Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 6)

  • Bởi Admin
    04/01/2012
    0 phản hồi

    Andreas Lorenz<br />
    Ba Cơ dịch

    Chương IV: "Ảnh hưởng to lớn hơn"

    Trung Quốc thay đổi chính sách ngoại giao

    Ở cạnh đường vành đai thứ hai của Bắc Kinh có một ngôi nhà to màu xám, phồng ra bên ngoài như một pháo đài. Cảnh sát của Quân đội Giải phóng Nhân dân đứng gác ở phía ngoài, những người nữ hầu bàn trong bộ quần áo đỏ và đen phục vụ trà cho khách ở bên trong, chúng tôi đang ở trong Bộ Ngoại giao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa.

    Trong phòng làm việc của họ, các nhà ngoại giao Trung Quốc tường thuật, tất cả đều giản dị: thiếu nhân sự. Trong Phòng Báo chí, chịu trách nhiệm cho nhà báo nước ngoài, không có nữ thư ký và cũng không có người đưa thư. Vì thế mà các cán bộ phải tự gửi fax và sao chụp và nhiều nhất là chỉ có thể những giao việc đấy về cho lớp cán bộ trẻ.

    Sau thời gian học tập này, các nhà ngoại giao Trung Quốc không được gửi ra nước ngoài mà là về làng mạc và thành phố Trung Quốc. Ở đấy, như là phó chủ tịch hay phó bí thư, họ cần phải thu thập kinh nghiệm trong cuộc sống thường ngày của đất nước mà rồi sau này họ phải đại diện cho nó một cách đáng tin cậy ở bên ngoài.

    Diêm Học Thông thuộc vào trong số các nhà khoa học và chuyên gia về chính sách ngoại giao nổi tiếng nhất. Ông là nơi đến cho nhân viên các đại sứ quán và nhà báo nước ngoài, những người để cho ông giải thích về chính sách của Bắc Kinh. Ông nói tiếng Anh tốt, ngồi trên một chiếc ghế màu tím trong một phòng tiếp khách của Đại học Thanh Hoa ở Đông-Bắc của Bắc Kinh và trình bày về tương lai của châu Á vào một ngày mùa đông lạnh lẽo.

    Ông không muốn nói về một châu lục đang vươn lên trong ý nghĩa của một sức mạnh chung. Không, ông nói, nhiều nước châu Á tuy tăng trưởng về kinh tế nhưng người ta không thể nào nhìn châu lục này như một cái gì đó thuần nhất, cái dịch chuyển trọng lượng của thế giới. Đó là Trung Quốc thì nhiều hơn, nước kéo châu Á lên cùng với nó. Trong vòng 20 năm tới đây, ông ấy nói, thế giới sẽ trở nên đa cực, tức là sẽ không còn chỉ một quyền lực, USA, là quyết định sự việc xảy ra. Chỉ Trung Quốc là có một cơ hội đến gần được với siêu cường Mỹ – “nước Nga không, Ấn Độ không, Brazil không”.

    Diêm Học Thông được xem như là tiếng nói của những người mà ngay từ bây giờ đã yêu cầu chính phủ hãy xuất hiện tích cực hơn nữa ra bên ngoài. Quyền lực kinh tế và sự hiện diện của đất nước trên thế giới phải hòa hợp với nhau, ông ấy nói. Hơn 30 năm nay, các nhà ngoại giao Trung Quốc đã tuân theo những câu châm ngôn cho chính sách ngoại giao Trung Quốc của trưởng lão ĐCS qua đời năm 1997 Đặng Tiểu Bình, “điềm tỉnh, điềm tỉnh, điềm tỉnh cúi đầu xuống và làm xong việc riêng của chúng ta.”

    Có ba nguyên tắc dẫn dắt ngoại giao Trung Quốc, những nguyên tắc mà Wu Jianming, cựu đại sứ và bây giờ là giáo sư tại Đại học Ngoại giao, trường đại học riêng của bộ, mô tả như sau: “không bành trướng, không bá quyền và không liên minh”. Trung Quốc sẽ không bước theo dấu chân của các thế lực thực dân, không hướng đến sự thống trị, vì những thế lực như thế trong quá khứ đã thất bại và liên minh có thể khiến cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới xẩy ra.[1]

    Hai năm sau đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dương Khiết Trì đã quả quyết ở Hội nghị An ninh München năm 2010 trước những thính giả đang nghi ngại rằng “một Trung Quốc phát triển” không cần phải làm cho họ lo ngại, đó “không phải là một mối đe dọa, mà là một cơ hội”. Đối với các nước khác, Trung Quốc sẽ “tiếp tục đối xử bình đẳng. Trung Quốc sẽ không bao giờ ép buộc ý muốn riêng của mình lên các nước khác. Thời gian mà một hay hai nước quyết định cho cả thế giới đã qua từ lâu rồi. Chúng tôi luôn luôn ủng hộ cho việc tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều là thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế.”[2]

    Tám tháng sau đó trong hội nghị ASEAN ở Hà Nội, Dương không còn muốn biết gì về những lời nói nhẹ nhàng của mình nữa: trong một thảo luận về những vùng lãnh thổ đang bị tranh cãi trong Biển Đông, ông lưu ý các láng giềng: “Các anh hãy nhớ rằng sự thịnh vượng của các anh phụ thuộc vào chúng tôi cho đến đâu.” Và: “Trung Quốc là một nước lớn, và các nước khác là nước nhỏ, và đó là một sự thật.” Trong các thủ đô ở Đông Nam Á, lời nói bóng gió này đã được chú ý ghi nhận.[3]

    “Chúng ta cần một Vạn Lý Trường Thành”

    Nhà ngoại giao và nhân viên ngân hàng Trung Quốc bây giờ cùng ngồi cạnh bàn hội nghị của các tổ chức tài chính quốc tế – trong Ngân hàng Thế giới hay trong IMF ở Washington –, và họ có một mục đích: các tổ chức được tạo ra sau Đệ nhị thế chiến này cần phải bước ra khỏi con đường mòn của chúng. Vì hệ thống tài chính thông thường, Trung Quốc cho là như thế – và cả Ấn Độ nữa – ưu tiên cho các quốc gia công nghiệp và gây bất lợi cho “các nước năng động sắp trở thành nước công nghiệp” và họ tự xếp họ vào trong đó. Thêm vào đó, trong thời gian của cuộc khủng hoảng châu Á 1997 IMF đã tạo nhiều đau khổ cho các nạn nhân của cuộc khủng hoảng.

    Điều đấy không phải là đơn giản. Nhờ sức mạnh kinh tế mà USA vẫn còn chiếm tỷ lệ phiếu 17,77% trong IMF mà với nó họ có thể ngăn chận tất cả các quyết định quan trọng. Nhưng Trung Quốc hiện nay, theo một nghị quyết của các nước G-20 năm 2010, đã nhích lên đến vị trí thứ ba, bây giờ nước này gửi một nhân viên cao cấp của Ngân hàng Trung ương vào nhóm đứng đầu của IMF.[4]

    “Chúng tôi có ý định sẽ bảo vệ tỷ lệ phiếu của những nước nghèo nhất”, sếp Ngân hàng Trung Ương Bắc Kinh Châu Tiểu Xuyên nói. Ngoài ra, Bắc Kinh muốn chấm dứt những cuộc thỏa thuận ngầm về nhân sự của các nước công nghiệp phương Tây. Nằm trong tầm nhìn trước hết là người Mỹ, những người đang thống trị IMF. Châu: “Ban giám đốc của Quỹ cần phải được bầu chọn qua một quá trình cởi mở, minh bạch và dựa trên công lao cống hiến”.[5]

    Một nước cờ đẹp của một đảng mà luôn luôn giải quyết chuyện nhân sự riêng của mình ở phía sau những cánh cửa đóng kín. Chính phủ Trung Quốc kêu gọi IMF không chỉ xem xét tỉ mỉ ngân sách của những nước nghèo như một nhà kiểm toán khó tính mà cả ngân sách của các quốc gia công nghiệp nữa. Cuối cùng thì những nước này với “chính sách về ngân sách, tiền tệ và tài chính không thích đáng đã gây thiệt hại trong tăng trưởng kinh tế, trong tỷ lệ người có việc làm, ở thương mại và ở hệ thống tiền tệ quốc tế nhiều hơn” là các nước khác, chuyên gia tài chính Trung Quốc nói: “Sự kiểm soát phải công bằng và như nhau. Các quy định phải được viết mới lại.”

    Tuy vậy, khi sếp IMF Dominique Strauss-Kahn phải từ chức trong tháng 5 năm 2011 do bị lên án vì áp phe tình dục ở New York, các nước châu Á đã không nắm cơ hội này mà đưa ra một ứng cử viên riêng – hay cùng nhau ủng hộ một ứng cử viên. Ít ra thì người nữ kế nghiệp Strauss-Kahn, nữ Bộ trưởng Bộ Tài chính Pháp Christine Lagarde, đã không còn có thể phớt lờ những người châu Á được nữa: trong thời gian kêu gọi ủng hộ cho lần ứng cử của mình, bà đã sang New Delhi và Bắc Kinh – và cuối cùng thì những người của Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh cũng đã ưng thuận.

    Ngân hàng thế giới, có nhiệm vụ chống nghèo trước hết là bằng cách cho vay, bây giờ được một người Trung Quốc cùng dẫn dắt: Lâm Nghị Phu, một nhà kinh tế Mác xít, người học đại học ở Đài Loan và Chicago và ngoài ra thì cũng đã có một lý lịch hấp dẫn. Trong tháng 5 năm 1979, người nguyên là đại úy của quân đội Đài Loan đã bơi từ đảo Kim Môn (Quemoy) vượt biển sang Hạ Môn vào nước Cộng hòa Nhân dân. Người đào ngũ để lại vợ và con gái. Theo như ông ấy giải thích sau này, ông muốn trở về với “nước mẹ Trung Hoa”.

    Là Phó Tổng giám đốc và là kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới, ông ấy muốn giật lấy mái chèo. Bắt đầu từ bây giờ, các quốc gia có hạ tầng cơ sở yếu kém không còn phải bị ép buộc thực hiện những cải cách tân tự do chủ nghĩa theo kiểu “Chúng tôi có giải pháp cho vấn đề của bạn” nữa. Ông ấy đã đưa ra một phương án, cái mà ông ấy gọi là “Kinh tế học cấu trúc mới” (NSE). Diễn đạt một cách đơn giản, nó nói rằng: khi các nước muốn giải phóng mình ra khỏi sự nghèo khổ thì họ cần phải đi theo con đường của Trung Quốc sau năm 1978, dùng “lợi thế của sự tụt hậu” và hướng đến những kinh nghiệm và chiến lược của những quốc gia thành công, những quốc gia mà vào lúc ban đầu cũng có những điều kiện tương tự như chính họ. Các chính phủ đấy phải hỗ trợ cho những “doanh nghiệp tiên phong” có nhiều hứa hẹn bằng cách ưu đãi thuế và cho vay. Thêm vào đấy, Lâm khuyến khích những nước có hạ tầng cơ sở yếu kém hãy xây dựng những vùng kinh tế đặc biệt – mà Trung Quốc cũng đã thành công với chúng.

    Năm 2009, Trung Quốc tham gia Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng và Ủy ban Ổn định Tài chính. Cả hai ủy ban đều cần phải giám sát giám đốc của các ngân hàng và quỹ phòng vệ, để họ đừng lại tạo ra những gói tài chính đáng ngờ đã chịu một phần trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng tài chính khắp thế giới năm 2008. “Chúng ta cần một Vạn Lý Trường Thành để giữ an toàn cho chúng ta”, Lưu Minh Khang nói, sếp cơ quan điều tiết ngân hàng của Trung Quốc. Vì thế mà ông ấy đưa ra một hiệp định quốc tế, để cải tiến “hệ thống điều tiết không hoạt động”.[6]

    Hẳn là dưới áp lực của Trung Quốc mà IMF đã giảm nhẹ các quy định nghiêm ngặt của mình: “Chúng ta đã dịch chuyển theo hướng của những điều kiện ít khắt khe hơn”, phó IMF John Lipsky nói. “Chúng ta chỉ tập trung vào các biện pháp cốt lõi, những biện pháp không thể thiếu được cho ổn định, tăng trưởng và chống nghèo. Các khoản cho vay của chúng ta không còn bao gồm những quy định bắt buộc cho những biện pháp về cấu trúc mà có một tính mềm dẽo lớn hơn…”[7]

    Thế nhưng các tổ chức phi chính phủ châu Á lại nghi ngại: mặc dù IMF quả quyết rằng các nước có thể nhận được tiền dễ dàng hơn ngày xưa, nhưng nhân viên của Ngân hàng vẫn tiếp tục đặt ra những điều kiện mà theo quan điểm của Bhumika Muchhala của Third World Network ở Malaysia là khó mà đáp ứng được: “Các khoản cho vay chống khủng hoảng của Quỹ vẫn còn bao gồm những điều kiện cũ, cắt giảm bớt chi tiêu công, giảm thâm hụt và tăng lãi suất – việc hoàn toàn ngược lại với chính sách kích thích mở rộng của các nước G-20.”[8]

    Các nhà kinh tế nhà nước của Trung Quốc còn nhắm đến một mục đích nữa: đến một ngày nào đó họ muốn thay thế đồng dollar như tiền tệ dự trữ quốc tế. Nó không còn hợp thời nữa, họ nói. Sếp Ngân hàng Trung ương Châu kêu gọi ủng hộ cho một tiển tệ nhân tạo: quyền rút vốn đặc biệt của IMF, cái dựa trên một giỏ tiền tệ.

    Chúng ta hãy tạm thời quay lưng lại với thế giới của nhân hàng và thị trường chứng khoán, của các thị trường tài chính và quỹ đầu tư và hãy nhìn xem các nhà ngoại giao Trung Quốc làm gì ở những nơi khác. Ví dụ như họ đã đưa ra sáng kiến của một tổ chức đa phương – Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SOZ). Để giải quyết cuộc tranh cãi về chương trình hạt nhân của Triều Tiên, từ tháng 8 năm 2003 họ tổ chức những cuộc đàm thoại sáu bên trong nhà khách quốc gia ở phía Tây của Bắc Kinh với Triều Tiên và Hàn Quốc, Nhật, Nga và USA. Mục đích: một bán đảo Triều Tiên không có vũ khí nguyên tử. Cho đến nay chúng không thành công. Vào thời gian chuyển tiếp 2010/2011, các vòng đàm thoại đã đi đến chỗ bế tắc.

    Không thể không nhìn thấy: các nhà ngoại giao, giới quân đội và đại diện của các công ty ngoại thương nhà nước của Trung Quốc hiện xuất hiện khắp nơi trên thế giới, đặc biệt như là những người cùng cạnh tranh trong cuộc chạy đua vì nguyên liệu và thị trường. Bắt đầu từ khi nhậm chức năm 2003, sếp nhà nước và Đảng Hồ đã đi qua tất cả các châu lục, cho tới nay không một lãnh tụ Trung Quốc nào mà đi lại trên thế giới nhiều như ông ấy.

    Từ 2008 hải quân gửi tàu chiến vào Vịnh Aden, có nhiệm vụ bảo vệ tàu chở hàng trước hải tặc Somalia. Đầu năm 2011, khu trục hạm “Xuzhou” đã đến Lybia để sơ tán hàng nghìn công nhân Trung Quốc. Đã từ lâu, Trung Quốc gửi đi nhiều lính mũ xanh hơn là USA, Liên hiệp Anh và Nga cộng lại, ngoài những nơi khác là đến Sudan, Congo, Libanon, Liberia và Haiti.[9]

    Tuy nhiên, gần đây các nhà ngoại giao Trung Quốc đã phớt lờ nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp” của họ, như ví dụ Lybia cho thấy. Trong Hội đồng Bảo an LHQ, vào tháng 3 năm 2001, Bắc Kinh đã không bỏ phiếu chống Nghị quyết 1973, cái trao quyền cho NATO được phép bắn hạ chiến đấu cơ của Lybia trong lúc hoạt động chống lại lực lượng nỗi dậy – Bắc Kinh bỏ phiếu trắng. Và cuối cùng Bắc Kinh còn tiếp túc trực tiếp với những người đối đầu với chính phủ của đại tá Muammar Gaddhafi.

    Rõ ràng là có ba điều khiến cho người Trung Quốc phải quẳng đi những nguyên tắc của họ: họ lo sợ cho các dự án có giá trị trên 18 tỉ dollar của họ, những dự án mà họ đã hứa hẹn với người Lybia, họ không muốn chọc giận Liên đoàn Ả Rập và muốn thanh toán một món nợ với Gaddhafi. Đại tá lập dị này đã chọc giận người Bắc Kinh: ví dụ như năm 2006 ông ấy đã mời tổng thống Đài Loan thời đấy, Trần Thủy Biển, sang thăm Lybia. Thêm vào đấy ông ấy chưa từng thấy cần thiết phải viếng thăm Trung Quốc.

    Lôi gậy ra khỏi bị

    Người Mỹ và người Âu chờ đợi ở Trung Quốc nhiều nổ lực hơn nữa, như trong cuộc đấu tranh chống sự nóng ấm lên của khí hậu và họ yêu cầu Bắc Kinh giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống Taliban ở Afghanistan. Cuối cùng thì Trung Quốc có nhiều lợi ích kinh tế ở Hindu Kush, họ lập luận. Như một công ty nhà nước đã thắng cuộc đấu thầu khai thác mỏ đồng Aynak và đã đầu tư 2,8 tỉ dollar vào đấy.[10]

    Cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ và sau đấy là giám đốc Ngân hàng Thế giới, Robert Zoellick, yêu cầu Trung Quốc, cần phải là “một người chung phần có trách nhiệm”. Những điều như thế nghe giống như đạo đức giả không chỉ ở tai của người Trung Quốc. Không phải chính là USA hay sao, kẻ trong quá khứ với bộ tịch cường quốc của họ đã không xuất hiện như “một người chung phần có trách nhiệm”? Chính người Mỹ đã đòi hỏi cho mình quyền bảo vệ bằng mọi phương tiện “việc tự do tiếp cận những thị trường chìa khóa, nguồn năng lượng và nguồn tài nguyên chiến lược” – nếu cần thì với GIs.[11]

    Chính là kẻ gây ô nhiễm môi trường USA, kẻ quả quyết rằng mình không thể tham gia Nghị định thư Kyoto, nghị định thư mà nhiều quốc gia muốn qua đó để làm giảm chất độc hại trong không khí. Và: USA hỗ trợ ở Ả Rập một thể chế quốc gia cực kỳ phi dân chủ. Thêm vào đó, USA đã từ chối không công nhận Tòa án Quốc tế ở Den Haag.

    Về mặt khác, các nhà phê bình Trung Quốc cũng đúng khi lên án các chính khách Trung Quốc hưởng lợi từ những thể chế và quy định mà các quốc gia công nghiệp truyền thống đã tạo ra cho thương mại thế giới và cuộc chung sống của các quốc gia – và chẳng cần phải làm gì cho việc đấy cả. Mặc cho sức mạnh kinh tế của mình, Bắc Kinh không thuộc vào trong số những người chi tiền nhiều nhất của Liên Hiệp Quốc. “Trung Quốc tiếp tục đi trên con đường tự do của mình và chỉ đóng góp vào cho sự lãnh đạo toàn cầu nhiều như là cần thiết để giảm nhẹ phê phán của phương Tây”, chuyên gia Trung Quốc người Mỹ David Shambaugh.[12]

    Để hiểu được tốt hơn sự phẫn nộ hướng về phía Trung Quốc, chúng ta phải quay trở về chính sách tiền tệ, là một điểm tranh cãi lớn. Bắc Kinh giữ tỷ giá đồng nhân dân tệ thấp nhân tạo để có thể bán rẻ hàng hóa Trung Quốc ra nước ngoài, đó là lời buộc tội người Trung Quốc của nhiều nước. Điều đấy làm cho nước Mỹ mất tròn 1,4 triệu việc làm, người Mỹ nhận Giải Nobel về Kinh tế, Paul Krugman tính toán trong năm 2009.[13]

    Trung Quốc làm điều đấy như thế này. Ngân hàng Trung ương thu lại tiền dollar mà các công ty kiếm được qua bán ra nước ngoài với một tỷ giá cố định và chuyển cho họ thay vào đấy là nhân dân tệ – vừa mới được in ra. Vì thế mà ngân hàng này đã thâu thập được một núi ngoại tệ dự trữ khổng lồ. Cuối tháng 3 năm 2011 là 3,04 nghìn tỷ dollar. Với tiền này, người Trung Quốc mua ngoài những thứ khác là trái phiếu quốc gia của Mỹ – và qua đó là cho người Mỹ vay. Cho tới cuối năm 2010, Trung Quốc đã đầu tư tròn 1160 tỷ dollar vào trái phiếu của Mỹ.

    Nếu như nhân dân tệ có thể được trao đổi tự do thì hệ thống hoạt động như sau: các nhà máy Trung Quốc kiếm được dollar và đổi chúng lấy nhân dân tệ theo tỷ giá tương ứng ở ngân hàng. Họ hỏi mua nhân dân tệ càng nhiều thì nó lại càng đắt, theo những quy luật của thị trường. Hậu quả: một nhà nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ phải dùng nhiều dollar hơn để trả tiền cho hóa đơn của ông ấy ở Trung Quốc, giá cả của hàng hóa Trung Quốc sẽ tăng lên ở nước ngoài.

    Mọi thứ còn tệ hại hơn thế nhiều, Krugman nói, người mà phán xét của ông ấy được nhiều chính khách tán thành, ngoài những người khác là Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Timothy Geithner. Toàn bộ nền kinh tế thế giới có thể tăng trưởng thêm 1,5% nếu như Trung Quốc không chất đống thặng dư thương mại và thặng dư ngoại tệ một cách điên rồ như thế và thay vào đó lại bơm tiền này vào chu trình kinh tế.[14] Vì thế mà người Mỹ cũng như người Âu đều thúc dục người trung Quốc nâng giá nhân dân tệ. trong đó, họ lưu ý đến những hiệp định đang có hiệu lực: khi trở thành thành viên của IMF, Bắc Kinh đã hứa sẽ “tránh không thao túng tiền tệ” và không “can thiệp về lâu dài, một mặt và trong quy mô lớn” để làm giảm giá đồng tiền của mình.[15]

    Chuyên gia người Mỹ tính toán rằng chỉ cần nhân dân tệ tăng tỷ giá 1% trong những năm sắp tới đây thì thặng dư thương mại của Trung Quốc sẽ giảm đi 15 đến 25 tỷ dollar, thâm hụt toàn cầu của Mỹ giảm cho tới sáu tỷ. Nếu tăng tỷ giá tới 20% thì số cộng sẽ teo lại còn 350 đến 500 tỷ dollar và số âm của Mỹ có lẽ sẽ bớt đi 120 tỷ dollar. Tròn 500.000 việc làm có thể sẽ được tạo thêm ở USA.[16]

    Người Trung Quốc phản bác lại. Họ không để cho người khác xen vào chính sách tiền tệ của họ, họ nói như thế, điều đó thuộc “chủ quyền quốc gia”. Thêm vào đó, họ đưa ra để cân nhắc rằng nhân dân tệ đã đắt thêm một phần năm trong những năm vừa qua – và lần tăng tỷ giá chỉ bị làm gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng 2008 do USA gây ra. Nếu tỷ giá hối đoái hoàn toàn tự do thì sẽ có vô số tiền đầu cơ chảy vào Trung Quốc và nền kinh tế Trung Quốc sẽ thiệt hại lớn. Hậu quả là thất nghiệp nhiều hơn, sự ổn định chính trị bị đe dọa. Không ai trên thế giới thích như thế, họ nói, người Mỹ cũng không.

    Và nói chung: ai hưởng lợi nhiều nhất từ Trung Quốc? Doanh nghiệp nước ngoài vào Trung Quốc, tàn phá môi trường, phung phí tài nguyên và thu lợi không biết bao nhiêu là tiền vì đồng lương thấp, như giáo sư tài chính người Hongkong Lang Xianping nói. Ví dụ như một món đồ chơi sản xuất ở Trung Quốc mang lại cho công ty Mỹ Mattel 3,60 dollar lợi nhuận, các nhà sản xuất Trung Quốc nhận được từ đấy nhiều lắm là 1,5 cent – vì “giá nguyên liệu bị kiểm soát bởi Wall Street và giá các sản phẩm cuối bởi những doanh nghiệp như Mattel”.[17] Nhưng trong lời lên án của mình, Lang đã không nhìn thấy một khía cạnh: không có các đầu tư của người nước ngoài, không có công nghệ của họ thì người dân của ông ấy chắc hẳn là đã không đến được nơi họ đang ở đấy ngày hôm nay.

    Lời buộc tội, Trung Quốc với tính ngoan cố và ích kỷ của mình đã làm đảo lộn cơ cấu kinh tế của thế giới, hoàn toàn không phải là được chia sẻ ở khắp nơi trong phương Tây. Cả lời yêu cầu của Krugman có nhiều ảnh hưởng, phải làm áp lực nhiều hơn với người Trung Quốc, và, như ông thường hay diễn đạt, “đánh với cây gậy khúc côn cầu”, cũng không được tiếp nhận tốt – ví dụ như ở nhà kinh tế học có nhiều kinh nghiệm và chuyên gia châu Á Stephen Roach, người làm việc cho ngân hàng đầu tư Morgan Stanley.

