Trần Minh Khôi - Sự suy thoái chính trị và trường hợp của Vương tộc Lý (III)

  • Bởi Admin
    06/02/2012
    0 phản hồi

    Trần Minh Khôi

    Tháng giêng năm đó, Tô Hiến Thành được phong tước vương, chức thái phó bình chương quốc quân trọng sự (được tham gia bàn chuyện triều chính) để giúp đỡ Đông cung Thái tử Long Cán. Lúc Vua Lý Anh Tông bịnh nặng, Tô Hiến Thành ẳm thái tử nhiếp chính. Vua Cao Tông lên ngôi, Tô Hiến Thành được phong thái úy. Đỗ An Thuận, người em của Đỗ Thái hậu, được phong thái sư đồng bình chương sự (cùng tham gia bàn chuyện triều chính).

    Cái tên Đỗ An Thuận chỉ xuất hiện một lần trước đó trong Toàn Thư (Đỗ An Di). Mười lăm năm trước, 1161, khi Vua Anh Tông sai Tô Hiến Thành đem quân đi tuần ở biên giới Tây Nam, Tô Hiến Thành làm đô trưởng, Đỗ An Thuận làm phó. Không thấy Việt Sử Lược nhắc đến Đỗ An Thuận trước khi nhân vật này nắm quyền lực tối cao của vương triều. Năm 1179, lúc Vua Cao Tông chỉ mới 6 tuổi, trước khi chết, Tô Hiến Thành tiến cử quan Giám nghị Đại phu Trần Trung Tá thay mình. Nhưng Đỗ Thái hậu không dùng, lập em mình là Đỗ An Thuận làm phụ chính. Việt Sử Lược ghi, “Người thời bấy giờ kinh sợ oai quyền của ông”. Quyền lực vương triều từ đó nằm trong tay hai chị em họ Đỗ.

    Trên không chính thì dưới sẽ loạn. Không thấy chính sử nói gì thêm về tác động của những xoay xở và giàn xếp quyền lực của vương triều bởi chị em Đỗ Thái hậu đối với các thế lực địa phương. Nhưng những sự kiện xảy ra kế tiếp cho thấy nội lực của vương triều đang cạn kiệt.

    Năm 1181, Bảo Quốc Vương Long Xưởng, thái tử bị phế vì tội tư thông với cung phi trước đây, dẫn đám gia nô đi cướp bóc. Cùng năm đó có nạn đói lớn, “dân chết gần một nửa”. Không thấy Toàn Thư nhắc gì về lý do của nạn đói. Việt Sử Lược chỉ có vỏn vẹn một câu, “Đầu mùa thu lụt lội, nước tràn vào điện Vĩnh Quang và điện Hội Tiên”. Lụt lội vẫn thường xảy ra, vài năm một lần. Nhưng để dân đói kém đến mức “chết gần một nửa” thì phải chắc hẳn phải có những nguyên nhân khác. Mười năm trước đó cũng không thấy vua cho xây dựng đền đài, chùa chiền gì đến mức phải gây ra đói kém. Có điều gì đang xảy ra với các thế lực quyền lực ở địa phương. Cướp bóc càng lúc càng nhiều. Năm 1182, Thượng tướng Ngô Lý Tín phải dân quân đi bắt cướp.

    Năm 1184, làng Tư Nông, Trịnh, Ô Mễ nổi loạn. Thái phó Vương Nhân Từ đưa quân đi dẹp và bị đánh bại ở La Ao. Vương Nhân Từ chạy về núi An Cối và bị vây giết. Việt Sử Lược ghi, “Vua sai Thái phó Vương Nhân Từ đánh dẹp”. Nhưng Cao Tông lúc đó mới 11 tuổi. Cái lệnh sai vị Thái phó họ Vương đi dẹp loạn chắc chắn là từ hai chị em Đỗ Thái hậu. Sức mạnh quân sự của vương triều lần đầu tiên bị thách thức bởi các thế lực địa phương. (Năm sau, Kiến Ninh Vương Lý Long Ích dẫn 12 ngàn quân đi báo thù trận La Ao, bắt và dùng gậy đánh chết thủ lĩnh Đinh Võ rồi “đem phơi khô cái thịt bọn ấy”(VSL)).

    Năm 1189, Thái phó Ngô Lý Tín, lúc này, sau khi Đỗ An Thuận chết, đã giữ chức phụ chính, cùng Đô quan lang trung Lê Năng Trường xét xử một vụ kiện tụng liên quan đến Thiếu sư Mạc Hiển Ích. Thiếu sư họ Mạc có quan hệ tư thông với thái hậu nên quan thần rất sợ ông. Quan thái phó phụ chính và quan đô lang trung cũng không dám đụng đến. Dân chế giễu: Ngô Phụ quốc thị lan, Lê Đô quan thị kích. Sử gia Tạ Chí Đại Trường diễn nôm, “Ngô Phụ quốc là lồn, Lê Đô quan là cứt”.

    Năm 1088 Đỗ An Thuận chết. Hai năm sau, chị là Thái hậu Chiếu Thiên chết. Hai chi em họ Đỗ ra khỏi chính trường. Lúc đó Vua Cao Tông 17 tuổi. Quan phụ chính lần lượt là Ngô Lý Tín, và khi Lý Tín chết Đàm Dĩ Mông lên thay.

    Năm 1192, Thủ lĩnh Lê Vãn ở giáp Cổ Hoành, Thanh Hóa, nổi loạn. Thái phó Đàm Dĩ Mông đi đánh dẹp. Cùng năm đó, Hồ Điệp ở châu Diễn nổi loạn. Đàm Dĩ Mông lại phải đưa quân đi đánh. Hai năm sau, 1094, Thủ lĩnh Hà Lê ở châu Chân Đăng nổi loạn. Đàm Dĩ Mông đi đánh và bắt được.

    Đến đây, xã hội đã có dấu hiệu rối loạn. Tầng lớp tăng đồ, chổ dựa của vương tộc ở các chùa chiền được xây bằng tiền bạc của vương triều khắp nơi ở các địa phương, suy thoái và trở thành gánh nặng. Năm 1198, Thái phó Đàm Dĩ Mông tâu với vua, “Bọn tăng đồ tự kết làm bè đảng, lập càn người lên làm chủ, tụ họp thành từng nhóm làm nhiều việc dơ bẩn. Hoặc ở giới trường, tịnh xá thì công khai ăn thịt, uống rượu. Hoặc nơi thiền phòng, tịnh viện thì kín đáo tự gian dâm với nhau. Ban ngày thì ẩn núp, ban đêm thì làm như chồn như chuột” (VSL). Vua cho giữ lại vài chục người làm tăng, số còn lại cho hoàn tục.

    Tháng 10, năm 1202, Vua Cao Tông đi chơi ở cung Hải Thanh, nghe gãy đàn Bà Lỗ và nhạc Chiêm Thành, Tăng phó Nguyễn Thường can gián, “Tôi thấy lời tự trong Kinh Thi rằng, âm thanh lúc nước loạn thì ai oán, để tỏ ý căm giận cái chính trị bạo ngược; âm thanh hồi nước mất thì đau thương, để tỏ ý lo cho dân trong cảnh khốn cùng cơ cực. Nay chúa thượng đi tuần du không có chừng mực, chế độ chính trị và việc giáo hoá thì trái ngược, dân chúng ở dưới thì sầu khổ. Sự nguy khốn đến thế thì thật là tột mức, mà ngày nay nghe cái âm thanh ai oán thì không phải đó là cái điềm loạn ly vong quốc hay sao?” (VSL). Sử gia Tạ Chí Đại Trường bình, “đó là cảm ứng của giai đoạn suy tàn chứ nền nhạc, tiếng hát kia vốn đã được đặt ra, biểu diễn theo âm khúc của kẻ bại trận vào thời ông vua quyền uy Thánh Tông (1060) mà không thấy điềm ứng triệu mất nước đâu cả”.

    Cái cảm ứng của quan Tăng phó Nguyễn Thường phản ảnh thực tại xã hội u ám, báo hiệu một thời loạn lạc đang đến và sự sụp đổ không tránh khỏi của vương triều. Nhưng phải đến năm năm sau, 1207, Vua Cao Tông mới tỉnh ngộ để ra cái chiếu chỉ muộn màng “Trẫm xin cải hối, Trẫm tự sửa chữa lỗi lầm để về sống cùng với dân”.

