Nguyễn Thị Từ Huy - Muốn hay không muốn

  • Bởi Admin
    10/02/2012
    5 phản hồi

    Nguyễn Thị Từ Huy

    Ở Việt Nam hiện nay, ta thấy không chỉ có nông dân bị bần cùng hóa bởi chính sách ruộng đất bất hợp lý và bởi chế độ cưỡng chế đất đai bất công mà vụ Đoàn Văn Vươn là một ví dụ nổi bật, đang là mối quan tâm chung của dư luận ở thời điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới này. Cũng không chỉ có công nhân bị bần cùng hóa. Mà cả giới lao động trí óc cũng bị bần cùng hóa.

    Trong khi mà trong xã hội hiện thời có những nghề cho phép một số người lao động hưởng lương lên đến cả trăm triệu đồng một tháng, thì lương khởi điểm của giáo viên nói chung chưa đến hai triệu, lương khởi điểm của giảng viên đại học trên hai triệu một chút. Lương của các nghiên cứu viên ở các viện nghiên cứu còn thấp hơn, vì dù sao ngạch giảng dạy còn được cộng thêm một số phần trăm đứng lớp. Với giá cả hiện tại, mức lương đó không thể đảm bảo cho các sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của những người lao động trí óc, nhất là ở các thành phố lớn. Một chế độ lương như vậy là một chế độ lương mang tính chất bần cùng hóa. Người lao động trí óc bị bần cùng hóa và bị đẩy đến chỗ không còn có thể nghĩ gì khác ngoài việc làm sao kiếm cho đủ tiền để sống. Nghịch lý ở đại học (và các trường học nói chung) là sau khi mất nhiều năm học hành, cố gắng để đạt kết quả xuất sắc, người giảng viên được giữ lại trường giảng dạy, thì nỗi lo lắng bận tâm của họ không phải là trau dồi kiến thức, phát triển năng lực chuyên môn, mà là làm gì để sống. Vậy đấy, đi làm rồi, có được một nghề rồi, một nghề được xem là cao quý hẳn hoi, nhưng lại phải khốn khổ loay hoay tìm cách trả lời câu hỏi: « làm gì để sống ? »[1]

    Điều nguy hại đáng nói ở đây là: người lao động trí óc bị bần cùng hóa bởi chế độ lương phải lao vào các hoạt động kiếm sống, và sau một thời gian thì họ khó có thể giữ được các hoạt động trí óc, mặc dù lao động của họ vẫn được xếp vào loại lao động trí óc, ví dụ như nghề nghiên cứu hay đi dạy. Thực tế cho thấy là có một số giảng viên ở bậc đại học đi dạy rất nhiều nhưng để nói là họ có hoạt động trí óc thì rất khó, bằng chứng là họ không có công bố hoặc nếu có thì đó là những bài viết mà chất lượng khoa học thấp, ít hàm lượng tri thức và phát kiến, ít hàm lượng tư duy. Bài giảng của họ chỉ là tổng hợp lại kiến thức của người khác, đã thế nhưng kiến thức cũng không được thường xuyên cập nhật, bài giảng của họ có thể được soạn một lần để giảng trong nhiều năm và giảng ở nhiều nơi.

    Một nghịch lý khác mà giới trí thức ở các nước phát triển rất khó có thể hình dung, nhưng đang là thực tế của xã hội chúng ta: giới lao động trí óc ở Việt Nam không những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị / tự bần cùng hóa cả về đời sống tinh thần. Hiện tượng này đang thành ra phổ biến: những người, về nguyên tắc, phải làm việc với sách vở lại rất ít đọc sách, không quan tâm đến các vấn đề xã hội. Họ tự phủ nhận vai trò và trách nhiệm xã hội của họ. Không hiếm những lời phàn nàn kiểu như: giới văn chương gặp nhau không nói chuyện văn chương, mà nói chuyện bất động sản, đất đai, nhà cửa, ô tô.

    Mặt khác đa số tự nguyện tuân theo những quy định thành văn và bất thành văn về cách thức tư duy, đường hướng tư duy, hệ quả tất yếu là sự nghèo nàn trong nội dung tư duy, và hệ lụy thê thảm nhất là không ít người có nguy cơ đánh mất khả năng tư duy và thói quen tư duy, dẫn đến việc mất khả năng phân tích, mất khả năng tự quyết định, chỉ còn biết chấp nhận và chờ đợi những quyết định từ trên xuống, dù những quyết định đó sai hay đúng, dù chúng có tác hại như thế nào chăng nữa. Thậm chí có những người còn rất trẻ cũng đã tỏ ra không biết làm gì nếu không được định hướng. Trong khi đó, hoạt động trí óc, về thực chất, là một hoạt động mang tính tự do; và không có gì có thể tước đoạt được thứ tự do đó. Đối với tư duy tất cả đều được phép. Người ta có thể bị tước đoạt tự do công bố, tự do phát ngôn và trình bày công khai; nhưng tự do tư duy thì không gì có thể động đến được. Do đó có thể nói rằng đa số thuộc giới lao động trí óc ở ta tự nguyện tuân theo các định hướng suy nghĩ từ bên ngoài, hoặc khép mình vào những giới hạn do tự mình đặt ra, và hình dung rằng giới hạn đó trùng với những gì được phép, không lấn sang khu vực của những gì không được phép. Tuy nhiên thực tế cho thấy, sự tự giới hạn này phản ánh một nỗi lo sợ nhiều khi thiếu căn cứ, bởi vì những gì « không được phép » đối với người này lại là « được phép » (đúng hơn là « tự cho phép ») đối với người kia. Cái vòng kim cô, do vậy, không phải chỉ là sự áp đặt từ bên ngoài, mà nó còn có tính nội sinh. Giới lao động trí óc tự tạo ra cái vòng đó và để nó xiết chặt từ bên trong vỏ não. Sự tự nguyện này, xét kỹ, không gì khác hơn là hệ quả của sự bần cùng hóa tinh thần. Nếu như một bộ phận lớn thuộc giới lao động trí óc Việt Nam được gọi là « trí thức trùm chăn » thì đó chính là hậu quả của sự (tự) bần cùng hóa về phương diện tinh thần này. Bởi lẽ giờ đây, khi các thói quen và quán tính đã được thiết lập một cách vững chắc, nếu họ có hất cái chăn đi, thì việc trình bày ý kiến cũng hoàn toàn không đơn giản và không dễ dàng. Thử giả định rằng họ được chuyển sang sống ở các nước dân chủ và họ có toàn quyền phát ngôn về mọi chuyện mà không có bất kỳ một đe dọa nào hay một áp lực nào, thì liệu họ có thể tham gia phản biện như các trí thức ở các nước sở tại không?

    Sự bần cùng hóa tinh thần là một trong những nguyên nhân khiến giới lao động trí óc ở đây đánh mất sức mạnh, đánh mất khả năng phân biệt đúng sai, phải trái, và khiến họ có thể vi phạm các chuẩn mực đạo đức mà vẫn cảm thấy yên ổn lương tâm. Họ tìm sự yên ổn bằng cách sử dụng các lý lẽ mang tính ngụy biện để bào chữa hoặc hợp pháp hóa cho sự vi phạm đạo đức hay sự vi phạm pháp luật. Chẳng hạn giới giáo viên có thể tự cho là chính đáng khi nhận phong bì của học sinh và phụ huynh. Họ lập luận rằng đấy là để bù lại sự bất công trong chế độ thù lao của nhà nước. Họ đã dùng cái sai này để sửa cái sai khác, trong khi những giải pháp đúng đắn đã không được lựa chọn. (Chúng tôi sẽ còn trở lại bàn sâu hơn về điều này). Họ thấy hay không thấy rằng, giữa cái phong bì và sự suy đồi đạo đức, sự suy thoái trầm trọng của nền giáo dục, có mối quan hệ khăng khít? Họ thấy hay không thấy mối liên hệ nhân quả giữa cái phong bì và tệ nạn bằng cấp dởm, chức danh dởm, những thứ đã và đang đẩy chất lượng giáo dục xuống bờ vực thẳm? Đơn giản là một khi đã nhận tiền của sinh viên thì họ không thể đánh trượt hay dành điểm kém cho luận văn hay luận án của sinh viên, dù cái luận văn hay luận án ấy có kém cỏi đến mức độ nào chăng nữa. Họ thấy hay không thấy rằng khi quyết định trao bằng thạc sĩ hay tiến sĩ cho một người không có năng lực tương xứng với học vị đó, thì họ đã gián tiếp đẩy bao nhiêu thế hệ học sinh vào nguy cơ bị ngu hóa, bị bần cùng hóa về mặt trí tuệ ? Vấn đề không chỉ là việc cho ra đời một tiến sĩ dỏm, mà cùng với tiến sĩ dỏm đó là hàng loạt thế hệ thanh thiếu niên phải gánh chịu hậu quả. Rồi những người thầy kém sẽ tạo ra các thế hệ những người thầy kém tiếp theo, cứ như vậy mà kéo dài tình trạng suy thoái.[2] Vậy những người làm giáo dục muốn đẩy trách nhiệm ấy cho ai?

    Vấn đề đối với giới lao động trí óc không hẳn chỉ là hợp tác hay bất hợp tác. Voltaire từng bị triều đình bỏ tù vài lần, nhưng rồi sau đó cũng có lúc ông hợp tác với triều đình Versailles và triều đình của Friedrich II, rồi lại bất hợp tác. Goethe từng giữ nhiều chức vụ trong các triều đình của Đức thời bấy giờ. Hugo từng thực sự mong muốn tham gia triều chính, muốn có ảnh hưởng để thực hiện các ý tưởng của mình. Ông trở thành người tin cẩn của Louis-Philippe năm 1844, và sau đó làm Nguyên lão nghị viên. Rồi tự lưu đày, từ chối trở về nước Pháp khi mà ông chưa thấy đất nước này có tự do. Dù ở thời kỳ nào trong đời họ, dù họ lựa chọn thái độ nào, hợp tác hay bất hợp tác, thì đó cũng là những nhân cách lớn, những trí tuệ lớn và những bản lĩnh văn hóa đáng nể trọng. Họ biết rõ họ làm việc vì ai, vì cái gì. Nhân loại đã được hưởng lợi rất nhiều từ sản phẩm của lao động trí óc của họ.

    Sự (tự) bần cùng hóa về tinh thần, về đời sống trí tuệ đã khiến cho đa phần giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay mất dần các phẩm chất tư duy, mất cả năng lực làm việc trong lĩnh vực chuyên môn hẹp của mình, mất luôn cả bản lĩnh văn hóa, cả ý thức về sự đúng sai, cả phẩm chất đạo đức công dân. Tự giữ cho mình trong sạch, chuẩn mực còn khó, nói chi đến chuyện dám đứng lên bảo vệ công lý, bảo vệ nhân tính! Do vậy mà thuật ngữ « trí thức trùm chăn » cũng chưa hẳn đã xác đáng. Bởi lẽ trí thức trùm chăn dù thơ ơ với thế sự thì ít ra cũng còn giữ được căn cốt của người trí thức.

    Vấn đề quan trọng đặt ra cho giới lao động trí óc Việt Nam hiện nay là làm thế nào để thoát ra khỏi tình trạng bần cùng hóa cả về vật chất lẫn tinh thần. (Nếu nhìn vào các dấu hiệu của tài sản thì có vẻ như một số người thuộc giới lao động trí óc đã thoát khỏi sự bần cùng hóa về vật chất, nhưng nghịch lý là ở chỗ: phương thức mà phần lớn trong số đó sử dụng để thoát nghèo lại góp phần thúc đẩy quá trình bần cùng hóa về tinh thần ở họ. Điều này sẽ được đề cập vào một dịp khác.)

    Nhưng có lẽ vấn đề còn quan trọng hơn là làm thế nào để, nếu không phải toàn bộ thì cũng là phần lớn, giới lao động trí óc của chúng ta mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa ấy, nhất là thoát khỏi sự bần cùng hóa về tinh thần. Để tránh sa vào duy ý chí, cần nói rõ hơn rằng, dù « Muốn » chưa phải là điều kiện đủ, thì đó cũng là điều kiện cần. Hiện nay còn quá ít những người có mong muốn này. Một khi còn chưa có sự mong muốn, khi mà tình trạng chung là chấp nhận, chịu đựng và thỏa hiệp, thì việc đặt câu hỏi « làm thế nào » chỉ là một thứ xa xỉ phẩm mà thôi. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta nhận ra rằng thực ra trong mỗi người đều có một nguồn năng lượng rất lớn. Cần phải để cho nguồn năng lượng đó được giải phóng để biến thành sức mạnh; giải phóng khỏi nỗi sợ hãi, khỏi những định kiến, khỏi sự ràng buộc và hạn hẹp trong nhận thức. Mong muốn là điểm khởi đầu giúp ta có thể đi tới chỗ đồng ý với John Stuart Mill rằng: « …nguồn gốc của mọi thứ đáng trọng trong con người như một thực thể có trí tuệ cũng như một thực thể có đạo đức, đó là phẩm chất sửa lại sai lầm của mình »[3], và càng đồng ý với ông hơn về nhận định: « Con người có khả năng sửa chữa sai lầm của mình bằng thảo luận và trải nghiệm. Không phải chỉ có bằng trải nghiệm không thôi. Phải có thảo luận để biết trải nghiệm cần được suy đoán ra sao. »[4]

    Chỉ khi nào giới lao động trí óc có mong muốn thoát khỏi tình trạng bần cùng hóa này thì lúc đó họ mới nghĩ đến việc tìm giải pháp, tìm cách làm thế nào, khi đó họ mới có cơ may tìm lại được các giá trị của lao động trí óc. Bởi vì sự mong muốn sẽ kích hoạt trí não, sẽ khiến cho trí óc hoạt động, và sự hoạt động của trí óc là cách duy nhất giúp người ta tìm ra giải pháp tích cực nhất trong hoàn cảnh của mình. Như câu ngạn ngữ của người Pháp: « vouloir c’est pouvoir »[5], hoặc như Đam San của Tây Nguyên: « Ta sẽ đi tới nơi ta muốn ».

    Vinh, ngày 24/1/2012

    ________________

    [1] Vì muốn tập trung vào chủ đề chính của bài viết, chúng tôi sẽ không đề cập đến một hiện tượng, đó là một số người thuộc giới lao động trí óc ở Việt Nam, bất chấp sự khắc nghiệt của hoàn cảnh, đã không ngừng nỗ lực làm việc. Đến mức mà, có lẽ các đồng nghiệp nước ngoài của họ cũng khó có thể hiểu được họ lấy đâu ra sức lực để có thể làm việc như thế trong một điều kiện tồi tệ như thế.

    [2] Xin kể ra đây một câu chuyện nhỏ mà người viết bài này từng chứng kiến khi còn ở Pháp : một sinh viên bậc master (tương đương với thạc sĩ ở Việt Nam) có cơ hội nhận học bổng làm tiến sĩ, nhưng cô ấy không nhận, và giải thích rằng, cô ấy tự thấy không có thiên hướng và không đủ khả năng làm nghiên cứu, vì thế cô ấy nghĩ rằng nên để suất học bổng đó cho người nào thực sự có năng lực và say mê nghiên cứu. Cô ấy sẽ tìm một việc phù hợp với trình độ và sở thích của mình. Trong ví dụ này ta thấy rõ những gì mà nền giáo dục Pháp đã đạt tới trong việc giáo dục con người. Những gì được Rousseau nói tới từ thế kỷ XVIII : « Con người thực sự tự do chỉ muốn điều gì anh ta có thể, và làm điều gì anh ta thích » (Emille hay là về giáo dục, bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Sâm và Trần Quốc Dương, NXB Tri Thức, 2008, tr. 95)

    [3] John Stuart Mill, Bàn về tự do, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2005, tr. 56 .

    [4] Như trên, tr. 56

    [5] Muốn là có thể thực hiện được.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Phản hồi: 

    Trong bài viết của mình, tác giả có đề cập đến "phản biện", nhưng tác giả lại không phản biện, trong khi đó có 4 phản hồi thì đã có 3 phản biện. Rõ ràng là tác giả bị ảnh hưởng của lối giáo dục giáo điều, làm "nghèo nàn tư duy". Viết cho người đọc thì cũng nên đọc bài của người khác viết để kiểm chứng sự hiểu biết của mình. Kiểu giáo dục của nhà trường, nhất là gáo dục các môn chính trị thì người nói cứ nói, không biết là mình nói có bị người khác phản biện, hoạnh lại hay không? Cũng chẳng biết những ý kiến phản hồi có đến với các tác giả bài viết hay không và những ý kiến của dân có đến những người có trách nhiệm hay không? Xem trên mạng Dân Luận thì thấy nhiều ý kiến dân rất hay và có giá trị thực tiễn.

    Phản hồi: 

    Chắc tác giả bài này ở trong môi trường nhà trường nên mới lên tiếng đòi đời sống vật chất (đãi ngộ) cho giới trí thức, nhưng cũng vì ở trong môi trường nhà trường nên tác giả bị hạn chế về tầm nhìn. Đúng là đối với đồng lương của trí thức (trong cơ quan nhà nước) thì bị bần cùng hoá về vật chất dẫn đến bần cùng hoá về tinh thần. Tiền đâu mà mua sách tham khảo, có lẽ chính tác giả ở trong tình trạng này? Ngoài đời thì chưa bao giờ thị trường sách lại phong phú như thời đại hiện nay. Ngoài ra còn có internet phổ biến thì dù có muốn bần cùng hoá tinh thần cũng khó. Nếu tác giả chịu khó đọc các comment trên các trang mạng thì thấy nhiều người bình thường, cả nông dân miền núi cũng không đến nỗi như tác giả viết. Người ta còn phản biện hay hơn cả nhiều người chỉ viết lý thuyết về phản biện. Tác giả bài này cũng không phản biện một vấn đề nào mà cứ bảo người khác nghèo về tinh thần thì hơi lạ. Trí thức cũng phản biện rất nhiều, như vậy thì ai nghèo vẫn nghèo, ai giầu vẫn giầu. Xem ông TS Hà Vũ phản biện thì rõ, mà còn nhiều người nữa chứ có phải một mình ông Hà Vũ đâu. Rõ nhất là nhiều người bình thường lại có những phản biện rất sắc xảo trên các comment. Tác giả nên chịu khó đọc thì sẽ thay đổi ngay cách nhìn. Nếu không giầu về tinh thần, không có "khả năng tư duy và thói quen tư duy" thì làm sao trên các trang mạng có bài mới liên tục hàng giờ? Còn trên báo lề trái thì tác giả tha hồ vượt ra khỏi vòng kim cô, ai nói cũng được chứ không phaỉ như báo lề phaỉ, người này nói thì được, người khác nói thì cấm. Chỉ sợ không biết nói thế nào để quần chúng hưởng ứng và cho là nói đúng mà thôi. Quần chúng thích là đừng nói lý thuyết cao đạo mà hãy nói một cách dân dã dễ hiểu và nói những vấn đề thiết thực, gần gũi với đời sống.

    Phản hồi: 

    Trong bài này , tác gải viết: "...sự nghèo nàn trong nội dung tư duy...mất khả năng tư duy và thói quen tư duy..." tôi không hiểu tác giả nói ý này là như thế nào vì không có dẫn chứng cụ thể, nhưng nếu "mất khả năng tư duy" thì làm sao viết được bài và viết những phản hồi? Phải chăng khi viết những dòng trong các trang nét này thì người ta không cần "khả năng tư duy" và không có "thói quen tư duy" hay sao? Vấn đề giáo dục tư duy thì hiện nay cần đặt ra và nên phê phán những hiện tượng cụ thể chứ không nên chỉ bàn về lý thuyết. Tư duy của con người chỉ thể hiện khi con người diễn đạt, tức là khi con người nói hay viết ra. Nếu bạn không nói ra và không viết ra thì ai biết bạn nghĩ (tư duy) gì? Nhưng xem nhiều câu nói của các nhà chính trị (là những người thiết kế ra chế độ) thì thấy sai về tư duy rất nhiều, có lẽ vì thủ đoạn chính trị nên họ cố tình phát biểu như vậy để đánh lừa quần chúng, xin dẫn chứng cụ thể những câu nói sai phép tư duy (tư duy lôgíc): "Ta độc lập ....do Liên xô lãnh đạo". "Kinh tế thị trường định hướng XHCN". Đã độc lập lại do nức khác lãnh đạo thì khác gì chư hầu? Kinh tế thị trường là kinh tế tư bản, nhưng lại đinh hướng XHCN, nói thế chẳng khác gì vừa đốt lửa vừa dội nước. Còn việc làm thì cũng mâu thuẫn, xin dẫn chứng: ta thừa nhận 5 hình thái ý thức xã hội là quy luật, nhưng lại đốt cháy giai đoạn, bỏ qua thời lỳ tư bản tiến thẳng kên CHXH, đốt cháy giai đoạn như vậy là bỏ qua quy luật. Vậy thì đúng hay sai quy luật? Hiện tượng sau đây dễ hiểu hơn: chủ trương xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, nhưng lại cướp ruộng của nông dân? Rõ ràng hai việc làm này mâu thuẫn nhau. Chẳng cần lý luận như những trí thức cũng thấy Đảng và Nhà nước sai lầm.
    Có lần tôi đọc trên mạng thấy một ông TS là viện trưởng thuyết trình về tư duy lô gíc trong thời hiện đại. Ông ta viết rất dài toàn lý thuyết nhưng không hề có dẫn chứng, làm cho người đọc khó hình dung, sau đó có bạn đọc phải hiến cho ông ta một thí dụ sau về tư duy sai lô gíc: "Ông nội tôi khoe với cả làng là ông tôi không lấy vợ, nhưng ông tôi chết thì các nhà khoa học mới xét nghiệm xem ông tôi có còn trinh hay không". Đã không có vợ lại có con có cháu thì đó là tư duy sai lô gíc.
    Thực ra hiện nay đang có hai kiểu tư duy, tư duy giáo điều đã đành, nghiã là máy móc dập khuôn, trên bảo sao nghe vậy mà không cần động não. Nhưng còn một thứ "tư duy phản biện" hẳn hoi, nhưng lại là "phản biện" theo kiểu phó ngang, bất chấp lẽ phải, điều này lại gặp ở chính những quan chức. Bất chấp lẽ phải không chỉ thấy ở những kẻ lưu manh côn đồ sát cánh cùng công an đi trấn áp người biểu tình, không biết giải thích ra sao nên cứ dùng sức mạnh đàn áp mà còn gặp hiện tượng này ỏ chính những nhà chính trị, sở dĩ họ nói ngang ngược bất chấp lẽ phải vì họ thủ đoạn. Xem ông nghị Phước phát biểu trong họp quốc hội thì rõ. Rất tiếc cái thủ đoạn của các nhà chính trị lại là thủ đoạn của những kẻ đầu đường xó chợ mang mầu sắc côn đồ lưu manh.
    Nếu cứ xem các còm của những người rất bình thường, có cả người là dân tộc thiểu số (ngay trên mạng) thì thấy những người ít học laị không mắc căn bệnh "nghèo nàn trong nội dung tư duy" và không mất "khả năng tư duy" như tác giả bài này đã nêu. Vậy thì không được giáo đục (không được học ở trường lớp) tốt hơn được học hay sao? Xin để các vị khác tham gia ý kiến.

    Phản hồi: 

    Vấn đề tấc giả nêu ra thì hay, nhưng tác giả vẫn mắc cái căn bệnh cố hữu của trí thức là toàn lý thuyết nên bài viết khô khan, thiếu sinh động, nếu như có vài dẫn chứng cụ thể thì hay biết mấy. Qua bài viết này, có thể thấy chính tác giả cũng ít mua sách, mà lương trí thứ thì dùng cho mua rau còn khó,lấy đâu ra tiền để mua sách. Vì sao tôi nói điều này? Vì hiện nay, và chỉ có trong thời đại ngày này mới xuất hiện rất nhiều (chính xác là khá nhiều) sách báo về phản biện, đó là những tập truyện hài hước hiện đại, hay những tập tiểu phẩm hài hước. Ngay trong web site này cũng có vài tiểu phẩm hài phản biện như "Máy đo chỉ số IQ", và "Hội nghị của những người im lặng". Những người sáng tác ra những tiểu phẩm này, chắc rằng đời sống cũng chẳng giầu có gì, thế nhưng họ vẫn sáng tao, vẫn thoát ra khỏi cái "vòng kim cô", chứ có chờ chỉ thị ở trên đâu. Rất tiếc những "đầu óc" như thế chưa nhiều. Nhưng người nào có ý thức về tư duy thì nên xem đó là những hình mẫu mình cần tham khảo. Trong khi các nhà giáo dục bàn rất nhiều về triết lý giáo dục nhưng lại không hề bàn về phương pháp giáo dục, trong đó chính là có phương pháp tư duy, Tác giả bài này đưa ra vấn đề tư duy, giá như tác giả nêu lên được những phương pháp tư duy để thoát ra khỏi "vòng kim cô" để phổ biến cho nhiều người thì tốt quá. Hiện tượng phê nhiều hơn đề xuất vẫn là hiện tượng phổ biến. Nên hiến kế xây dựng thì tốt hơn, để thể hiện rõ vai trò của trí thức.

    Phản hồi: 

    Trí thức VN thật buồn cười. Lẽ ra khi họ thấy những trí thức khác như GS Ngô Bảo Châu có lòng giúp đất nước, tạo cơ hội cho các trí thức khác có thể tham gia nghiên cứu cho sự nghiệp KH của đất nước thì phải vui mừng ủng hộ mới đúng. Thế nhưng rất nhiều người tự xưng là trí thức lại quay ra đả kích chống đối GS NBC dù chưa hề biết kết quả đạt được thế nào, kiểu 'con gà tức nhau tiếng gáy'. Thế mới thấy việc thoát ra khỏi được cái bóng của lối tư duy của chung của người VN thật khó lắm thay. Thế này mà lại muốn làm tiên phong, làm 'con chim báo bão' thế nào được.