    Thật ra thì người ta nên dùng cây gậy đấy đánh người bạn Krugman của ông, ông ấy cho là như thế. Vì nguyên nhân của vấn đề nằm ở bên phía của người Mỹ. Họ cần phải tiêu ít tiền hơn và tiết kiệm nhiều hơn. Rồi họ sẽ có thể tự giải quyết lấy những khó khăn của họ mà không cần phải đổ lỗi cho người khác.[18]

    Nhà sử học người Anh Paul Kennedy cho rằng lời kêu gọi nâng tỷ giá nhân dân tệ chỉ là “đánh nhau với cối xay gió”: vì khi tiền trung Quốc lên giá thì đồng dollar giảm – và “rồi những người mua bán tiền tệ – và, quan trọng hơn, các chính phủ châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh – […] sẽ tách dự trữ ngoại tệ của họ ra khỏi đồng dollar ngày càng rủi ro nhiều hơn”. Nhưng một quốc gia mà không có tiền tệ có giá trị thì sẽ mất quyền lực và ảnh hưởng trên thế giới.[19]

    Những thùng đạn ở trong cát

    Chúng ta hãy rời chính sách tiền tệ và nhìn đến châu Phi. Ở đấy, sự hiện diện của Bắc Kinh đã gây bất an cho người Âu và người Mỹ, đặc biệt là cách thức mà các chính trị gia, nhà ngoại giao, nhà ngoại thương nhà nước và nhân viên kỹ thuật của nó xuất hiện. Bắc Kinh cho nhiều nước vay một cách thuận lợi, xóa nợ, xây đường xá, sân vận động, cầu, nhà máy thủy điện, bệnh viện và cảng, làm mới đường sắt – và qua đó mở rộng ảnh hưởng chính trị của mình. Khi Ngân hàng Thế giới, như năm 2008 ở Tchad, rút lại một khoản tiền cho vay vì nước này không giữ đúng cam kết, hay, như ở Angola, các thương lượng với IMF về giúp đỡ tài chính có nguy cơ thất bại, người trung Quốc nhảy vào thay thế.

    Malawi sở hữu Uranium và một vài loại đất hiếm – nguyên liệu cần thiết để sản xuất linh kiện điện tử. Ở đấy, doanh nghiệp Trung Quốc xây ngôi nhà quốc hội, một khách sạn và một trung tâm hội nghị cũng như một sân vận động. Ngân hàng Xuất Nhập khẩu nhà nước của Trung Quốc cho nước Mozambique giàu than đá vay hai tỷ dollar để xây một đập thủy điện khổng lồ; cảng hàng không và sân vận động quốc gia được sửa chữa bằng tiền Trung Quốc. Doanh nghiệp Trung Quốc hứa hẹn với đất nước này những cuộc kinh doanh có giá trị 13 tỉ dollar cho tới năm 2020.[20] Tuy vậy, giới cạnh tranh không phải là đã ngủ quên: doanh nghiệp Ấn Độ, Malaysia, Hàn Quốc và Brazil cũng đang gắng sức về kinh doanh và giấy phép.

    Việc Trung Quốc tiến vào châu Phi tự nó không phải là đồi bại. Nhưng nó dẫn đến việc ảnh hưởng của Mỹ và châu Âu biến mất dần. Đồng thuận Bắc Kinh – ngoại giao không có điều kiện tiên quyết – xói mòn “khả năng của các chính trị gia Mỹ, lập nên chương trình nghị sự quốc tế, và khả năng của các thể chế tài chính phương Tây, yêu cầu những hình thức chính phủ tốt hơn từ thế giới không phải là phương Tây”, nhà khoa học người Mỹ Stefan Halper nói.[21]

    Trung Quốc hợp tác với tất cả các quốc gia mà có thể bán vũ khí và những sản phẩm khác cho các quốc gia đó và mua lại nguyên liệu. Và Trung Quốc biết đền đáp. Bắc Kinh ngăn chận các nghị quyết của LHQ chống lại chính phủ ở Khartoum, chính phủ mà bị buộc tội diệt chủng ở Sudan, cho đến khi áp lực quốc tế quá lớn ngay trước Thế Vận Hội 2008. Các nhà ngoại giao Bắc Kinh trả lời các phê phán về sự gần gũi của họ với chế độ giết người đó bằng lời lưu ý rằng ngoại giao im lặng giúp được nhiều hơn là sự ồn ào ở công cộng. Sau này mới biết rằng doanh nghiệp Trung Quốc rõ ràng là đã không tuân thủ việc cấm vận vũ khí với Sudan. Phóng viên BBC đã tìm thấy những thùng đạn với chữ Trung Quốc sau những cuộc đọ súng với lực lượng nổi dậy trong Nam Sudan.

    Bắc Kinh cũng chống lại những biện pháp trừng phạt Iran, nước mà nhiều quốc gia, trong số đó có Cộng hòa Liên bang [Đức], muốn can ngăn ý định chế tạo bom nguyên tử. “Đối thoại và thương lượng” là con đường tốt hơn là tẩy chay, các nhà ngoại giao của nước này nói. Đầu năm 2010, Bắc Kinh chỉ gửi một quan chức cấp thấp vào vòng Iran của Liên hiệp Anh, Pháp, Nga, Đức và USA ở New York. Người này tuyên bố đơn giản rằng đây không phải là “thời gian” cho cấm vận, chấm dứt tranh luận.[22]

    Sau đấy, người Trung Quốc bác bỏ các hoạt động chống “Cảnh vệ Cách mạng Hồi giáo”, những người cũng kiểm soát chương trình nguyên tử của Iran. Theo ý muốn của LHQ, chuyển khoản và những chuyến đi của họ cần phải được ngăn chận. Các nhà ngoại giao đã thành công trong việc làm giảm nhẹ các hoạt động [trừng phạt]. Phong tỏa, họ lý luận, không được phép làm hại đến người dân bình thường và thương mại bình thường.

    Nghe có lý, nếu như không có một vài trở ngại. Về một mặt, China hoạt động kinh tế với nhiều tỉ dollar trong Iran, tức là nó có thể bị mất cơ hội kinh doanh khi tham gia các hoạt động trừng phạt của những quốc gia khác. Ví dụ như Trung Quốc muốn cùng với một doanh nghiệp trong nước xây con đập nước lớn nhất thế giới có giá hai tỷ dollar ở sông Bakhtiari trong miền Đông Nam. Người Trung Quốc đã xây tàu điện ngầm ở Teheran, sau khi họ chào giá thấp hơn nhiều so với cạnh tranh, ngoài những công ty khác là Siemens.

    Tuy các quan chức Bắc Kinh thường hay quả quyết rằng họ rất quan tâm đến việc không được mua bán những loại vật liệu mà người ta cần để sản xuất vũ khí nguyên tử. Nhưng rõ ràng là Iran có thể mua những vật liệu như thế trong nước Cộng hòa Nhân dân, những thứ cần cho các thiết bị mà lại có thể sản xuất được Uran có khả năng được sử dụng cho vũ khí: bơm chân không đặc biệt, Kevlar, sợi cácbon và thép được tôi đặc biệt. “Trung Quốc không thực hiện và thông qua kiểm soát thương mại và luật trừng phạt một cách thích đáng. Thường xuyên có người Iran sang đấy và mua vật liệu”, khoa học gia hạt nhân David Albright của Woodrow Wilson International Center for Scolars in Washington cảnh báo.[23]

    Và Trung Quốc cũng không muốn thông qua cả những trừng phạt chống Zimbabwe, một đất nước giàu platin và những nguyên liệu khác. Tổng thống Robert Mugabe, người đàn áp giới đối lập và tàn phá nền kinh tế của đất nước ông ấy, thay vào đấy đã nhận danh hiệu giáo sư danh dự của Đại học thuộc Bộ Ngoại giao Bắc Kinh, Trung Quốc xây dựng ở Zimbabwe một trung tầm đào tạo cho mật vụ, “Robert Mugabe National School of Inteligence”.[24]

    Trong những vùng khác của thế giới, chính phủ Trung Quốc cũng ngoảnh mặt đi khi họ không muốn gây hại đến lợi ích kinh tế và chiến lược. Một vụ thảm sát ở thành phố Andishan của Uzbekistan trong tháng 5 năm 2005, khi lực lượng an ninh bắn chết hàng trăm thường dân dài tình trạng quản thúc tại gia của người đối lập đã được trả tự do Aung San Suu Kyi thì điều đấy theo quan điểm của Bắc King là một hành động của “chủ quyền tư pháp” và không xứng đáng để phê phán.

    Bắc Kinh bảo vệ quan điểm của mình với “nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác”. Và Bắc Kinh chờ đợi người khác đáp lễ cho việc đó – về kinh tế cũng như về chính trị. Các doanh nghiệp muốn khai thác đồng, thiếc, dầu hay khí đốt. Các quan chức chính phủ thì lại yêu cầu một tuyên bố rõ ràng về chính sách một Trung Quốc: những ai thiết lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan sẽ nhanh chóng đánh mất thiện cảm và hợp đồng, những ai săn đón Đạt Lai Lạt Ma cũng sẽ thế.

    Mới đây, các nhà ngoại giao Bắc Kinh nói về một “vạch đỏ” mà theo quan điểm của họ là không được phép vượt qua. Năm 2009 Nam Phi dưới áp lực của Bắc Kinh đã hủy bỏ lời mời Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi nữ thủ tướng Angela Merkel tiếp vị lãnh tụ tôn giáo Tây Tạng trong phủ thủ tướng năm 2007, người Trung Quốc đã đóng băng các quan hệ hơn nửa năm. Mới đây, hai nhà kinh tế học của Đại học Göttingen đã chứng minh trong một nghiên cứu, rằng sau một cuộc gặp gỡ với Đạt Lai Lạt Ma, các doanh nghiệp của những nước đó đã bán sang Trung Quốc máy móc, tàu thủy hay máy bay ít hơn chừng 8% trong một khoảng thời gian nhất định.[25]

    Ở Na Uy sự việc đã trở nên dữ dội ngay trước khi nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba được trao vắng mặt giải Nobel Hòa bình. Trong một lá thư gửi các cơ quan đại diện ở nước ngoài tại Oslo, Bắc Kinh đe dọa sẽ có hậu quả nếu như các đại sứ của họ ngồi vào chỗ trong sảnh làm lễ: “Chúng tôi rất hy vọng rằng nước của các ngài … không tham dự vào các hoạt động chống lại Trung Quốc”, như trong đó viết.

    Nhà báo và tác giả người Hongkong của “South China Morning Post”, Frank Ching, đã gọi lời đe dọa đấy là “thái độ trẻ con”. Thế giới sẽ rút ra những kết luận của nó từ cách đối xử trong tương lai của Trung Quốc như là một cường quốc. Bây giờ đã đến lúc Trung Quốc “trưởng thành […], đừng nhỏ nhen và phí công sức trong những việc không có hy vọng và không thông minh.”[26]

    Tuy vậy, lời cảnh cáo của Trung Quốc ở Oslo đã thành công. Bên cạnh những quốc gia như Nga, nước trước sau gì thì cũng không coi trọng Giải Nobel Hòa bình, những nước như Afghanistan, Serbia hay Philippines cũng đã vắng mặt.

    Cũng thiếu cả Nepal. Quốc gia nhỏ bé ở Himalaja lâu nay đã cảm nhận được áp lực của các nhà ngoại giao Trung Quốc. Họ cảm thấy khó chịu trước nhất là bởi những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trên đường phố của Kathmandu. Bây giờ chính phủ đã cấm những cuộc biểu tình như thế. Đầu năm 2011, các nhà hoạt động người Tây Tạng buộc tội cảnh sát Nepal đã gửi trả người tỵ nạn về Trung Quốc và qua đó đã rời bỏ thông lệ ngầm mang lén họ sang Ấn Độ với sự giúp đỡ của Cao ủy Tỵ nạn LHQ.

    Những lần vuốt ve của Trung Quốc trong thế giới thứ ba hiện đã mang lại thành quả. Điều đấy có thể cảm nhận trước hết là trong LHQ, và EU là nạn nhân. Trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2008, các nhà ngoại giao của họ đã phải chấp nhận nhiều thất bại hơn là thông thường trong những lần bỏ phiếu, đặc biệt là về nhân quyền. Họ đã mất đi sự hỗ trợ của tròn một phần tư của tất cả các thành viên LHQ. Những nước này, ngược lại với trước đây, bỏ phiếu trong Đại Hội đồng LHQ, trong Hội đồng Bảo an và trong Hội đồng Nhân quyền ở Genève thường là với Trung Quốc – và với Nga. Chỉ riêng ở Genève, EU đã mất hơn nửa số phiếu. “Quyền lực quyết định luật chơi đang mất dần”, một nghiên cứu ở London chẩn đoán. “LHQ ngày càng được tạo hình bởi Trung Quốc, Nga và đồng minh của họ.”[27]

    Hai người quyết định thế giới

    “Trong thế kỷ 21″, lãnh đạo nhà nước và Đảng Hồ Cẩm Đào nói, “quan hệ giữa Trung Quốc và USA thuộc trong số những quan hệ quan trọng nhất”. “Không có Trung Quốc thì không làm gì được cả”, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói.

    Trung Quốc và Mỹ. Đó là những đối thủ mà không thể sống thiếu kẻ kia và số phận của thế giới phụ thuộc vào quan hệ của họ. Với lời phát biểu của mình, Tổng thống Mỹ cho thấy rằng ông đã nhận ra được tình trạng đã thay đổi của thế giới. “Các quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ đặt dấu ấn lên thế kỷ 21″, ông nói. Chỉ khi cả hai quốc gia hòa hợp với nhau thì người Mỹ và người Trung mới đạt đến những mục đích quan trọng – dù đó là ở câu hỏi của biến đổi khí hậu, khắc phục khủng hoảng kinh tế hay không phổi biến vũ khí nguyên tử.

    Nhìn từ phía châu Á thì Obama, người đã sống ở Indonesia nhiều năm trong thời niên thiếu, là vị tổng thống “Thái Bình Dương” đầu tiên của Mỹ, khác với những người tiền nhiệm hướng sang châu Âu nhiều hơn nhiều. Cố vấn an ninh Mỹ trước đây Zbigniew Brzezinski đã nhìn thấy một dịch chuyển địa chính trị từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Ông nói về Trung Quốc và USA như “nhóm hai người có thể làm thay đổi thế giới”. Người ta đã còn nói về “Chimerica” nữa. Nhà chính trị học người Anh Niall Ferguson đã đặt ra khái niệm này, vì Trung Quốc và Mỹ đã gắn kết chặt chẽ với nhau đến mức họ đã tạo thành “một đơn vị kinh tế” từ lâu.[28]

    Sức mạnh mới của Trung Quốc là một cú sốc cho nhiều người Mỹ. Đối với doanh nghiệp và chính khách đấy là một cảm giác khác thường, rằng đất nước của mình phụ thuộc vào những quyết định do nhà cầm quyền cộng sản đưa ra trong Vương Quốc Ở Giữa xa xôi. Nước Cộng hòa Nhân dân không những đã vượt qua mặt USA như là mục tiêu số 1 cho đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp Trung Quốc còn mua cả công ty Mỹ, như đã xảy ra tại gã khổng lồ về máy tính IBM.

    Vì thế mà Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ James Steinberg đã phát minh ra công thức “Tái bảo hiểm chiến lược” cho quan hệ với Trung Quốc. Ý tưởng ở đằng sau đó: Khi Washington và đồng minh của nó chào mừng người Trung Quốc như là “thế lực thịnh vượng và thành công” trên sân khấu quốc tế, thì ngược lại Bắc Kinh phải chứng minh cho thế giới thấy rằng “vai trò trên toàn cầu đang tăng lên [của Bắc Kinh] không phải được trả giá bởi an ninh và thịnh vượng của những nước khác”.[29]

    “Chúng ta cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc. Bạn hãy gạt sang một bên khía cạnh nhân đạo Chúng-ta-làm-cái-mà-chúng-ta-tin. Chúng ta hãy nói về chính trị thực tế. Chúng ta cạnh tranh với Trung Quốc”, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton nói rõ trong Thượng viện Mỹ đầu tháng 3 năm 2011, sau khi đa số thuộc về Đảng Cộng hòa đe dọa cắt giảm viện trợ cho thế giới thứ ba trong Thái Bình Dương. “Trung Quốc đang cố gắng bước vào ở sau chúng ta và ở dưới chúng ta”. Ví dụ như nước này đã mời tất cả các nhà lãnh đạo của những quốc gia nhỏ ở Thái Bình Dương và đã đãi đằng họ một cách hào phóng.

    Clinton tiếp tục: “Chúng ta có rất nhiều ủng hộ trong Thái Bình Dương. Nhiều nước nhỏ bé này đã bỏ phiếu cùng với chúng ta trong Liên Hiệp Quốc, họ là đồng minh vững chắc của Mỹ, họ đấu tranh cho những giá trị của chúng ta.” Nhưng, theo Clinton, viện trợ phát triển không chỉ quan trọng từ những lý do nhân đạo và đạo đức, mà còn nhằm để bảo đảm ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới”. Nếu như có ai đó nghĩ rằng sự rút lui của chúng ta (ra khỏi viện trợ phát triển, ghi chú của tác giả) không đóng vai trò nào trong vai trò lãnh đạo của chúng ta trong một thế giới mà chúng ta đang cạnh tranh với Trung Quốc và Iran, thì người đấy sai lầm.”[30]

    Các quan chức Trung Quốc về phần mình lại nghi ngờ rằng người Mỹ chỉ muốn một điều: ngăn cản Trung Quốc “vươn lên trong hòa bình” và muốn ép buộc họ những giá trị của Phương Tây như dân chủ. Tất cả những gì đến từ USA vì thế bị Bắc Kinh khám xét tỉ mỉ xem liệu nó có phục vụ cho mục đích “giữ cho Trung Quốc nhỏ bé” hay không. Yêu cầu của Washington, nâng giá nhân dân tệ, là một bằng chứng rõ ràng cho Bắc Kinh. “Cốt lõi của chiến lược mới của Mỹ (ở châu Á) là làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc ở trong vùng và bảo vệ cho các liên minh của Mỹ ở trong vùng”, Liu Ming của Viện Nghiên cứu châu Á và Thái Bình Dương ở Thượng Hải viết.[31]

    Nhiều đầu bếp và một bộ trưởng yếu đuối

    Chúng ta hãy đến gần ngôi nhà xám ở cạnh con đường vành đai số 2 của Bắc Kinh thêm lần nữa, Bộ Ngoại giao của Trung Quốc. Chính sách đối ngoại có thật sự thành hình ở đây hay không? Chính xác là những ai đứng ở đằng sau nó? Ai quyết định về chiến lược và chiến thuật, mưu mẹo và khéo léo, công hàm và châm chích, hiệp định và thỏa hiệp? Ai là cấp cao nhất?

    Đứng đầu Bộ Ngoại giao từ năm 2007 là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dương Khiết Trì, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp đã học tại London School of Economics. Thế nhưng các chuyên gia không cho ông ấy là người quyết định. Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế ở Stockholm (SIPRI) đã nghe ngóng trong giới chuyên gia về Trung Quốc và đã đi đến kết luận rằng người bộ trưởng và bộ của ông ấy “không nhất thiết phải là nhân vật quan trọng nhất trong lúc lập chính sách đối ngoại”.[32]

    Đứng trên Dương là Ủy viên Quốc Vụ Viện có thẩm quyền về chính sách đối ngoại Đới Bỉnh Quốc, giống như một người trên bộ trưởng, được giao cho những nhiệm vụ đặc biệt. Ông ấy chịu trách nhiệm về Triều Tiên và EU. Có ở đấy cũng là “Phòng quốc tế của Trung Ương Đảng” và sếp của nó Vương Gia Thụy. Ông ấy lo về quan hệ với các đảng khác.

    Nhưng trung tâm lãnh đạo lại là một ủy ban đầy bí mật, tác động trong hậu trường, “nhóm lãnh đạo về chính sách đối ngoại” của Đảng Cộng sản. Thuộc trong đó bên cạnh Dương và Đới và Vương là Bộ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia. Có một người không được phép thiếu – chủ tịch nước và sếp ĐCS Hồ Cẩm Đào.

