Trần Minh Khôi - Sự suy thoái chính trị và trường hợp của Vương tộc Lý (I)

  • Bởi Admin
    06/02/2012
    0 phản hồi

    Trần Minh Khôi

    (Bản thảo, tiếp theo loạt bài Sự suy thoái chính trị và lối thoát của Đảng Cộng sản Việt Nam)

    Năm Trị Bình Long Ứng thứ 3, Đinh Mão, 1207, Vua Lý Cao Tông xuống chiếu, xin hối lỗi vì đã nghe lời gian nịnh gây ra bất công và oán hờn nơi dân chúng. Vua hứa sẽ chỉnh đốn những sai lầm và về lại với dân. Việt Sử Lược viết, “Những người có đất đai, sản nghiệp bị mất về tay các quan thì được trả lại tất cả”.

    Nhưng đã quá trễ.

    Sự suy thoái chính trị, bắt đầu từ vài thập niên trước đó, đã làm mục ruỗng các cơ cấu quyền lực của vương triều trên mức có thể cứu vãn được. Hai mươi năm cuối cùng của vương triều này chứng kiến cảnh quan quyền nhũng nhiễu, mua quan bán chức, các thế lực đặc quyền nổi dậy thách thức quyền lực trung ương, gây nên cướp bóc loạn lạc. Khi Vương tử Sảm, con Vua Lý Cao Tông, chạy loạn Quách Bốc về Hải Ấp nương nhờ quyền thế của Trần Lý, rồi lấy con gái của ông ta, dọn đường cho hai con trai của Trần Lý là Trần Thừa và Trần Tự Khánh vào chính trường, thì số phận của Vương tộc Lý coi như đã được định đoạt. Việc Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, con trai của Trần Thừa, cháu nội Trần Lý, chỉ còn là vấn đề hợp thức hóa một thực tại quyền lực mới của Đại Việt.

    Như đã nói ở (các notes) trên, sự suy thoái chính trị của các vương triều bắt đầu từ một tiến trình mà ở đó các vị trí công quyền của nhà nước được xếp đặt bởi các quan hệ nội thân, hoặc bằng việc mua bán, chứ không bằng các định chế tuyển chọn nhân sự. Fukuyama gọi tiến trình này là tiến trình tái thân tộc hóa. Nó tạo nên những thế lực đặc quyền ràng buộc nhau bằng quyền lợi. Các thế lực đặc quyền này dùng quyền lực đang có để duy trì các định chế có lợi cho họ và ngăn cản sự chuyển hóa các định chế xã hội theo hướng phát triển, đưa đến sụp đổ.

    Sự chính đáng chính trị của một thế lực cầm quyền trước hết được đặt trên một số ý niệm về công lý. Ở mức độ quảng chúng nhất, những ý niệm công lý này chứa đựng nội dung của tính công bằng về các cơ hội tiến thân trong các cơ cấu quyền lực nhà nước. Một vương triều được coi là chính đáng khi nó tạo được ấn tượng về những ý niệm công lý như thế. Sự thân tộc hóa làm phá sản tính chính đáng này. Sự sụp đổ của các định chế và sự thiếu tính chính đáng của quyền lực là hai mặt của tiến trình suy thoái chính trị. Nó đang xảy ra với Đảng tộc đang cầm quyền hiện nay, cũng như nó đã xảy ra với Vương tộc Lý một ngàn năm trước.

    Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân và thiết lập nên quân chủ đầu tiên của Đại Việt nhưng ông không phá bỏ được các thế lực chính trị vùng miền đã tồn tại hàng trăm năm trước đó từ thời Bắc thuộc. (Phải đợi hơn 400 năm sau, khi Nhà Minh đô hộ, thì các thế lực vùng miền này mới thật sự bị phá bỏ. Chế độ quân chủ phong kiến sụp đổ nhường chỗ cho chế độ quân chủ tập quyền của Nhà Hậu Lê). Hai vương triều Đinh, Lê ngắn ngủi trong 43 năm kế tiếp đã cố gắng xây dựng một cơ chế nhà nước trung ương, đặt các hệ thống quan lại và kỷ cương mô phỏng theo khuôn mẫu của các triều đình phương Bắc. Nhưng quan hệ quyền lực trên thực tế vẫn dựa trên các quan hệ phụ dung (vassalage) giữa các thế lực vùng miền. Các thế lực công, hầu, bá ở các địa phương trông đợi ở thế lực vương tộc sự bảo hộ cho quyền lực và quyền lợi cát cứ của họ. Khi họ cảm thấy thế lực vương tộc không còn có khả năng này thì họ nhanh chóng ủng hộ một thế lực khác hoặc tự họ, nếu đủ mạnh, thu tóm quyền lực nhà nước, như trường hợp Trần Tự Khánh mở đầu cho Vương tộc Trần sau này. Khi Thái hậu Dương Vân Nga sai thủ lĩnh Nam Sách là Phạm Cự Lạng làm đại tướng để chuẩn bị đánh Tống thì Phạm Cự Lạng đã vào thẳng trong cung, “Nay chúa thượng còn nhỏ dại chưa hiểu biết được sự siêng năng, khó nhọc của bọn chúng tôi. Nếu như có một thước tấc công lao nào thì rồi ai biết cho. Không bằng cái cách là trước Thập Đạo Tướng Quân lên ngôi Thiên Tử rồi sau mới ra quân" (VSL). Điện tiền chỉ huy sứ Lê Hoàn lên ngôi. Khi Lê Ngọa Triều mất, con nối ngôi còn nhỏ, quan Chi hậu Đào Cam Mộc bàn với quần thần, “Bọn chúng ta không nhân lúc này mà lập Thân Vệ làm Thiên tử rồi bất chợt có biến thì còn giữ được người thủ lãnh không?" (VSL). Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi. Sấm kệ của Vạn Hạnh chỉ đóng vai trò của một công cụ tuyên truyền để thiết lập tính chính đáng ban đầu cho thế lực của mình mà thôi.

    Cơ sở quyền lực của nhà nước Đại Việt của Lý Thái Tổ vẫn dựa trên mối quan hệ cân bằng giữa thế lực trung ương của “hoàng đế điền chủ” (chữ của Tạ Chí Đại Trường) và thế lực địa phương của các gia tộc điền chủ. “Hoàng đế điền chủ” thiết lập tính chính đáng lãnh đạo trên các thế lực khác bằng hai cách: i) dùng quyền lực quân sự để một mặt đè bẹp các thế lực chống đối mặt khác che chở các thế lực yếu hơn trong quan hệ phụ dung (vassalage), và ii) thiết lập một định chế có tính công lý cho việc thưởng phạt và hình luật như ban phát chức tước và quan hệ hôn nhân, một mặt cũng để củng cố quan hệ với các thế lực địa phương, và ban hành hình luật chung. Ngược lại các thế lực điền chủ địa phương chấp nhận vai trò bảo hộ và thường xuyên triều cống cho “hoàng đế điền chủ”. Những điền chủ, thủ lĩnh, lãnh chúa có công với vương triều được ban các tước công, hầu, bá và thăng quan tiến chức trong cơ chế nhà nước. (Tô Hiến Thành là trường hợp ngoại lệ được ban tước vương, một chức tước chỉ ban cho người của vương tộc, vì phải trông coi ấu chúa.) Đây là hai định chế quan trọng nhất cho sự ổn vững của quyền cai trị của vương triều. Việc xây dựng chùa chiền, đền đài, thành quách ở những đời vua đầu khi vương triều đang lên được coi là biểu hiện của quyền uy nhưng từ đời Vua Anh Tông trở đi khi vương triều suy thoái lại chính là nguyên nhân đưa đến sự bất mãn trong xã hội, gây nên đói kém, loạn lạc.

    Trong 5 năm đầu ở ngôi, Lý Thái Tổ phải tự mình đưa quân đi chinh phạt các thế lực chưa qui phục ở vùng biên châu Ái, châu Diễn. Từ năm 1014 trở đi, vua sai Dực Thánh Vương, Khai Quốc Vương, hoặc chính Thái tử Lý Phật Mã đi dẹp loạn. Làm vua 20 năm, 9 năm Lý Thái Tổ phải đương đầu với các thế lực chống đối địa phương.

    Khi Lý Thái Tông nối ngôi, năm 1028, thì quyền lực của vương triều vẫn chưa ổn vững. Việc tranh giành quyền bính xảy ra trong nội bộ vương tộc. Dực Thánh Vương, Võ Đức Vương muốn giết Thái tử Phật Mã. Khai Quốc Vương làm phản ở Trường An. Liên tục các năm 1029, 1031, 1033, 1035, 1036, 1037, 1039 các thế lực địa phương nổi lên ở châu Ái, châu Hoan, châu Định Nguyên, châu Trệ Nguyên, rồi châu Ái, châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, Quảng Nguyên (Nùng Trí Cao). Năm 1042 châu Giao nổi loạn. Năm 1043, châu Ái lại nổi loạn. Lý Thái Tông ở ngôi 26 năm, 15 năm có loạn. Nhiều lần chính vua phải tự đem quân đi chinh phạt.

    Số lượng những cuộc nổi loạn của các thế lực địa phương giảm đi trong hai đời vua kế tiếp. Đến đây, hơn nửa thế kỷ từ khi Lý Thái Tổ thiết lập vương triều, Vương tộc Lý mới thật sự khẳng định quyền lực của mình. Lý Thánh Tông ở ngôi 19 năm nhưng chỉ phải đương đầu với bốn cuộc phản loạn ở vùng biên vào các năm 1057, 1061, 1064, và 1065. Lý Nhân Tông, với chiến thắng Ung Ninh trên đất Tống năm 1074 và cuộc đại phá quân Tống hai năm sau đó trên sông Như Nguyệt, cả hai dưới sự lãnh đạo của Thái úy Lý Thường Kiệt, thuộc dòng họ Quách, đạt đến đỉnh cao của sự thịnh trị của vương triều. Ngoài cuộc tạo phản của quan Chi hậu hoằng Nguyễn Ba Tư, năm 1082, âm mưu đảo chính của Thái sư Lê VănThịnh, năm 1096, và âm mưu phản nghịch của Tô Hậu và Kỷ Sùng năm 1109, trong 56 năm làm vua, Lý Nhân Tông chỉ đối đầu với hai cuộc nổi loạn ở Động Sa Ma, năm 1083 và 1119. Chiến thắng quân Tống năm 1076 đã đem lại cho Vương tộc Lý sự chính đáng chính trị đủ để khuất phục các thế lực chống đối địa phương.

    Mười năm tại ngôi của Lý Thần Tông, 1127-1137, không chứng kiến một cuộc nổi loạn nào. Sự ổn định chính trị này kéo dài đến giữa đời Vua Lý Anh Tông. Năm 1148, khi Phò mã Dương Tự Minh, thủ lĩnh châu Phú Lương, và quan Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái đem quân đến ngoài cửa Việt Thành đòi lấy mạng quan Thái úy Phụ chánh Đỗ Anh Vũ, tình nhân của Thái hậu Cảm Thánh, thì tiến trình suy thoái chính trị của Vương tộc Lý đã bắt đầu.

    Thái úy Đỗ Anh Vũ là ai?

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi