Ngô Văn Hải - Đột phá lý luận Mác - Lênin (Phần II)

  • Bởi Khách
    10/02/2012
    1 phản hồi

    Ngô Văn Hải

    PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

    “Người quân tử được ngôi cao để thi hành cái đạo
    Kẻ tiểu nhân được ngôi cao để tìm cách kiếm lợi”

    Như phần phát triển phép biện chứng và biện chứng lịch sử tôi đã trình bày, thực tiễn chúng ta thấy để phát triển chủ nghĩa Mác – Lê Nin chúng ta phải phủ định biện chứng nó mới tạo tiền đề, điều kiện cho chủ nghĩa Mác – Lê Nin phát triển.

    Đồng thời chúng ta phải xác định sao cho danh phải chính thì ngôn mới thuận, cũng như ngôn không thuận thì việc không thành. Vì vậy lý luận phải thống nhất phù hợp với thực tiễn.

    Trong khi đó chính lý luận về nhận thức của Mác – Lê Nin cũng đã chỉ rõ: “Tri thức nhận thức đúng sai đều phải đưa vào thực tiễn, đúng trở thành khoa học, sai phải nhận thức lại”. Vậy trong kinh tế chính trị Mác – Lê Nin có những vấn đề nào chúng ta phải nhận thức lại:

    1. Hai mặt của nền sản xuất xã hội

    Theo Mác lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

    Lực lượng sản xuất: biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất.

    Lực sản xuất gồm: Sức lao động và tư liệu sản suất. Tư liệu sản xuất gồm: Tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động gồm: công cụ lao động và phương tiện lao động. Đối tượng lao động gồm: có sẵn trong tự nhiên và đã qua chế biến.

    Quan hệ sản xuất: quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất của cải vật chất xã hội. Quan hệ sản xuất thể hiện trên 3 mặt: Sở hữu; tổ chức quản lý; phân phối. Quan hệ sản xuất tồn tại khách quan do tính chất và trình độ lực lượng sản xuất quyết định.

    Theo tôi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối liên hệ sau:

    Lực lượng sản xuất: Biểu hiện mối quan hệ giữa toàn bộ lực lượng con người trong xã hội với tự nhiên, là các yếu tố vật chất của quá trình sản xuất. (Toàn bộ lực lượng con người trong xã hội là tất cả các hệ thống chính trị, bộ máy quyền lực nhà nước, đội ngũ trí thức và người lao động. Trong khi đó Mác chỉ nhìn nhận có lao động trực tiếp và tư liệu sản xuất mới là yếu tố vật chất của quá trình sản xuất).

    Trong thực tế ngoài lao động trực tiếp và tư liệu sản xuất còn lao động gián tiếp, những giá trị hữu hình, giá trị vô hình cũng là yếu tố vật chất của quá trình sản xuất.

    Cũng như lực lượng sản xuất không chỉ làm ra của cải vật chất trong sinh hoạt (ăn uống, ở, mặc) mà còn trong các dịch vụ, tinh thần khác phục vụ con người (chính trị, nhà nước, pháp luật, văn hóa, y tế, giáo dục.v.v...).

    Lực lượng sản xuất gồm: người lao động và tư liệu lao động. người lao động gồm: người lao động trực tiếp và người lao động gián tiếp. Trong đó cả lao động gián tiếp và trực tiếp đều bao gồm sức lao động trí lực và sức lao động thể lực. Tư liệu sản xuất gồm: Tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động gồm: công cụ lao động và phương tiện lao động. Đối tượng lao động gồm: có sẵn trong tự nhiên và đã qua chế biến.

    Quan hệ sản xuất: Tôi đồng ý với hai ý này của Mác đó là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất của cải vật chất xã hội. Quan hệ sản xuất tồn tại khách quan do tính chất và trình độ lực lượng sản xuất quyết định.

    Nhưng theo tôi quan hệ sản xuất thể hiện trên 4 mặt chứ không phải trên 3 mặt như Mác: Sở hữu; tổ chức quản lý; phân chia lao động; phân phối. Thực tế chúng ta thấy ngoài tổ chức quản lý lao động còn có sự phân chia lao động trực tiếp và lao động gián tiếp (phân xưởng sản xuất, quản lý doanh nghiệp; nhà nước, doanh nghiệp)…v.v...

    Sự phân chia lao động đã có từ thời mông muội Cộng sản Nguyên thủy ở mức độ đơn giản, đến nay đã phức tạp trong lao động xã hội (công nghiệp, nông nghiệp, trí thức, công nhân, nông dân…v.v...). Sự tách biệt chỉ là tương đối vì chúng có quan hệ biện chứng. (Mác đã quá đơn giản hóa đến siêu hình lên không thấy được tính cụ thể, tính lịch sử, tính toàn diện và phép biện chứng duy vật của mình, cũng như quên mất nguyên lý phát triển: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện).

    2. Giá trị hàng hóa

    Theo Mác giá trị hàng hóa: là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.

    Giá trị là một phạm trù lịch sử chỉ có sản xuất ra của cải vật chất và đem trao đổi của cải vật chất đó thì mới có giá trị hàng hóa.

    Theo tôi giá trị hàng hóa không chỉ là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa mà còn cả giá trị tư liệu sản xuất được đưa vào trong hàng hóa và các điều kiện để tiêu thụ hàng hóa. Ví dụ hàng hóa vàng giá trị lớn không phải chỉ do lao động kết tinh trong vàng mà nó là nguyên liệu quý hiếm chỉ có một số nơi có. Như vậy Mác đã phiến diện khi cho giá trị hàng hóa chỉ là kết tinh của người lao động trực tiếp, lên đã chủ quan duy ý chí không nhìn thấy tổng thể giá trị của hàng hóa.

    Nhận xét của Mác chỉ đúng với sản xuất tự cung tự cấp tự nhiên: “giá trị vật chất là lao động của người làm ra vật chất kết tinh trong vật chất”.

    Còn ý giá trị là một phạm trù lịch sử chỉ có sản xuất ra của cải vật chất và đem trao đổi của cải vật chất đó thì mới có giá trị hàng hóa tôi hoàn toàn đồng ý.

    Theo Mác các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:

    Những nhân tố ảnh hưởng đến thời gian lao động: Năng suất lao động; cường độ lao động; lao động đơn giản hay lao động phức tạp.

    Theo tôi các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa:

    Ngoài những nhân tố ảnh hưởng đến thời gian lao động trực tiếp: Năng suất lao động; cường độ lao động; lao động giản đơn hay lao động phức tạp như Mác nhận định mà nó cũng chính là những nhân tố ảnh hưởng đến thời gian lao động gián tiếp.

    Cùng những nhân tố giá trị tư liệu sản xuất: Nguyên vật liệu sản xuất; công cụ sản xuất; phương tiện sản xuất. (đắt hay rẻ, hiện đại hay thô sơ…v.v...)

    Các điều kiện để tiêu thụ của cải vật chất: giao thông; thị trường tiêu thụ; nhu cầu xã hội. (xa hay gần, có khả năng thanh toán hay không có khả năng thanh toán…v.v...)

    Như vậy giá trị hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp mà còn do lao động gián tiếp, tư liệu sản xuất và điều kiện tiêu thụ hàng hóa tác động đến giá trị hàng hóa.

    3. Sự chuyển hóa tiền thành tư bản.

    Theo Mác lưu thông không làm tăng giá trị, nhưng nếu nằm ngoài lưu thông thì tiền tệ cũng không làm tăng thêm giá trị. Giải quyết mâu thuẫn này ở chỗ tìm trên thị trường một hàng hóa có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Đó chính là hàng hóa sức lao động.

    Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định trên của Mác lưu thông không làm tăng giá trị, nhưng nếu nằm ngoài lưu thông thì tiền tệ cũng không làm tăng thêm giá trị. Giải quyết mâu thuẫn này ở chỗ tìm trên thị trường một hàng hóa có khả năng tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó. Đó chính là hàng hóa sức lao động. Đồng thời tiền tệ cũng là một loại hàng hóa nên tiền tệ phải là kết tinh của lao động. Như vậy tiền tệ là một dạng lao động dự trữ tiềm ẩn “bất biến”. Để chuyển hóa tiền tệ (lao động dự trữ tiềm ẩn) tăng thêm hoặc giảm giá trị cần tác động của sức lao động “khả biến”. Như vậy tiền tệ( lao động dự trữ tiềm ẩn) khi vận động sẽ tạo ra một lượng giá trị “cố định”(% lợi tức). Còn lao động trực tiếp khi vận động sẽ tạo ra một lượng giá trị “khả biến”. Vấn đề quyết định chính là lao động gián tiếp (tổ chức quản lý) khi vận động sẽ làm tăng hoặc giảm giá trị tiền tệ (lao động dự trữ tiềm ẩn) và lao động trực tiếp. (giả định tư liệu sản xuất như nhau)

    4. Sản xuất giá trị thặng dư

    Theo Mác giá trị thặng dư là giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản.

    Theo tôi giá trị thặng dư cũng là lợi nhuận do tiền đầu tư (lao động dự trữ tiềm ẩn) tạo ra một lượng % “cố định” và một lượng giá trị “khả biến” do sức lao động của người lao động trực tiếp tạo ra ngoài tiền công. Mức độ tăng giảm nhiều ít do lao động gián tiếp(tổ chức quản lý) quyết định. (giả định tư liệu sản xuất như nhau) Nếu tư liệu sản xuất khác nhau thì phân công lao động khác nhau, làm mức độ tăng giảm giá trị thặng dư hay lợi nhuận cũng khác nhau.

    Theo Mác quá trình sản xuất giá trị thặng dư do người công nhân (V) tạo ra (m), còn giá trị tư liệu sản xuất (C) được bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm cho đến hết. (phần % lợi tức tiền vay được tính vào đâu?)

    Thực tế hiện nay giá trị thặng dư (m) hay lợi nhuận(p) được tính: doanh thu – (giá vốn + chi phí bán hàng + chi phí quản lý DN+ chi phí tài chính + chi phí khác+ thuế doanh nghiệp)= m hay p.

    Trong đó giá vốn = giá trị NVL + CP nhân công + CP chung (gồm khấu hao TSSX + CP quản lý phân xưởng + CP khác).

    Chi phí bán hàng = CP nhân công bán hàng + khấu hao TS bán hàng + CP khác.

    Chi phí quản lý DN = CP nhân công quản lýDN + khấu hao TS quản lý + CP khác.

    Vậy quá trình sản xuất giá trị thặng dư do người công nhân (V) tạo ra chỉ một phần(m) “khả biến”, còn giá trị tư liệu sản xuất chính là tư bản hay tiền đầu tư (lao động dự trữ tiềm ẩn)không những được bảo tồn, chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm mà làm tăng một lượng % “cố định” trong sản phẩm. (bằng hoặc lớn hơn % lợi tức tiền vay)

    Nếu theo quan điểm của Mác để phân phối công bằng thì lợi nhuận chuyển hết cho người lao động trực tiếp, vậy lợi tức tiền đầu tư lấy ở đâu ra, ai sẽ đầu tư sản xuất, tích tụ tư bản để tái sản xuất mở rộng lấy ở đâu, tiền thuế lấy ở đâu…?

    Như vậy Mác đã trừu tượng hóa mà không cụ thể hóa quá trình sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận. Đơn giản hóa quá trình sản xuất hàng hóa tư bản thành quá trình sản xuất vật chất gần tự nhiên (tự cung tự cấp)mà không thấy sự phức tạp của sản xuất hàng hóa.

    5. Tái sản xuất xã hội và khủng hoảng kinh tế

    Theo Mác sản xuất xã hội gồm 2 khu vực: khu vực I là khu vực sản xuất tư liệu sản xuất, khu vực II là khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng.

    Để thực hiện tổng sản phẩm xã hội tái sản xuất giản đơn thì toàn bộ giá trị mới ở khu vực I bằng giá trị bất biến đã hao phí ở khu vực II: I(V+m) = IIc.

    Toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực I sẽ bằng quỹ bù đắp tư liệu sản xuất ở hai khu vực: I(c+v+m) = Ic+Ic.

    Toàn bộ giá trị sản phẩm của khu vực II sẽ bằng giá trị mới do lao động sáng tạo ra ở hai khu vực: I(v+m) + II(v+m) = II(c+v+m).

    Khu vực I: 4000+ 1000+1000 = 6000

    Khu vực II: 2000+ 500v+500m = 3000

    Như vậy tư liệu sản xuất khu vực II Mác chỉ lấy giá trị lao động khu vực I mà không có giá trị nguyên vật liệu thì làm sao để tái sản xuất xã hội. Trong khi đó để tạo ra của cải vật chất giản đơn chúng ta cần phải có nguyên liệu và lao động. Khi xã hội còn sơ khai xã hội sản xuất cần lao động là chính lên hình thành hình thái kinh tế chiếm hữu nô lệ. khi xã hội đã phát triển xã hội sản xuất không những cần lao động mà còn cần tư liệu sản xuất (rất lớn) cụ thể là nguyên vật liệu lên đã tạo ra những cuộc chiến tranh để tranh dành nguyên vật liệu cũng là tranh dành của cải vật chất.

    Để thực hiện tổng sản phẩm xã hội tái sản xuất mở rộng thì quy mô tích lũy khu vực I quyết định quy mô tích lũy khu vực II, lên phải ưu tiên tiêu dùng khu vực II.

    Khu vực I chỉ thực hiện tái sản xuất mở rộng khi khu vực II có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội.

    Để quá trình tái sản xuất diễn ra bình thường thì toàn bộ sản phẩm khu vực II phải nhỏ hơn giá trị mới ở cả hai khu vực.

    Như vậy Mác chỉ xem tái sản xuất tổng sản phẩm xã hội ở mức ăn no mặc ấm (tự cung tự cấp), chứ không theo mức ăn ngon mặc đẹp (hàng hóa thị trường). Chỉ ở mức vật chất tối thiểu chứ chưa xét đến các dịch vụ cũng như tinh thần văn hóa mà xã hội cần. Chỉ xem các nghành sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị và giá trị thặng dư, mà không thấy tất cả các nghành sản xuất, dịch vụ cũng như tinh thần, văn hóa đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Đồng thời không thấy được sự phát triển của nhu cầu xã hội, khi năng suất sản xuất vật chất tăng cao thì một phần lao động xã hội được chuyển sang dịch vụ, tinh thần, văn hóa để đáp ứng nhu cầu xã hội. Ngay từ tái sản xuất xã hội giản đơn Mác đã nhận thức sai lầm thiếu hẳn một yếu tố cơ bản (nguyên vật liệu) để sản xuất tư liệu tiêu dùng thì làm sao tái sản xuất mở rộng được.

    Theo Lênin sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất. Sau đó sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo tư liệu sản xuất tiêu dùng và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng. (Cụ thể công nghiệp nặng phát triển nhanh nhất, sau công nghiệp nhẹ và cuối cùng sản xuất tư liệu tiêu dùng).

    Nhưng thực tế chúng ta thấy mục đích cuối cùng là để sản xuất tư liệu tiêu dùng vậy chúng ta coi trọng cái nào thực tế đã chứng minh tôi không phân tích nữa. Ngay cách phân chia của Mác Lênin khu vực I cũng chỉ để phục vụ khu vực II để tạo ra tư liệu tiêu dùng, chứ không phải khu vực II phục vụ khu vực I. Đồng thời tư liệu sản xuất bao gồm: Công cụ lao động, phương tiện lao động, nguyên liệu trong tự nhiên, nguyên liệu đã qua chế biến. Nhưng ở đây chỉ xét công cụ, phương tiện lao động và lao động chứ không xem xét đầy đủ cả nguyên vật liệu là tư liệu sản xuất dẫn đến việc tái sản xuất xã hội không đúng quy luật sản xuất vật chất. Sự phân chia chỉ là tương đối, có thể tư liệu tiêu dùng sinh hoạt lại là nguyên vật liệu của nghành nghề khác, để tái sản xuất xã hội phải theo đúng quy luật sản xuất vật chất và quy luật hàng hoá thị trường. Vậy tuỳ theo tiềm năng của mỗi dân tộc mỗi đất nước mà phát triển kinh tế theo đúng quy luật khách quan.

    Theo Mác khủng hoảng kinh tế xẩy ra khi hàng hóa sản xuất ra vượt xa nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, hàng hóa ế thừa trong khi đời sống nhân dân còn thiếu thốn.

    Khủng hoảng kinh tế trong TBCN có 2 đặc điểm: Thừa hàng hóa và mang tính chu kỳ.

    Nguyên nhân do tính chất xã hội của sản xuất mâu thuẫn hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN.

    Như vậy Mác đã nhìn nhận ra quy luật khủng hoảng kinh tế trong TBCN có tính sản xuất thừa hàng hóa do dân cư không có khả năng thanh toán và có tính chu kỳ theo đúng quy luật khách quan biện chứng. “vận động hay phát triển là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu không tách rời vật chất. Vật chất tồn tại bằng vận động, thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình, không thể có vật chất mà không có vận động và ngược lại…”. Chính sự phát triển chưa hoàn thiện lên sinh ra chu kỳ khủng hoảng kinh tế để cân bằng tương đối và khi điều chỉnh đúng quy luật nó lại tiếp tục phát triển.

    Thực tế từ đó đến nay chế độ TBCN đã tự điều chỉnh đúng theo quy luật lên đã ngày càng phát triển nhưng chưa hoàn thiện lên chưa tránh được chu kỳ khủng hoảng.

    Còn nguyên nhân theo tôi thì chính do sự phân phối, tư hữu không công bằng, không minh bạch và thiếu trách nhiệm trong xã hội dẫn đến cung cầu không cân bằng, làm khủng hoảng kinh tế. Sự có trách nhiệm của các nhà tư bản sẽ làm phân phối, tư hữu minh bạch, công bằng dẫn đến nhân dân đầy đủ khả năng thanh toán nhu cầu của mình. Cung sẽ cân bằng cầu không còn khủng hoảng kinh tế, lợi ích của các nhà tư bản ít đi nhưng bền vững lâu dài. Hiện nay do sự phát triển phức tạp mà phát sinh nhiều nguyên nhân, như vay mượn tương lai, cầu kéo, chi phí đẩy dẫn đến cung cầu không cân bằng làm khủng hoảng kinh tế vẫn thành chu kỳ.

    6. Các hình tái tư bản và các hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư

    Theo Mác lợi nhuận chính là giá trị thặng dư được quan niệm là kết quả của toàn bộ tư bản ứng trước (p=m).

    Theo TBCN thì lợi nhuận P do tiền đầu tư hay chi phí sản xuất (C+V=K) đã tạo ra trong quá trình sản xuất.

    Tôi đồng ý với quan điểm của Mác nhưng như những phần trên tôi đã phân tích. Giá trị thặng dư cũng là lợi nhuận do tiền đầu tư (lao động dự trữ tiềm ẩn) tạo ra một lượng % “cố định” và một lượng giá trị “khả biến” do sức lao động của người lao động trực tiếp tạo ra ngoài tiền công. Mức độ tăng giảm nhiều ít do lao động gián tiếp (tổ chức quản lý) quyết định. (giả định tư liệu sản xuất như nhau)

    Như vậy người lao động ngoài tiền lương còn phải được phân phối một phần lợi nhuận thành cổ phần trong doanh nghiệp thì không còn sự bóc lột, phân phối sẽ công bằng, kích thích khả năng lao động sáng tạo của mỗi người và sự tích tụ tư bản để tái sản xuất mở rộng vẫn giữ được.

    Trong khi đó mỗi khi khủng hoảnh kinh tế TBCN mới điều chỉnh thu nhập bằng các chính sách giảm lạm phát, kích cầu, hay tăng lương …v.v.., lên tạo sự cân bằng mới làm tiền đề kinh tế tiếp tục phát triển. Nhưng phần lợi nhuận vẫn chưa phân phối công bằng lên vẫn còn sự bóc lột, làm khủng hoảng kinh tế vẫn thành chu kỳ.

    Như vậy Mác đã nhìn nhận thấy sự bóc lột của giai cấp tư sản nhưng chưa chính xác (không phải tất cả P hay m. Đồng thời Mác muốn xóa bỏ tư hữu sở hữu để xóa bỏ giai cấp làm không còn chế độ người bóc lột người. Nhưng xóa bỏ tư hữu sở hữu là xóa bỏ lợi ích của con người, dẫn đến làm mất động lực chính thúc đẩy hoạt động của con người, lên đã cản trở sự phát triển của xã hội. Đồng thời xoá bỏ tư hữu sở hữu là xóa bỏ độc lập của mỗi con người, của mỗi dân tộc, của mỗi đất nước, tạo sự phụ thuộc vào người có quyền phân phối. Ngược lại khi mỗi đất nước mỗi dân tộc phụ thuộc kinh tế vào nước khác, sẽ không còn độc lập, không còn quyền tư hữu sở hữu tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến đất nước đó dân tộc đó không sớm thì muộn sẽ bị diệt vong, hoà tan vào dân tộc khác không còn sinh tồn trên trái đất...!

    Mác cho rằng lợi tức (Z) là một phần của P nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một khoảng thời gian nhất định.

    Nếu nhà tư bản đi vay không tạo ra lợi nhuận P thì lợi tức lấy ở đâu? Nếu nhà tư bản đi vay lại cho vay khoản đầu tư mình có để lấy lợi tức thì lợi tức lấy ở đâu ra? Nếu nhà tư bản phân phối công bằng (theo ý Mác) hết lợi nhuận cho công nhân thì lợi tức lấy đâu ra? Như vậy không có đầu tư không thể “sản xuất”, không có “sản xuất” không thể tạo ra lợi nhuận P. Chứng tỏ tư bản đầu tư đã tạo ra một phần lợi nhuận, như trên tôi đã phân tích % lợi tức là một dạng tiền công của tiền đầu tư (lao động dự trữ tiềm ẩn) khi tiền cho vay vận động.

    Tóm lại mọi của cải vật chất (tinh thần, văn hóa,tư liệu sinh hoạt) đều do lao động của con người sáng tạo ra để phục vụ nhu cầu chính mình. Như vậy mọi của cải chưa dùng đến (tiền vàng, tư liệu sản xuất, tri thức, văn học nghệ thuật…v.v...) đều là lao động dự trữ tiềm ẩn để khi con người không lao động được thì đem ra sử dụng.

    7. Chủ nghĩa tư bản độc quyền

    Theo Lênin cạnh tranh tự do nhất định dẫn đến tích tụ, tập trung sản xuất. Tích tụ tập trung sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ dẫn đến độc quyền.

    Độc quyền loại bỏ sự thống trị của cạch tranh, nhưng không thủ tiêu được cạnh tranh, mà ngược lại càng làm cạch tranh gay gắt. Độc quyền định ra giá cả độc quyền và thu lợi nhuận độc quyền cao.

    Theo tôi cạch tranh tự do nhất định dẫn đến tích tụ, tập trung sản xuất. Tích tụ tập trung sản xuất đến một trình độ nhất định sẽ dẫn đến độc quyền. Độc quyền sẽ bị quy luật kinh tế (sản xuất, hàng hoá, thị trường) và quy luật phát triển phá bỏ. Để tồn tại và phát triển nó sẽ chuyển sang hợp tác cùng có lợi theo đúng quy luật kinh tế và quy luật phát triển nếu không đúng quy luật nó sẽ phá sản.

    Độc quyền loại bỏ sự thống trị của cạch tranh là tất nhiên, nhưng không thủ tiêu được cạnh tranh, mà ngược lại càng làm cạnh tranh gay gắt là mẫu thuẫn. Khi cạch tranh gay gắt làm sao định ra giá cả độc quyền để thu được lợi nhuận độc quyền cao. Ngược lại chỉ có độc quyền không còn cạch tranh mới định ra giá cả độc quyền để thu được lợi nhuận độc quyền cao. Vì độc quyền sẽ bị quy luật kinh tế (sản xuất, hàng hoá, thị trường) và quy luật phát triển phá bỏ. Nên khi chuyển sang hợp tác nó không thủ tiêu được cạch tranh, ngược lại càng làm cạch tranh gay gắt, tạo sự thúc đẩy xã hội phát triển cao.

    Như vậy cùng với xoá bỏ tư hữu sở hữu độc quyền sẽ làm mất độc lập tự do của mỗi con người, của mỗi dân tộc, của mỗi đất nước, sẽ cản trở sự phát triển khách quan của xã hội. Để xã hội phát triển khách quan nhất định không thể có độc quyền trong kinh tế cũng như trong chính trị.

    “Biết mình biết người trăm trận trăm thắng
    Biết mình không biết người năm ăn năm thua
    Không biết mình, không biết người trăm trận trăm bại”

    Mong rằng trận chiến kinh tế Việt Nam cũng chiến thắng.

    Như trận chiến thống nhất tổ quốc.

    “Hỡi đồng bào chúng ta muốn dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Nhưng những nhận thức sai lầm, ít thực tiễn, những bọn cơ hội đã ngăn cản chúng ta.

    Không! chúng ta không chịu chấp nhận, thời hội nhập đổi mới đã đến.

    Hỡi những chính nhân quân tử trong mỗi con người chúng ta hãy thức tỉnh.

    Giờ trận chiến kinh tế đến hồi quyết liệt, hãy tiến lên những chính nhân quân tử.

    Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”.

    Ngày 9 tháng 2 năm 2012

    Người lao động Ngô Văn Hải, DĐ: 0948616562

    Tổ 56a, Phường Nguyễn Thái Học, Thành phố Yên Bái, Tỉnh Yên Bái.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bác Hải vẫn quên (như các nhà lý luận cộng sản khác) vai trò của nhà tư bản. Họ không chỉ bỏ tiền (hay huy động vốn) ra đầu tư mà họ còn phải lao tâm khổ tứ có khi đến mất ăn mất ngủ để quản lý đồng vốn sao cho bảo toàn và sinh lời. Nhờ tác động của ham muốn sinh lời mà hàng hóa sản phẩm được lưu thông, giá thành hạ xuống, tính năng tác dụng nâng lên. Kinh tế Xã hội do đó mà phát triển.
    Để thấy rõ hơn có thể quan sát thế này: Một khi các ông chủ không thuê thì hãy xem các nhà quản lý giỏi bằng cấp đầy mình có thất nghiệp không? Công nhân tay nghề cao, tiến sĩ, kỹ sư giỏi có thất nghiệp không? Câu trả lời rất dễ thấy là Thất Nghiệp Đầy Đường.
    Rõ ràng, các nhà tư bản có một vai trò rất lớn là tập trung nhân lực và điều khiển nhân lực lao động tạo ra các giá trị hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ ích lợi cho cuộc sống. Tục ngữ có câu "một người lo bằng một kho người làm". Nhà tư bản hưởng lợi hơn người khác là điều đương nhiên.
    Một người làm thuê cho dù có giỏi đến mấy đi nữa thì cũng chỉ lo làm việc và lo cho cuộc sống của mình hay gia đình mình là chủ yếu. Đâu có lo được công ăn việc làm cho người khác như nhà tư bản? Thế mà cứ đòi được hưởng lợi như nhà tư bản thì có vô lý không?
    Một xã hội văn minh là một xã hội trước hết phải hiểu và phát huy tính năng tác dụng của các loại người trong xã hội nhằm thúc đẩy xã hội phát triển. Người ta có thể cân bằng mức sống xã hội thông qua chính sách thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt ...) chứ không phải bằng cách ăn cướp, dùng bạo lực trấn lột.
    Khi xã hội văn minh, tức khắc người giàu sẽ nhường của cải cho xã hội chứ không chỉ giữ riêng cho mình nữa. Bill Gate, Buffer và nhiều triệu phú, tỷ phú khác đã làm như vậy. Còn trong một xã hội lạc hậu và sa đọa thì sẽ chỉ có lấy của công về làm của tư chứ rất ít khi có điều ngược lại.