Phạm Đình Trọng - Bi kịch Việt Nam

  • Bởi Admin
    07/02/2012
    29 phản hồi

    Phạm Đình Trọng

    NHỮNG TẤM LÒNG BAO DUNG

    Nhận được những câu hỏi của nhà văn Phạm Thị Hoài tôi cứ nghĩ ngợi vân vi. Không phải nghĩ về câu trả lời mà nghĩ về chính câu hỏi. Đó là những câu hỏi mà mọi người Việt Nam đang quan tâm đến vận mệnh đất nước hôm nay vẫn thường tự hỏi. Bao giờ dân tộc Việt Nam thoát khỏi họa Cộng sản để lại trở về với chính mình, lại trở về với hồn cốt tinh hoa Việt Nam. Nhưng nhà văn không hỏi gay gắt như vậy. Câu hỏi của nhà văn thật nhẹ nhàng, bao dung.

    Chúng ta thử hình dung một ngày nào đó không xa, trong vòng mươi năm tới, Việt Nam sẽ chuyển thành công từ thể chế độc quyền dưới sự lãnh đạo toàn diện của đảng Cộng sản Việt Nam sang dân chủ đa nguyên, với nhà nước pháp quyền dựa trên tam quyền phân lập, với tư tưởng tự do và ngôn luận, tự do hội họp và xã hội dân sự. Khi đó cái di sản đã kéo dài ba phần tư thế kỉ ở miền Bắc và gần nửa thế kỉ trên cả nước sẽ đặt chế độ mới trước những thử thách nào? Xã hội Việt Nam cần bao lâu để vượt qua di sản đó? Có những điểm sáng hay truyền thống tốt đẹp nào từ các di sản đó cần giữ gìn? Khả năng diễn ra trong hòa bình của bước ngoặt đó lớn tới mức nào hay tình trạng bạo loạn mà nhiều người tiên đoán và dùng đó làm lập luận chống thay đổi thể chế sẽ xảy ra? Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đóng vai trò gì trong tiến trình chuyển hóa đó?...

    Chấm dứt thể chế độc quyền lãnh đạo đất nước của đảng Cộng sản Việt Nam là điều đương nhiên, là tiến trình tất yếu của lịch sử. Càng chậm trễ, càng cản trở tiến trình đó càng có tội với dân tộc, với lịch sử, càng làm cho dân tộc li tán và suy yếu, càng làm cho đất nước tụt lại sau, càng kéo dài đau khổ của nhân dân. Nhà văn khẳng định tiến trình chấm dứt sự độc diễn trên sân khấu chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam là không thể đảo ngược nhưng vẫn trông mong đảng Cộng sản có vai trò chủ động trong tiến trình đó. Phải là một nhân cách văn hóa mới có được tấm lòng nhân hậu, bao dung như vậy. Đó là tấm lòng bao dung của nhà văn, đó cũng là tấm lòng bao dung của dân tộc Việt Nam đối với đảng Cộng sản Việt Nam, một tổ chức chính trị đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến và đã đem lại cho dân Việt Nam gần một thế kỉ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, li tán dân tộc, tan hoang đất nước.

    Đảng Cộng sản tồn tại bằng độc quyền quyền lực. Xóa bỏ sự độc quyền quyền lực là xóa bỏ sự tồn tại của đảng Cộng sản. Hiện nay đảng Cộng sản đã là một sản phẩm lỗi thời của lịch sử. Muốn tồn tại, đảng Cộng sản chỉ còn hai lựa chọn: Hoặc dùng bạo lực hùng hậu có trong tay duy trì sự độc quyền quyền lực. Hoặc đổi mới đảng Cộng sản để tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, để đảng Cộng sản tồn tại bình đẳng cùng các đảng khác trong thể chế đa nguyên lành mạnh, trong xã hội dân chủ thực sự.

    Chọn con đường tồn tại bằng bạo lực, dù có lực lượng bạo lực khổng lồ và hung hãn nhưng đã là sản phẩm lỗi thời của lịch sử thì đảng Cộng sản cũng chỉ tồn tại được ngày nào biết ngày đó, chỉ là khoảnh khắc. Khoảnh khắc tồn tại ngắn ngủi đó phải trả bằng giá đắt: Đảng Cộng sản tự đặt vào thế đối lập với nhân dân, trở thành vật cản của dòng chảy lịch sử, kìm hãm đất nước trong trì trệ, đưa đất nước vào khủng bố, đàn áp đẫm máu, vào bạo loạn, rối ren, giam cầm nhân dân trong ngục tù, nhục hình của chuyên chính vô sản, đày ải, vô hiệu, thủ tiêu nhiều tài năng, trí tuệ và khí phách dân tộc.

    Đảng Cộng sản Việt Nam tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, mang lại dân chủ thực sự cho xã hội Việt Nam là hồng phúc cho dân tộc Việt Nam và cũng là hồng phúc cho chính đảng Cộng sản Việt Nam. Để làm được điều đó, những người Cộng sản Việt Nam phải có đủ tầm trí tuệ và lòng dũng cảm nhận ra khiếm khuyết, lỗi lầm của chủ nghĩa cộng sản đã đưa đến những thảm họa khủng khiếp cho loài người và cho dân tộc Việt Nam, phải có tâm hồn của người Việt Nam yêu nước thương nòi, đau nỗi đau khôn cùng của người Mẹ Việt Nam trước những đau thương mất mát quá lớn mà hàng triệu số phận, hàng triệu gia đình Việt Nam đã phải nhận từ năm 1930 đến nay. Trước hết họ phải nhận ra những lầm lẫn, những ảo tưởng, những hậu quả thê thảm của học thuyết đấu tranh giai cấp trong lí luận chủ nghĩa Marx mà họ đã thực thi.

    KHÔNG CÓ CÁI TÔI CÁ NHÂN, CHỦ NGHĨA MARX LẠI ĐƯA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI TRỞ VỀ BẦY ĐÀN

    Cuộc đời mỗi người đều có ba giai đoạn: Tuổi ấu thơ ngơ ngác, tuổi còn bị sai khiến, dạy bảo, có nhà triết học coi đó là tuổi lạc đà, phải chia động từ “Mày phải”. Mày phải đến trường. Mày phải ngủ đúng giờ... Tuổi của bầy đàn, chưa có cá nhân, cá nhân còn lẫn trong bầy đàn, đánh mất trong bầy đàn, chưa hình thành những nhân cách hoàn chỉnh. Đến tuổi trưởng thành, con người nhận thức được thế giới và nhận thức được bản thân, cá nhân được hình thành tách ra khỏi bầy đàn, cá nhân có tư duy, có chính kiến riêng cần được nhìn nhận, cần được khẳng định sự có mặt trong cuộc đời, đó là tuổi sư tử, tuổi chia động từ “Tôi là”. Tôi là người thợ. Tôi là cầu thủ bóng đá. Tôi là nhà giáo. Tôi là chính khách... Thời mỗi công việc, mỗi hoạt động đều có tính chuyên nghiệp cao, là môi trường tốt nhất để cá nhân bộc lộ hết tài năng trong nghề nghiệp, trong hoạt động, tạo ra những ngôi sao, những đỉnh cao, những thần tượng xã hội. Cá nhân để lại dấu ấn trong cuộc đời bằng tư tưởng, chính kiến và bằng cả tài năng trong những hoạt động nghề nghiệp, hoạt động xã hội. Thời của những dấu ấn cá nhân. Đến giai đoạn xế chiều, con người lại trở về thời ấu thơ, lại trở về bầy đàn, tìm đến đám bạn cùng giới tính.

    Xã hội loài người cũng phải qua thời ấu thơ là thời bầy đàn bộ lạc nguyên thủy, thời phong kiến trung cổ, chỉ có lãnh chúa, chủ đất mới có cá nhân, còn lại chỉ là đám đông lao xao, chỉ là công cụ sản xuất trong tay chủ đất và công cụ bạo lực trong tay vua chúa. Bước vào thời văn minh công nghiệp, xã hội loài người mới bước vào thời trưởng thành. Khoa học kĩ thuật cho con người sức mạnh khẳng định mình, cho trí tuệ làm chủ bản thân và làm chủ thế giới. Con người có mặt trong xã hội là những cá nhân với tư tưởng, chính kiến riêng phải được thể hiện và phải được xã hội nhìn nhận, tôn trọng.

    Cùng với văn minh công nghiệp, cùng với chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa Marx ra đời ở giai đoạn đầu thời trưởng thành của xã hội loài người khi mới chỉ có vài nước châu Âu có văn minh công nghiệp, còn lại thế giới vẫn trì trệ trong xã hội phong kiến, trong nền sản xuất nông nghiệp thô sơ. Ở đó, người lao động nông nghiệp vẫn là những nô lệ của chủ đất, bị bóc lột tàn tệ hơn cả thời trung cổ và bị cột chặt vào đất đai. Ở các nước vừa chập chững bước vào công nghiệp, máy móc ở thế hệ đầu tiên, năng suất chưa cao và còn cần nhiều sức thợ, nguồn tích lũy tư bản lớn nhất của những ông chủ vừa khởi nghiệp là bóc lột tận cùng sức lao động của người thợ để có nhiều sản phẩm, nhiều lợi nhuận. Cùng với bóc lột thậm tệ công nhân trong nước, những ông chủ tư bản cũng đã làm chủ nhà nước tư bản còn ào ạt đưa quân đi xâm chiếm thuộc địa tìm nguyên liệu và mở rộng thị trường.

    Nhìn thấy chủ nghĩa tư bản ở buổi sơ khai hoang dã hai tay ròng ròng máu công nhân trong nước và máu người dân thuộc địa, nhìn thấy cuộc sống khốn cùng của người lao động do bị tư bản buổi sơ khai hoang dã bóc lột, với lòng yêu thương con người, chàng thanh niên người Đức gốc Do Thái chưa đến ba mươi tuổi Karl Marx đang miệt mài nghiên cứu lịch sử kinh tế, triết học và đã viết nhiều tập Bản Thảo Kinh Tế Và Triết Học liền cho rằng: Mọi bất công đau khổ mà con người đang phải gánh chịu là do chiếm hữu tư liệu sản xuất. Và: Lịch sử của tất cả các xã hội từ trước đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp! Từ nhận thức vội vàng, nông nổi, lầm lẫn, cực đoan đó, chàng tiến sĩ triết học trẻ tuổi có bộ óc siêu vệt và trái tim nồng nàn yêu thương con người liền xây dựng lên học thuyết Đấu Tranh Giai Cấp để tạo dựng lên một xã hội không còn chiếm hữu tư liệu sản xuất, cội nguồn của bóc lột, bất công, mọi người đều được sống trong yêu thương, hạnh phúc, xã hội cộng sản. Đó là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Marx.

    Chủ nghĩa Marx ra đời khi chủ nghĩa tư bản hoang dã đang hoành hành man rợ nhất, cả loài người đang chìm đắm trong máu và nước mắt. Công nhân bị bóc lột ở các nước công nghiệp quyết liệt đấu tranh giành quyền sống, người dân ở các nước thuộc địa sôi sục làm cách mạng giải phóng dân tộc đều coi chủ nghĩa Marx là cứu tinh và chủ nghĩa Marx đã nhanh chóng chiếm lĩnh cả thế giới. Marx công bố Tuyên ngôn Đảng Cộng sản năm 1848 và cuộc cách mạng xã hội cuối cùng mang tư tưởng cộng sản của Marx thành công ở Cuba năm 1959. Có thể coi nửa cuối thế kí 19 và nửa đầu thế kỉ 20 là một thế kỉ của chủ nghĩa Marx. Loài người đã bước sang thế kỉ 21. Thế kỉ của chủ nghĩa Marx đã vĩnh viễn kết thúc và lùi xa rồi!

    Buổi đầu chủ nghĩa Marx đã thổi bùng lên được ý chí đấu tranh giành quyền sống, giải phóng được sức mạnh bị dồn nén của cả khối nhân loại bị bóc lột, áp bức, làm nên những cuộc cách mạng long trời lở đất và giành được thắng lợi ở một phần rộng lớn trên trái đất. Nhưng chủ nghĩa Marx chỉ giành được thắng lợi ở những nơi chưa có văn minh công nghiệp, những nơi chưa có cá nhân, cá nhân chưa được giải phóng, con người vẫn là đám đông, vẫn là bầy đàn. Nước Nga khi cách mạng vô sản tháng Mười năm 1917 nổ ra vẫn là nước Nga nông nghiệp thô sơ của Sa hoàng và chủ đất. Chủ nghĩa Marx là của đám đông, là sức mạnh của đám đông được kích động bởi những quyền lợi vật chất thiết thực bao nhiêu lợi quyền ắt qua tay mình! Chủ nghĩa Marx chỉ là lí luận tập hợp đám đông, tập hợp khối người lao động làm thuê, khối dân nô lệ các nước thuộc địa tạo nên sức mạnh bạo lực của đám đông làm cách mạng vô sản, đập tan xã hội cũ của chủ nghĩa tư bản hoang dã.

    Những nhà nước do cách mạng vô sản dựng nên, dùng lí luận chủ nghĩa Marx, lí luận làm mạng vô sản của đám đông xây dựng xã hội mới đều thất bại ê chề, cay đắng, đều để lại những tội ác lớn chưa từng có trong lịch sử loài người. Vì xã hội mới là xã hội công nghiệp văn minh, xã hội của ý thức cá nhân, cá nhân được nhìn nhận, thể hiện và khẳng định sự có mặt trong cuộc đời thì học thuyết đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Marx chỉ nhìn nhận sự có mặt của đảng Cộng sản, chỉ có cá nhân của những người lãnh đạo Cộng sản, người dân dù là nhà văn hóa, nhà khoa học, là trí thức, nghệ sĩ kiệt xuất cũng chỉ là quần chúng, là bầy đàn lạc đà cam chịu, là công cụ trong tay đảng Cộng sản như thời phong kiến trung cổ chỉ có cá nhân lãnh chúa, chủ đất, còn lại chỉ là bầy đàn, là công cụ sản xuất và công cụ bạo lực.

    Mục tiêu hướng tới của chủ nghĩa Marx là vô cùng nhân đạo, cao cả: Xóa bỏ bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội phát triển cao tạo ra của cải vật chất dồi dào, con người được sống trong yêu thương, được thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và tinh thần. Nhưng đi đến mục tiêu cao đẹp ảo ảnh đó bằng học thuyết đấu tranh giai cấp tàn bạo: Nhà nước chuyên chính vô sản sử dụng bộ máy công cụ bạo lực Nhà nước xóa bỏ cá nhân, chà đạp lên số phận con người là một mâu thuẫn tệ hại của chủ nghĩa Marx, là bi kịch lớn nhất mà chủ nghĩa Marx áp đặt cho một nửa nhân loại suốt một thế kỉ. Học thuyết đấu tranh giai cấp vươn hai cánh tay bạo liệt ra, cánh tay kinh tế: Xóa bỏ quyền làm chủ tư liệu sản xuất của tư nhân, lạnh lùng bóp nghẹt cuộc sống và cánh tay chính trị: Chuyên chính vô sản, thô bạo nắm cổ người dân, định đoạt số phận người dân theo ý muốn của quyền lực vô sản chứ không theo pháp luật.

    Xóa bỏ quyền làm chủ tư liệu sản xuất của tư nhân là xóa bỏ vai trò cá nhân trong kinh tế. Những cá nhân có vốn liếng, có kiến thức, kĩ năng và kinh nghiệm tổ chức, quản lí sản xuất, làm cho đồng vốn ngày càng sinh sôi, tạo ra của cải vật chất và của cải tinh thần ngày càng nhiều cho xã hội, những người chủ tư nhân thao lược, tài năng bị tước đoạt quyền làm chủ, trở thành những người làm thuê tầm thường cho những ông chủ tầm thường là người đại diện nhà nước vô sản làm chủ khối tư liệu sản xuất chiếm đoạt của tư nhân. Quyền làm chủ tư liệu sản xuất của tư nhân, quyền sản xuất kinh doanh của tư nhân chuyển về tay những người trong bộ máy nhà nước vô sản hoàn toàn không có kĩ năng của người làm kinh tế, không có phẩm chất của người làm chủ, lại hoàn toàn vô trách nhiệm, dẫn đến sản xuất trì trệ, kinh doanh thua lỗ, xã hội nghèo đói là điều đương nhiên đã diễn ra ở tất cả các nước hăm hở, cuồng tín thực hiện chủ nghĩa Marx!

    Công hữu hóa tư liệu sản xuất chỉ xóa bỏ cá nhân trong kinh tế thì chuyên chính vô sản đã xóa bỏ cá nhân trong toàn bộ đời sống xã hội. Với chuyên chính vô sản, chỉ những người nắm quyền lãnh đạo đảng Cộng sản mới có cá nhân. Khối nhân dân còn lại chỉ là một đám đông, một bầy lạc đà, một lũ trẻ thơ ngơ ngác phải học chia động từ “Mày phải”. Mày phải học nghị quyết Đảng. Mày phải nói theo Đảng. Mọi việc đã có Đảng và Nhà nước lo. Mày phải câm mồm, không được nói Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, không được biểu tình phản đối Trung Hoa lấn chiếm lãnh thổ thiêng liêng của tổ tiên. Ông ủy viên bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ nói Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam trên diễn đàn Quốc hội thì được nhưng người dân nói Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thì bị bắt, bị đánh, bị giam cầm. Hiến pháp cho người dân quyền tự do ngôn luận nhưng thực tế cho người dân bài học phải thuộc lòng là: Với Nhà nước của đảng Cộng sản, người dân nói trái ý Đảng liền bị khép ngay vào tội Tuyên truyền chống Nhà nước Xã hội chủ nghĩa mà vụ án tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, vụ bắt giam rồi lén lút, phi pháp đưa bà Bùi Minh Hằng vào trại giam trá hình dưới tên gọi Cơ sở giáo dục là những minh chứng.

    Ở các nước công nghiệp phát triển, nơi chủ nghĩa tư bản ngự trị, cá nhân được nhìn nhận, trí tuệ sáng tạo của cá nhân được giải phóng làm nên bộ mặt, làm nên tầm vóc, làm nên sức mạnh của nền văn minh công nghiệp. Khoa học kĩ thuật mang lại cho nhà tư bản lợi nhuận mau lẹ và dồi dào gấp nhiều lần thời bóc lột sức người. Không còn những ông chủ làm giầu bằng bóc lột. Chủ nghĩa tư bản hoang dã bóc lột sức người đã vĩnh viễn lùi xa vào quá khứ tội lỗi. Mọi người dân đều có thể trở thành người chủ. Quyền con người và những giá trị nhân đạo vì hạnh phúc và phẩm giá con người đều trở thành luật pháp xã hội, được Nhà nước Tư bản thực thi nghiêm chỉnh, minh bạch trong cuộc sống. Những sản phẩm tạo ra bằng bóc lột, bằng hủy hoại môi trường, bằng điều kiện làm việc tồi tệ của người sản xuất đều không được chấp nhận.

    Những ông chủ thế hệ cũ, vẫn sử dụng công nghệ thấp, cần nhiều sức lao động, vẫn phải tích lũy tư bản bằng bóc lột phải tìm đến các nước đang công nghiệp hóa, đang mở rộng cửa hứng đồng vốn đầu tư nước ngoài như Việt Nam. Chính ở đây Nhà nước Việt Nam do đảng Cộng sản cầm quyền đáng ra phải lấy học thuyết đấu tranh giai cấp đấu tranh với sự bóc lột của chủ tư bản, bảo vệ quyền lợi người dân lao động ruột thịt của mình thì trớ trêu, cay đắng thay Nhà nước vẫn nói kiên định chủ nghĩ Marx, vẫn nhân danh Chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ chăm chăm lấy sự hà khắc, phản dân chủ của đấu tranh giai cấp để cai trị, o ép dân và làm ngơ trước sự bóc lột của chủ tư bản nước ngoài với đồng bào minh!

    Kiên định chủ nghĩa Marx tội lỗi, lỗi thời, kiên định học thuyết đấu tranh gia cấp bạo liệt, chỉ có Cái Tôi của người cầm quyền, không có Cái Tôi của người dân, người dân chỉ là bầy lạc đà cắm cúi đi trên sa mạc vô tận của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội huyễn hoặc. Chủ nghĩa Marx khai sinh ra đảng Cộng sản. Kiên định chủ nghĩa Marx để duy trì sự tồn tại của đảng Cộng sản, những người Cộng sản lạnh lùng, cam tâm đưa xã hội trở về thời phong kiến trung cổ không nhìn nhận Cái Tôi, đưa nhân dân trở về thời ấu thơ, bầy đàn, khổ đau và tủi nhục.

    Coi nhân dân chỉ là bầy đàn, là công cụ, không có cá nhân, không được có tư tưởng, chính kiến riêng bộc lộ rõ cả trong những văn kiện lịch sử của đảng Cộng sản. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được Đại hội 11 đảng Cộng sản Việt Nam bổ xung và phát triển ghi: Đi lên Chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử! Con người trưởng thành cần khẳng định sự có mặt trong cuộc đời bằng Cái Tôi cá nhân không khi nào chọn thứ Xã hội chủ nghĩa chà đạp lên Cái Tôi thiêng liêng. Coi người dân là bầy đàn, là đám trẻ, không được có tư tưởng chính kiến riêng, không cần điều tra xã hội học, không cần trưng cầu ý dân, những người Cộng sản tự cho họ cái quyền nói tiếng nói của dân, áp đặt cả tâm tư, tình cảm cho người dân và họ thản nhiên ghi trong những văn kiện lịch sử của đảng Cộng sản: Đi lên Chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân. Lựa chọn Chủ nghĩa xã hội là quyền của đảng Cộng sản nhưng đảng Cộng sản Việt Nam chỉ có ba triệu đảng viên. Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là gần chín mươi triệu người dân Việt Nam.

    Lịch sử còn ghi rõ những cuộc tắm máu mà Chủ nghĩa xã hội đã gây ra cho loài người. Sự bế tắc, cùng đường và sụp đổ vĩnh viễn của Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới vừa diễn ra còn nóng bỏng tính thời sự, buộc cả nước Liên Xô Xã hội chủ nghĩa lâu đời nhất, hùng mạnh nhất, thành trì của cả khối Xã hội chủ nghĩa thế giới, buộc cả nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa nghèo khổ nhưng đầy quyết tâm hăm hở làm cách mạng Xã hội chủ nghĩa cũng phải từ bỏ nguyên lí kinh tế cốt lõi của Chủ nghĩa xã hội để trở về kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa. Chính kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa đã mở lối thoát, mở con đường sống cho thành trì Xã hội chủ nghĩa kém phát triển trở thành nước Nga có mặt trong nhóm nước G8 giầu mạnh nhất thế giới và cứu nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa khỏi suy sụp, tan vỡ trong bế tắc, nghèo khổ, cùng quẫn. Lịch sử đó, thực tế đó là lời khẳng định bằng máu và nước mắt của hơn hai tỉ người dân đã từng phải sống dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa rằng: Chủ nghĩa xã hội sản phẩm đầy khuyết tật nghiêm trọng của học thuyết Marx, là tai ương, là thảm họa của loài người, là ngõ cụt lầm lạc của lịch sử. Những người Cộng sản có trí tuệ, có lương tâm đều biết rõ điều đó. Nhưng đảng Cộng sản Việt Nam vẫn ghi trong Cương lĩnh rằng Chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử là tự lừa dối mình và lừa dối nhân dân. Chỉ một đoạn Cương lĩnh ngắn vẻn vẹn bốn mươi mốt từ, những nhà lí luận và những nhà lãnh đạo Cộng sản đã bộc lộ rõ hai đặc tính truyền thống của đảng Cộng sản: Coi thường dân và lừa dối dân.

    NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM KHẮC KHOẢI ĐI TÌM CÁI TÔI. NHỮNG NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ

    Trên đường đi đến đô thị của văn minh công nghiệp, những năm ba mươi thế kỉ hai mươi, xã hội Việt Nam chợt đến phố huyện đã để lại dấu ấn trong văn chương là Tự Lực Văn Đoàn với những câu chuyện tình phố huyện, là Thơ Mới ghi lại nỗi thảng thốt sung sướng phát hiện ra Cái Tôi cá nhân trong cuộc đời và sự khắc khoải, bền bỉ đòi hỏi sự nhìn nhận của xã hội đối với Cái Tôi thiêng liêng đó. Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới không những có công lớn với văn hóa Việt Nam mà còn có công lớn với lịch sử Việt Nam vì đã ghi lại bước phát triển vô cùng quan trọng của xã hội Việt Nam và cũng là bằng chứng về sự kéo lùi lịch sử, kéo lùi sự phát triển xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam.

    Xã hội Việt Nam mới chợt đến phố huyện trên tiến trình đi đến đô thị của văn minh công nghiệp cũng đã kịp gọi những Cái Tôi cá nhân thức dậy. Năng lực sáng tạo của những cá nhân đó được giải phóng đã tạo ra cho lịch sử Việt Nam thời trước Cộng sản những tên tuổi lớn. Về văn hóa có Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm, Hoàng Xuân Hãn, Phan Khôi, Nguyễn Mạnh Tường, Vũ Trọng Phụng, Phạm Cao Củng, Nam Cao, Phạm Huy Thông, Nguyễn Tuân, Thế Lữ... Về kinh tế có Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Nguyễn Thị Năm... Về chính trị có Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến... Những người Việt Nam kiệt xuất đó với tầm văn hóa và lòng tự hào dân tộc đang lặng lẽ chuẩn bị nền tảng tư tưởng, nền tảng văn hóa và cả nền tảng kinh tế, xã hội cho một xã hội mới và đang bền bỉ thức tỉnh nhân dân, tổ chức lực lượng chính trị cho cuộc đấu tranh với thực dân xâm lược Pháp giành độc lập dân tộc. Con đường đấu tranh bất bạo động bằng tư tưởng, văn hóa, kinh tế, theo con đường của M. Gandhi, theo triết lí phương Đông dựa vào lòng người “lấy chí nhân thắng bạo tàn”, không đẩy người dân tay không ra đối đầu với súng đạn thực dân, tiết kiệm xương máu cho dân là con đường lâu dài nhưng nền độc lập giành được bằng con đường đó là nền độc lập thực sự và bền vững, nền độc lập không bị phụ thuộc vào những thế lực chính trị bên ngoài.

    Theo logic lịch sử, tiến trình đó đang lặng lẽ, bền bỉ và vững chắc diễn ra ở Việt Nam thì những người Cộng sản nôn nóng vội vã mang bạo lực cách mạng của học thuyết đấu tranh giai cấp sắt máu từ châu Âu xa lạ về Việt Nam, đưa nhân dân Việt Nam vào những cuộc cách mạng, chiến tranh ý thức hệ đẫm máu của thế giới, chia trận tuyến đấu tranh giai cấp, thanh toán địch – ta vào trong từng con người, trong từng gia đình, trong từng cơ quan, đơn vị, phân chia trận tuyến giai cấp, thanh toán địch – ta trong lòng dân tộc Việt Nam, đẩy nhân dân vào cuộc sát phạt, tiêu diệt, xung đột, giằng xé, đấu đá, bất ổn, li tán cả dân tộc suốt từ giữa thế kỉ hai mươi đến tận hôm nay vẫn chưa chấm dứt.

    Sát phạt, xung đột, thanh toán, tiêu diệt, bất ổn, li tán để xóa bỏ Cái Tôi cá nhân vừa thức tỉnh trong trí thức, trong giới chủ, trong thanh niên, học sinh thành phố, để chỉ còn Cái Tôi quyền uy của hơn chục yếu nhân nắm vận mệnh đảng Cộng sản Việt Nam, quyết định số phận cả dân tộc Việt Nam.

    Cái Tôi cá tính sáng tạo làm nên sức mạnh sư tử của con người trưởng thành không được chấp nhận, trí thức, nghệ sĩ, nhà khoa học cũng chỉ là bầy lạc đà bị quyền uy chăn dắt, phũ phàng đánh trận đòn “Nhân Văn Giai Phẩm” dằn mặt để không bao giờ còn dám nghĩ đến Cái Tôi cá tính sáng tạo, chỉ còn biết gọi dạ, bảo vâng, ăn theo, nói leo, ngợi ca chính trị, minh họa chính sách.

    Không còn Cái Tôi cá tính sáng tạo, sau một đời miệt mài, hăm hở viết, nhà văn Nguyễn Minh Châu phải đau xót viết Lời ai điếu cho nền văn học minh họa, nền văn học được coi là có Tính Đảng vì làm vừa lòng những Cái Tôi quyền uy của những người nắm vận mệnh Đảng, vận mệnh dân tộc nhưng không có Cái Tôi của người viết, không có Cái Tôi của nhân vật, của nhân dân. Không có Cái Tôi nhân cách mang vóc dáng người viết, không có Cái Tôi chân thực của cuộc đời mang hồn cốt nhân dân trong tác phẩm thì tác phẩm chỉ là đồ giả, là mớ giấy lộn, đến khi nhận ra điều đau xót đó thì đã cuối đời, nhà văn chỉ còn kịp viết lời ai điếu cho những tác phẩm của chính mình!

    Nhà văn Nguyễn Khải nhận ra Cái Tôi cá tính sáng tạo của ông bị giết chết với một thái độ bình tĩnh hơn nhưng day dứt, đau đớn hơn. Cuối đời ông cứ phải âm thầm, lặng lẽ, ngậm ngùi, thảng thốt, bơ vơ Đi tìm Cái Tôi đã mất, đi tìm Cái Tôi cá tính sáng tạo của nhà văn đã bị bức hại, đi tìm Cái Tôi nhân cách, Cái Tôi bản thể của con người trưởng thành đã bị giết chết để đến nỗi nhà văn chỉ còn là đứa trẻ con cho người ta sai bảo!

    Một nhà báo ngang tàng của Đài Tiếng Nói Việt Nam, một thời thường xuyên có những bài viết nhiều tìm tòi, phát hiện về đồng bằng sông Cửu Long đăng trên những tờ báo lớn của đảng Cộng sản Việt Nam, báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng. Chính nhà báo này từ năm 1992 là người đầu tiên gọi tên sự ứng xử với tự nhiên của người dân đồng bằng sông Cửu Long là Chung sống với lũ. Từ đó Chung sống với lũ trở thành phương châm, trở thành chính sách Nhà nước ở đồng bằng sông Cưu Long. Nhìn lại chặng đường dài lặn lội viết báo cho Đảng, với những thực tế đau lòng của đời sống báo chí, nhà báo ngang tàng Lê Phú Khải cũng phải giận dữ, ai oán thét lên Lời ai điếu cho một nền báo chí nô bộc.

    Nhà văn Trần Hoài Dương vốn điềm đạm, nói năng nhỏ nhẹ bỗng một hôm hốt hoảng kể với tôi về một giấc mơ làm anh toát mồ hôi: Đêm qua mình có giấc mơ khủng khiếp quá. Không hiểu sao mình lại mơ thấy cách mạng Tháng Tám thành công ngay sau cuộc nổi dậy của Xô Viết Nghệ Tĩnh, tháng chín năm 1930. Những người đàn bà yếm nâu váy đen, tay cầm liềm, những người đàn ông cởi trần da cháy nắng cầm giáo mác, gậy gộc đi dưới rừng cờ đỏ ầm ầm từ Nghệ Tĩnh kéo ra Hà Nội. Họ biến đường phố Hà Nội thành những dòng sông đỏ màu cờ và họ rùng rùng tiến về tụ lại ở Ba Đình nghe ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Mình giật mình toát mồ vì nhớ ra rằng năm 1930 đó chưa có Vỡ Đê, chưa có Giông Tố của Vũ Trọng Phụng, chưa có Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân, chưa có Nhớ Rừng của Thế Lữ, chưa có Bỉ Vỏ của Nguyên Hồng, chưa có Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan, chưa có Sống Mòn, chưa có Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao... Mình hốt hoảng thức dậy, người ướt đầm mồ hôi và không ngủ lại được nữa. Thật hú vía! Nếu cách mạng Tháng Tám thành công từ năm 1930 thì chúng ta làm gì có Vũ Trọng Phụng, làm gì có Nguyễn Tuân, làm gì có Thế Lữ... Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng vẫn còn sống khá lâu dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa nhưng những tác phẩm để đời của họ, những tác phẩm thực sự văn chương, thực sự là niềm tự hào của văn chương Việt Nam đều được viết trước cách mạng, viết bằng Cái Tôi cá nhân của họ. Cái Tôi cá nhân của họ không thể tồn tại trong Chủ nghĩa xã hội thì họ chẳng còn gì!

    Từ trước đến nay đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tự cho là có công lớn với dân tộc Việt Nam, có công đưa dân tộc Việt Nam từ nô lệ đến tự do, từ mất nước đến độc lập, từ nghèo hèn đến giầu sang. Nhưng dân tộc Việt Nam đã phải trả một giá quá đắt cho độc lập trong khi độc lập dân tộc là một xu thế tất yếu của lịch sử. Lịch sử không đi những lối bất ngờ như nhà thơ của đảng Cộng sản Việt Nam, Tố Hữu viết. Lịch sử bao giờ cũng có qui luật, có giai đoạn, có bước đi được lập trình tạo nên tiến trình, tạo nên xu thế lịch sử.

    Lịch sử loài người đi từ hoang dã đến văn minh. Chủ nghĩa tư bản cũng phải đi từ hoang dã đến văn minh cùng nhịp với nền công nghiệp đi từ thô sơ, cần nhiều sức người, đó là thời chủ nghĩa tư bản hoang dã bóc lột sức người, đến nền công nghiệp hiện đại không cần nhiều sức người nữa mà cần nhiều tri thức, cần nhiều kĩ năng. Lợi nhuận không tạo ra từ sức người nữa mà tạo ra từ khoa học kĩ thuật. Đầu tư vào khoa học kĩ thuật, những người chủ của xã hội công nghiệp văn minh cũng đầu tư vào phát triển xã hội, đầu tư nâng cao giá trị nhân văn của xã hội loài người. Chế độ nô lệ dưới mọi hình thức đều không được xã hội công nghiệp văn minh chấp nhận. Đó là thời chủ nghĩa tư bản văn minh cũng là kỉ nguyên độc lập dân tộc.

    Những người Cộng sản đã đưa dân tộc Việt Nam đi qua chặng đường máu lửa thảm khốc và xa ngái mới đến nền độc lập mong manh. Những ngày này giặc phương Bắc ngang nhiên lấn đất, lấn biển của ta, áp đặt mọi tai ương cho dân tộc ta. Từ khi hấp tấp, hốt hoảng sang Thành Đô gặp lãnh đạo phương Bắc, tháng chín năm 1990, những người lãnh đạo Cộng sản Việt Nam phải liên tiếp nhượng bộ hết đòi hỏi này đến đòi hỏi khác của phương Bắc. Nhưng càng nhượng bộ, họ càng lấn tới, lại càng thấy nền độc lập của ta có được từ sông máu biển lửa là vô cùng mong manh. Nền độc lập mong manh phải đổi bằng giá đắt như vậy nhưng có độc lập thì người dân lại mất tự do cá nhân, mất Cái Tôi cá nhân thiêng liêng và quí giá của kiếp người thì đó là công hay tội nhỉ?

    Thời đầu đổi mới, cuối những năm tám mươi, thế kỉ hai mươi, đảng Cộng sản Việt Nam nêu khẩu hiệu Nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật nhưng chưa bao giờ những người Cộng sản Việt Nam đủ lòng trung thực để nhìn vào sự thật. Đảng luôn tự cho mình là sáng suốt, vĩ đại, quang vinh thì không thể tiếp cận sự thật. Nhân dân bền bỉ hi sinh dựng nước và giữ nước để có nước Việt Nam hôm nay không bao giờ được Đảng nhắc đến bằng một khẩu hiệu khiêm nhường. Tổ quốc thiêng liêng cũng bị lãng quên. Từ khi đảng thâu tóm đất nước trong tay, đất nước gấm vóc, nhân dân cần cù sáng tạo nhưng xã hội Việt Nam càng ngày càng tụt lại sau so với các nước vậy mà từ đỉnh Lũng Cú, Hà Giang đến chót mũi Năm Căn, Cà Mau, nơi nào cũng thấy hàng chữ cao ngạo Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm! Muôn năm cả cái Xã hội chủ nghĩa hư vô, không có thật. Chủ nghĩa xã hội không có thật đã gây bao đau khổ và nhiều nợ máu với nhân dân mà vẫn muôn năm: Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm! Còn nhân dân hết đời này đến đời khác lấy máu viết lên chữ Việt Nam thì Đảng không cần biết tới, thì chỉ là hư vô!

    Với người còn tư duy bình thường, còn phân biệt được cái riêng, cái chung, cái tầm thường, cái cao cả thì phải hiểu Tổ quốc là giá trị tinh thần thiêng liêng, cao cả, bất biến, vĩnh hằng của cả dân tộc. Đảng chỉ là tổ chức chính trị bình thường, biến động và nhất thời của riêng một số người, là vô cùng nhỏ bé so với nhân dân, dân tộc, Tổ quốc. Một Đảng phải tồn tại bằng bạo lực, phải lấy tiền thuế của dân nuôi một bộ máy công an khổng lồ chỉ biết còn đảng còn mình để trấn áp tiếng nói tự do dân chủ của dân để duy trì sự tồn tại của Đảng, một Đảng đạp vào mặt dân và bỏ tù trí thức chỉ vì trí thức nói sự thật thì Đảng đó không còn bình thường nữa mà đã là tầm thường rồi. Đưa lá cờ của Đảng dù đang cầm quyền nhưng cũng chỉ là tổ chức chính trị nhất thời, nhỏ bé, tầm thường của riêng một số người lên ngang hàng lá cờ Tổ quốc thiêng liêng của cả dân tộc là sự cao ngạo đến mức không còn biết đến chữ Lễ, chữ Nhân.

    Cao ngạo như vậy làm sao thấy được sự thật! Cao ngạo như vậy làm sao đến được với những lo toan, vất vả, khổ đau của dân! Cao ngạo như vậy nên ai thẳng thắn nói điều trái ý Đảng, đụng đến cái sai, cái yếu của Đảng, của Nhà nước, đều bị Đảng khép vào tội tuyên truyền chống Nhà nước của Đảng, đều bị Đảng trừng trị khắc nghiệt. Nhưng ngục tù chỉ có thể giam cầm được thân xác Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hoàng Cầm, Tuân Nguyễn, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Phạm Quế Dương, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ, Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng.., không giam cầm được tư tưởng của họ. Bạo lực chuyên chính vô sản chỉ có thể bịt miệng được người dân, không bịt miệng được lịch sử. Trước sau lịch sử Việt Nam cũng phải ghi những trang đau buồn rằng đảng Cộng sản Việt Nam đã kéo lùi lịch sử phát triển dân tộc, đã biến cả dân tộc Việt Nam thành bầy đàn nô lệ của Đảng, đã biến dân tộc Việt Nam văn hiến, tồn tại bằng đùm bọc thương yêu thành dân tộc li tán, hận thù, bạo lực! Và những người Việt Nam có Cái Tôi bị chà đạp, bị giết chết tức tưởi là những chứng nhân hùng hồn xác nhận điều đó.

    BI KICH CỘNG SẢN – BI KỊCH VIỆT NAM

    Chế độ xã hội này chỉ có thể thay thế chế độ xã hội khác bằng tạo ra được năng suất lao động cao hơn. Giai cấp này thay thế giai cấp khác thống trị xã hội phải là giai cấp nhân văn hơn, tiến bộ hơn, văn minh hơn, phù hợp với tiến trình phát triển của lịch sử, thúc đẩy xã hội phát triển nhanh hơn.

    Xã hội tư bản tạo ra năng suất lao động cao hơn hẳn xã hội phong kiến. Giai cấp tư sản được kỉ nguyên Ánh sáng nâng tầm trí tuệ. Với tư tưởng giải phóng cá nhân, quyền con người, quyền công dân trở thành tuyên ngôn của giai cấp tư sản, trở thành luật pháp của Nhà nước tư sản. Giai cấp tư sản làm chủ xã hội, cá nhân được nhìn nhận, năng lực sáng tạo của cá nhân được giải phóng đã đưa xã hội loài người vào thời kì phát triển kì diệu, đưa con người vào kỉ nguyên vũ trụ, đưa xã hội loài người vào nền văn minh tin học. Cho đến nay sự phát triển kì diệu vẫn đang tiếp diễn. Cho đến nay giai cấp tư sản giầu có của cải, giầu có trí tuệ vẫn là giai cấp tiên tiến nhất, vẫn phải nhận sứ mệnh lịch sử là giai cấp lãnh đạo xã hội. Giải phóng năng lực sáng tạo của cá nhân tạo nên sự phát triển kì diệu của xã hội, thực tế đó đã khẳng định rằng trí tuệ con người được giải phóng, năng lực sáng tạo của cá nhân được giải phóng chính là động lực thúc đẩy xã hội phát triển.

    Coi đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội phát triển đó là điểm xuất phát, là nền tảng tư tưởng sai lầm của học thuyết Marx. Sai lầm gọi sai lầm. Sai lầm tư tưởng cũng gây ra sai lầm dây chuyền domino. Lí luận chủ nghĩa Marx xây dựng trên nền tảng tư tưởng sai lầm, cực đoan đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội phát triển đã đưa xã hội loài người vào cuộc đấu tranh bạo liệt bất tận tranh giành quyền lợi, tranh giành miếng ăn, tranh giành không gian sinh tồn như xã hội loài vật. Đưa giai cấp không phải là giai cấp tiên tiến, giai cấp vô sản, một giai cấp không có của cải, không có tri thức và chính Marx phải thú nhận giai cấp vô sản chỉ có xiềng xích, làm cách mạng lật đổ giai cấp tư sản là giai cấp khi vừa làm cách mạng thắng lợi lật đổ giai cấp phong kiến trì trệ, không có cá nhân, đã công bố ngay Tuyên ngôn Nhân quyền xác nhận Quyền Con Người cho mọi người dân và xây dựng luật pháp bảo đảm Quyền Con Người cho mọi công dân trong đó có những người vô sản làm thuê.

    Làm cách mạng lật đổ giai cấp tư sản, giai cấp vô sản chỉ mất xiềng xích mà được cả thế giới. Được cả thế giới rồi đảng Cộng sản, bộ tham mưu của giai cấp vô sản lại đưa nhân dân dưới sự cai trị của họ trở về bầy đàn. Học thuyết đấu tranh giai cấp trao cho đảng Cộng sản, thực chất là trao cho nhóm người nắm quyền lực trong Đảng độc quyền quản lí xã hội, độc đoán xóa bỏ cá nhân, tước đoạt Cái Tôi cá thể của người dân. Xã hội Cộng sản thời công nghiệp có đủ tiện nghi hiện đại, rực rỡ ánh sáng nhưng con người không còn Cái Tôi thiêng liêng, thân phận lại trở về thời trung cố tăm tối. Đó là bi kịch Cộng sản!

    Đưa giai cấp không phải là tiên tiến, giai cấp nghèo khổ, làm thuê, chưa có cá nhân, chưa làm chủ được chính cuộc đời mình lên làm chủ xã hội, lên thống trị xã hội, bi kịch Cộng sản đó diễn ra ở nước ta là: Khi đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, Việt Nam chỉ có mấy mỏ than đang khai thác chủ yếu bằng sức người, mấy cơ sở công nghiệp phục vụ sinh hoạt như nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy dệt, vài xưởng cơ khí sửa chữa nhỏ, chưa có hình hài của nền sản xuất công nghiệp, chưa có đội ngũ công nhân công nghiệp đủ để trở thành lực lượng xã hội, giai cấp vô sản Việt Nam chỉ là những người nông dân cùng khổ không nuôi nổi bản thân phải giao thân cho chủ đất. Cách mạng vô sản đã đưa những người nông dân cùng khổ, chưa có cá nhân, không nuôi nổi bản thân, phải giao thân cho chủ đất, lên làm chủ xã hội, lo toan nuôi cả xã hội, tổ chức hoạt động cho cả xã hội.

    Ở vị trí làm chủ xã hội, những người nông dân cùng khổ dồn về thủ đô, ngồi vào vị trí của những tài năng, tinh hoa, trí tuệ của đất nước. Lập tức có ngay một hiệu ứng xã hội: Cả thủ đô nói ngọng! Chỉ những tiếng nói ngọng nghịu ở thủ đô đã cho thấy đất nước bị xuống cấp đến mức nào. Xuống cấp từ nền tảng văn hóa, cái thế, cái tầm của đất nước xuống thấp, cái cao cả không còn nữa, cái thấp hèn tràn ngập.

    Nền tảng văn hóa thấp đó lại bị ý thức hệ giai cấp thống trị, triệt tiêu ý thức dân tộc, những người Cộng sản Việt Nam đã tự đặt mình vào vị thế lệ thuộc vào phương Bắc, lệ thuộc ý thức hệ giai cấp, phải kí hết hiệp định này đến hiệp định khác, những hiệp định bất bình đẳng, thua thiệt với phương Bắc, tạo điều kiện cho Phương Bắc xâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội Việt Nam, gây bất ổn xã hội, cái họa Bắc thuộc hiển hiện trước mắt. Đất đai biển trời thiêng liêng của dân tộc Việt Nam bỗng thành của riêng của giai cấp vô sản Việt Nam để giai cấp vô sản Việt Nam vô tư cắt nhượng cho giai cấp vô sản phương Bắc. Đã là của riêng của giai cấp vô sản thì việc cắt nhượng đất đai chỉ là việc riêng của đảng Cộng sản, việc riêng của Nhà nước Cộng sản, nhân dân không được biết, đến Quốc hội cũng không được biết! Nhưng cắt nhượng cho phương Bắc nửa thác Bản Giốc hùng vĩ ở Cao Bằng, cắt nhượng cho phương Bắc cả tòa thành cổng nước cổ kính ở Lạng Sơn đã in bóng sừng sững trong lịch sử Việt Nam thì không thể lén lút giấu dân được mãi. Sự thật mất đất đai của tổ tiên phơi bày ra rồi, nhân dân chỉ còn biết nghẹn ngào, đau xót, khóc cho cơ thể Tổ quốc Việt Nam bị cắt xẻo ứa máu, khóc cho lịch sử Việt Nam phải ghi lại những năm tháng tủi nhục!

    Làm ăn kinh tế thua lỗ. Các tập đoàn kinh tế Nhà nước độc quyền khai thác tài nguyên đất nước, thoải mái sử dụng đồng tiền thuế của dân, say sưa mở rộng đầu tư vô tội vạ, tự trả lương cho mình cao chót vót rồi thất thanh kêu lỗ, nằng nặc đòi tăng giá sản phẩm, dồn gánh nặng thua lỗ lên đôi vai gầy guộc của người dân nghèo khốn khổ! Những tập đoàn kinh tế chủ lực của đất nước cứ thua lỗ dài dài như vậy, bao giờ người dân mới thoát kiếp nghèo? Chỉ một tập đoàn công nghiệp tầu thủy Vinashin, những người quản lí kinh tế đất nước chi tiêu vung vãi, làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền thuế mồ hôi xương máu của dân!

    Nền tảng văn hóa thấp không thể tiếp cận tư tưởng Ánh sáng : Tự do – Bình đẳng – Bác ái, không biết đến Quyền Con Người của người dân, những người nông dân có quyền lực trong tay lập tức hiện hình lên là những ông quan đục khoét dân, bức hại dân thời phong kiến suy tàn. Phép vua thua lệ làng, quan lại địa phương Tiên Lãng tự tạo ra luật huyện, luật xã nhẫn tâm cướp đất, cướp mồ hôi, xương máu của dân. Cướp bằng trát không được thì nhân danh Nhà nước, nhân danh công vụ dùng sức mạnh bạo lực Nhà nước vốn chỉ để trấn áp tội phạm và giặc cướp nước ra trấn áp dân lương thiện.

    Lí tưởng xã hội sụp đổ thì chỉ còn biết dựa vào bạo lực và nền tảng văn hóa thấp thường lạm dụng bạo lực. Bạo lực được sử dụng tràn lan với dân. Bạo lực không phải chỉ là dùng sức mạnh công an đàn áp, bắt bớ dân khi dân ôn hòa bộc lộ chính kiến khác biệt với Nhà nước vô sản về những vấn đề của đất nước. Bạo lực không phải chỉ là huy động lực lượng đông đảo công an, quân đội, chó nghiệp vụ hùng hổ thực hiện những cuộc cưỡng chế, giải tỏa thất đức. Bạo lực không phải chỉ là công an hung hãn đánh dân ngay trên đường phố, đánh chết dân trong trại giam. Bạo lực còn là những phiên tòa bịt miệng luật sư, những phiên tòa vắng bóng công lí và những bản án nghiệt ngã dành cho người dân có chính kiến khác biệt với Nhà nước vô sản.

    Nhà nước ứng xử với dân bằng bạo lực là bằng chứng rõ nhất về một nền chính trị suy vi, không còn lí tưởng, không còn chính danh, là biểu hiện của một thời bất ổn, thời bạo lực lên ngôi, thời Nhà nước phải xây nhiều nhà tù công khai và nhiều nhà tù trá hình như cơ sở giáo dục đang giam cầm chị Bùi Minh Hằng. Còn ngoài xã hội những vụ giết người man rợ xảy ra khắp nơi! Mạng sống của dân lành quá rẻ rúng, máu dân lành đang lênh láng bởi bạo lực Nhà nước và bạo lực côn đồ!

    Những người nông dân cùng khổ chưa có cá nhân nay làm chủ xã hội thì họ không biết đến cá nhân của con người trong xã hội, họ không đếm xỉa đến Quyền Con Người cũng là tất yếu. Người dân sử dụng Quyền Tự do Ngôn luận liền bị Nhà nước không đếm xỉa đến Quyền Con Người bỏ tù. Người dân sử dụng Quyền Biểu Tình liền bị Nhà nước không đếm xỉa đến Quyền Con Người đàn áp, bị công an đạp vào mặt, bị bắt giam, bị đánh đập.

    Những người nông dân cùng khổ trước đây nuôi bản thân không nổi, sau mấy chục năm ở vị trí làm chủ xã hội, nay đã nhà cao cửa rộng và để tiêu chuẩn hóa, để tương xứng với vị trí làm chủ xã hội, họ đã có đủ bằng cấp, học hàm, học vị cao sang. Nền tảng văn hóa của một con người cũng như sự màu mỡ của một cánh đồng. Phải có dòng sông phù sa qua nhiều đời bồi đắp mới làm nên cánh đồng màu mỡ. Phải có thói quen, nề nếp tư duy, lao động trí não như một dòng chảy tự nhiên, bền bỉ tích lũy qua nhiều thế hệ mới làm nên nền tảng văn hóa. Hình thái lao động cũng có sự phân công tự nhiên. Có người có sự khéo léo, tài hoa nghệ sĩ. Có người có sức mạnh của đôi tay. Có người có sức mạnh của trí tuệ. Học để có văn hóa phổ thông, biết đọc biết viết tiếng mẹ đẻ thì ai cũng học được. Còn học để biến kiến thức của loài người thành kiến thức của riêng mình, để hình thành con người văn hóa, nhân cách văn hóa của mình thì không phải ai cũng học được. Không phải ai cũng học được nhưng ai cũng có thể mua được, chạy được, tìm cách để có được tấm bằng của sự học. Nhìn cách hành xử của những quan chức ở Vinashin, quan chức ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng, không hề thấy con người văn hóa, nhân cách văn hóa mà vẫn chỉ thấy nguyên xi con người nông dân ngày nào nghèo khổ không nuôi nổi bản thân nay họ có quyền lực trong tay, có tiền bạc, tài sản của nhân dân trong tay, họ hối hả tìm mọi cách biến của dân thành của riêng họ.

    Một trí thức yêu nước của giai cấp tư sản giàu có của cải, giầu có trí tuệ đi với cách mạng vô sản trong chiến tranh giải phóng dân tộc khi rời chức vụ về hưu ông đã trả lại ngôi nhà nguy nga được cấp giữa thủ đô cho Nhà nước, trở về ngôi nhà của gia đình có từ trước cách mạng. Đó là hành xử của trí thức tư sản, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Còn quan chức vô sản bao đời không nuôi nổi bản thân nay có chức vụ liền dùng chức vụ để thỏa mãn những thèm khát từ bao kiếp người. Quan chức nào cũng vội vã xây lâu đài nguy nga. Chính những lâu đài nguy nga đó đã dựng lên chân dung văn hóa nghèo nàn thảm hại của họ. Cả ông phó ban Biên giới bộ Ngoại giao khi nói rằng tàu Trung Hoa vào sâu trong vùng biển của ta cắt cáp tàu của ta, phá việc khai thác dầu khí của ta cũng chỉ như người cha yêu thương con, yêu cho roi cho vot, yêu thì phải dạy bảo, ở ông quan cấp cao bộ Ngoại giao đó cũng không hề thấy con người văn hóa, nhân cách văn hóa!

    Những người nông dân nghèo khổ, chưa có cá nhân, không nuôi nổi bản thân, nhờ có cách mạng vô sản họ mới trở thành Tổng giám đốc này, Chủ tịch nọ, phó Ban kia. Cách mạng vô sản là họ. Đảng vô sản cũng chính là họ. Và họ sẽ bảo vệ Đảng đến cùng. Đảng Cộng sản là của những con người như vậy.

    Đảng Cộng sản Việt Nam còn độc quyền thống trị xã hội Việt Nam thì bi kịch Cộng sản vẫn còn đeo đẳng với dân tộc Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn bị tha hóa, đánh mất mình, đánh mất cả nền văn hiến, đánh mất cả tình thương yêu đùm bọc dân tộc, chỉ còn bạo lực, li tán và hận thù dân tộc!

    3.2.2012. Ngày ĐCSVN tròn 82 tuổi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    29 phản hồi

    Tay Hoàng Đức Huy vẫn dùng luận điệu của ban tuyên giáo CSVN để khủng bố, vu khống và bôi nhọ những người không cùng quan điểm với mình.

    Thay vì lý luận một cách khách quan những điểm nào không hợp lý của ông Phạm Đình Trọng thì Hoàng Đức Huy lại đe dọa và bôi nhọ cá nhân như Tomcat thường làm.

    Hơn nữa Hoàng Đức Huy phải hiểu rằng mỗi người đều có quyền suy nghĩ khác trong tinh thần tự do tư tưởng .

    Những luận điệu của Hoàng Đức Huy như "chống lại ĐCSVN là chống lại Tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam" là sai trái và nguy hiểm kiểu phát xít

    Đọc (Hoàng Đức Huy (khách viếng thăm) gửi lúc 15:12, 14/03/2012 - mã số 54471) tôi liên tưởng đến phát minh máy phát điện chạy bằng nước lã của TS Khê. Phản hồi này có khi hoành tráng hơn: Đại bác bắn bằng nước...bọt!

    Admin Dân Luận: Tôi đã suy nghĩ nhiều khi quyết định đưa phản hồi này lên thay vì xóa nó. Xét cho cùng, giống như nhiều phản hồi của bác WB, phản hồi này sẽ bôi gio trát trấu vào mặt người viết nó hơn là ông Phạm Đình Trọng. Nó là bằng chứng rõ ràng nhất về khả năng tư duy cũng như khả năng tôn trọng sự khác biệt của những người bảo vệ cho chế độ hiện nay.

    Bi kịch Phạm Đình Trọng

    Tâm lý thông thường là như thế này: có những kẻ tự phá hoại cuộc đời mình cho nó trở thành bi kịch, chìm ngập trong bi kịch đó, song có khi nhìn ra cuộc dời xung quanh lại thấy cuộc đời muôn sắc ấy cũng là bi kịch. Tựa hồ như kẻ đeo kính đen nhìn cuộc đời chỉ thấy toàn màu đen. Màu đen ấy không phải của cuộc đời mà chính là màu đen của đôi mắt anh ta, thậm chí tệ hơn đó là màu đen của đầu óc và tâm địa anh ta, màu đen của sự ngu dốt và sự thâm độc. Tục ngữ Pháp có câu: cái biết quyết định cái nhìn (Le savoir decide le voir). Đó là bi kịch của Phạm Đình Trọng khi tung lên mạng bài viết đen tối nhan đề “Bi kịch Việt Nam”. Đó là bi kịch của chính Phạm Đình Trọng chứ không phải bi kịch của Việt Nam. Bi kịch của Phạm Đình Trọng cũng là hài kịch có nguy cơ dẫn đến thảm kịch.
    Phạm Đình Trọng là ai? Đó là một kẻ từng ở trong quân đội song không giữ được tư cách bộ đội, bị đuổi ra khỏi quân đội, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam song đã bị khai trừ ra khỏi Đảng vì vi phạm kỷ luật của Đảng, một kẻ từ nhỏ được gia đình, nhà trường, cách mạng, chế độ nuôi dạy nhưng không nên người, luôn mang ảo tưởng đối với cá nhân mình, ngộ nhận đôi chút khả năng nhỏ bé của mình là tài năng, muốn làm kẻ đốt đền thờ ông bà, tổ tiên mình, trở mặt với nhân dân, ân nhân mình để được nổi tiếng, để thực hiện tham vọng được bọn thù địch nước ngoài và bọn cơ hội trong nước vinh phong cho là “nhà dân chủ”, “chính khách ly khai”, “đối lập” v.v…
    Đây là trường hợp “con ếch muốn to bằng con bò” trong chuyện ngụ ngôn. Hiện nay, trong nước ta cũng xuất hiện một vài kẻ ngu dốt mà ngông cuồng như thế, chứ không phải một mình Phạm Đình Trọng, nhưng anh ta là kẻ muốn làm “lực lượng mới nổi nhất” trong đám người này. Thực ra, những kẻ đi trước “nêu gương” cho anh ta cũng đã mất tăm tích, không còn lại dấu vết gì, dù cũng một thời được một vài kẻ xấu vẽ mặt vẽ mày đẩy ra sân khấu.
    Người làm sao bào hao làm vậy. Cho nên xem văn thì biết người. Mà biết người rồi thì có thể xét đến văn. Đối với “Bi kịch Việt Nam” của Phạm Đình Trọng, có thể đánh giá một lời: đây là văn ngu dốt và phản bội của một kẻ phản bội và ngu dốt.
    Toàn bài “Bi kịch Việt Nam” là lời vu cáo trắng trợn và chửi bới thô bỉ, bộc lộ một sự căm hờn, hằn học đối với Đảng CSVN và đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, dân tộc VN do ĐCSVN lãnh đạo, vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, sự nghiệp này đã thắng lợi, đang thắng lợi và trên đường tiến tới những thắng lợi mới, nhằm giải phóng, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc “Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, để nước ta có vị trí ngày càng cao trên trường quốc tế, vĩnh viễn từ bỏ ách nô lệ thực dân, phong kiến, vĩnh viễn thoát đói nghèo, tủi nhục, thực hiện một cuộc đổi mới và phục hưng dân tộc, phát huy mọi truyền thống và giá trị Việt Nam trong lịch sử mấy nghìn năm. Đó là đường lối của ĐCSVN, là mục tiêu lý tưởng của nhân dân Việt Nam, là chính nghĩa, đại nghĩa của dân tộc Việt Nam. Không một kẻ nào, thế lực nào xuyên tạc, gièm pha và phá hoại được sự nghiệp vĩ đại đó, huống hồ một tiểu tốt vô danh như Phạm Đình Trọng.
    Mơ tưởng tham gia âm mưu “diễn biến hòa bình”
    Trong đoạn mở đầu “luận văn” của mình, Phạm Đình Trọng chân thành và nhiệt thành lặp lại và hưởng ứng những chủ trương và mưu tính của các thế lực thù địch bên ngoài và các thế lực cơ hội trong nước từ lâu ấp ủ thành một “chiến lược” chính trị. Hơn 30 năm nay, từ ngày chúng ta chiến thắng đế quốc, thống nhất đất nước, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội, bọn này đã nhiều lần xuyên tạc, vu cáo ĐCSVN, lên giọng tiên đoán “sự sụp đổ của Đảng và của chế độ chính trị ở Việt Nam, của chính quyền nhân dân Việt Nam”.
    Sau đây là “giấc mơ giữa ban ngày” của Phạm Đình Trọng và bè lũ phản động ngoài nước và cả trong nước ngày nay đã đổi giọng vì hy vọng ngày một lụi tàn. Lấy ảo tưởng làm thực tế, chúng rêu rao: “Chấm dứt thể chế độc quyền lãnh đạo của ĐCSVN là điều đương nhiên, là tiến trình tất yếu của lịch sử…
    Chấm dứt sự đơn diễn trên sân khấu chính trị của ĐCSVN là không thể đảo ngược nhưng vẫn từng mong ĐCSVN có vai trò chủ động đứng trong tiến trình đó…
    Đổi mới ĐCSVN để tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, để ĐCS tồn tại bình đẳng cùng các đảng khác trong thể chế đa nguyên lành mạnh, trong xã hội dân chủ thực sự… Tham gia vào tiến trình dân chủ đa nguyên, dân chủ thực sự là hồng phúc cho dân tộc Việt Nam và cũng là hồng phúc cho ĐCSVN…”. Phạm Đình Trọng bộc lộ “tim đen” của bọn ôm ấp ảo tưởng và âm mưu “diễn biến hòa bình”.
    Bên cạnh những lời vu cáo thô bỉ, trắng trợn, bọn này lại đưa ra những lời đường mật như trên, tưởng đâu ĐCSVN là một đảng trẻ con, nhân dân VN ấu trĩ về chính trị, chứ không phải là một Đảng, một dân tộc dày dặn trong đấu tranh cách mạng 82 năm nay, từng quật ngã mọi tên đế quốc xâm lược sừng sỏ cùng với bè lũ tay sai gian ngoan của chúng, phá tan mọi thủ đoạn quân sự và chính trị, mọi âm mưu phá hoại và lật đổ của chúng. Điều này chính bọn đầu sỏ đế quốc đã rõ, song bọn tay sai ngờ nghệch của chúng vẫn còn ảo tưởng. Thực ra, chúng cũng có đôi chút cơ sở để ảo tưởng. Đó là hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức của một số người trong Đảng mà bản thân Phạm Đình Trọng là một phần tử. Từ sự suy thoái của bản thân mình và một số kẻ đồng loại, Phạm Đình Trọng và những kẻ ấy hy vọng hão huyền vào sự “thay màu đổi sắc” của ĐCSVN, giống như các nơi khác trên thế giới. Nhưng Phạm Đình Trọng không thể “suy bụng ta ra bụng người” xem người CSVN nào, nhân dân Việt Nam nào cũng mang mầm mống phản bội trong tâm địa như anh ta. Trong lịch sử cách mạng nước ta, cũng từng có không ít kẻ phản bội, chống lại chính nghĩa, chống lại Tổ quốc, song số phận của chúng thường chẳng vẻ vang gì. Tuy vậy, thời nào cũng có những kẻ đó. Có quân tử thì có tiểu nhân, có nghĩa sĩ thì có gian phi, nhất là trong thời đại ngày nay, chiến tranh gián điệp, chiến tranh tình báo, chiến tranh lật đổ là thủ đoạn thâm độc thường xuyên của bọn phản động, đế quốc, chính tình hình này dễ khuyến khích những kẻ như Phạm Đình Trọng hăng hái xông ra làm kẻ “hiến thân” ngu ngốc cho các thế lực đen tối chống lại Tổ quốc, chống lại nhân dân, làm chim mồi cho bọn phản động đế quốc, mơ tưởng trở thành “chiến sĩ” của “dân chủ, tự do”. Đã có những tấm gương nhãn tiền của những kẻ đàn anh, đàn chị của Phạm Đình Trọng như: Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Hoàng Minh Chính… Những kẻ đó bây giờ về đâu?
    Viết bài luận văn “chính trị” của mình tung lên mạng nhân ngày 3-2-2012, kỷ niệm sinh nhật Đảng, Phạm Đình Trọng muốn đóng vai trò kẻ ly khai để thách thức Đảng, mong nổi tiếng là “lãnh tụ” chống cộng, lãnh tụ đối lập. Tử xem trình độ của kẻ toan làm lãnh tụ này như thế nào
    Ngu ngốc về chủ nghĩa Mác-Lênin, về lịch sử dân tộc
    Chống ĐCSVN thì phải chống chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Phạm Đình Trọng khôn ngoan biết rằng chống Hồ Chí Minh, xuyên tạc và vu cáo Hồ Chí Minh là chạm vào tình cảm và vinh dự của dân tộc, là chuốc lấy sự phẫn nộ của nhân dân, của cả những người thiện chí trên thế giới, là chống lại một vĩ nhân có uy tín tuyệt đối mang tầm cỡ nhân loại, chống lại tư tưởng Hồ Chí Minh là chống lại dân tộc, cho nên anh ta không dám nói động đến Bác Hồ. Các tiên sư, tổ phụ phản động của Phạm Đình Trọng xưa nay đều không dám làm việc đó.
    Học đòi những kẻ chống Marx trên thế giới xưa này, Phạm Đình Trọng như con đom đóm muốn tranh sáng với mặt trời, ra sức “bác bỏ” học thuyết cách mạng của Marx. Cũng như mọi kẻ chống Marx xưa này, Phạm Đình Trọng không thể đương diện với các luận điểm khoa học và cách mạng có tầm lịch sử thế giới của Marx, đã được giới khoa học quốc tế thừa nhận và tôn vinh là nhà tư tưởng, nhà khoa học vĩ đại của mọi thời đại và vẫn còn sức thuyết phục đối với ngày nay. Sự phát triển của khoa học hiện đại và mọi biến động của lịch sử thế giới đương đại là hòn đá thử vàng của học thuyết khoa học và lịch sử của Marx. Chỉ cần nhắc một ví dụ là nhiều nhà kinh tế đương đại ở phương Tây muốn soi sáng cuộc khủng hoảng hiện nay của thế giới tư bản bằng các nguyên lý kinh điển về chủ nghĩa tư bản của Marx, tất nhiên họ không thể thừa nhận hoàn toàn chủ nghĩa Marx vì như thế là phủ nhận chủ nghĩa tư bản, tán đồng chủ nghĩa cộng sản, trở thành người cộng sản. Nhưng điều đó chứng tỏ những kẻ như Phạm Đình Trọng và đồng bọn toan phê phán Marx chỉ là việc làm ngu ngốc, lấy nạng chống trời, lấy tay che mặt trời, là con cóc tự xưng là cậu ông trời.
    Nhưng người có chút ít kiến thức về triết học và về sử học có thể thấy trò hề phê phán chủ nghĩa Marx của Phạm Đình Trọng. Tất cả các luận điệu ngu ngốc của Phạm Đình Trọng chỉ là sự lặp lại vụng về các luận điệu của bọn “Marx học” phương Tây, mù quáng phủ nhận học thuyết phương thức sản xuất, học thuyết đấu tranh giai cấp, học thuyết hình thái kinh tế – xã hội, học thuyết hình thái ý thức xã hội (hệ tư tưởng)… Sự phủ nhận đó thường được tiến hành bằng cách xuyên tạc, bóp méo chủ nghĩa Marx một cách bất lương, vô lý rồi phê phán cái sự vô lý do chính mình bịa ra, đó là phương pháp của bọn gọi là “phê phán chủ nghĩa Marx”. Phạm Đình Trọng là học trò hạng bét của bọn phê phán Marx đó. Nhưng sự phê phán của Phạm Đình Trọng ngoài những lời thô bỉ, ngạo ngược ra, còn chứng tỏ anh ta là một kẻ vô học, chưa qua được trình độ phổ thông, chỉ tiếp thu lem nhem mấy luận điệu rác rưởi của bọn chống cộng quốc tế rồi đem ra sử dụng và vận dụng một cách có thể gọi là ngu xuẩn. Các luận điệu đó chỉ có tác dụng đối với những người cùng có trình độ ngu dốt ngang với hoặc kém hơn Phạm Đình Trọng. Điều đó cũng là tất nhiên, lấy đâu ra trí tuệ và kiến thức từ một con người có trình độ học thức như Phạm Đình Trọng?
    Hãy lấy một ví dụ về trình độ “lý luận” của Phạm Đình Trọng, người muốn vươn lên làm nhà lý luận chính trị mang tầm “chiến lược” chống lại chủ nghĩa Mác-Lênin, vạch ra “cương lĩnh” cho bọn chống cộng ở Việt Nam.
    Thay thế cho học thuyết phát triển lịch sử của chủ nghĩa Marx, Phạm Đình Trọng đưa ra “học thuyết” của mình: anh ta so sánh sự phát triển của mỗi con người với sự phát triển của xã hội loài người. Đại khái anh ta cho rằng: con người từ tuổi ấu thơ chưa có cá nhân, chỉ có bày đàn, đến tuổi trưởng thành mới có cá nhân, đến lúc tuổi già lại trở về bầy đàn. Xã hội loài người cũng tương tự như thế: các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, con người chưa có cá nhân, chỉ có bầy đàn. Đến chủ nghĩa tư bản, mới có sự phát triển cá nhân. Theo logic của Phạm Đình Trọng thì sau chủ nghĩa tư bản, xã hội cá nhân lại trở về với bầy đàn. Vì vậy, anh ta kết án: Không có cái tôi cá nhân, chủ nghĩa Marx đưa xã hội loài người trở về bầy đàn.
    Cái học thuyết lịch sử này của Phạm Đình Trọng không cần phải có tư duy khoa học cao siêu gì cũng có thể thấy nó cực kỳ ngu xuẩn. Nếu có chút lương tri, anh ta phải tự lấy làm xấu hồ vì tri thức “lý luận” ngốc nghếch của mình.
    Trước hết, từ khi phát sinh xã hội loài người thì con người có cá nhân và cộng đồng chứ không phải sống theo bầy đàn như con vật. Con người từ khi sinh ra đã có mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng (trước hết là đứa trẻ với gia đình). Đứa trẻ bắt đầu có ý thức đã phải có ý thức về bản thân và người khác, tức là giữa cá nhân và tập thể với các cộng đồng từ nhỏ đến lớn, từ gần đến xa, ý thức về quyền lợi và nghĩa vụ, về những cái được làm và những cái không được làm, phải sống theo phong tục, tập quán, lễ nghi, đạo đức, pháp luật. Con người có tính xã hội. Qua các chế độ khác nhau, quan hệ cá nhân và cộng đồng khác nhau, tùy theo loại hình nhà nước, nhà nước là hình thức quản lý xã hội và thống trị giai cấp. Trong lịch sử, cá nhân không những có quan hệ đồng thuận với cộng đồng mà cũng có quan hệ xung đột với cộng đồng, đặc biệt giữa cá nhân và nhà nước, đại diện cho giai cấp thống trị. Xã hội không phải là tổng số (dấu cộng) những cá nhân. Mỗi con người cá nhân do điều kiện kinh tế – xã hội đều thuộc một giai cấp, giữa các giai cấp khác nhau có liên minh, hợp tác và có xung đột, đối kháng, bất cứ dưới chế độ nào cũng có sự đối kháng giữa các giai cấp đối kháng, từ đó diễn ra đấu tranh giai cấp dưới mọi hình thức. Con người thuộc về giai cấp nhất định có tính giai cấp, xã hội có quan hệ giai cấp và có đấu tranh giai cấp, nhà nước nào cũng có tính giai cấp. Lịch sử các xã hội loài người từ xưa đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp dưới mọi hình thức kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, khi hòa bình khi bạo lực, khi âm thầm, khi công khai. Nếu tự mình xét mình thì Phạm Đình Trọng sẽ thấy rằng ngôn luận và hành vi của anh ta là một hành động có tính giai cấp phản động. Tính giai cấp thể hiện ngay trong tư tưởng và hành động của anh ta.
    Dưới chủ nghĩa tư bản, đấu tranh giai cấp mang tính chất toàn cầu, toàn diện, trong đó có hình thức đấu tranh áp bức dân tộc và giải phóng dân tộc; xâm lược của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc và chống xâm lược của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Mọi biến động xã hội, lịch sử xét đến cùng đều do động lực kinh tế, đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp không phải do Marx và những người cộng sản bịa ra mà đó là sự thật lịch sử, sự thật tại các quốc gia và sự thật toàn thế giới cho đến ngày nay. Đấu tranh giai cấp có nhiều hình thức: hòa bình và bạo lực, hợp tác và đấu tranh, đối thoại và ngoại giao, đấu tranh giữa các liên minh giai cấp, liên minh quốc gia, liên minh dân tộc, các phe nhóm kinh tế – chính trị mà phân tích đến cùng sẽ thấy động lực đấu tranh giữa bóc lột và chống bóc lột (kinh tế), giữa áp bức và chống áp bức (chính trị) giữa xâm lược và chống xâm lược (vũ trang, ngoại giao). Nguyên lý của chủ nghĩa Marx: lịch sử loài người từ xưa đến nay là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp là quy luật khách quan, phổ biến và sinh động mà động lực cơ bản là kinh tế. Hiện thực nước ta hiện nay cũng như bức tranh thế giới ngày nay chứng tỏ ĐCSVN lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động là đúng đắn. Tất nhiên cần nhận thức sâu sắc, vận động sáng tạo, không ngừng đổi mới, điều chỉnh cho lý luận phù hợp với thực tiễn, đem lại thành công và thắng lợi trong mọi lĩnh vực.
    “Học thuyết” về phát triển con người từ nhỏ đến già đem suy vào phát triển của loài người từ xưa đến nay để lên án chủ nghĩa Marx “phủ nhận cá nhân, đưa xã hội loại người trở về bầy đàn” là một thứ ngụy biện vừa xảo trá, độc ác, vừa ngu xuẩn, dốt nát.
    Nếu trước chủ nghĩa tư bản, con người là bầy đàn, đến chủ nghĩa tư bản là con người cá nhân thì sau chủ nghĩa tư bản, con người lại trở về bầy đàn như con người về già lại trở về bầy đàn khi về hưu? Đó là một thứ tiến hóa luận, tuần hoàn luận không thể gọi thế nào khác hơn là ngu xuẩn, dốt nát như bên trên đã nêu. Đem cái thứ ngụy luận đó để phê phán chủ nghĩa Marx thì Phạm Đình Trọng là một nhà “lý luận tuyệt luân”, các nhà lý luận chống cộng, chống Marx, chống Việt Nam có thể tôn anh ta làm thầy… dùi.
    Trên đây là lý luận của Phạm Đình Trọng về lịch sử nhân loại. Còn về lịch sử dân tộc đối với Phạm Đình Trọng thì anh ta cho rằng đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc là vô ích tốn xương máu, cứ để cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc đưa chúng ta thoát khỏi bầy đàn, trở thành những cá nhân siêu việt, như bản thân cá nhân “nhà trí thức” Phạm Đình Trọng.
    Sinh ra ở miền Bắc, sau kháng chiến chống Pháp, chưa từng làm nô lệ dưới thời thực dân, phong kiến, chưa từng thấy mặt thằng tây thực dân, tên quan phong kiến, chưa từng biết thảm cảnh của dân tộc và nhân dân dưới ách thuộc địa, chỉ biết chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa thực dân qua bộ mặt hào nhoáng của chủ nghĩa thực dân mới và sự bái phục từ xa nền văn minh phương Tây với những luận điệu dân chủ, nhân quyền cũ rích, đầu óc Phạm Đình Trọng đặc sệt những tư tưởng phản động tiếp thu được từ các thông tin chống cộng, chống Việt Nam, mà ngày nay chính những người di tản, lưu vong ở nước ngoài cũng đã thấy rõ bộ mặt thật để từ bỏ thì Phạm Đình Trọng còn ôm lấy làm tài sản tư tưởng, làm lý tưởng chính trị của bản thân mình để nhìn lịch sử vẻ vang, anh hùng của dân tộc cũng như sự nghiệp xây dựng đất nước ngày càng tiến bộ ngày nay thành ra “bi kịch Việt Nam”.
    Phạm Đình Trọng bốc thơm chủ nghĩa đế quốc phương Tây, lấy đó làm lý tưởng, oán trách dân tộc đã đấu tranh chống lại các thế lực “cao quý” đó, giá mà cứ để chúng tiếp tục thống trị nước mình thì mọi cái đều đã thành tốt đẹp; dân tộc mình không còn là bầy đàn nữa mà đã thành văn minh, bởi vì kỷ nguyên “chủ nghĩa tư bản văn minh là kỷ nguyên độc lập, dân tộc”, chủ nghĩa tư bản phương Tây tự khắc biến dân tộc mình thành độc lập, tự do, hạnh phúc. Chủ nghĩa thực dân phong kiến là quá khứ hoàng kim của dân tộc, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân mới là tương lai xán lạn của nước ta theo lý tưởng chính trị của Phạm Đình Trọng.
    Toàn bài luận văn của Phạm Đình Trọng mang giọng điệu mạ lị ĐCSVN đồng thời miệt thị dân tộc, miệt thị nhân dân, bốc thơm chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, tham gia vào bản đồng ca chống cộng, chống Việt Nam đang ngày càng rối rắm, lạc điệu của bọn phản động ở nước ngoài. Bọn này ngộ nhận chủ trương tự phê bình để tự đổi mới, để xây dựng ĐCSVN trở nên ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngày càng gắn bó với nhân dân là dấu hiệu của sự suy yếu, cho nên hí hửng cao giọng chống cộng, chống Việt Nam. Phạm Đình Trọng cũng cho rằng đây là cơ hội để xuất đầu lộ diện, múa may quay cuồng một cách lố bịch.
    Sự thật lịch sử vĩ đại là ĐCSVN trong 82 năm qua là cội nguồn giải phóng và phục hưng dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta từ thân phận nô lệ, yếu hèn trở nên nước CHXHCN Việt Nam ngày nay. Sự gắn bó giữa ĐCSVN với nhân dân Việt Nam là sức mạnh đã, đang và sẽ làm thất bại mọi mưu mô phá hoại sự nghiệp chính nghĩa và vẻ vang của dân tộc trên con đường tiến bộ, phồn vinh, văn minh thực sự. Mọi mưu đồ ly gián Đảng với dân bằng luận điệu gian trá, lừa bịp, dù thâm độc đến đâu sẽ thất bị vì bản chất của chúng là phi nghĩa, phi chân lý, phi đạo lý. Cần phải vạch rõ cho Phạm Đình Trọng và những đồng bọn của anh ta biết một sự thật lịch sử là: Khi Pháp xâm lược Việt Nam, bọn thực dân và bọn Việt gian theo Pháp đưa ra luận điệu lừa bịp: đánh Việt Minh chớ không đánh Việt Nam. Khi Mỹ xâm lược miền Nam, bọn đế quốc cùng với bọn Việt gian theo Mỹ cũng đưa ra luận điệu: diệt Việt cộng chớ không đánh Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam đều biết Việt Minh là Việt Nam, kháng chiến giành độc lập, tự do; Việt cộng là Việt Nam đánh Mỹ, giành độc lập thống nhất. Ngay nay, bọn đế quốc, thực dân lại giở trò lừa bịp với luận điệu: đánh đổ CSVN để khôi phục dân tộc Việt Nam. Luận điệu đó có ý nghĩa gì? Phạm Đình Trọng cùng với đồng bọn phải biết rằng: chống lại ĐCSVN, chống lại nước CHXHCN Việt Nam là chống lại Tổ quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam, chống lại quá khứ, hiện tại và tương lai của Việt Nam, là phản dân tộc, phản quốc. Cái mặt nạ chống cộng không che dấu được bộ mặt phản quốc của những kẻ mong bán rẻ một lần nữa Tổ quốc cho bọn xâm lược mới, lăm le cướp nước ta một lần nữa. Bọn chúng không nên mơ tưởng bằng con đường “diễn biến hòa bình” tái diễn lại trên đất Việt Nam tội ác “tố cộng”, “diệt cộng” những năm 60 của thế kỷ XX. Tình hình một số nơi hiện nay trên thế giới đang khuyến khích bọn đế quốc và bọn phản động mơ tưởng tái diễn tội ác đó. Cái học thuyết “cá nhân cực đoan” chống cộng của Phạm Đình Trọng nghe ra có mùi vị của thuyết “nhân vị cần lao” của Ngô Đình Nhu ngày xưa.
    Các luận điệu của kẻ phản động, phản quốc Phạm Đình Trọng dù núp dưới chiêu bài gì cũng nhất định thất bại và chuốc lấy sự nhục nhã trong hiện tại và tương lai. Kẻ phản bội nhất định không có số phận vẻ vang gì mà chỉ trượt dài xuống hố tự hủy diệt và sỉ nhục. Một lần nữa cần cảnh cáo Phạm Đình Trọng về cái vực sâu đang chờ anh ta phía trước. Không có “bi kịch Việt Nam” nào. Chỉ có bi kịch Phạm Đình Trọng – vừa bi kịch vừa hài kịch. Bi kịch và hài kịch đó đã đến lúc cần hạ màn sớm.
    2-2012

    Hoàng Đức Huy
    Cựu chiến binh

    Có đủ đá cho Kép Tư Bền ném vào những người đi "tụ tập đông người" lẫn biểu tình, và cả những người từ chối đảng như ô Phạm Đình Trọng nữa. Tha hồ mà ném!

    Cũng chúc cho Kép Tư Bền ném đá có hiệu quả, cứ mỗi hòn đá ném ra là thế nào cũng có kẻ bưu đầu hoặc sứt trán .

    Dân mình đã bị nhiều bi kịch lắm rồi, xin đừng "ném đá" nữa để lại thêm bi kịch. Có muốn "ném đá" thì để dành khi nào quần chúng xuống đường thì "ném đá" vào những kẻ đàn áp, giống như dân Miến điện ném gạch đá vào quân lính đàn áp người biểu tình. Trước kia trong chiến tranh thì "bộ đội với dân như cá với NƯỚC". Nay "bộ đội với dân như cá với THỚT". Gai đình ông Vươn đang nằm trên thớt, mong các vị có niệm Phật thì cầu Phật tổ Như Lại phù hộ độ trì cho cả nhà ông Vươn thoát khỏi kiếp nạn này và cầu cho cả chúng sinh thoát vòng u mê bị chủ nghiã của ông Tây làm cho người nọ cấu xé người kia.

    LeQuocTrinh viết:

    Ông Kép Tư Bền nhặt những hòn đá để làm gì vậy ? Đế tạc tượng tác giả ? Để ném đá vỡ đầu ông Phạm Đình Trọng về cái tội u mê tăm tối, vô minh khi viết bài phê bình Đảng và Mác Lê?

    Nếu dùng hình thức "ném đá công cộng" để xử án tác giả, thì đây không phải là triết lý Đạo Phật rồi, mà chính là trò tra tấn người dã man của bọn cuồng tín Hồi Giáo, hiện còn diễn ra ở những nước lạc hậu theo Hồi Giáo (Irak, A Phú Hãn).

    Có lẽ ông Kép Tư Bền là một loại tín đồ trá hình trà trộn vào cửa Phật để làm ô uế Đạo Phật ???

    Kép tôi đã ném mấy hòn đá xuống sông từ sáng hôm qua, sao tới giờ này bác Trinh còn hì hục mò lên làm gì thế bác?

    Bác PĐT nói "Bi kịch Việt Nam" là bác mới nhìn một chiều hoặc có thể nói là nhìn phiến diện. Còn Việt Nam có rất nhiều hài kịch, mà hìa kịch lại đưa lên ti vi nữa cơ. Bác có biết hài kịch như thế naò không? Cứ khi nào họp Quộc Hội hay họp hội nghị Đảng thì còn hay hài kịch. Cứ nghe các vị đại biểu của hội nghị hay các đại biểu quốc hội phát biểu thì nhiêu khi rũ ra mà cười. Xem ông nghị Phước, nghị Hồng phát biểu trong hôm họp quốc hôi mới đây thì biết, nào là đòi có luật nhà thơ, rồi bảo biểu tình gây tắc đường phố, dân không buôn bán được...rồi một hai hôm gần đây ti vi đưa ông TBT họp với các cụ về hưu, ông Tổng đề nghị các cụ góp ý kiến vì ông Tổng trình độ có hạn, thiếu kinh nghiệm ,lại tuổi tác chưa phải là nhiều...ấy thế mà vẫn ngồi ghế mà không chịu nhường cho người khác, người dốt làm cao thì còn nhiều hài kịch hơn nữa. Thì cứ xem người ta phát biểu thì đủ rõ. Người có trình độ thì nói khác, còn người không có trình độ lại tỏ ra ta đây thì nhiều khi làm con rối hay trò hề trên diễn đàn.
    Thực ra thì ở nước ta chế độ CS đang là thiên đường cho một số người, cứ xem danh sách những người giầu nhất VN ở trên mạng thì thấy quan chức chóp bu CS có hàng tỷ đô la gửi ngân hàng nước ngoài thì họ có rơi vào bi kịch đâu. Nếu xem bộ mặt thành thì thì nước ta cũng chẳng kém gì nhiều nước trên thế giới, nhưng chỉ cần xa Hà Nội 100km thì sẽ thấy đời sống lùi vào mấy thế kỷ. Có điều nói ra sự thật thì họ bảo là phản động. Người dân thì muốn thoát ra khỏi bi kịch, quan chức thì lại muốn điễn mãi vở hài kịch. Chẳng biết làm thế nào? Bản thân chế độ CS biết sai thì không sửa mà trị người phát hiện ra cái sai chứ không trị người làm sai, mà cái sai thì cứ liên tiếp, sai trong thời chiến, sai trong thời bình, cứ đổ vấy đổ vá cho khách quan. Trước kia còn chhiến tranh thì nói "khi nào thống nhất đất nước kinh tế hai miền hỗ trợ cho nhau thì đời sống lên". Thống nhất rồi vẫn khổ thì nói khi nào có dầu thì đời sống lên. Nay có dầu, cẫn cứ khổ, lại đổ cho xuất phát điểm, mà không thấy Hàn quốc và Bắc Triều tiên trước kia cũng một xuất phát điểm thì nay do chế độ khác nhau mà hai miền khác nhau. Một trong những điều tạo ra bi kịch của nước ta là chế độ này tạo ra một tầng lớp quan lại vô liêm sỉ, lưu manh từ trên xuống dưới, không bao giờ dám nhận sai lầm, không biết xấu hổ khi làm sai và không dám từ chức. Chỉnh mãi, đốn mãi mà ngày càng xấu hơn. Đừng hy vọng đảng sửa để lấy lại niềm tin của dân, bản chất cùa Đảng CS làm những điều phi nhân tính, điều này có tính chất toàn cầu. Chỉ có đảng tan rã thì dân mới sướng hơn thôi. NHưng làm thế nào để Đảng ta rã thì chẳng ai nghĩ ra. Cầu Phật ư?

    Kép Tư Bền viết:
    Hôm nay tâm trạng đang vui, lại nhớ lời Phật dạy là chúng sinh vốn u mê ngu dốt, kẻ càng vô minh càng hay nói càn, đó là điều tự nhiên trong nhân giới, ta nên khoan dung với họ, cho nên tạm tha cho bác Phạm Đình Trọng lần này, mấy hòn đá đã nhặt sẵn nay quăng xuống sông vậy, mong sao không làm chết oan con cá nào!

    -------------

    Ông Kép Tư Bền nhặt những hòn đá để làm gì vậy ? Đế tạc tượng tác giả ? Để ném đá vỡ đầu ông Phạm Đình Trọng về cái tội u mê tăm tối, vô minh khi viết bài phê bình Đảng và Mác Lê?

    Nếu dùng hình thức "ném đá công cộng" để xử án tác giả, thì đây không phải là triết lý Đạo Phật rồi, mà chính là trò tra tấn người dã man của bọn cuồng tín Hồi Giáo, hiện còn diễn ra ở những nước lạc hậu theo Hồi Giáo (Irak, A Phú Hãn).

    Có lẽ ông Kép Tư Bền là một loại tín đồ trá hình trà trộn vào cửa Phật để làm ô uế Đạo Phật ???

    Bác Trọng đừng chấp cái ngài Kép Tư Bền này vì em đã thẩm định trình độ tư duy logic của ông ta rồi. Học sinh lớp 6 đều biết thế nào là TIÊN ĐỀ thế nào là ĐỊNH LÝ nhưng ông này không biết!!! Hồi xưa em đã vạch ra cái thói giả vờ cao đạo để lấp liếm sự dốt nát của mình về triết học (em đã tranh luận với ông ta trong Bức thư gửi BCH TƯ ĐCSVN đăng trên Dân Luận rồi bác ạ)
    Bây giờ thấy ai cũng chửi M-L ông ta bèn quay sang đọc bi bô về Phật Giáo. Lại vẫn cái giọng nửa đùa nửa thật nói về Đạo Phật để lòe mấy thằng trẻ con. Bác xem em bóc mẽ ngài Kép Tư Bền này nhé.
    Thưa ngài Kép ngài nói đến các Thiền Sư, xin hỏi ngài Thiền là gì ạ???

    LeQuocTrinh viết:

    Chào bác Kép Tư Bền,

    Sao bác hay chóng quên bác đã nói gì sao ?

    Bác trả lời khéo thật nhỉ! Bởi vì bác khởi xướng đầu tiên bằng những khái niệm "vô minh" của Nhà Phật và bác còn thủ sẵn vài ba hòn đá ...để ném ai kia nữa đấy. Cho nên tôi mới vào đây xin phép đối thoại với bác.

    Còn chuyện tranh luận trong Nhà Phật, bác quên rằng khi Đức Phật Tổ Như Lai còn tại thế Ngài thường hay tổ chức những buổi thảo luận tự do dân chủ với các đệ tử, Ngài cho phép chúng sinh đặt câu hỏi để khuyến khích họ động não. Đó chính là phương pháp sử dụng tri thức để đi đến Giác Ngộ đấy. Bác quên rằng đôi khi Đức Phật còn bị bọn Bà La Môn bu theo mắng chửi ném đá kia mà. Chúa Jesus còn bị đóng đinh huống hồ ai.

    Bác không muốn đàm luận về Vô Minh và Giác Ngộ thì bác hãy tuyên bố rút lại lời xúc xiểm với tác giả bài viết đi!

    Chào thân ái,

    Tôi chẳng có quên gì hết bác Trinh ạ. Nhất là những gì mình nói.

    Trong còm men đầu tiên của mình, tôi chỉ nhớ lại lời Phật dạy, chứ không bi bô "diễn giải" khái niệm này, thuật ngữ nọ của Nhà Phật nghĩa là gì, rồi ti toe phê phán nhăng cuội, như cái cách mà nhiều người, trong đó có cái nhà bác Phạm Đình Trọng này, vẫn làm một cách rất hăng hái con gà mái với CN Marx chẳng hạn!

    Bởi thế dở hơi hay sao mà tôi tự dưng nhảy ra bàn luận với bác về mấy cái khái niệm kia của Nhà Phật!? Việc gì tôi phải "rút lại lời xúc xiểm" (xúc xiểm thế nào nhể?) như bác đòi?

    Xem ra bác đang đi lạc đề xa quá rồi đấy bác!

    Chào thân ái và quyết thắng!

    Kép Tư Bền viết:
    Hôm nay tâm trạng đang vui, lại nhớ lời Phật dạy là chúng sinh vốn u mê ngu dốt, kẻ càng vô minh càng hay nói càn, đó là điều tự nhiên trong nhân giới, ta nên khoan dung với họ, cho nên tạm tha cho bác Phạm Đình Trọng lần này, mấy hòn đá đã nhặt sẵn nay quăng xuống sông vậy, mong sao không làm chết oan con cá nào!

    Chào bác Kép Tư Bền,

    Sao bác hay chóng quên bác đã nói gì sao ?

    Bác trả lời khéo thật nhỉ! Bởi vì bác khởi xướng đầu tiên bằng những khái niệm "vô minh" của Nhà Phật và bác còn thủ sẵn vài ba hòn đá ...để ném ai kia nữa đấy. Cho nên tôi mới vào đây xin phép đối thoại với bác.

    Còn chuyện tranh luận trong Nhà Phật, bác quên rằng khi Đức Phật Tổ Như Lai còn tại thế Ngài thường hay tổ chức những buổi thảo luận tự do dân chủ với các đệ tử, Ngài cho phép chúng sinh đặt câu hỏi để khuyến khích họ động não. Đó chính là phương pháp sử dụng tri thức để đi đến Giác Ngộ đấy. Bác quên rằng đôi khi Đức Phật còn bị bọn Bà La Môn bu theo mắng chửi ném đá kia mà. Chúa Jesus còn bị đóng đinh huống hồ ai.

    Bác không muốn đàm luận về Vô Minh và Giác Ngộ thì bác hãy tuyên bố rút lại lời xúc xiểm với tác giả bài viết đi!

    Chào thân ái,

    Trời trở rét đậm, không làm được gì thì mở nét ra đọc, mỗi ngày lại thấy một chuyện lạ đời, có ông đang đi chơi ở Hồ Gươm chẳng động đến ai cũng bị bắt, người thành phố bị những điều oan ức còn biết kêu và biết kiện, chứ người nông thôn chịu nhiều bi kịch thì chẳng biết kêu ai, kiện ai. Người đi biểu tình bị bắt (với lý do bị vu vạ là gây rối trật tự), còn ông Vươn ở sát biển trên đất Hải Phòng , chẳng biểu tình, dĩ nhiên là không lấy cớ đổ cho ông ấy gây mất trật tự, ông ấy chí thú làm ăn, thế mà tự nhiên bị cướp đất rồi bị vào tù. NHà nước thì bảo "để đảng và nhà nước lo". Đấy, ông Vươn "để đảng và nhà nước lo" đi, hay để đảng và nhà nước cướp? Trước kia giá cái gì đảng và nhà nước cũng lo thì đỡ được bao nhiêu người chết vì vào trong Nam đánh nhau. Sao lúc ấy không thấy nói "để Đảng và nhà nước lo"?? Nay thì lại có người phát hiện ra "Bi kịch việt Nam". Biết "bi kịch" thì làm thế nào tránh được "bi kịch" để trở thành HÀI KỊCH? Cứ ngồi nhìn và bàn để rồi hết hồi lớp bi kịch này đến hồi lớp bi kịch khác xảy ra hay sao? Rồi để con cháu ta lại tiếp tục chịu "bi kịch" mãi hay sao? Nhiều người có thời gian bàn nhiều chuyện "Hay Đáo Để", nào là bỏ định hướng XHCN trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, nào là bỏ XHCN trong nhà nước pháp quyền XHCN. Bỏ hay không bỏ chỉ là ngôn từ, còn trong thực tế thì có khác gì nhau. Kinh tế thì trường định hướng hay không định hướng thì giá cả tăng như diều gặp gió. Pháp quyền XHCN hay không XHCN thì nói một đằng làm một nẻo, quan toà toàn bọn lưu manh, bênh người nhà nước, toàn bắt nạt dân đen. Công an thì phối hợp với lưu manh côn đồ bắt người tuỳ tiện. Nghe nói thì cái gì cũng tốt,nhưng xem làm gì cái gì cũng để dân phải kêu và oán. Nhưng giả thử nhà nước này thay đổi thì thay đổi thế nào? Ai lên nắm chính quyền? Ai làm thủ tướng? Người phê thì nhiều, nhưng người xây dựng và thiết kế mô hình mới thì chẳng thấy ai. Xem trên mạng thì quá nhiều lý luận gia, bàn cãi nhiều, nhưng lại không thấy cái gì thiết thực, người muốn thiết thực thì hầu như hoàn toàn thất vọng. Tìm đâu ra những điều mình mong mỏi? Thời đại này chỉ có nét là cung cấp nhiều kiến thức nhất, dốt đến đâu mà cứ đọc nét một thời gian là mở mang trí tuệ, thế mà có cái tìm trên nét lại không thấy. Thật là "bi kịch". Hay chỉ co "bi kịch Việt Nam" vì đã chặn nhiều trang cung cấp đủ mọi điều cần biết?

    LeQuocTrinh viết:

    Ai vô minh ? Ai giác ngộ ?

    WOW!!!

    Nghe ông Kép Tư Bền diễn giải kinh Phật oang oang nên tôi ghé vào nghe thử, hoá ra ông cũng chỉ thuộc loại "Ê a kinh một bộ, lóc cóc mõ ba hồi".

    Ông nghĩ sao về hai chữ Vô Minh hở ông Kép Tư Bền ? Ông có hiểu Giác Ngộ là chi không hở ông ? Ông có hiểu rõ luận thuyết Thập Nhị Nhân Duyên của Nhà Phật như thế nào không ? Ông có biết hành động vô minh của anh chàng VK trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành, vì ú ớ tiếng Pháp nơi đất khách quê người mà bị dụ dỗ vào tổ khủng bố Đảng Cộng Sản quốc tế (Pháp, Liên Xô, TQ) rồi đem cả dân tộc đi vào con đường u mê tăm tối XHCN.

    Đến ngày hôm nay đa số trí thức trong nước đang thức tỉnh dần muốn tự giải thoát khỏi vòng kiềm toả của ngu dốt, chỉ có mỗi mình ông là muốn chìm đắm trong lạc hậu đấy.

    Kép tôi đã đoán trước là thể nào cũng có chú xông ra hạch sách "Ai vô minh? Ai u mê? Có chú u mê thì có!" v.v.., y như rằng, he he he...!

    Bác Lê Quốc Trinh xem ra công phu hàm dưỡng chưa được cao lắm nhể!

    Người thấu hiểu tinh thần Phật pháp thì không bao giờ đi đặt câu hỏi vặn vẹo kiểu: Ông "nghĩ" sao về hai chữ Vô minh? Ông "hiểu" sao về Giác ngộ? Ông có "biết" Thập nhị nhân duyên là gì, Tứ diệu đế là cái chi? Vưn vưn... Chỉ có những người thích khoe khoang chút hiểu biết của mình, tranh thắng tranh thua với người khác, mới đặt những câu hỏi kiểu như vậy. Gặp các vị thiền sư mà hỏi kiểu đó, rất dễ ăn mấy gậy vào đầu lâu!

    Xin thưa với bác Lê Quốc Trinh, Kép tôi không có "diễn giải" kinh Phật chi hết, chỉ nhắc lại lời dạy của Phật thôi nhé. Nếu bác cho rằng Phật không cho rằng chúng sinh vốn u mê ngu dốt, sự u mê ngu dốt đó là lẽ thường tình, ta nên thấu hiểu điều đó mà khoan dung với họ, thì bác cứ ném đá thoải con gà mái đi!

    Đọc xong được bài viết của ông Phạm Đình Trọng quả là vất vả ! Nhưng đọc xong rồi thì cảm nhận của cà nhân tôi , một bạn đọc thường xuyên của Dân Luận thì thấy bài này quá lan man , chỉ thể hiện nỗi bức xúc của tác giả với CNCS đặc biệt là với Đảng CSVN . Những người có kiến thức và có hiểu biết về lịch sử thế giới và Việt Nam thì khó chấp nhận những kết luận của ông. Nhưng không sao vì Dân Luận là một không gian mở bày tỏ quan điểm của mọi công dân mà !

    ĐCSVN đã từ bỏ đường lối KT CS (dù chưa hoàn toàn) nên KT VN mới phát triển (dù chưa hết tiềm năng). Chỉ khi ĐCSVN chấp nhận KT thị trường (không có cái đuôi 'định hướng XHCN') và một đường lối chính trị đa nguyên kiểu CN Xã hội-Dân chủ Bắc Âu thì trí tuệ và sức sáng tạo của người VN mới được giải phóng và tận dụng, mọi tài năng sẽ được dùng. Chỉ khi đó KT XH VN mới thực sự ổn định và phát triển.

    Nhờ đọc những ý kiến phản hồi tôi mới thấy nhận thức của mình được mở mang, nhưng cũng do đọc những ý kiến ấy mà tôi thấy quá mung lung, không biết thế nào là đúng, thế nào là sai. Hình như mỗi người ở trình độ khác nhau, ở hoàn cảnh khác nhau thì ó ý kiến khác nhau thì phải. Trí thức thì đòi phản biện, dân thành thị thì đòi dân chủ, đa đảng. Còn đại đa số nông dân thì chưa biết dân chủ là cái gì cũng chẳng cần đa đảng hay một đảng, hay không đảng mà chỉ cần đất để có cái nuôi mình mà sống. Nhưng cái tối thiểu cũng không có. Ông Vươn không tranh chấp với người mà tranh chấp với biển để có đất nuôi trồng thuỷ sản. Người vùng cao cũng không tranh chấp với ai, nhường nhịn tất, chỉ cần đất, tuy không làm ra nhiều của cải vật chất đóng góp cho xã hội, nhưng giữ đất, giữ rừng, bảo vệ biên giới. Nhưng rừng thì bị chặt mang gỗ về miền xuôi,lũ lụt xẩy ra năm nào cũng có, đất thì bán cho Tàu... Chiến tranh biên giới thì người vùng cao chịu thiệt hại nhiều, hy sinh nhiều để giữ đất cho tổ quốc, chiến tranh giải phóng miền Nam hồi trước 1975 thì người vùng cao cũng đóng góp. Vậy mà giờ đây, có ai lên vùng cao mới thấy cảnh xơ xác tiêu điều. Ti vi cũng đã đưa rổi, trẻ em muà rét không có đủ quần áo, lớp học thì không bằng cái nhà bếp ở nông thôn thời chị Dậu. Trong khi đó thì đài lúc nào cũng "nhờ ơn đảng nhờ ơn bác Hồ". Nhưng có một điều nữa cần nói là nếp sống yên ả vùng cao cũng bị chi phối khá phức tạp, những tệ nạn trước kia không bao giờ có thì nay xẩy ra, quan chức hiếp trẻ con, vợ đầu độc chống, rồi bỏ chồng bỏ con theo giai, rồi bị bán sang Trung quốc, vì đói nên bị người ta lừa bán sang Trung quốc làm gái điếm... tất cả những điều ấy là "nhờ ơn đảng, nhờ ơn bác Hồ". Nói như bác Tôn Kính Đảng thì bỏ đảng đi là hết. Trước kia không có đảng thì làm gì có những cái ấy. Trước kia không có dân chủ nhưng có đất mà trồng ngô trồng sắn, quê mình, mình ở, mọi người thương yêu nhau, chẳng có cãi cọ, đấu tranh vì đất đai với ai, không phải đi khắp nơi kiếm sống, cứ "ngu xi hưởng thái bình" mà lại hay, không đi giết người, không bị người giết. MOng rằng bao giờ cho đến ngày xưa, không có đảng để dân chẳng phải ơn ai mà vẫn đủ ăn đủ mặc.

    Bác Trọng cứ bình tĩnh nhé!!! Thằng em của bác đây!!! Em đang bị quấn hút vào vụ Tiên Lãng (quân ta đánh hay quá, cả lề phải lẫn lề trái bác ạ) Còn mấy thằng tuyên giáo đang múa may với bác theo lời kêu gọi của ông Trọng em và đồng đội sẽ cho phơi áo ngay!!! Bác yên tâm nhé!!!
    Bài viết của bác hơi dài nhưng không thừa!!!!

    Kép Tư Bền viết:
    Hôm nay tâm trạng đang vui, lại nhớ lời Phật dạy là chúng sinh vốn u mê ngu dốt, kẻ càng vô minh càng hay nói càn, đó là điều tự nhiên trong nhân giới, ta nên khoan dung với họ, cho nên tạm tha cho bác Phạm Đình Trọng lần này, mấy hòn đá đã nhặt sẵn nay quăng xuống sông vậy, mong sao không làm chết oan con cá nào!

    -------------------

    Ai vô minh ? Ai giác ngộ ?

    WOW!!!

    Nghe ông Kép Tư Bền diễn giải kinh Phật oang oang nên tôi ghé vào nghe thử, hoá ra ông cũng chỉ thuộc loại "Ê a kinh một bộ, lóc cóc mõ ba hồi".

    Ông nghĩ sao về hai chữ Vô Minh hở ông Kép Tư Bền ? Ông có hiểu Giác Ngộ là chi không hở ông ? Ông có hiểu rõ luận thuyết Thập Nhị Nhân Duyên của Nhà Phật như thế nào không ? Ông có biết hành động vô minh của anh chàng VK trẻ tuổi Nguyễn Tất Thành, vì ú ớ tiếng Pháp nơi đất khách quê người mà bị dụ dỗ vào tổ khủng bố Đảng Cộng Sản quốc tế (Pháp, Liên Xô, TQ) rồi đem cả dân tộc đi vào con đường u mê tăm tối XHCN.

    Đến ngày hôm nay đa số trí thức trong nước đang thức tỉnh dần muốn tự giải thoát khỏi vòng kiềm toả của ngu dốt, chỉ có mỗi mình ông là muốn chìm đắm trong lạc hậu đấy.

    Có thể ông Phạm Đình Trọng sẽ cho rằng những phân tích của ông không phải là một thứ chỉ trích bi quan về dân tộc, mà chỉ là một sự phản tỉnh, diễn đạt có hơi cuờng điệu, gay gắt thì cũng chỉ xuất phát từ nỗi mong mỏi đất nước mau thoát khỏi trì trệ để có thể bước nhanh trên con đường văn minh trí tuệ của loài người. Tôi chia sẻ những ưu tư, những dằn vặt của ông trước sự xuống cấp về văn hoá của xã hội hiện nay và hiểu được khát khao của ông muốn đem vào cuộc sống một cái gì có thể gọi là “tử tế” hơn cho những gì mà chúng ta đang có. Nhưng khi phân tích một cách có hệ thống những gì ông viết, tôi thấy, cách xới lên sự kiện, lý giải vấn đề của ông đã quá nghiêng về phần đối chiếu kiểu logic hình thức, nhất là lại được diễn đạt bằng một lối viết có tính chất cường điệu, đả kích, châm chọc, đầy cảm tính kiểu “văn nghệ” nên không có đủ sự khách quan, chừng mực để được xem là những suy tưởng chính luận nghiêm chỉnh đáng mong muốn.

    Hôm nay tâm trạng đang vui, lại nhớ lời Phật dạy là chúng sinh vốn u mê ngu dốt, kẻ càng vô minh càng hay nói càn, đó là điều tự nhiên trong nhân giới, ta nên khoan dung với họ, cho nên tạm tha cho bác Phạm Đình Trọng lần này, mấy hòn đá đã nhặt sẵn nay quăng xuống sông vậy, mong sao không làm chết oan con cá nào!

    NHận xét cuả bác Tôn KÍnh Đảng về bài viết này rất chính xác. Mà ý kiến của bác TKĐ lại hay hơn bài viết vì bác TKĐ nói thật, nói thẳng, không né tránh, đọc là hiểu ngay. Trong quân sự thì nói đây là kiểu đánh trực diện, chỉ khi nào lực lương mình mạnh, hoả lực hơn hẳn đối phưng mới áp dụng lối đánh này, không cần nghi binh. Người viết kiểu này (bác TKĐ) thể hiện mình có bản lĩnh, có tự tin và có thể nói có sức mạnh dám nói, mặt khác nêu ý kiến phê phán một bài viết công phu của tác giả lớn là PĐT cũng thể hiện đầu óc độc lập tư duy. Tuy vậy tôi thấy bác TKĐ cũng chưa thật "sắc" khi nói thẳng là đảng CS cần giải tán. Giải tán đảng CS là nguyện vọng của toàn dân, nhưng bác TKĐ quên một điều là số phận của đảng CS không do đảng định đoạt, cũng không do dân định đoạt, mà do bàn tay của ông bạn "16 chữ vàng" định đoạt. Từ trước đến nay "Đảng ta" hoặc là lệ thuộc Trung quốc hoặc là lệ thuộc Liên xô (thời ông Lê Duẩn), chứ "đảng ta" có chủ động được gì đâu. Đảng trấn áp dân ta biểu tình cũng do Trung quốc giật dây. Nay ta có một đội ngũ trí thức đã dám lên tiếng nói thẳng, nói thật, có đầu óc, xem nếu như "Đảng ta" muốn thật sự để quyền lợi đất nước và dân tộc lên trên thì làm thế nào thoát ra khỏi "vòng kim cô của Trung quốc? Bác TKĐ có đầu óc độc lập tư duy thì bác có ý kiến gì về điều này?

    Bìa này viết lê thê, tràng giang đại hải, lam man dài dòng, tản mạn, đưa đủ mọi lĩnh vực vào một bài như triét học, văn học,xã hội chính trị... Có thể để riêng từng phần thành một bài riêng biệt thì tốt hơn. Kiến thức của tác giả quá "rộng", nên bàn đủ mọi thứ: triết học, văn học, chính trịnh, xã hội...Có điều là nhiều vấn đề không mới, có cái thế giới và cả người mình đã bàn trước đây nửa thế kỷ. Đối với người đã biết thì thừa, đối với người chưa biết thì lại không cần thiết. Ở trường đảng NAQ, có nhiều vị biết rất nhiều, rất rộng, nhưng toàn biết sai và biết nhưng điều vô bổ. Thực ra nhiều người đến học cũng chẳng cần nghe mà họ chỉ chờ học xong, lấy giấy chứng nhận rồi về lên chức và thực hiện các thủ đoạn vơ vét. Nhà nước mình có đủ mọi ban bệ lý luận, nhưng không tìm ra đường đi nước bước phù hợp với tình hình đất nước mình, mà cứ học tập cái ông râu xồm nước ngoài rồi về áp dụng nguyên xi máy móc nhưng lại chê người khác giáo điều.
    Cần nêu những tội ác của cộng sản làm cho dân rõ thì tốt hơn. Nay thì đảng đang tiến hành chỉnh đốn đảng coi đó là việc cần làm ngay, nhưng cái cần làm ngay, làm cấp bách, làm tức thời hợp lòng dân là GIẢI TÁN ĐẢNG CÔNG SẢN. Đây là cốt lõi của mọi vấn đề. Tội ác của CS đã quá chồng chất. Nếu còn đảng CS thì tội ác còn cao hơn nữa. Còn nếu đảng CS cứ cố níu kéo thì dân có biện pháp, biện pháp này thì mọi người nên bàn. Đừng mất thì giờ nghe ông cựu Uỷ viên nọ cựu thứ trưởng kia hay những ông đã về hưu vẫn còn dính đuôi CS mong đảng thay đổi thế này, mong đang thay đổi thế khác, kể cả mấy ông GS, TS hiện nay vẫn muốn có sự lãnh đạo của đảng với trí thức, mà hãy nghe theo các ông Trần Xuân Bách, Hoàng MInh chính, Trần độ, Đặng Kim Giang...ngay lúc đương chức cũng muốn bỏ vai trò lãnh đạo của Dảng vì ngay từ ngày mới ra đời, cương lĩnh của đảng CS chỉ là thứ lý thuyết viển vông. Chính vì những lý thuyết ấy mà dân tộc ta đã phải trả giá quá đắt. Nay dân cũng không muốn đngr pahỉ đền tội ác, nhưng đảng phaỉ trả lại đất nước cho gần 90 triệu người Việt chứ không phaỉ đất nước của hơn 3 triệu đảng viên mà thực chất chỉ của khỏang vài nghìn đảng viên có quyền chức. Nếu đảng còn cố núi kéo CNCS vì quyền lợi riêng tư thì nhất thiết có nhiều Đoàn Văn Vươn hơn nữa, máu sẽ đổ đấy. Đổ máu lần này lại do chính những người CS gây ra, lại thêm một tội ác nữa.

    Phạm Đình Trọng viết:
    Chấm dứt thể chế độc quyền lãnh đạo đất nước của đảng Cộng sản Việt Nam là điều đương nhiên, là tiến trình tất yếu của lịch sử. Càng chậm trễ, càng cản trở tiến trình đó càng có tội với dân tộc, với lịch sử, càng làm cho dân tộc li tán và suy yếu, càng làm cho đất nước tụt lại sau, càng kéo dài đau khổ của nhân dân. Nhà văn khẳng định tiến trình chấm dứt sự độc diễn trên sân khấu chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam là không thể đảo ngược nhưng vẫn trông mong đảng Cộng sản có vai trò chủ động trong tiến trình đó. Phải là một nhân cách văn hóa mới có được tấm lòng nhân hậu, bao dung như vậy. Đó là tấm lòng bao dung của nhà văn, đó cũng là tấm lòng bao dung của dân tộc Việt Nam đối với đảng Cộng sản Việt Nam, một tổ chức chính trị đã dùng bạo lực tàn nhẫn ứng xử với dân tộc Việt Nam văn hiến và đã đem lại cho dân Việt Nam gần một thế kỉ cách mạng, chiến tranh đẫm máu, li tán dân tộc, tan hoang đất nước.

    Trước hết, tôi xin cám ơn tác giả Phạm Đình Trọng về bài viết thẳng thắn, thành thật, có thể nói là gây xúc động và rất hay này. Hiện nay, bất cứ ai có chút công tâm và tấm lòng đối với quê hương, dân tộc VN, và chút can đảm để nhìn thẳng vào sự thật, không để cho quyền lợi bản thân và bè phái che mờ chân lý, đều nhận ra rằng ĐCSVN quả thực là một cơn ác mộng mà Tổ quốc ta đã phải kinh qua trong ba phần tư thế kỷ.

    Dù với bất cứ động cơ nào, tốt hay xấu sẽ được lịch sử đánh giá sau này, việc ông Hồ đem chủ thuyết CS về quê hương ta quả thực rõ ràng là một đại họa cho dân tộc. Nó lấy đi 5 triệu sinh mạng người dân Việt, gây ra vô vàn tang tóc, đổ vỡ trên quê hương ta. Tệ hơn nữa là nó đã phá tan giềng mối, kỷ cương, đạo đức cổ truyền của dân tộc, gây ra sự chia rẻ trầm trọng trong lòng người Việt trên khắp hoàn vũ, và, đau đớn nhất, là làm cho Tổ quốc bị teo tóp, đất biển lọt từng mảng vào tay người láng giềng phương Bắc, và sự tồn tại của nước ta như một quốc gia độc lập trên bản đồ thế giới đang bị đe dọa nặng nề.

    Phải nói là dân tộc ta đang chạy đua với THỜI GIAN. Dù việc lãnh đạo độc tôn của ĐCSVN thế nào cũng phải cáo chung, vì như nhà văn Phạm Thị Hoài và tác giả Phạm Đình Trọng đã nói,việc chấm dứt sự lãnh đạo này là đương nhiên, là một tất yéu lịch sử. Nhưng nếu Đảng còn tồn tại lâu, khả năng nước ta bị LỌT vào tay TQ, để trở thành một bộ phận của Tàu là vô cùng cao. Giá chót là đất đai, đảo biển của tổ tiên sẽ ngày càng bị mất dần do thái độ hèn nhược, cầu cạnh TQ để kéo dài sự sống của chính ĐCSVN. Đó, theo tôi, chính là MỐI LO GAN RUỘT mà mọi người Việt cần phải nhận rõ để không chần chừ, chờ đợi. Vì THỜI GIAN quả thực không đứng về phía VN khi ĐCSVN còn tồn tại với tư thế như ngày hôm nay.

    Nói rằng dân tộc VN, nhân dân VN, khoan dung với ĐCSVN, tôi e rằng không đúng với sự thật. Sự thật là dân tộc, nhân dân ta đã bị ĐCSVN nắm đầu và đang ở thế ngẹt thở chưa vùng vẫy thoát ra được, dù trong lòng đã quá chán chê, căm giận Đảng. Tuy nhiên, nếu ĐCSVN biết THỨC TỈNH, để tự nguyện từ bỏ LỖI LẦM, quay về với dân tộc, biết đặt sự sống còn của Tổ quốc lên trên lợi quyền của Đảng, và từng bước sửa sai, tháo bỏ ách thống trị lên nhân dân, từng bước trong trật tự, trả lại quyền LÀM CHỦ đích thực đất nước cho toàn dân, thì có lẽ nhân dân ta cũng sẽ sẵn sàng THA THỨ Đảng, và Đảng sẽ hòa nhập thành một bộ phận của dân tộc, được đối xử bình đẳng như tất cả những người Việt khác.

    Lịch sử VN chắc chắn sẽ sang trang, sớm hay muộn thôi, nhưng ngày đó tất yếu phải đến. Nhưng đất nước VN có còn tồn tại hay không, tất cả đều nằm trong tay của mọi người dân Việt, trong cũng như ngoài nước, đảng viên hay không là đảng viên ĐCSVN.

    "Mục tiêu hướng tới của chủ nghĩa Marx là vô cùng nhân đạo, cao cả: Xóa bỏ bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội phát triển cao tạo ra của cải vật chất dồi dào, con người được sống trong yêu thương, được thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và tinh thần" -đó chỉ là ước muốn- xong nó có nhiều điều hoang tưởng,không phản ánh hết những điều cốt yếu của xã hội loài người phải khắc phục:
    -Mâu thuẫn giữa khả năng và nhu cầu:của cải vật chất,năng suất lao động,tài nguyên thiên nhiên...
    - bản thân mỗi con người,trước tiên là một sinh vật sống,cần phải tồn tại cho mình và cho gia đình mình,rồi mới quan tâm rộng ra ngoài xã hội...đó là "bản năng sinh vật và bản năng con người" nó quyết định tới nhiều quyền và quyền tư hữu và hưởng thụ thiêng liêng của con người.
    -bản thân mỗi con người được sinh ra có năng lực hoàn toàn khác nhau (thể lực -trí lực) thì tất nhiên quyền hưởng thụ không thể như nhau được.
    -động lực chính thúc đẩy xã hội loài người tiến bộ chính là lao động có trí tuệ của con người.

    Trích :

    Đảng Cộng sản Việt Nam còn độc quyền thống trị xã hội Việt Nam thì bi kịch Cộng sản vẫn còn đeo đẳng với dân tộc Việt Nam, dân tộc Việt Nam còn bị tha hóa, đánh mất mình, đánh mất cả nền văn hiến, đánh mất cả tình thương yêu đùm bọc dân tộc, chỉ còn bạo lực, li tán và hận thù dân tộc!

    3.2.2012. Ngày ĐCSVN tròn 82 tuổi.

    Tôi xin chấp tay vái tác giả PĐT với sự khâm phục và kính trọng qua câu kết luận chân lý cuả bài viết. Ý này không mới , nhưng đây là trường hợp rất đặc biệt vì nó là phát biểu của một cựu đảng viên cộng sản . Nhiều quan chức cộng sản về già ,sau khi phản tỉnh vẫn còn nhiều vương vấn luyến tiếc công lao cả đời phục vụ một chế độ sâu dân bán nước , nên chỉ muốn sửa sai để củng cố chế độ độc đảng ác ôn toàn trị chứ không dứt khoát muốn diệt trừ nó . .
    ... đã biết tai hại của chế độ cộng sản như vậy thì xin quý vị những người như tác giả đừng trùm chăn viết xuông mà hãy cùng nhau khơi dậy một mùa xuân Á rập để sớm đem lại cho đất nước một nền dân chủ tự do thật sự .

    Một bài viết tuyệt vời, vô cùng sâu sắc. Cầu mong 80 triệu người dân VN được đọc bài viết này của Bác Phạm Đình Trọng để thấu hiểu sự tàn bạo, độc ác của đảng CSVN đối với dân tộc và đất nước VN. Khi thức tỉnh được hàng triệu người dân, nhất định chế độ độc tài, đảng trị tại đất nước VN thân yêu của chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Một chế độ mới dân chủ, dân quyền, phát huy tối đa vai trò cá nhân trong xã hội sẽ được thiết lập, nhân dân VN mới có cơ hội đoàn kết đưa đất nước ta giàu mạnh thật sự, thoát khỏi khổ đau và tủi nhục.
    Cảm ơn Bác Phạm Đình Trọng đã cho những người dân như chúng tôi thực sự “sáng mắt, sáng lòng”.

    Cảm ơn bác Phạm Đình Trọng, bác luôn có những bài viết hay và đầy tâm huyết. Những bài viết của bác thực sự đi vào lòng người vì nó mô tả trung thực và chính xác những gì đã và đang xảy ra. Đó mới là lịch sử thực sự, không phải là thứ lịch sử đang được giảng dạy ở Việt Nam như hiện nay, đó là lịch sử đã bị bóp méo, bị xào nấu, bị bôi đen ở những nơi sáng và bị tô hồng ở những chỗ tối tăm.

    Những đảng viên nên đọc những tài liệu thế này để hiểu một cách đúng và đầy đủ bản chất của lịch sử nước nhà, nếu như chỉ đọc những bản tin, nghị quyết của đảng, họ sẽ không bao giờ biết được sự thật.

    Dưới ánh sáng của Internet, sự dối trá sẽ bị phơi bày, chân lý sẽ được làm sáng tỏ.

    Bài viết hay quá!

    Rất cảm ơn tác giả Phạm Đình Trọng.

    Tôi đọc như thấy tâm tư của mình được bác Trọng nói hết ra cho.

    Cảm ơn bác! Đúng thế! Chỉ có đoạn tuyệt dứt khoát với cộng sản thì dân tộc Việt yêu thuơng của chúng ta mới được sống lại làm Người!

    Nhất định dân tộc ta sẽ làm được điều đó trong 5-10 năm tới!

    Cả Loài người đã làm được gần xong việc đó rồi, chí còn vài nước đau thuơng nhất và ngu lâu nhất...

    JLN