    Ông có quyền quyết định sau cùng, ví dụ như quyết định liệu Pháp có được nhận một hợp đồng chế tạo máy bay Airbus hay không. Ông ấy được cho là đã quyết định sự phản ứng về lần thử bom nguyên tử thứ hai của Triều Tiên trong tháng 5 năm 2009, vì giới ngoại giao và quân đội đã không thể thống nhất với nhau về một câu trả lời. Và câu trả lời đấy hết sức là dè dặt.

    Trong thời gian vừa qua còn có những nhân vật khác xem vào trong chính sách ngoại giao, theo nhận biết của các nhà nghiên cứu hòa bình, ví dụ như Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA). Quân đội trưng bày sức mạnh của mình ra ngoài nhiều hơn là cho tới nay và cùng đàm thoại, khi bàn về quan hệ với Ấn Độ, Nhận Bản, Triều Tiên, Pakistan, Nga và USA. Quân đoàn Pháo binh thứ hai, ngồi trên bút bấm khởi hành của tên lửa nguyên tử, và Bộ An ninh Quốc gia cũng như những nhà máy thuộc nhà nước quan trọng bây giờ cũng có ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao.

    Các nhà nghiên cứu hòa bình còn khám phá ra thêm một nhân vật khác: các dân cư trên mạng. Đó là những người dân bình thường và các nhà khoa học, những người bình luận về những quyết định trong chính sách ngoại giao trên các blog và diễn đàn Internet, có đôi lúc kích thích tinh thần chủ nghĩa quốc gia, ví dụ như chống lại Nhật, mà các quan chức Trung Quốc ngày càng phải để ý tới nhiều hơn, nếu như họ không muốn có những cuộc chống đối xảy ra.

    Tình trạng lộn xộn phức tạp này thỉnh thoảng ngăn cản không cho có những phản ứng nhanh chóng. Quan điểm phải được làm cho phù hợp giữa nhiều nhân vật. Sau khi chiếc tàu hộ tống “Cheonan” của Hàn Quốc rõ ràng là bị một thủy lôi Triều Tiên đánh đắm trong tháng 3 năm 2010, Bắc Kinh cần một thời gian dài cho bản tuyên bố. Người Trung Quốc phải làm rõ câu hỏi khó, rằng họ muốn giữ khoảng cách với đồng minh của họ ở Bình Nhưỡng hay muốn ủng hộ họ. Cuối cùng thì là: không bình luận, chờ xem.

    __________________________

    [1] Wu Jianming, “Past, Present and Future, Chian Security, Vol. 4 Nr. 3, 2008

    [2] Trang mạng của Đại sứ quán Trung Quốc ở Berlin, http://big5.fmprc.gov.cn/gate/big5/de.china-embassy.org/det/zt/Themen/

    [3] Xem “China’s Aggressive New Diplomcy”, Wall Street Journal, http://online.wsj.com/article/SB10001424052748704483004575523710432896610.html

    [4] Thành viên của G 20: Đức, USA, Liên hiệp Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Brazil, Nga, Ấn Độ, Úc, Nam P, Canada, Mexico, Argentina, Hàn Quốc, Indonesia, Ả Rập Saudi, THổ Nhĩ Kỳ, Liên minh châu Âu, Ý.

    [5] Tuyên bố tại hội nghị lần thứ 22 của Ủy ban Tiền tệ và Tài chính Quốc tế của IMF, 09/10/2010

    [6] “China proposes global finance pact”, The Wall Street Journal, 11/10/2010

    [7] John Lipsky: “Realizing the Potential of Asia’s Developing Economies”, Hanoi, March 22, 2010

    [8] Robert Weissmann: “A new Life for the IMF: Capitalizing on Crisis”, Toward Freedom, http://www.towardfreedom.com/globalism/1612-a-new-life-for-the-imf-capitalizing-on-crisis

    [9] Xem Linda Jakobson, Dean Knox: “New Foreign Policy Actors in China”, Sipri-Policy Paper no. 26, Stockholm, 2010

    [10] “China’s quiet power grab”, The Washington Post, 28/09/2010

    [11] Noam Chomsky: “China Growing Independence and the New World order”, In These Times, 05/10/2010. http://www.inthesetimes.com/main/print/6499/

    [12] David Shambaugh, The Washington Quarterly, 2011

    [13] Paul Krugman: “Chinese New Year”, New York Times, 31/12/2009

    [14] Bloomberg Businessweek, 12/03/2010

    [15] C. Fred Bergsten và những tác giả khác: “China’s Rise”, peterson Institute for international Economics, Washington, 2009

    [16] “The Chinese Exchange Rate”, Peterson Institute for International Economics, http://www.iie.com/research/topics/hottopic.cfm?HotTopicID=3

    [17] Lang Xianping: “China’s wealth vanishes into foreign pockets”, Global Times, 26/09/2010

    [18] Bloomberg Businessweek, 18/03/2010

    [19] Paul Kennedy: “Don’t surrender US-Influence to Bejing”, International Herald Tribune, 30(09/2010

    [20] Johan Lagerkvist: “Westward Ho: Asians March into Africa”, Yale Global Online, 16/03/2011.

    [21] Stefan Halper: “The Beijing Consensus”, Basic Books, New York, 2010

    [22] “Beijing blocks talks on tackling Iran Nuclear threats”, The Times, 18/01/2010

    [23] “Chian Failing to Enforce Nuclear-Weapons Sanctions on Iran, Expert Says”, Blommberg, 14.01.2011

    [24] “Chinese Spy Center taps Diplomat?”, The Zimbabwean, 02/03/2011

    [25] “Göttinger Volkswirte: Chian reagiert auf Empfänge des Dalai Lama mit Handelsreduktionen”, Pressemitteilung der Wirtschaftswissenschaftlichen Fakultät der George-August-Universität Göttingen 234/2010

    [26] Frank Ching: “China and Liu Xiaobo’s Nobel Prize: The end of ‘Peaceful Rise’?” trong Opinion Asia, http://opinionasia.com/node/834

    [27] Richard Gowan, Franziska Brantner: “A Global Force for Human Rights? An Audit of European Power at the UN”, Policy Paper, European Council On Foreign Relations, London 2008.

    [28] Niall Ferguson: “Not two countries, but one: Chimerica”, The Telegraph, 04/03/2007, http://www.telegraph.co.uk/comment/personal-view/3638174/Not-two-countries-but-one-Chimarica.html

    [29] Xem Evan Osnos: “Strategic Reassurance”, Letter from Chian, The New Yorker, 06/10/2009

    [30] Daniel Dombey: US struggling to hold role as global leader, Clinton says”, Financial Times, 02/03/2011

    [31] Liu Ming: “No need to worry about Obama’s East Asia strategy”, china.org.cn, 12/11/2010

    [32] Linda Jakobson, Dean Knox: “New Foreign Policy Actors in China”, Sipri-Policy Paper No. 26, Stockholm 2010

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi