xuất ra những ý kiến cho chính phủ và xã hội để gợi ý cho công luận trao đổi, tranh luận, bổ sung và từ đó dần dần tìm ra những phương cách khả dĩ để hình thành những lựa chọn tối ưu.
    Gần đây, AEI có sáng kiến mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ Việt-Mỹ. Điều này, xuất phát từ thực tế là Việt Nam đã có một số thay đổi khá rõ nét so với thời kỳ đóng cửa, bao cấp và đề ra nhiều chủ trương mà phía Mỹ cho là chính đáng như : xóa đói giảm nghèo ; thu hẹp khoảng cách về phát triển với các nước lân bang ; cam kết hòa nhập với thế giới, xây dựng một đất nước thượng tôn pháp luật. Kinh tế Việt Nam phát triển với tốc độ khá, quan hệ Việt-Mỹ được cải thiện rõ, đã bình thường hóa, tổng thống Mỹ thăm chính thức Việt Nam v.v.
    Tuy nhiên Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề nghiêm trọng : đà phát triển chưa cao, chưa vững ; khoảng cách lạc hậu so với các nước láng giềng vẫn mở rộng, chưa có khả năng thu hẹp ; bất công xã hội còn nhiều ; khoảng cách giàu nghèo tăng rõ ; thiếu vốn lớn, thiếu kỹ thuật hiện đại để đổi mới cơ sở hạ tầng cũ kỹ ; giáo dục, y tế quá thấp kém. Phía Việt Nam đang tìm kiếm ít nhất từ 20 đến 25 tỷ USD đầu tư cho mười năm tới. Trong điều kiện ấy, nếu như Việt Nam đáp ứng yêu cầu của một số cơ quan và một số nhà hoạch định chính sách của Mỹ hiện nay là thực hiện mối quan hệ thân hữu Mỹ-Việt, điều ấy có thể là một yếu tố cơ bản để thực hiện thuận lợi những mục tiêu tốt đẹp của xã hội Việt Nam và phía Mỹ có thể huy động đến 50 tỷ USD đầu tư không mấy khó khăn. Sự hợp tác này không nhằm chống phá Việt Nam, cũng không nhằm lật đổ Đảng Cộng Sản Việt Nam, mà trái lại chỉ làm cho Việt Nam có thể thực hiện được những mục tiêu xã hội tốt đẹp do chính họ đề ra. Đảng cộng sản có mất chăng chỉ mất một số khái niệm chưa thành sự thật (như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản), mất đi điều đã trở thành lạc lõng giữa thế giới ngày nay là độc quyền cai trị đất nước.

    - Chúng ta đều là những người đã từng sống trong chế độ Hà Nội nên hiểu rất rõ tâm địa của họ, vì vậy chúng tôi muốn hỏi : Không hiểu các nhà nghiên cứu chính sách của AEI có biết rằng dù nói thế nào đi chăng nữa thì chính quyền Hà Nội vẫn chưa thể coi Mỹ là bạn được.

    - Phía Mỹ ủng hộ các cải cách của Việt Nam, nhưng mặt khác họ cũng biết trong quan hệ Việt-Mỹ, Đảng Cộng Sản Việt Nam không rõ ràng, dứt khoát, trong nội bộ còn có nhiều mâu thuẫn, tranh chấp. Phía Mỹ tỏ ra rất hiểu đảng cộng sản và nói thẳng với tôi là đảng cộng sản luôn nói theo một đằng nhưng lại suy nghĩ theo cách khác. Họ nói muốn làm bạn với Mỹ, với tất cả các nước khác, nhưng chúng tôi biết rằng họ sắp xếp các quan hệ theo thứ tự.
    Quan hệ đặc biệt số một là quan hệ với Lào và Campuchia do vì Đảng Cộng Sản Đông Dương trước kia, rồi ông Hồ Chí Minh từng được coi là lãnh tụ chung của ba nước và Đông Dương được coi là một chiến trường, những điều này vẫn được họ giữ cho tới nay. Tình hữu nghị là tốt nhưng trên thực tế, quan hệ này nhằm khống chế Lào và Campuchia, tự coi là nước đàn anh.
    Quan hệ mức thứ hai là quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa cũ là quan hệ dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin, dựa trên định hướng xã hội chủ nghĩa v.v., đó là quan hệ với Trung Quốc, Cuba, Bắc Triều Tiên.
    Quan hệ mức thứ ba là quan hệ với các nước Asian là Thái Lan, Philipin v.v.
    Quan hệ mức thứ tư là đến các nước dân tộc chủ nghĩa như Ấn Độ, Ai Cập, Algeria, Iran, Iraq v.v.
    Mức quan hệ thứ năm là đến các nước phương Tây và Nhật, Úc. Và mức quan hệ cuối cùng mới đến Hoa Kỳ, vì Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ còn nuôi ý định "diễn biến hòa bình" và vì Hoa Kỳ còn ép Việt Nam về các vấn đề nhân quyền. Sau chuyến đi thăm của tổng thống Clinton thì phía Mỹ thấy rằng nhân dân, tuổi trẻ, nhiều trí thức và các nhà kinh doanh Việt Nam thì nghĩ khác, nhưng chỉ vì họ vẫn bị sự khống chế của một nhóm lãnh đạo rất bảo thủ, cổ hủ của đảng cộng sản.
    Phía Mỹ mong muốn hợp tác với Việt Nam, họ nói thẳng rằng đó là do nhu cầu chiến lược ngăn chặn sự bá quyền và bành trướng của Trung Quốc, lành mạnh hóa quan hệ giữa các nước Châu Á. Cuộc hội thảo của AEI đã đưa ra bản đề nghị một Lộ Trình (Road map) cho bang giao Việt-Mỹ với nhận định : "Bản Lộ Trình đề nghị Việt Nam thực hiện những bước hiện đại hóa dân chủ theo bản sắc truyền thống dân tộc của mình, thì Hoa Kỳ sẽ thực hiện những bước tương ứng nhằm trợ giúp Việt Nam phát triển kinh tế và khả năng quân sự tự túc tự cường. Một nước Việt Nam thịnh vượng và tự tin sẽ có khả năng bảo vệ được nền độc lập của mình hơn trước áp lực của Trung Quốc muốn chiếm lấn lãnh thổ và cưỡng đoạt quyền hành trên biển Nam Hải. Bản Lộ Trình đặt giả định sự trợ giúp của Hoa Kỳ cho Việt Nam trên căn bản cân nhắc thận trọng về thành tích đổi mới chính trị tại Việt Nam".

    - Như vậy, một trong những nguyên nhân chủ yếu được đề cập chính là Trung Quốc với những tham vọng của nước này đối với các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam. Các hiệp định về biên giới được ký kết vừa qua của Trung Quốc với các nước láng giềng đã cho thấy rõ dã tâm của nước này. Xin ông nói rõ thêm về Trung Quốc và những hiểm họa từ chính sách bành trướng của nước này ?

    - Sau gần một nghìn năm bị Trung Quốc đô hộ thời xưa, các triều đình phong kiến Việt Nam luôn chống âm mưu đồng hóa, hán hóa của thiên triều, giữ gìn vững chắc nền tự chủ, kiên quyết về nguyên tắc kết hợp với sách lược mềm dẻo, khôn khéo. Chỉ từ khi đảng cộng sản độc quyền cai trị, du nhập chủ nghĩa Mao, mời đủ loại cố vấn Tàu sang "dạy bảo", nước ta trên thực tế mất độc lập và tự chủ. Tai họa không kể xiết. Những người lãnh đạo cấm không cho ai nghĩ và nói đến tai họa này. Từ khi Liên Xô tan rã, họ càng phụ thuộc Bắc Kinh, coi là chỗ dựa để tồn tại.
    Cần thấy rõ rằng Trung Quốc tuy là một nước lớn đông dân nhưng còn yếu về mọi mặt. Nước Trung Quốc cần một khoảng thời gian từ 15 đến 20 năm nữa mới có thể thực sự trở thành cường quốc. Trung Quốc quá đông dân, như một gia đình nghèo đông con, làm được gì cũng phải chia ra, mỗi đứa chỉ được hưởng tí chút. Điều này trở thành một gánh nặng. Phía Mỹ thấy rằng, hiện nay, Trung Quốc đang phải chịu năm nguy cơ, như năm quả bom nổ chậm.
    Nguy cơ thứ nhất là tội ác chiếm đóng rồi hán hóa Tây Tạng, cũng như các dân tộc Uigur, Tadjik, Kirghiz... ở Trung Á; tội ác tiêu diệt các đền thờ tôn giáo, nền văn hóa ở đó. Các dân tộc Tây Tạng và Trung Á khác cùng thế giới ngày nay đang chống lại âm mưu bành trướng này.
    Quả bom nổ chậm thứ hai là Pháp Luân Công. Số người theo Pháp Luân Công đông gấp nhiều lần số người theo Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Những người này theo một động cơ tôn giáo, không phải là mê tín mà họ rất thức tỉnh, nếu nói họ ngu muội thì phải nói rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc còn mê muội hơn. Những người theo Pháp Luân Công rất bất khuất và tự tin ; không tuần lễ nào là không có đấu tranh. Hơn nữa Pháp Luân Công Trung Quốc còn được những người theo Pháp Luân Công ở Hồng Kông, Nhật Bản, Triều Tiên và các nước phương Tây ủng hộ.
    Gánh nặng thứ ba là sự kiện và phong trào Thiên An Môn vẫn còn âm ỉ, những chiến sĩ dân chủ trong và ngoài nước đang kết hợp nhau để thức tỉnh dân chủ trong nhân dân.
    Quả bom nổ chậm thứ tư là nạn thất nghiệp và sự chênh lệch về mức sống ghê gớm giữa vùng nông thôn và thành thị, khiến người dân không thể chịu được. Hiện nay một bên có mức thu nhập lên đến 2.000 đến 2.500 USD một năm tính theo đầu người như ở Thẩm Quyến, Thượng Hải; còn ở nhiều vùng rừng núi, trong nội địa chỉ có mức thu nhập từ 100 đến 150 USD một năm. Sự chênh lệch này mang tính chất bùng nổ. Nạn thất nghiệp và sự chênh lệch quá xa của các vùng đã tạo nên các cuộc đấu tranh bao gồm hàng chục ngàn, thậm chí đã có tới gần một trăm ngàn người tham gia, điển hình như ở Tứ Xuyên, Thành Đô, Quý Châu, Vân Nam v.v.
    Và quả bom nổ chậm thứ năm, hay gánh nặng thứ năm, mà Trung Quốc đang gánh chịu là nạn tham nhũng ngay trong lòng của chế độ Trung Quốc, ngay cả ủy viên bộ chính trị Trần Hỷ Đồng cũng bị xử tử. Ngoài ra có hàng vạn vụ việc có liên quan tới các cán bộ cao cấp của nhà nước và Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Quốc nạn bất trị này là con đẻ của chế độ độc đảng , đảng ngồi trên luật.
    Từ các gánh nặng trên phía Mỹ cho rằng Trung Quốc không đáng sợ, bị nhiều mâu thuẫn nội bộ, chưa là một cường quốc kinh tế và quân sự. Để sánh được như Nga hiện nay, Trung Quốc phải cần tới hai thế hệ và để sánh được với Mỹ hiện nay thì Trung Quốc phải mất tới ba thế hệ. Và như vậy khi nhìn Trung Quốc ta chớ nên chỉ nhìn đó là một nước lớn đông người, vì trong thời đại hiện nay sức mạnh của một đất nước không tùy thuộc vào số dân mà là đường lối đúng đắn và chế độ đó có được lòng dân hay được sự quý trọng của thế giới hay không ?
    Sự việc mới xảy ra gần đây nhất, đó là ngày 6-6, đài Quảng Châu Trung Quốc thông báo cấm biển từ 0 giờ ngày 8-6 đến 17 giờ ngày 13-6, để Trung Quốc tiến hành bắn đạn thật trong các khu vực mà theo người phát ngôn bộ ngoại giao Việt Nam tuyên bố: "Khu vực biển theo tọa độ mà đài Quảng Châu, Trung Quốc, thông báo có nơi vào sâu trong các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam", cho thấy mặc dù đã cắt lãnh thổ trên đất liền cũng như trên biển để cầu hòa, chính quyền Hà Nội không bao giờ được Trung Quốc tôn trọng chủ quyền và cũng không bao giờ thỏa mãn được tham vọng không hạn độ của ông "bạn lớn" xấu bụng và xảo trá này.
    Tôi cần nói rõ rằng : phía Mỹ không xui ta đương đầu căng thẳng với Trung Quốc ; họ chỉ mong ta có quan hệ bình thường, bình đẳng với Trung Quốc, quan hệ láng giềng tốt, tôn trọng nhau, thế thôi.

    - Tham vọng và mưu đồ của Trung Quốc đã được ông nói rõ và sự thật lịch sử hàng nghìn năm đã chứng minh. Nhưng còn Mỹ, một nước mới có những dính líu thật sự với Việt Nam chưa đầy 100 năm, họ muốn gì ở Việt Nam và sẽ giúp ích gì cho Việt Nam ?

    - Các nhà nghiên cứu của AEI mong người Việt Nam chúng ta hiểu rằng Hoa Kỳ không hề nhòm ngó đến lãnh thổ, vùng biển hay biên giới của Việt Nam. Phía Mỹ chỉ muốn Việt Nam có được cả độc lập lẫn dân chủ, như các nước khác trên thế giới. Họ nói với tôi : trước đây họ chia ra phái "Bồ câu" và phái "Diều hâu". Phái "Bồ câu" là phái chủ hòa, phái "Diều hâu" là phái chủ chiến. Phái chủ chiến ủng hộ nền dân chủ của Việt Nam và cho rằng đảng Cộng Sản đàn áp dân chủ cho nên họ chống lại. Phái chủ hòa cho rằng mình đúng khi ủng hộ cuộc chiến đấu giành độc lập của Việt Nam do đảng cộng sản lãnh đạo. Tới nay, cả hai phái đều thấy rằng trong chiến tranh mình chỉ đúng có một cách tương dối, còn có thể tranh cãi, nhưng họ đã đạt đồng thuận sâu sắc là Việt Nam phải có cả độc lập và dân chủ
    Theo phía Mỹ, hiện nay Việt Nam chưa có độc lập đầy đủ vì còn phụ thuộc vào chủ nghĩa Mác-Lênin, một chủ nghĩa từ ngoài Việt Nam đưa vào ; Việt Nam vẫn còn phụ thuộc và chịu sức ép của Trung Quốc nên chưa tự quyết định được vận mệnh của mình ; Việt Nam chịu sự cai trị độc quyền của đảng cộng sản, dân Việt Nam vẫn chưa có tự do và dân chủ. Tuy gần đây nhà nước có nới ra quyền tự do đi lại, người dân có hộ chiếu, được đi du học, người dân có điện thoại... nhưng những quyền tự do căn bản nhất là quyền tự do báo chí, quyền tự do lập tổ chức và đặc biệt là quyền tự do bầu cử vẫn chưa có. Và như vậy thì không thể nói Việt Nam là một nước dân chủ được. Phía Mỹ biết là khi họ đưa ra các điều này sẽ gặp nhiều khó khăn và phía lãnh đạo Việt Nam sẽ khó lòng chấp nhận, nhưng nếu nhân dân, những người trí thức, giới trẻ không bị gánh nặng quá khứ và các nhà kinh doanh Việt Nam am hiểu được điều này sẽ tán thành và hướng hợp tác Việt-Mỹ được ngày càng đông đảo dư luận ủng hộ thì có thể có chuyển biến tốt đẹp.
    Hoa Kỳ rất mong người dân Việt Nam được lựa chọn trên cơ sở tự do, việc kết bạn này là hoàn toàn bình đẳng. Nếu người Việt Nam thật sự tán thành thì AEI sẽ đứng ra vận động xã hội, quốc hội, các viện nghiên cứu, các bộ máy tuyên truyền – người Mỹ gọi là làm lobby - để hình thành một ý muốn chung của nhân dân Mỹ, thực hiện một chính sách giao lưu, kết bạn thân thiết, tin cậy với nhân dân Việt Nam.
    Mỹ là một đất nước có tiềm năng kinh tế, tài chính, đầu tư số một của thế giới. Ngày nay Mỹ có lực lượng vũ trang số một thế giới, nhưng Mỹ không sử dụng để xâm lược mà chỉ để chống khủng bố. Nếu Việt Nam trở thành một nhà nước có pháp luật và gây được niềm tin với nước Mỹ, kết bạn một cách sòng phẳng rõ ràng, thì chắc chắn Việt Nam sẽ được nhà nước và các công ty lớn của Mỹ đầu tư vào với quy mô lớn và sẽ phát triển rất nhanh và vững về mọi mặt. Quan hệ kinh tế với Mỹ là một bước khởi đầu tốt nhưng hiện nay nó còn quá thấp, quá chậm và đem về quá ít lợi ích cho Việt Nam.
    Theo tin mới nhất tôi nhận được, trong tháng 6-2002, tiến sĩ Hilton L. Root, cố vấn cao cấp Bộ Tài chính Mỹ, trưởng ban nghiên cứu toàn cầu của Viện Milken (California) trong cuộc gặp gỡ báo chí tại Hà Nội đã nhận định Mỹ có thể viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam. Theo ông Root, cơ sở cho dự đoán này là quan hệ Việt - Mỹ thời gian qua có tiến triển và kinh tế Việt Nam đang đi đúng hướng. Mới đây, Mỹ đã dành thêm 5 tỷ USD viện trợ không hoàn lại cho các nước đang phát triển, tăng gấp bốn lần so với trước.
    Tuy nhiên, các nước là đối tượng được nhận viện trợ sẽ phải đáp ứng không ít những tiêu chí mà Mỹ đề ra. Ba tiêu chí cơ bản, theo cố vấn Root, đó là phải chứng minh những tiến bộ trong việc tạo lập sự lãnh đạo công bằng (quản lý tốt, chống tham nhũng, tôn trọng quyền con người) ; chú trọng đầu tư cho con người (coi trọng giáo dục, sức khỏe con người) và khuyến khích sự phát triển của kinh tế tư nhân và tự do hóa thị trường.
    Ba tiêu chí này của Mỹ không quá khó đối với một nước dân chủ nhưng thật sự khó cho một chế độ độc đảng như Việt Nam hiện nay. Thật sự là nếu Việt Nam có đầy đủ ba tiêu chí này thì chắc chắn sẽ đạt được những tiến bộ vượt bậc trong phát triển. Tuy vậy, để giúp cho Việt Nam vượt qua thời gian quá độ để phát triển, phía Mỹ thành tâm công nhận những tiến bộ dù còn hạn chế đã đạt được. Trên thực tế, nếu không có sự đồng ý của Mỹ, thì Việt Nam trong thời gian qua khó có thể nhận được những sự giúp đỡ tài chính của các tổ chức quốc tế. Vì vậy, có thể nói, trong thời gian tới Việt Nam có thể sẽ nhận thêm những khoản giúp đỡ khác nhiều hơn từ phía Mỹ.

    - Vậy chúng ta cần phải làm gì để thúc đẩy mối quan hệ này, thưa ông?

    - Chúng ta cần phải đánh động dư luận để mọi người thấy rằng đây không phải là một cái bẫy, mà đây là một điều kiện lành mạnh cho Việt Nam phát triển. Tôi muốn rằng buổi phỏng vấn này sẽ đánh động dư luận, giải thích các vướng mắc như : Tại sao lại có chuyện này ? AEI có chức năng gì ? Việc này có thực tế không ? Xung quanh việc này có liên quan gì tới mưu đồ gì của CIA, FBI hay không ?
    AEI và các nhà học giả đều có ý định tốt với Việt Nam. Họ không có tham vọng về quân sự, đất đai gì hết. Đó chỉ là cảm tình và mong muốn cho Việt Nam được phát triển. Đây là một cơ hội và nếu như bị bỏ lỡ thì Việt Nam không thể tìm được bạn tốt, và sẽ rất khó để tìm ra được con đường phát triển. Họ thực lòng quý trọng những đức tính cần cù, thông minh của người dân, rất cảm thông những khó khăn, éo le dân ta phải chịu đựng. Họ cũng rất tin ở thế hệ trẻ, ở trí thức Việt Nam mà một số nhân vật tiêu biểu can đảm và sáng suốt đã công khai lên tiếng.

    - Rõ ràng như chúng ta thấy, đây là một cơ hội thuận lợi cho Việt Nam. Việc chào đón tổng thống Mỹ Bill Clinton sang thăm Việt Nam cho thấy nhân dân Việt Nam rất muốn hợp tác và coi Mỹ là bạn thật sự mà không chỉ là bạn ở tầm quan hệ thứ tư, thứ năm. Nhưng riêng về phía đảng cộng sản, họ thấy rõ rằng, nếu hợp tác với Mỹ thì chắc chắn với các điều kiện về dân chủ tự do thì đương nhiên đảng cộng sản không thể độc quyền được nữa, sẽ bị tan vỡ hoặc ít nhất là mất địa vị độc quyền. Đó là nỗi sợ hãi của họ và do vậy họ sẽ chống đến cùng. Dù là nguyện vọng của người dân rất khẩn thiết nhưng chúng ta cũng biết là chỉ khi nào mà đảng cộng sản bị dồn ép đến khi không còn cách nào khác thì họ mới chịu làm. Vậy ông nghĩ gì về việc này ?

    - Đó là vấn đề khó. Khó hơn nữa là do bởi những người lãnh đạo đảng cộng sản quá thủ cựu, và họ đặt quyền lợi của đảng phái của họ cao hơn quyền lợi của dân tộc. Do đó, nhiệm vụ của chúng ta là thức tỉnh đông đảo người cộng sản bình thường. Thức tỉnh lòng yêu nước của họ, kêu gọi họ đặt quyền lợi dân tộc cao hơn quyền lợi của cá nhân và của đảng phái. Điển hình là Gorbachov, Jelsin của nước Nga đã đặt quyền lợi của đất nước cao hơn quyền lợi của Đảng Cộng Sản. Jelsin đã đứng lên xe tăng kêu gọi quyết tâm dẹp tan cuộc đảo chính của những người cộng sản cực đoan cũ để đưa đất nước tiến lên dân chủ. Bây giờ Putin cũng đã đi vào con đường kết bạn với Mỹ để giải quyết các khó khăn, bế tắc, dứt khoát hòa nhập với thế giới. Những người cộng sản Việt Nam cũng phải thức tỉnh, hy sinh quyền lợi cá nhân để làm được việc này thì đây là một cống hiến lớn lao của họ với đất nước. Đảng cộng sản nên lựa chọn vị trí của mình về phía nào. Đứng về phía thời đại, phía những người bạn tốt hay là vẫn duy trì con đường lẩm cẩm và theo một kẻ gọi là bạn nhưng thực chất lại nuôi dưỡng âm mưu phá hoại nguy hiểm như gặm nhấm đất đai, hải đảo, tài nguyên của mình. Ta nên suy nghĩ từ đời của một con người đến một dân tộc.
    Đời một con người là phải biết chọn bạn tốt mà chơi, nếu như anh mà chọn phải bạn xấu, thì anh sẽ bị suy sụp cả cuộc đời nếu như bạn xấu đó luôn tìm cách phá hoại tài sản, của cải, gia đình của anh. Còn nếu anh có bạn tốt, có lòng nhân ái mong cho minh có điều tốt thì khi đó cả cuộc đời anh có thể sẽ nhờ vào người bạn tốt mà phát triển lên. Số phận của một dân tộc cũng vậy.
    Tôi xin nhấn mạnh là những quan chức Hoa Kỳ đã nói với tôi rằng : Họ chỉ muốn những người trí thức Việt Nam hiểu rằng, không có một tình cảm nào là cứng nhắc cả. Ngay như nước Mỹ với nước Anh, trong thế kỷ trước, đã xảy ra một cuộc chiến tranh chống thực dân Anh nhưng bây giờ Anh và Mỹ lại là đồng minh thân thiết nhất. Họ vẫn nhớ tới cuộc chiến tranh đó nhưng dưới khía cạnh lịch sử. Hoặc như quan hệ giữa Đức và Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai khiến cho hễ nói tới Đức là người Pháp lại nổi cơn thịnh nộ, nhưng bây giờ Đức và Pháp lại là hai nước thân thiết nhất châu Âu. Hay như Nhật cũng vậy, nếu như trong chiến tranh bom nguyên tử của Mỹ đã nổ trên đất Nhật và Mỹ đã chiếm đóng và bắt nhiều tù binh thuộc quân đội phát xít Nhật, thì đến nay không có một liên minh nào ở châu Á mạnh bằng liên minh Nhật-Mỹ. Đó là bài học lịch sử, và những nhà lãnh đạo phải khôn khéo thay đổi theo các điều kiện cho phù hợp. Điều này chính do phía Mỹ đã nhắc nhở mình như vậy. Hãy chọn bạn mà chơi !
    Làm bạn với Hoa Kỳ không dễ đâu (cười). Tôi đã nói chuyện rất lâu với một số thượng nghị sĩ và thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cũng khó tính khi kén bạn. Chính qua chiến tranh mà họ hiểu người dân Việt Nam, đánh giá cao một số trí thức và thế hệ thanh niên mới. Họ rất tiếc là một dân tộc tuyệt vời như Việt Nam lại bị cầm giữ để không có tự do lựa chọn, và do đó bị lỡ tàu hoài. Vì quý Việt Nam mà nay họ chủ động giang tay bè bạn. Tôi rất lo là khéo mà ta lại lỡ tàu, chuyến tàu tốc hành hòa nhập vời thế giới hiện đại đang phóng nhanh vào thế kỷ mới.

    - Rất cám ơn ông đã dành cho Cánh Én buổi phỏng vấn này và mong rằng bằng những nỗ lực của tất cả những người yêu nước Việt Nam, không kể họ mang quốc tịch gì, sống ở đâu, quá khứ ra sao... chúng ta sẽ tìm được một hướng đi đúng cho Việt Nam, hòa nhập vào sự phát triển của nhân lọai tiến bộ, với sự giúp đỡ của những người bạn tốt.

    Nguyễn Văn Hòa thực hiện (München, Đức)

    Sử liệu chứng minh Thác Bản Giốc là của Việt Nam vừa bị đảng CSVN dâng cho Trung quốc: Nghiên-cứu các bản-đồ khu-vực Nam-Quan 249 C và thác Bản-Giốc 186 C hay Góp Ý cùng Ông Nguyễn Ngọc Giao về vấn-đề biên-giới.

    Trương Nhân Tuấn

    Người viết bài nầy năm ngoái đã có lần góp ý với ông Nguyễn Ngọc Giao về vấn-đề biên-giới. Hôm nay lần nữa lại phải góp ý với ông cũng cùng một vấn đề nầy. Lần trước người viết có chỉ-trích rằng ông Giao đã thiếu nghiêm-chỉnh khi viết về một vấn-đề nghiêm-trọng của đất nước. Thiếu nghiêm-chỉnh vì ông Giao đã viết chỉ-trích người khác trong lúc chính ông cũng không thông-hiểu vấn-đề hơn họ. Thói thường, ít khi một người nào phạm cùng một lỗi-lầm đến hai lần. Ông Nguyễn Ngọc Giao vừa qua trên trang Web của ông và báo Diễn-Ðàn (số 128 và 129) có viết hai bài: “Nam-Quan: ải, cửa ải và biên-giới” và bài “Từ Nam-Quan đến thác Bản-Giốc”.

    Qua hai bài viết nầy ông Giao lại phạm phải lỗi-lầm mà ông đã phạm.
    Ðáng lẽ với những tài-liệu, mà ông Giao cho là “tài-liệu mật của đảng CSVN”, là “bản-đồ khu-vực 249 C” (Nam-Quan) và “bản-đồ 186 C (thác Bản-Giốc), ông Giao phải khai-thác chúng một cách đứng-đắn hơn để “chân-lý” không luôn luôn là nạn-nhân như ông đã viết trong bài của mình. Bởi vì chân-lý đã và đang bị chà-đạp thô-bỉ bởi đảng CSVN, những người đang lãnh-đạo đất nước. Không hiểu sao ông Giao lại a-tòng với những người lãnh-đạo độc-tài kia để bóp cổ “chân-lý”. Tuy-nhiên, chân-lý thường-xuyên bị chết rất tức-tưởi tại nước ta, cho nên lần nầy nếu nó có chết oan thì cũng không phải là ngoại-lệ để quan-trọng hóa vấn-đề. Nhưng ác-độc là ông Giao “qua nhiều nguồn tin đáng tin-cậy”, đã “hình-dung nguyên-thủy câu chuyện”, cho rằng những người lên tiếng về vấn-đề biên-giới thì có liên-quan đến các phe thuộc đảng CSVN (sic!). Ông Giao “hình-dung” như thế, thì người viết đây cũng như nhiều vị khác ở hải-ngoại, khi viết về biên-giới Việt-Trung, đều thuộc một trong các phe đang tranh-chấp quyền-lực trong đảng CSVN. LS Lê Chí Quang trong nước, đang gỡ 4 cuốn lịch vì dám lên tiếng “Cảnh Giác Bắc Triều”, vì vậy cũng thuộc một nhóm của đảng nầy. Ông Bùi Minh Quốc lò-mò lên Nam-Quan để tìm hiểu sự thật liền bị quản-chế tại-gia, cũng thuộc đảng nầy luôn. Ông Trần-Khuê, ông Phạm Quế Dương v.v.. hiện đang bóc lịch trong lao, hay đang bị quản-chế ở một nơi nào đó, vì có quan-điểm về lãnh-thổ, họ cũng thuộc đảng CSVN đấy. Thưa ông Nguyễn Ngọc Giao, ông hình-dung vậy, thì ai sẽ “hình-dung” ra ông đang thuộc phe nào ? Ông cũng đang viết về vấn-đề biên-giới đấy!

    Hai tài-liệu “mật”, một là tấm bản-đồ khu-vực Nam-Quan, có bí-số 249 C, hai là tấm bản-đồ khu-vực thác Bản-Giốc, có bí-số 186 C. Ông Giao gọi đây là “chụp từ tài-liệu mật của đảng CSVN”. Ông Giao có được những tài-liệu “mật” nầy, chắc hẵn ông Giao phải có mối tương-quan thân-thiết với đảng CSVN, còn không, chỉ có... điệp-viên 007 mới có thể giúp ông chụp lén được những bức hình nầy. Ông Giao gọi những tài-liệu nầy là của đảng CSVN. Nhưng nhiều người đã có nhật-xét là các bản-đồ nầy nguyên-thủy của Tàu, và người viết có cùng nhận-xét nầy. Các chữ Việt ghi trên bản-đồ 249 C rõ-ràng là chữ viết thêm vào sau nầy bằng các thảo-chương tin-học. Các nét viết những ghi-chú bằng chữ Tàu và nét vẽ các chi-tiết đường-xá, núi-non có cùng chung một tính-chất nguyên-thủy. Ông Giao nghĩ sao khi người ta cũng có thể “hình-dung”, như ông Giao đã “hình-dung” mọi người, là ông đang ở phe Tàu ?

    Ông Giao viết rằng:
    « Một số bài báo Việt ngữ vừa qua thường vạch rõ sự khác biệt giữa tuyên bố của Thứ trưởng Lê Công Phụng và chứng từ của bác sĩ Paul Néis. Trong bài trả lời phỏng vấn của VASCOrient nói trên, ông Lê Công Phụng nói "chúng ta công nhận Mục Nam Quan là của Trung Quốc, cách cột mốc số 0 trên 200m. Tính cột mốc số 0 trở về phía Nam là lãnh thổ của Việt Nam. Từ cột mốc số 0 trở về phía Bắc là của Trung Quốc ". Còn bác sĩ Paul Néis lại nói năm 1886, đường biên giới đã được quy định " khoảng 150m " phía nam " Porte de Chine " (tức là cửa ải Nam Quan). Bác sĩ Néis là một bác sĩ quân y, tham gia phái đoàn Chaffray, đã chứng kiến cuộc đàm phán hoạch định biên giới Lạng Sơn - Quảng Tây .
    Câu nói của thứ trưởng Lê Công Phụng quả là thiếu chính xác : "trên 200m " là bao nhiêu ? Và so sánh với chứng từ đã công bố của bác sĩ Néis, như một số tác giả ở nước ngoài đã viết trong thời gian qua, thì lãnh thổ Việt Nam ở ải Nam Quan đã bị thụt lùi ít nhất 50m.
    Tuy nhiên, chứng từ của Néis không có giá trị pháp lí. Tài liệu có giá trị pháp lí là bản đồ biên giới mang chữ kí của đại diện chính quyền Pháp và chính quyền nhà Thanh. Tại Trung tâm Văn khố Hải ngoại của Pháp (CAOM, Aix en Provence), chúng tôi đã tìm ra hai bản đồ liên quan tới biên giới Việt Trung ở Nam Quan (phía tây và phía đông), nhưng đó chỉ là những bản sao. Cuối cùng, chúng tôi đã được phép xem và chụp bộ bản đồ chính thức còn lưu trữ tại Phòng bản đồ Bộ ngoại giao Pháp. Trên hai bản đồ (I và II) vẽ theo tỉ lệ 1/50000, đường biên giới cách cửa ải Nam Quan khoảng 1cm, nghĩa là khoảng 500m. »

    Ông Giao, viết như là khoe, là ông đã vào CAOM, Aix-en-Provence, thấy hai bản-đồ liên-quan đến Nam-Quan, nhưng vì là bản sao nên không sử-dụng. Ông phải đi vào bộ Ngoại-Giao Pháp tại Paris, cách Aix-En-Provence 900 cây-số, để tìm ra được hai bản đồ nguyên-bản, có chữ ký của các ủy-viên phụ-trách việc phân-định biên-giới, và chụp hình hai tấm bản-đồ nầy (từ nay sẽ gọi các tấm bản-đồ nầy là bản-đồ phân-định – carte de délimitation – 1887). Ông Giao quả có quan-niệm khác người về việc thẩm-định giá-trị của các hồ-sơ lịch-sử. Ðúng vậy, tại CAOM, một phần hồ-sơ mà các nghiên-cứu sinh nghiên-cứu tại đây là bản sao. Hồ-sơ về biên-giới Việt-Trung theo các Công-Ước 1887 và 1895 thì chứa trong 10 thùng cartons. Mỗi thùng tương-ứng cho 1 năm. Hồ-sơ biên-giới Vân-Nam, phân-giới năm 1897, thì được chứa vào một phần-mục khác. Các hồ-sơ nầy có bản chính lẫn bản sao. Người viết đã từng chụp hình các bản chánh bản-đồ phân-định 1887, có chữ ký của các vị phụ-trách phân-định biên-giới, như bản-đồ vùng Cao-Bằng, thác Bản-Giốc, cũng như hình các biên-bản cắm mốc vùng Nam-Quan, để gởi lên Net. Bản chính hay bản sao, hình-thức có tầm quan-trọng khác, nhưng nếu nội-dung của các bản nầy không khác gì nhau, thì giá-trị lịch-sử của các tài-liệu đó cũng như nhau. Phân-biệt và có tính «kỳ-thị» lạ-lùng như ông Giao, cho rằng các bản sao không có giá-trị, thì các tác-phẩm của các sử-gia, nhà báo, nhà nghiên-cứu... lấy dữ-kiện tại đây cũng không giá-trị. Các luận-án hậu đại-học được nghiên-cứu bằng hồ-sơ ở CAOM cũng không có giá-trị. Vì thế, các bằng Tiến-Sĩ hay Cao-Học, nói như ông Giao cũng không có giá-trị luôn! Thật là một lối thẩm-định ngộ-nghĩnh!

    Ông Giao viết bài nghiên-cứu về biên-giới nhưng ông không đưa ra một văn-bản để xác-định vị-trí của một cột mốc nào, kể cả tại Nam-Quan, vùng mà ông đang nghiên-cứu. Bản-đồ phân-định 1887 của ông chụp được từ bộ Ngoại-Giao Pháp, không hề ghi-chú cột mốc biên-giới. Như vậy, lấy tiêu-chuẩn nào để xác-định một vùng đất thuộc nước nầy hay nước kia, ở đây là vùng Nam-Quan, nếu không có danh-sách vị-trí hay tọa-độ các cột mốc ? Ông cho rằng bản-đồ phân-định 1887 có tính pháp-lý. Không ai phản-bác việc nầy, nhưng đó chỉ là các bản-đồ tượng-trưng, cũng như tất-cả các bản-đồ phân-định 1887. Ông Giao đo trên bản-đồ nầy rồi cho rằng đường biên-giới cách cửa ải Nam-Quan là 500 thước. Ông Giao cũng cho rằng lời của bác-sĩ Néis thì không có giá-trị pháp-lý. Như vậy thì con số 500 thước của ông Giao đo trên bản đồ thì liệu nó có “giá-trị pháp-lý” hay không ?

    Người viết bài nầy có thu-thập được một số tài-liệu về biên-giới Việt-Trung, công-bố trên Web site www.ifrance.com/truongnhantuan , mọi người có thể tham-khảo. Xin ghi lại một vài chi-tiết để thẩm-định tính chính-xác của bản-đồ mà ông Giao đã chụp từ bộ Ngoại-Giao Pháp. Trước tiên là tài-liệu “Rapport de M. Dureau de Vaulcompte, député, fait au nom de la Commission parlementaire chargée d’examiner la convention du 26 Juin 1887 relative à la frontière”, Bản Tường-Trình của Dân-Biểu Dureau de Vaulcompte thực-hiện dưới danh-nghĩa của Ủy-Ban Quốc-Hội Kiểm-Soát Công-Ước 26 tháng 6 năm 1887 Liên-quan về Biên-Giới có kết-luận như sau: “En somme, deux ans après signature du traité de paix, on avait tout juste reconnu 120 Kilomètres de frontière; tout le reste, plus de 1.000 kilomètres figurait sur des cartes fantaisistes. La Convention n’était pratiquement qu’un chiffron de papier et tout reste à faire”. “Tóm lại, hai năm sau ngày ký Hiệp-Ước Hòa-bình, người ta chỉ nhìn-nhận được có 120 cây-số biên-giới; phần còn lại, hơn 1.000 cây-số được vẽ trên những tấm bản-đồ không đúng. Công-Ước thực-tế chỉ là một mãnh giấy vụn và mọi việc vẫn còn nguyên”. Toàn-bộ các bản-đồ và các biên-bản phân-định 1887, tức là Công-Ước 1887, được ông Dân-Biểu nầy xem là “mãnh giấy vụn”. 120 cây-số đường biên-giới được đề-cập trong đoạn văn là vùng Nam-Quan. Nhưng dầu vậy, so với thực-tế thì nó không hoàn-toàn đúng. Nó cũng không khác chi nhiều những tấm bản-đồ vẽ các vùng khác.

    Việc cắm mốc tại vùng biên-giới Quảng-Ðông-và Quảng-Tây sau nầy cho ta thấy điều đó. Bắt đầu từ tháng giêng năm 1889 cho đến 14 tháng 6 năm 1894, việc phân-giới và cắm mốc vùng Lưỡng-Quảng đã trải qua các vị chủ-tịch ủy-ban là quí Ông Frandin, Servière, Labastide và Galliéni. Trong phần biên-giới Quảng-Ðông và Quảng-Tây, các bản tường-trình của ông Chiniac de Labastide, cũng như các biên-bản phân-giới và cắm mốc, đã ghi lại tường-tận diễn-tiến công việc. Bản đồ Phân-Ðịnh 1887 từ sông Gia-Long (Ka-Long Hà) cho đến ải Bắc-Cương thì sai hoàn-toàn, không có gì phù-hợp với thực-tế. Ông Chiniac de Labastide yêu-cầu phân-định lại (tức yêu-cầu ký lại công-ước) vì bản-đồ xem qua thì có lợi cho Việt-Nam, nhưng trên thực-tế thì hoàn-toàn ngược lại và nội-dung công-ước vùng nầy lại không rõ ràng. Vùng biên-giới Vân-Nam, phía hữu-ngạn sông Hồng, đã phải phân-định lại và ta gọi đó là Công-Ước 1895. Các bài tường-trình của Ðại-Tá Pennequin, Ðại-Tá Galliéni, De Labastide, Frandin, Servière... nguyên chủ-tịch Ủy-Ban Pháp phụ-trách phân-giới, các bản báo-cáo, các nhật-ký, thư từ... của các viên sĩ-quan phụ trách cắm mốc, các biên-bản cắm mốc... cho phép ta kết-luận, như ông Dân-Biểu Dureau de Vaulcompte đã kết-luận, là các bản-đồ phân-định 1887 đều không có giá-trị hữu-dụng nào. Mọi người có thể đọc các tài-liệu nầy trên web site ghi trên. Các cột mốc được cắm sau nầy không theo bản-đồ mà chỉ theo nội-dung của các công-ước (tức các biên-bản) mà không hề dựa lên bản-đồ. Vùng Nam-Quan cũng thế. Ðọc lại bản tường-trình về công-trình phân-giới của ông Galliéni, chúng ta thấy là việc cắm mốc tại Quảng-Tây khó-khăn tới mức nào. Khi cắm mốc, người ta không biết đường biên-giới vùng Nam-Quan phải đi qua chỗ nào. Riêng vị-trí cột mốc tại Nam-Quan, không tìm thấy một biên-bản nào ghi lại, các vị trách-nhiệm cắm mốc phải đọc lại loạt bài viết của Dr Néis đăng trong “Le Tour du Monde” để biết đại-khái là đường biên-giới tại đây là con suối nhỏ, chảy dưới đồi, cách cổng khoảng 150 thước. Nhưng lời kể của Dr Néis cũng không có gì chắc-chắn. Bởi vì người ta không tìm thấy dưới chân đồi, cách cổng Nam-Quan 150 m, một dòng suối nào. Xin ghi lại lá thư của tướng Berguis Desbords, viết ngày 4 tháng 3 năm 1889: “... De ce travail (abornement de la frontière), il résulte que la partie de la frontière attenant à la porte de Nam-Quan serait mal tracée sur la carte au 1/100.000 de la région de Lang-Son et de That-Khe, ci joint. D’après l’ancien chef du canton de Dong-Dang nommé Hoang Mai Trinh, la frontière, au lieu de se diriger de Nam-Quan droit à l’ouest, devait avoir une dirrection Sud, jusqu’à un kilomètre de Dong-Dang, puis, prusquement, remonter de ce point au Nord sur la porte de Ki-Lech. Le village de Lang-Nien appartiendrait ainsi à la Chine.
    D’après le Docteur Néis, “la frontière devrait suivre le ruisseau qui passe à 150 mètres environ de la porte de Chine”. Je suppose qu’il s’agit toujour de la porte de Nam-Quan, à l’Est et à l’Ouest de la quelle la carte de la région au 1/100.000 accuse, en effet des cours d’eau, tandis qu’il n’en existe pas aux portes de Ki-Da et de Ki-Lech. Mais ce ruisseau passe à Dong-Dang, et je ne vois pas, en suivant cette carte, comment il pourrait servir de limite...”
    . Tạm dịch: “Từ việc phân-giới cho thấy phần biên-giới thuộc vùng Nam-Quan có thể vẽ không đúng trên bản-đồ 1/100.000 của vùng Lạng-Sơn và Thất-Khê kèm theo đây. Theo vị cựu tri-huyện Ðồng-Ðăng, tên Hoang Mai Trinh, thì đường biên-giới, thay vì đi thẳng từ Nam-Quan sang hướng Tây, thì phải đi về hướng Nam, cho đến khi cách Ðồng-Ðăng chừng 1 cây-số thì đi ngược lên lại phía Bắc tại cửa ải Ki-Lech (?). Làng có tên Lang-Nien vì thế có thể thuộc về Tàu.
    Theo ông Bác-Sĩ Néis, “đường biên-giới phải theo con suối cách cổng Tàu khoảng 150 thước.” Tôi giả-sử cổng nầy là cổng Nam-Quan, phía Ðông và phía Tây cổng nầy, trên bản-đồ 1/100.000 thì cho thấy có sông suối, nhưng tại các cửa Ki-Da và Ki-Lech, theo bản-đồ, thì không có. Nhưng con suối đó chảy qua Ðồng-Ðăng, tôi không hiểu được, theo bản-đồ nầy, thì làm sao mà con suối đó có thể dùng để làm biên-giới...”

    Lời nói của Bác-Sĩ Néis vì thế cũng bị đặt thành vấn-đề. Có thể ông nầy đã lẫn-lộn tên Nam-Quan với tên một cửa ải khác. Bởi vì , “Porte de Chine”, tức Cổng Tàu, thì trên biên-giới Việt-Trung, các điểm thông-thương là cửa Quan, cửa Ải hay cửa Khóa ... đều được người Pháp gọi là Porte de Chine!

    Qua những hồ-sơ ghi-nhận được (đã đăng trên Web Site ghi trên), ta thấy việc phân-định biên-giới 1886-1887, do các ông St Chaffray và sau đó là ông Dillon, đã có rất nhiều sai lầm. Những sai lầm nầy đã tạo ra những khó-khăn cho những người phụ-trách phân-giới và cắm mốc (abornement) rất nhiều. Các ủy-ban phân-giới sau nầy chỉ dựa lên nội-dung các biên-bản và hoàn-toàn không dựa lên bản-đồ.

    Như thế, phần quan-trọng nhất và có tính pháp-lý thật-sự là những biên-bản ghi lại vị-trí hay tọa-độ các cột mốc trên đường biên-giới và những bản-đồ phân-giới kèm theo các biên-bản đó. Dựa lên các tài-liệu nầy, sở Ðịa-Dư Ðông-Dương mới vẽ lại các bộ bản đồ 1/100.000 và 1/50.000 sau nầy.

    Biên-bản phân-giới ký giữa Ðại-Tá Galliéni và ông Tao-Tai Long-Châu (sẽ gởi photo nguyên-bản lên trang Web trong vài ngày tới), xác-định vị-trí các cột mốc cho thấy cột mốc tại vùng Nam-Quan cắm trên con đường từ Nam-Quan về Ðồng-Ðăng, cách cổng 100 thước. Cột mốc mang số 18.

    Trở lại tấm bản-đồ khu-vực Nam-Quan 249 C, tạm cho đây là bản-đồ thật, tức bản-đồ “theo đường đỏ” trong bản Hiệp-Ước Biên-Giới Trên Ðất Liền tháng 12 năm 1999. Dựa lên đó và bản đồ phân- định 1887, ông Giao viết rằng: “Bất-luận thế nào, câu chuyện để mất thác Bản-Giốc” và “mất ải Nam-Quan” là một điều huyễn-hoặc, không có căn-cứ nghiêm-chỉnh”.

    Lý ra, muốn kết-luận như vậy, ông Giao phải so-sánh nó với một tiêu-chuẩn nào đó, hợp-lý là bản-đồ hiện nay để xem thực hư của việc mất đất như thế nào. Ông Giao đã vào bộ Ngoại-Giao Pháp để xin được tài-liệu là bản chánh của bản-đồ Phân-Ðịnh Biên-Giới năm 1887 cũng như bản-đồ hiện nay của vùng thác Bản-Giốc. (Bản-đồ hiện nay, chữ “hiện nay” phải hiểu như là đường biên-giới “hiện nay”, là đường biên-giới hay bản-đồ trước khi ký hiệp-ước 12-1999). Ông Giao vì thế không thể viện-dẫn lý-do mình không có tài-liệu. Vấn-đề thác Bản-Giốc có mất hay không tôi sẽ trở lại ở phần sau. Ít ra ở nơi đây, dầu không đầy-đủ, ông Giao có một tiêu-chuẩn để làm căn-cứ. Nhưng ở vùng Nam-Quan thì rõ-ràng ông Giao thiếu thái-độ khách-quan cần-thiết của một người làm công-tác khoa-học. Ông không có một căn-cứ nào để phản-biện lại việc không có việc mất đất tại Nam-Quan. Bản-đồ phân-định biên-giới 1887, cho dầu là bản chính hay bản copy, đã được chứng-minh là nó chỉ có tính tượng-trưng, không ghi cột mốc, vì thế không đủ làm bằng-chứng. Ông Giao phải biết việc nầy.

    Nhưng người viết bài nầy thì có chứng-cớ để cho rằng việc mất đất ở vùng Nam-Quan là có thật:

    Nếu ta so-sánh bản-đồ 249 C (tạm tin rằng đây là bản-đồ thật) với bản-đồ 1/50.000 và 1/100.000 của Nha Ðịa-Dư Ðông-Dương hiện đang tồn-trữ tại Văn-Khố Ðông-Dương, thuộc CAOM, Trung-Tâm Văn-Khố Hải-Ngoại Pháp, Aix-En-Provence, thì ta thấy ngay rằng các cột mốc 16, 17 và 18 đã bị thay chỗ. Bản-đồ 249 C, nếu không bị rọi lớn, có thể có tỉ-lệ là 1/20.000. Một phút, tương-ứng chiều dài một ô vuông trên bản-đồ, là 1853 m, tức một dặm (nếu theo qui-ước Greenwich). So-sánh, ta thấy ngay rằng toàn vùng núi-non đá vôi phía Bắc Ðồng-Ðăng, về phía tay trái con đường từ Ðồng-Ðăng lên Nam-Quan, đã thuộc về Tàu. Các di-tích lịch-sử như Ðộng Tam-Thanh, núi có tượng Tô-Thị... nếu không lầm thì đều nằm trong khu-vực nầy. “Ðồng-Ðăng có phố Kỳ-Lừa, Có nàng Tô-Thị, có chùa Tam-Thanh”, cao-dao ta có câu như vậy. Ðây là một vùng đá vôi có cùng tính-chất với vùng đá vôi Hạ-Long, cảnh-trí hùng-vĩ, có thể tổ-chức du-lịch ngoạn cảnh hay leo núi, là hai thú-vui hiện nay rất được Tây-Phương ưa-chuộng. Ðường biên-giới theo bản-đồ 249 C đi sát Ðồng-Ðăng, có thể chỉ cách chỉ dưới trăm thước, trong khi đường biên-giới theo các bản-đồ của sở Ðịa-Dư Pháp thì điểm gần nhất (cột mốc 16) cách Ðồng-Ðăng ít nhất là 1000 m, theo hướng Tây-Bắc. Toàn ải Nam-Quan cụ-thể đã bị mất. VN chỉ giữ được con đường dưới chân núi. Ðường biên-giới theo công-ước 1887 cắt con đường nầy tại điểm cách cổng Nam-Quan 100 thước. Theo bản-đồ 249 C thì từ Hữu-Nghị Quan đến biên-giới phía Nam khoảng 300 thước. Nhưng Hữu-Nghị Quan không phải là cổng Nam-Quan, như đã ghi trong biên bản cắm mốc. Cổng Nam-Quan được xây dưới triều Gia-Tĩnh, nhà Minh, còn Hữu-Nghị Quan chỉ mới xây dưới thời Mao Trạch Ðông. Như thế, đường biên-giới cách cổng Nam-Quan ít ra là 500 thước. Riêng khu đường sắt thì đường biên-giới trũng xuống phía Nam khoảng 150 thước.

    Ông Giao viết là “đường biên-giới thỏa-thuận có đoạn đi theo đường chủ-trương của Việt-Nam, có đoạn đi theo đường chủ-trương của Trung-Quốc, các đoạn ở giữa có tính cách thỏa-hiệp, nhân-nhượng lẫn nhau (đại-để theo tỉ-lệ 50/50)”. Ý ông Giao là không có mất đất vì dựa lên việc nhân-nhượng 50/50 nầy. Nhưng khách-quan thì ta không thể dựa lên đường chủ-trương của VN hay đường chủ-trương của Tàu để có kết-luận “nhân-nhượng lẫn nhau 50/50”. Như đã nói trên, ta phải có một bản-đồ làm chuẩn, làm étalonnage, và đó phải là bản-đồ của sở Ðịa-Dư Pháp ấn-hành. Nước Pháp, đại-diện nước ta, đã phụ-trách việc phân-định biên-giới và cắm mốc, còn ghi lại qua các Công-Ước 1887 và 1895. Các Công-Ước nầy chiếu theo Công-Ước Vienne 1969 thì vẫn còn hiệu-lực. Vì thế bản-đồ từ sở Ðịa-Dư Ðông-Dương xuất-bản mới là bản-đồ có tư-cách làm chuẩn. Ông Giao không thể phủ nhận việc này. So-sánh với bản-đồ chuẩn ta thấy không hề có việc “tương-nhượng 50/50”. Tên bịp bịp ta 10 đồng. Ta đòi lại được 5 đồng. 5 đồng nầy không phải là ta dành được, vì nó của ta. Ta còn bị mất 5 đồng. Cũng dựa lên bản-đồ chuẩn nầy diện-tích ước-lượng bị nhượng là 5 cây-số vuông. Ở đây quan-trọng không phải là con số lớn hay nhỏ, mà là vùng đất có những giá-trị về lịch-sử, chiến-lược và kinh-tế đã bị nhượng hay bán cho Tàu.

    Một ghi nhận nhỏ khác, ông Giao viết: « Về phía Việt Nam, như đã nói trên, vào tháng 8.02, chính quyền đã "kín đáo" công bố toàn văn bản hiệp định 1999. Các điều khoản của hiệp định đã định vị khá chính xác các cột mốc và mô tả hướng đi của các đoạn đường biên giới nối liền các cột mốc. Tuy nhiên, các cột mốc được định vị không phải bằng toạ độ, mà bằng vị trí của chúng đối với 3 điểm cao xung quanh. Do đó, trong khi chờ đợi bộ bản đồ chính thức được công bố, người ta chỉ có thể phác thảo đường biên giới nếu có bản đồ địa hình của vùng biên giới. »

    Không biết là ông Giao coi thường độc-giả hay ông có phép thần-thông! Làm sao ông Giao có thể vẽ được bản-đồ của đường biên-giới “theo đường đỏ” trong hiệp-định 1999? Vậy mà ông Giao dám viết là hiệp-định khá chính-xác ! Ông Giao nịnh đảng CSVN thật là vụng-về!

    Về thác Bản-Giốc, người viết đã viết một bài về địa-danh nầy và trưng ra những tài-liệu nhằm chứng-minh rằng thác nầy thuộc Việt-Nam.

    Chỉ kể lại các tài liệu trực tiếp:

    1/ Nhật-ký của Trung-Úy Détrie, viết ngày 28 tháng 6 năm 1894, tường-trình lại việc cắm mốc từ Lũng-Ban đến Ðèo-Lương. Trung-Úy Détrie là người cắm mốc. Bài nầy người viết có chép lại tiếng Pháp và dịch ra tiếng Việt, đang trên trang Web đã ghi trên. Theo đó thác Bản-Giốc ở hạ-lưu của cột mốc 53 và cột mốc nầy nằm trên đường đi Hang-Ðông-Quan.

    2/ Quyển “Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si”, Bắc-Kỳ và trên biên-giới QuảngTây, nhà xuất-bản Auguste Challamel, nhà sách Thuộc-Ðịa, năm 1895, của Commandant Famin. Cdt Famin là Phó Chủ-Tịch Ủy-Ban Phân-Giới. Ghi ở trang 12 và 13:
    “Trên vùng phía Bắc (vùng II Quân-Sự), sông Qui-Thuận chảy qua Trùng-Khánh Phủ. Ðây là một phụ lưu của sông Tây-Giang (Si-Kiang). Có chiều rộng khoảng 60 thước, chảy vào Tonkin qua cửa Ải Lung và chảy vào lại đất Tàu ở gần công-sự Tàu, có tên Nam-Ton, sau khi đã tưới một thung-lũng rộng lớn và rất trù-mật. Hai cây số trước khi rời khỏi đất Tonkin, sông nầy chảy xuống một bậc đá và tạo thành một cái thác tuyệt-đẹp cao khoảng 40 thước. Từng cột nước khổng-lồ, trước hết rơi xuống vang rền trên một trũng nước, sau đó dội ngược lên thành những chùm tua đầy bọt nước, chảy trên những bậc thềm đá bóng láng. Vào mùa mưa, thác nầy mang một hình-thái tuyệt-trần, tiếng động của nó âm vang ra tận ngoài thật xa, dội vào vách núi đá nghe như là sấm động, trong lúc những đám mây hơi nước được tạo thành ở các bên bờ tan ra tạo thành một đám mưa lâm-râm thật sự.
    Con sông nầy có một phụ-lưu, là con suối Bản-Tước. Suối chảy dọc theo con đường từ Hà-Lang đến Trùng-Khánh Phủ. Trước khi tới công-sự ghi trên không lâu, con đuờng và dòng suối đi vào một hang động, song song nhau trong khoảng 300 thước, dưới một vòm đá, có lúc khá cao. Con đường ra khỏi hang bằng những bậc thềm tạo thành một cầu thang, đẽo vào đường rãnh của một tảng núi đá (cheminée) hầu như thẳng đứng, trong lúc dòng suối thì chảy khuất vào trong đá và chỉ lộ ra khá xa trong đồng-bằng.”

    3/ Tài-liệu biên-bản phân-giới ký tại Long-Châu ngày 19 tháng 6 năm 1894 giữa Ðại-Tá Galliéni và Commandant Famin, đại-diện chính-phủ Pháp và ông Taotai (Tổng-Lý Ðại-Thần) đại-diện nhà Thanh.
    Hai trang cuối ghi sau: Các cột mốc biên-giới, như vừa thấy, đều mang một con số, từ 1 đến 67 cho đoạn một và từ số 1 cho đến số 140 cho đoạn hai, đã được cắm tại các địa-điểm được chỉ-định ở trên, với sự hiện-diện một ủy-viên Pháp và một viên quan Tàu. Không một cột mốc nào được dời đi kể từ bây giờ mà không có sự ưng-thuận hỗ-tương giữa hai nước.”

    Cột mốc số 53, thuộc đoạn thứ hai, được định nghĩa như sau: tên Pan-Ngô, cắm tại “bên lề một con đường ở phía Tây-Nam và trên phần nối dài của một khu rừng nhỏ”, “au bord du chemin et au SO et sur le prolongement d’un petit bois”.

    4/ Tài-liệu Bulletin du service Géologique de l’Indochine, Volume XI, Fascicule I, Etudes Géologiques sur le Nord-Est Du Tonkin, Các Nghiên-Cứu Ðịa-Chất tại vùng Ðông-Bắc Bắc-Kỳ (Feuilles de Bảo-Lạc, Cao-Bằng, Hà-Lang, Bắc-Kạn, Thất-Khê và Long-Châu), Réné Bourrret; Ha-Noi - Hải-Phòng Imprimerie d’Extrême d’Orient – 1922. (trang 32-33-34).
    Xác nhận thác Bản-Giốc của Việt-Nam:
    ....

    Xứ Trùng-Khánh Phủ.
    Ở về phía Bắc của các ngọn đồi Bồng-Sơn là xứ Trùng-Khánh. Ðây là nơi có thể được xem như là một trong những địa-điểm diễm-lệ nhất của vùng xinh-đẹp nầy. Nó biểu-lộ trước hết về phía Tây một chòm núi đá vôi cây mọc um-tùm mà đỉnh cao nhất là Deou-Leou (889 m). Chòm núi nhỏ nầy giới-hạn ở phía Ðông bằng những ngọn đồi phiến-nham thuộc Trà-Lĩnh, thực-tế là vùng nối dài về phía Tây-Bắc của Quảng-Yên. Nó tự giới-hạn về phía Tây qua một vùng trũng không rõ rệt, phân-biệt bằng một vùng rất đặc-thù: cao-nguyên Hang-Ga. Cao-nguyên nầy được biểu-lộ qua những ngọn đồi cỏ thấp và các núi đá nhỏ có hình-dáng lạ-kỳ, chia-cách ở giữa là một chuổi những thung-lũng được trồng lúa.
    Những ngọn đồi của cao-nguyên Hang-Ga, cao tới 809 m. Phía Tây-Bắc của cao-nguyên, chúng hạ thấp dần dần về hướng Ðông-Nam, đến cao-độ chừng 650 m. Bờ rìa phía Ðông của cao-nguyên thì xuôi thoải xuống bằng một dốc cao hướng về Nam-Ta.
    Sông Nam-Ta là một con sông rất đẹp từ đất Tàu đổ vào Tonkin ngay tại vùng chung-quanh lô-cốt Bong-Giao, có độ cao 575 m. Thung-lũng của nó, trước hết thắt hẹp lại ở cửa vào bởi hai bờ đầy bóng cây giẻ che mát, mở rộng ra sau khi qua cầu Ban-Bao. Sông chảy cho đến những ngọn đồi ở Bồng-Sơn, làm cho ruộng-rẫy trù-mật. Sông củng đổ qua Tong-Hue mà ta nhắc đến tại đây có cây cầu thật tráng-lệ.
    Ở tả-ngạn sông Nam-Ta là một vùng đá vôi quan-trọng, dường như là nối tiếp với vùng đá vôi Quảng-Yên, qua trung-gian của rặng núi nhỏ Bình-Lang (802 m). Vùng đá vôi nầy bắt đầu ở phía Nam, dựa vào những ngọn đồi Bồng-Sơn, thuộc vùng chung-quanh Tụ-Mỹ, tại đây nó bị soi mòn và tạo thành một chuổi những lũng tròn, những lũng nầy thông-thương giữa chúng với nhau, và đáy của chúng thì có chung một mặt nghiêng, độ cao 600 gần ở Tụ-Mỹ và độ cao 470 trong thung-lũng Nam-Ta. Phần lớn những lũng nầy có người Thổ sinh-sống, bằng nghề làm nông. Bao bọc chung-quanh là những thành đá có cây mọc, bờ dốc thẳng đứng, cao chừng 200 m.
    Vùng đá vôi có cùng một đặc-tính tiếp-tục lan về hướng Bắc bên tả ngạn sông Nam-Ta, sau đó suốt chiều dài đoạn biên-giới, chạy lên hướng Ðông-Bắc.
    Ðá vôi nầy cấu-tạo thành một khối gần như nằm ngang, bị cắt thành nhiều lũng cao đều, nối tiếp nhau và có chung mặt phẳng cao-độ khoảng 600 m. Sau đó các lũng nầy cách rời nhau bằng những ngọn đèo không cao lắm, hay kết-hợp thường-xuyên lại với nhau bằng những vết cắt có cùng mực cao, tạo-thành như là những thung-lũng thật sự. Phía dưới đáy lũng chứa đầy đất sét không chất vôi, trồng-trọt rất nhiều. Ðỉnh cao nhất, là đèn báo Lũng-Ðinh, cao 914 m. Các thung-lũng soi mòn nằm theo hướng Tây-Bắc đến Ðông-Nam. Cận hướng Ðông-Bắc thì khu đá vôi Phong-Nam tạo thành một chòm núi đặc-thù. Kể từ hành-lang hùng-vĩ do sông Qui-Xuân (Kouei Chouan) xoáy mòn tạo thành đến điểm sông nầy chảy vào Tonkin, và con suối ở cột mốc số 76 chảy vào sông Qui-Xuân. Chòm núi nầy mọc sừng-sững lên giữa dòng sông, cao độ khoảng 500 m cho đến hơn 900 m. Sự nước soi mòn đã tạo chúng thành những đỉnh-khuy (piton), hoặc những khối vuông gần sát nhau, chồng lên thành những bậc thềm từ dưới chân lên đến đỉnh. Khắp nơi cây cối mọc đầy, hiểm-trở không thể leo lên được.
    Sông Qui-Xuân theo hướng Ðông-Bắc trong vùng núi nầy, chảy ở giữa hai tường đá rất cao. Bờ tả-ngạn, có chung phong-thái với Phong-Nam, chỉ là sự nối dài từ bên Tàu. Nhiều bằng-chứng đá vôi, được đẽo thành đỉnh nhọn cao thấp đủ cỡ, rải-rác khắp nơi trong thung-lũng.
    Trung-tâm của xứ Trùng-Khánh thì đồi cỏ chiếm đầy, và chúng khác với bộ-dạng với vùng đồi ở xứ Bồng-Sơn.
    Phần phía Tây của vùng nầy thì được tạo thành do những ngọn đồi tương-đối thấp, che phủ cỏ lau. Phần ở giữa, trải dài vài cây số ở phía Bắc và phía Nam của Chi-Choi, thì biểu-lộ dưới dạng những đồi nhỏ, bụi rậm phủ đầy, cắt ngang bằng nhiều khu rừng nhỏ.
    Vùng nầy con sông Qui-Xuân chảy qua gần ở Chi-Choi. Sông nầy sau khi ra khỏi vùng đá vôi Phong-Nam, mở rộng phía dưới hạ-lưu thung-lũng của nó. Tại đây dân bản xứ tưới nước rất nhiều bằng một hệ-thống tưới bằng ống tre. Con sông này mở một con đường ngoằn-ngoèo trong vùng phía Ðông của phủ Trùng-Khánh và chảy xuống hết ghềnh thác nầy qua ghềnh thác khác để đến biên-giới Ðông-Bắc, kế-cận Bản-Giốc, trước khi chảy qua vùng đồi Bồng-Sơn. Công-sự Bản-Giốc, hiện nay bỏ trống, cheo-leo trên một núi đá cao khoảng 30 thước, nhìn xuống những ghềnh thác của con sông và vùng đồng-bằng rất đông-đảo dân-cư, với những tường cao bao quanh. Ðây là một trong những vùng đẹp nhất của Tonkin, nếu không vì xa-xôi và vì khó-khăn phương-tiện lưu-thông, nó rất xứng-đáng để du-khách đến thăm-viếng với những hang-động, những cây cầu hình chữ Z bắt lên những tảng đá để băng qua sông, và nhất là cái thác hùng-vĩ, gọi là thác bậc-thềm có tên Tụ-Tổng, được người Châu-Âu biết nhiều qua tên Thác Bản-Giốc.
    Một con đường tốt, xe đi được, chen giữa những khối đá bạch-vân hình dáng kỳ lạ, nối phủ Trùng-Khánh và Bản-Giốc. Ðường đi qua, kề-cận Po-Tau, một vùng rất bị soi mòn, mà đá vôi chỉ còn lại những đỉnh-khuy nhỏ, lẽ loi. Ðó là con đường nối tiếp của con đường từ Trà-Lĩnh đến Trùng-Khánh. Nó chạy uốn khúc từ lũng nầy qua lũng khác, xuyên qua những chòm núi đá Deou-Leou, sông Nam-Ta và cao-nguyên Hang-Ga.
    Vùng Trùng-Khánh có nhiều dân Thổ và Nùng, họ trồng lúa trong những vùng thấp dễ dẫn nước và mặc khác là bắp, lúa mạch đen, cây thầu (làm thuốc phiện) và một ít lúa mì tại các nơi khác.”

    Ông Giao đã chỉ trưng ra được một tấm bản-đồ, lần nầy là bản-đồ của Pháp, cùng với tài-liệu “mật” của đảng CSVN, rồi kết-luận : “Bất-luận thế nào, câu chuyện để mất thác Bản-Giốc” và “mất ải Nam-Quan” là một điều huyễn-hoặc, không có căn-cứ nghiêm-chỉnh”.

    Bản-đồ của ông Giao thì tôi cũng có, bản-đồ 1/50.000 của sở Ðịa-Dư Ðông-Dương, nhưng trên đó không có vẽ con đường (đường đen) song song với sông Qui-Xuân mà cột mốc số 53 cắm trên đó. Tuy-nhiên, đáng tiếc là ông Giao đã không đọc được những bản tường-trình “mật” của các nhân-viên sở Ðịa-Dư Ðông-Dương còn giữ lại được tại CAOM. Qua đó ta thấy hầu hết các cột mốc biên-giới đều bị dời đi. Ngay như những bản tường-trình, những bản nhật-ký... của những vị trực-tiếp cắm mốc đã cho thấy, thời đó, người Tàu đã tự-tiện cắm mốc sai vị-trí để lấn đất hay nhổ cột mốc cắm nơi khác. Ta cũng có thể xem bài viết về Tổng Tụ-Long của Trung-Tá Bonifacy, ông nầy cũng tố-cáo việc các cột mốc bị dời đi. Và cũng không ít tài-liệu của đảng CSVN tố-cáo “bọn bành-trướng Bắc-Kinh” nhổ cột mốc, lấn đất. Vì thế, không có gì chắc-chắn là cột mốc 53 nguyên-thủy ở chỗ đó.

    Thưa ông Giao, cột mốc người ta dời đi được, nhưng các tài-liệu trên đây thì không thể sửa đổi được. Ông tin vào vị-trí cột mốc hay vào tài-liệu ? Commandant Famin là người trực-tiếp chỉ-huy cắm mốc. Ðọc lại bản tường-trình (có đăng trong trang Web), ta thấy chính ông Famin đã tự thân đi cắm mốc. Trung-Úy Détrie làm việc dưới quyền ông. Không lẽ ông viết sai ? Mặc khác, hồ-sơ nghiên-cứu của sở Ðịa-Dư Ðông-Dương, là tài-liệu 4, cũng xác nhận thác Bản-Giốc của Việt-Nam. Không lẽ những nhân-viên của sở nầy đi sang đất Tàu để nghiên-cứu địa-tầng đất của Tàu ? Vì thế, không thể phản-bác, thác Bản-Giốc hoàn-toàn thuộc về Việt-Nam. Chỉ có một điểm chưa xác-định được: đó là đường biên-giới rời sông Qui-Xuân tại điểm nào ?

    Ông Nguyễn Ngọc Giao qua các bài viết chỉ cố-gắng lấp-liếm, để bóp cổ không cho “chân-lý” nói lên tiếng nói của mình. Chân-lý ở đây là sự thật. Nhưng rất vụng-về, rất “thúng úp voi”. Ông Giao đã hai lần phạm lại một lỗi lầm là vậy. Nhưng thực sự cũng nên cám-ơn ông Giao đã chụp hình được hai tấm bản-đồ Nam-Quan và Bản-Giốc và công-bố chúng trước công-luận. Nhờ vậy mà những người hiện đang bị tù vì dám có ý-kiến về đất nước, lãnh-thổ mới được minh oan.

    Cuối cùng là hỏi ông Nhà-Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, bằng-chứng mấy ông nhượng đất, nhượng biển đã rành-rành như thế, vậy mấy ông còn giam những người kia về tội gì?

    Trương Nhân Tuấn

    Pages