    Cái cơ chế thân tộc hóa làm suy thoái vương triều trang bị cho các cơ quan quyền lực của nhà nước một lực lượng quan chức bất tài. Năm 1204, Đại Hoàng, quê hương của Đinh Bộ Lĩnh, nổi loạn. Vua sai quan Thái bảo phụ quốc Đỗ Kính Tu đi dẹp loạn. Kính Tu sợ, chỉ dẫn quân tiến đánh các đạo chung quanh rồi dâng thư nói dối là binh lính bịnh do thời tiết nóng và đã cạn lương thực. Vua cho triệu quân về. Vua sai quan Nội hầu Đỗ Anh Doãn đi đánh. Doãn đánh không thắng, lại kéo quân về. Năm sau, đến lượt Đàm Dĩ Mông, quan phụ chính vương triều cũng bị Thủ lĩnh Đại Hoàng là Phí Lang đánh bại.

    Quan Thượng thẩm phụng ngự Phạm Du, năm trước nhận tiền hối lộ của thế lực họ Đoàn ở châu Hồng để xin vua rút quân của Đàm Dĩ Mông về không đánh, năm sau làm Tri châu Nghệ An xin vua cho lập đội quân riêng rồi tụ tập đám du thủ du thực chia nhau đi cướp bóc. Cũng chính Phạm Du vì hiềm khích đã giết chết một quan Thượng thẩm phụng ngự khác là Phạm Bỉnh Di để gây nên cái họa Quách Bốc, đẩy Vương tử Sảm về Hải Ấp của cha con họ Trần.

    Như là để biểu thị quyền uy của vương triều, Vua Cao Tông cho xây dựng các cung điện. Việt Sử Lược bình, “kiến trúc đẹp đẽ này xưa chưa có”. Có lẽ cảm thấy ngân khố nhà nước không đủ để đương đầu với các thế lực nổi loạn, trang trải các chi phí xây dựng cung điện và đời sống xa hoa, Vua Cao Tông cho bán các chức quan buôn ngục. Việt Sử Lược ghi, “kho đụn nhà nước thì tiền của chất chứa như núi mà trăm họ thì than thở oán trách, giặc cướp nổi lên như ong”.

    Đến lúc này, chừng như cảm nhận được mối nguy đến sinh mạng của vương tộc trước sự bất mãn và oán giận của dân chúng và sự uy hiếp của các thế lực địa phương, Vua Cao Tông xuống chiếu bày tỏ sự ân hận về những sai lầm của mình, lời lẽ thống thiết. "Trẫm đang lúc còn nhỏ mà phải gánh vác cái sự nghiệp lớn lao, ở chỗ kín tầng sâu xa mà không biết được những việc gian khổ của dân, lại tin dùng lời tâu rỗi của kẻ tiểu nhân để rước lấy sự oán trách của lớp người ở dưới. Nhân dân đã đều oán trách, Trẫm sẽ trông cậy vào ai? Bây giờ, Trẫm xin cải hối, Trẫm tự sửa chữa lỗi lầm để bắt đầu sống cùng với dân. Những người có đất đai, sản nghiệp bị mất về tay các quan thì được trả lại tất cả” (VSL).

    Lời thề nguyền về lại với dân của Vua Cao Tông đến quá trễ. Năm sau lại có nạn đói, “người chết nằm gối lên nhau” (VSL).

    Ở thời điểm này của tiến trình suy thoái, những cá nhân kiệt xuất của Đại Việt đều đã ở ngoài các cơ cấu quyền lực của nhà nước. Họ đang bận rộn gầy dựng thế lực của họ ở địa phương và đem quân đi cướp bóc khắp nơi. Quyền lực của chính quyền trung ương hoàn toàn bất lực đối với họ. Chính sử coi họ là loạn nhưng vương tộc nhanh chóng thấy mình phải dựa vào quyền thế của họ để tồn tại, và rồi cũng phải giao lại vương quyền cho thế lực mạnh nhất trong đám họ.

    Họ là ai?

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi