Những Yếu Tính Của Một Xã Hội Văn Minh Thiện Đức: Bình Đẳng, Tự Do, Dân Chủ, Dân Quyền, Nhân Quyền, Đa Nguyên, Và Tư Hữu

  • Bởi Admin
    29/12/2011
    13 phản hồi

    Iris Vinh Hayes

    Thật lạ đời rằng trong một chế độ dân chủ tự do, nơi người ta không chính thức đưa đạo đức lên như một giá trị của thể chế, nơi người ta chỉ dành nhiều thời gian và công sức để đề cao và bảo vệ nền pháp trị thì đạo đức lại được phát huy. Bởi xét cho cùng những giá trị như công bằng, tự do, tự thân chúng lại là một vấn đề đạo đức. Không có kẻ vô đạo đức nào yêu chuộng công bằng, tự do. Bởi vậy, không ngoa chút nào khi ta nói xã hội dân chủ được đặc trưng bởi đạo đức.” (Trích: Bàn về đạo đức thay lời chúc mừng Giáng Sinh của Huỳnh Thục Vy đăng trên báo Dân Luận.). Những “lời bàn” này của HTV, theo tôi, giá trị của nó rất nặng cân. Và tôi muốn tiếp sức cho “lời bàn” của cô với một bài luận (đã được viết từ cuối thập niên 1980s) về cái mà tôi gọi là “đạo đức cơ chế.” Iris Vinh Hayes.

    Con người không phải là dã thú cho nên phải lấy văn minh thiện đức mà đối đãi nhau. Muốn được văn minh thiện đức, đời sống tinh thần và vật chất của con người phải phong phú và hài hòa. Tổ chức cho đời sống của con người phải dựa trên những tư tưởng, nguyên tắc và hành động phù trợ văn minh thiện đức.

    * @ *

    Con người sinh ra vốn bình đẳng và tự do. Đời sống đúng nghĩa cho con người phải thể hiện trạng thái bình đẳng và tự do. Ngay cả tương quan thiên địa nhân còn đồng vị hà huống chi là tương quan giữa con người với con người. Cho nên không ai có thể nhân danh bất cứ một lý do nào --dầu là vì Trời, vì Đất, hay vì Người-- để hủy bỏ hoặc tước đoạt sự bình đẳng và tự do của con người.

    Không một ai có thể tự đặt mình ở vị thế cao trọng hơn người khác hoặc ép buộc người khác phải tuân theo tha lực trái với ý muốn. Đành rằng tổ chức của xã hội loài người phát sinh nhu cầu lãnh đạo và tuân hành nhưng không vì nhu cầu đó mà sự bình đẳng và tự do của con người có thể bị ngang nhiên cưỡng đoạt. Để dung hòa giữa nhu cầu tổ chức với nhu cầu tôn trọng quyền bình đẳng và tự do của con người, quyền lãnh đạo phải được cho phép trước bởi những người tuân hành.

    Sự tự nguyện tuân hành của đại đa số bằng cách ủy nhiệm vai trò lãnh đạo cho một thiểu số là nguồn gốc cơ bản của quyền lực dân chủ. Từ đó, trong phạm trù tổ chức của một quốc gia dân chủ, quyền lãnh đạo là do dân trao cho mà có. Dân phải là chủ. Quyền cho phép lãnh đạo phải nằm trong tay dân. Đó gọi là dân quyền.

    Dân quyền phải là nền móng cho cung cách tổ chức của một quốc gia dân chủ. Dân thiết lập hiến pháp và thể chế lãnh đạo. Dân chọn lựa thành phần lãnh đạo và sách lược lãnh đạo. Dân quyết định tương lai và vận số của đất nước. Tất cả guồng máy lãnh đạo đất nước phải là của dân, do dân và vì dân.

    Dân quyền hoàn toàn không hiện hữu nếu dân không thể tự chủ thiết lập hiến pháp và thể chế lãnh đạo; nếu dân không thể tự chủ chọn lựa thành phần lãnh đạo và sách lược lãnh đạo; nếu dân không thể tự chủ quyết định tương lai và vận số của đất nước. Tất cả mọi hình thức “cho phép” người dân suy nghĩ, lên tiếng, hay hành động từ phía nhà cầm quyền không thể gọi là dân quyền, không thể ngụy tạo là dân quyền, không thể ngộ nhận là dân quyền, không thể chấp nhận là dân quyền. Theo đó, cũng không thể nói guồng máy điều hành đất nước là của dân, do dân và vì dân.

    Tất cả những quyền lực lãnh đạo, bất kể phát xuất từ đâu hay dưới bất cứ danh nghĩa nào, nếu không có sự ủy nhiệm của dân đều được coi là bạo quyền. Và, nếu đã là một guồng máy lãnh đạo được xây dựng trên nền móng của bạo quyền thì đất nước đó không thể thực sự là một quốc gia dân chủ dầu nhà cầm quyền có che đậy dưới bất cứ hình thức nào, có đánh bóng với bất cứ lý tưởng nào, có trống chiên với bất cứ chiêu bài nào, có ngụy tạo dưới bất cứ ngôn từ nào, có giải thích với bất cứ lý do nào.

    Bạo quyền là nguồn gốc cơ bản của chiến tranh. Từ nghìn xưa cho tới giờ chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế không ổn định lâu dài. Chế độ phát xít độc tài chuyên chế không ổn định lâu dài. Chế độ cộng sản độc tài chuyên chế không ổn định lâu dài. Chỉ vì những chế độ này đều dùng sức mạnh của bạo quyền mà áp chế. Bạo quyền thường hấp dẫn bạo hành. Đó là định luật đương nhiên. Vì vậy, đấu tranh tàn hủy triền miên là điều khó tránh. Tội nghiệp dân đen phải chịu cảnh nổi trôi quằn quại!

    Bạo quyền là nguồn gốc cơ bản của mọi cưỡng đoạt. Dưới móng vuốt của bạo quyền, mạng sống của con người bị cưỡng đoạt; sự sống của con người bị cưỡng đoạt; cho đến cách sống của con người cũng bị cưỡng đoạt. Nói một cách khác, mọi quyền sống của con người -bao gồm mạng sống, sự sống, và cách sống-đều bị cưỡng đoạt . Cưỡng đoạt công khai, cưỡng đoạt âm thầm, cưỡng đoạt thô bỉ, cưỡng đoạt tinh vi, cưỡng đoạt có lý do, cưỡng đoạt không lý do, cưỡng đoạt dưới mọi hình thức, cưỡng đoạt trong mọi môi trường, cưỡng đoạt ở mọi cấp độ. Chế độ quân chủ phong kiến độc tài chuyên chế cưỡng đoạt quyền sống của con người. Chế độ phát xít độc tài chuyên chế cưỡng đoạt quyền sống của con người. Chế độ cộng sản độc tài chuyên chế cưỡng đoạt quyền sống của con người. Những chế độ độc tài chuyên chế này đều dựa vào bạo quyền để cưỡng đoạt. Và một khi quyền sống của người dân đã bị cưỡng đoạt thì hạnh phúc của người dân không thể nào thực sự hiện hữu.

    Nhìn suốt dòng lịch sử của nhân loại, chỉ có quyền lực dân chủ mới bảo đảm được sự ổn định lâu dài cho đất nước. Và duy nhất chỉ có quyền lực dân chủ mới bảo đảm được quyền sống và hạnh phúc cho người dân.

    Tuy nhiên, quyền lực dân chủ tự nó chưa đủ để có thể nói là “bảo đảm chắc chắn” cho sự ổn định lâu dài và cho quyền sống của con người. Phải có một cơ chế dân chủ để gìn giữ và ngăn chận không cho quyền lực dân chủ đi đến tình trạng tha hóa.

    Con người, không cần biết là chi sơ tính bản thiện hay tính bản ác, luôn luôn thay đổi để đáp ứng với hoàn cảnh. Sự thay đổi có thể mang con người từ chỗ không văn minh thiện đức đến chỗ văn minh thiện đức. Ngược lại, sự thay đổi có thể mang con người từ chỗ văn minh thiện đức đến chỗ mất đi văn minh thiện đức. Và sự thay đổi của những tập thể cũng không khác. Đó là một sự thật tất nhiên và bất biến.

    Vì vậy, để ngăn ngừa hậu quả không tốt, quyền lực lãnh đạo không được tập trung vào một tập thể duy nhất. Đồng thời, sự ủy nhiệm quyền lực lãnh đạo cho từng cá nhân phải có giới hạn. Nói một cách khác, ba nguyên tắc phân quyền, tản quyền và bầu cử định kỳ phải được áp dụng triệt để. Phân quyền, tản quyền và bầu cử định kỳ có thể tạm gọi là ba nguyên tắc ủy nhiệm quyền lực dân chủ.

    Ba nguyên tắc ủy nhiệm quyền lực dân chủ là thành lũy kiên cố để chống lại sự lạm dụng quyền lực của cá nhân trong một cơ chế lãnh đạo; để chống lại sự lạm dụng quyền lực của một tập thể lãnh đạo; để bảo vệ dân quyền và nhân quyền; để gìn giữ cơ chế dân chủ; để khai phóng sinh hoạt chính trị theo chiều hướng nhân bản cao độ, trong đó toàn dân chung dự một cách thoải mái vì không sợ bị bạo quyền đe dọa đến đời sống và mạng sống. Và, theo đó sinh hoạt chính trị của quốc gia được ổn định lâu dài.

    Đối với một cơ chế lãnh đạo dân chủ trong một guồng máy điều hành quốc gia được xây dựng trên nền móng dân quyền, ba nguyên tắc ủy nhiệm là phương tiện để có thể cùng nhau mà lãnh đạo. Cùng nhau lãnh đạo có thể thực hiện được nhờ vào bản chất của dân chủ là dung chứa và hòa hợp. Trong thể chế dân chủ, đối lực cũng là trợ lực. Trong cái đối kháng có sự phù trợ. Trong cái phù trợ có sự đối kháng. Phù trợ nhau để cùng sinh tồn. Đối kháng nhau để cùng tiến hóa. Đối kháng nhau mà không hủy diệt nhau. Phù trợ nhau mà không toa rập nhau để đưa đến chỗ chuyên chế lầm lạc. Vì vậy, ba nguyên tắc ủy nhiệm quyền lực lãnh đạo dân chủ có thể nói là cái thể dụng tuyệt vời của đạo lý âm dương. Phân quyền, tản quyền và bầu cử định kỳ là cái Đức sáng của Đạo thể hiện trong cơ chế dân chủ.

    Đối với một cơ chế cầm quyền phi dân chủ cai quản một guồng máy khống trị đất nước được xây dựng trên nền móng bạo quyền, phân quyền là điều không thể thực sự có được bởi vì nhu cầu của bạo quyền là thống trị độc tôn. Tất cả mọi đối lực, bên trong và bên ngoài, đều được coi là những đe dọa trực tiếp tới quyền lực của giới cầm quyền khống trị và tới sự sinh tồn của bộ máy khống trị hỗ trợ quyền lực đó. Do những động lực phát sinh từ nhu cầu thống trị độc tôn, hủy diệt đối lực hay bị đối lực hủy diệt là tiến trình duy nhất. Khát vọng phải hủy diệt đối lực ngay từ trong trứng nước trở thành một ám ảnh không ngừng nghĩ trong tâm thức của giới cầm quyền khống trị và bạo hành là công cụ để thực hiện.

    Bạo hành nuôi dưỡng bạo hành. Chính vì lẽ đó, có đầy dẫy chuyện cá nhân tàn hại cá nhân, cá nhân tàn hại tổ chức, tổ chức tàn hại cá nhân, tổ chức tàn hại tổ chức, những đối tượng tranh đoạt tàn hại lẫn nhau đưa đến chỗ tài nguyên kiệt tận, con người lầm than khốn khó, lễ nghĩa suy đồi, đất nước tan nát.

    Nếu những đối tượng cùng nằm bên trong cơ chế cầm quyền và bộ máy khống trị đã không thể tương nhượng nhau thì làm sao có thể dung nạp những đối tượng từ bên ngoài? Nếu khuynh hướng hủy diệt đối lực được áp dụng triệt để lên những đối tượng nằm bên trong cơ chế cầm quyền và guồng máy khống trị thì làm sao những đối tượng đến từ bên ngoài có thể thoát khỏi nanh vuốt của bạo lực?

    Đối với một cơ chế cầm quyền phi dân chủ cai quản một guồng máy khống trị đất nước được xây dựng trên nền móng bạo quyền, tản quyền là điều không thể thực sự có được vì nhu cầu của bạo quyền là củng cố thế lực để hủy diệt đối lực. Tản quyền là tự chiết giảm quyền lực. Tản quyền là tự để đối tượng thoát ra khỏi ảnh hưởng của móng vuốt khống trị. Tản quyền là tự tạo cơ hội cho đối tượng xét lại. Tản quyền là tự gieo mầm mống đe dọa về sau. Cho nên, áp dụng nguyên tắc trung ương tập quyền là điều đương nhiên và dễ hiểu.

    Chính vì trung ương tập quyền, giới lãnh đạo và guồng máy cai trị càng ngày càng xa cách với dân, điều hành càng ngày càng trì trệ, hiệu quả càng ngày càng suy thoái, xã hội càng ngày càng thua sút.

    Đối với một cơ chế cầm quyền phi dân chủ cai quản một guồng máy khống trị đất nước được xây dựng trên nền móng bạo quyền, bầu cử định kỳ để người dân thu hồi quyền lãnh đạo của những người không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của dân và để ủy quyền cho những người khác lên thay là điều không thể thực sự có được vì nhu cầu của bạo quyền là phục vụ và duy nhất chỉ phục vụ cho tham vọng vô giới hạn của giới cầm quyền khống trị đất nước.

    Áp đặt một bộ máy khống trị sắt máu là điều tất nhiên đối với một cơ chế cầm quyền phi dân chủ. Bộ máy đó được tạo tác và củng cố liên tục để có đủ khả năng nghiền nát những lực lượng đối lập, những phương án đối lập, những hành động đối lập, những quan điểm đối lập. Bộ máy đó không tin bất cứ ai và rất muốn khám phá mọi âm mưu từ trong trứng nước cho nên sẵn sàng sử dụng tất cả mọi thủ đoạn và phương tiện dầu là những thủ đoạn và phương tiện đó có ghê tởm hèn hạ đến mấy, có phi nhân phi nghĩa đến mấy, có để lại hậu quả khốc liệt đến mấy. Bộ máy đó luôn luôn đói khát chiến tranh: chiến tranh giữa những phần tử bên trong nội bộ, chiến tranh với nhân dân, và chiến tranh với những quốc gia láng giềng.

    Là hệ lụy đương nhiên của cơ chế cầm quyền phi dân chủ, bối cảnh của đất nước và thân phận của con người trong đất nước không hơn được địa ngục âm u của loài súc sanh và ngạ quỷ.

    Mỗi một con người sinh ra vốn khác nhau và độc đáo. Sự khác nhau và độc đáo đó làm nên những cá thể riêng biệt. Sự khác nhau và độc đáo làm nên trạng thái đa nguyên. Trạng thái đa nguyên là sự hiện hữu của những dị biệt trong cùng một không gian và thời gian. Đồng thời con người sinh ra vốn bình đẳng và tự do. Trong trạng thái bình đẳng và tự do, không một cá thể nào có thể bị cưỡng đoạt mất đi cái riêng biệt của chính mình. Đối với một xã hội văn minh thiện đức, trạng thái đa nguyên với trạng thái bình đẳng và tự do kết hợp nhau chặt chẽ và tự nhiên.

    Để bảo đảm có được sự tôn trọng của người khác dành cho chính bản thân mình, tự nguyện tôn trọng sự khác biệt của những cá thể chung quanh là điều hợp tình hợp lý và thiết yếu.

    Để duy trì sự ổn định tự nhiên và lâu dài mỗi người và mọi người phải đương nhiên tôn trọng sự khác biệt của mỗi người và mọi người chung quanh, không cần biết sự khác biệt đó là khác biệt thể dạng hay khác biệt tư tưởng, không cần biết sự khác biệt đó là do bẩm sinh hay do nhân tạo, không cần biết sự khác biệt đó gây cảm giác ưa thích hay khó chịu. Và sự khác biệt của mỗi cá thể trong xã hội được tôn trọng theo tinh thần bình đẳng và tự do.

    Nói một cách khác, con người phải được quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do biểu hiện tư duy của chính mình, tự do tìm kiếm hạnh phúc... và xã hội phải tôn trọng những quyền sống căn bản này.

    Nếu những khác biệt không được tôn trọng xã hội đi đến chỗ con người sẽ nhân danh cá nhân, nhân danh gia đình, nhân danh tập thể, nhân danh chế độ, nhân danh chủng tộc, nhân danh tôn giáo, nhân danh đạo đức, nhân danh thần linh, nhân danh Thượng Đế, nhân danh Đảng . . . để áp chế con người một cách trắng trợn.

    Một khi sự dị biệt của một cá nhân không được tôn trọng, cá nhân đó đã vô hình trung bị “bức tử” một cách tàn nhẫn vì quyền sống của cá nhân đó đã bị cưỡng đoạt. Đó gọi là trạng thái vong thân. Nếu xã hội để cho một người bị vong thân, tất cả mọi người trong xã hội đó trước sau gì cũng sẽ bị vong thân. Vấn đề chỉ là xảy ra sớm hay muộn.

    Những thể hiện dân chủ thực sự tuyệt nhiên không thể tách rời khỏi sự chấp nhận, tôn trọng và gìn giữ trạng thái đa nguyên. Bản chất của dân chủ thực sự tuyệt nhiên không thể tách rời khỏi trạng thái đa nguyên. Cơ chế dân chủ thực sự tuyệt nhiên không thể tách rời khỏi trạng thái đa nguyên. Xã hội dân chủ thực sự tuyệt nhiên không thể tách rời khỏi trạng thái đa nguyên. Yếu tính tự do không thể tách rời khỏi trạng thái đa nguyên. Yếu tính bình đẳng không thể tách rời khỏi trạng thái đa nguyên. Yếu tính nhân bản cũng không thể tách rời khỏi trạng thái đa nguyên.

    Đa nguyên là trạng thái tự nhiên của trời đất. Vạn vật có muôn hình vạn trạng. Tuy có khác nhau nhưng bình đẳng và tự do. Tuy có khác nhau nhưng hòa hợp trong đại thể của trời đất. Xã hội của loài người cũng không khác. Tổ chức của loài người phải tôn trọng trạng thái đa nguyên, nếu thực sự yêu chuộng văn minh thiện đức.

    Không may, lịch sử đã từng chứng minh là có những cá thể chỉ vì muốn thế giới còn lại một chủng tộc duy nhất mà đã nhẫn tâm dùng bạo lực tàn hại sinh linh. Lịch sử đã từng chứng minh là có những cá thể chỉ vì muốn tất cả mọi người đi theo một tôn giáo duy nhất mà đã nhẫn tâm dùng bạo lực tàn hại sinh linh. Lịch sử đã từng chứng minh là có những cá thể chỉ vì muốn mọi người nghe theo một tiếng nói duy nhất mà đã nhẫn tâm dùng bạo lực để tàn hại sinh linh. Sự đối chiếu lịch sử cho thấy một điều rất rõ rệt là tất cả những nỗ lực của con người nhằm hủy bỏ trạng thái đa nguyên đều là những nỗ lực vô đạo. Tất cả những nỗ lực của con người nhằm đi ngược lại với tinh thần bình đẳng và tự do trong môi trường đa nguyên đều là những nỗ lực vô đạo. Tất cả những nỗ lực của con người nhằm đi ngược lại với văn minh thiện đức đều là những nỗ lực vô đạo.

    Từ đó, trong phạm trù tổ chức của một quốc gia, xây dựng một xã hội văn minh thiện đức cần phải đặt trên nền tảng đa nguyên. Tự do tín ngưỡng phải được tôn trọng. Tự do ngôn luận phải được tôn trọng. Tự do hội họp phải được tôn trọng. Tự do biểu hiện tư duy phải được tôn trọng. Tự do tìm kiếm hạnh phúc phải được tôn trọng. Tất cả những thứ tự do khác phù trợ quyền sống của con người phải được tôn trọng. Cá nhân và nhà cầm quyền phải chấp nhận sự có mặt của nhiều tôn giáo khác nhau, phải chấp nhận sự có mặt của nhiều đảng phái và tổ chức khác nhau, phải chấp nhận nhiều hệ tư tưởng khác nhau... và phải chấp nhận ngay cả những điều chính cá nhân mình không ưa thích hoặc không đồng ý. Tất cả phải cư xử với nhau trên tinh thần dung thứ, tương nhượng và xây dựng.

    Con người sinh ra vốn bình đẳng và tự do, trong đó có cả bình đẳng và tự do để mưu sinh và tư hữu. Đành rằng trước khi con người được sinh ra trời đất sinh vật đã hiện hữu, và do đó, vạn vật trong trời đất là của công hữu. Nhưng mỗi cá nhân đã bỏ tâm sức để phát triển tư năng và vận dụng tư năng của mình để mưu sinh cho nên vật chất cá nhân tạo được đã trở thành tư hữu. Nói một cách khác, chính vì sự lao tâm và lao lực của mỗi cá nhân để trộn thành quả lao động của mình vào vật chất sản xuất cho nên từ chỗ cộng sản dẫn tới chỗ tư sản là một tiến trình tất nhiên. Mọi nỗ lực cưỡng bách con người đi ngược lại tiến trình này đều là những nỗ lực nghịch lý và nghịch hành.

    Sự sáng tạo, cần mẫn và tiết kiệm là những đức tính đáng quý của con người. Nhờ vào sáng tạo và cần kiệm con người mới tạo ra sự phong phú vật chất. Tự do mưu sinh và tư hữu cho con người cái cơ hội vận dụng sự sáng tạo và cần kiệm để làm cho đời sống trở nên phong phú hơn. Nói một cách khác, sự phong phú vật chất là thể hiện thực tế của những đức tính tốt. Vì vậy, quyền tư hữu không những là điều đương nhiên và hợp lý mà còn là phương tiện để thúc đẩy và biểu dương đức tính tốt của con người.

    Chưa hết. Sự thật trong đời sống đã từng chứng minh là nghèo đói có thể đưa con người tới chỗ cùng đường, đến chỗ vong thân, đến chỗ mất đi lễ nghĩa. Sự thật trong đời sống đã từng chứng minh là nghèo đói cưỡng đoạt đi quyền sống căn bản của con người: quyền được sống trong no ấm và hạnh phúc. Nếu nghèo đói đưa con người đến chỗ cùng đường, đến chỗ vong thân, đến chỗ mất đi lễ nghĩa, đến chỗ mất đi quyền sống căn bản thì không ai có thể phủ nhận được sự phong phú vật chất là một phương tiện tốt để cho con người có được cái cơ hội sống đúng với tinh thần văn minh thiện đức. Vì vậy, quyền tư hữu không những là điều đương nhiên và hợp lý; không những là phương tiện để thúc đẩy và biểu dương đức tính tốt của con người; mà còn là phương tiện gìn giữ quyền sống căn bản của con người chống lại sự vong thân và mất đi lễ nghĩa.

    Thêm vào đó, con người cần phải biết chia xẻ đùm bọc lẫn nhau. Tiền nhân nước Việt đã từng dạy “lá lành đùm lá rách.” Nhưng nếu một cá nhân không có được sự phong phú vật chất thì thử hỏi làm sao có thể đưa người khác ra khỏi cảnh nghèo đói, khỏi chỗ cùng đường, khỏi chỗ vong thân, khỏi chỗ mất đi lễ nghĩa dầu có đầy lòng nhân ái? Nhưng nếu cơ chế kinh tế của quốc gia không tạo ra được sự phong phú vật chất thì thử hỏi làm sao có thể đưa đại đa số dân chúng ra khỏi cảnh nghèo đói, khỏi chỗ cùng đường, khỏi chỗ vong thân, khỏi chỗ mất đi lễ nghĩa dầu công quyền có đầy lòng nhân ái? Vì vậy, quyền tư hữu không những là điều đương nhiên và hợp lý; không những là phương tiện để thúc đẩy và biểu dương đức tính tốt của con người; không những là phương tiện gìn giữ quyền sống căn bản của con người chống lại sự vong thân và mất đi lễ nghĩa; mà còn là phương tiện để con người trợ giúp cho sự sống và mạng sống của tha nhân, đồng bào, đồng loại.

    Vì tất cả những lý do đó mà quyền tư hữu được tuyệt đối tôn trọng trong xã hội văn minh thiện đức.

    Muốn có được một xã hội văn minh thiện đức, đời sống vật chất và tinh thần của con người phải hài hòa. Muốn có được một xã hội hài hòa vật chất và tinh thần con người không thể bị cưỡng đoạt đi quyền bình đẳng và tự do trong đó có quyền bình đẳng và tự do tư hữu, quyền bình đẳng và tự do mưu sinh, quyền bình đẳng và tự do tìm kiếm hạnh phúc theo nhu cầu cá nhân.

    Từ đó, trong phạm trù tổ chức của một quốc gia, một cơ chế phù trợ văn minh thiện đức phải là một cơ chế tuyệt đối tôn trọng quyền tư hữu; phải là một cơ chế cho con người những cơ hội tìm kiếm hạnh phúc theo nhu cầu cá nhân; phải là một cơ chế khích lệ sự sáng tạo và cần kiệm; phải là một cơ chế có thể đưa đại đa số dân chúng ra khỏi cảnh nghèo đói, khỏi chỗ cùng đường, khỏi chỗ vong thân, khỏi chỗ mất đi lễ nghĩa; phải là một cơ chế có khả năng phong phú hóa đời sống con người; phải là một cơ chế bảo đảm tài sản tư hữu của cá nhân không bị tước đoạt bởi bạo quyền.

    Và vì không sợ bị cưỡng đoạt bởi bạo quyền, tài sản tư hữu của cá nhân được tự do vận dụng theo nguyên tắc thị trường để đầu tư vào công cụ sản xuất. Công cụ sản xuất là phương tiện căn bản có thể phong phú hóa vật chất để cải thiện đời sống của người dân. Đem đầu tư tài sản cá nhân tạo ra phong phú vật chất để cho mọi người cộng hưởng, dầu nhiều ít có thể khác nhau, là noi theo huyền tích Ky Tô [dùng một miếng bánh mì tạo ra thêm nhiều miếng bánh mì chia xẻ cho giáo dân] theo tinh thần nhân ái của Thiên Chúa. Đem đầu tư tài sản cá nhân tạo ra phong phú vật chất để cho mọi người cộng hưởng, dầu nhiều ít có thể khác nhau, là hành động chia xẻ mà không biết mình đã chia xẻ, không biết đến người nhận sự chia xẻ, không biết đã chia xẻ bao nhiêu. Đó là noi theo tinh thần bố thí ba la mật của chư Bồ Tát. Một cơ chế điều hành đất nước biết tận dụng yếu tính tư hữu để có thể tạo ra công ích rộng lớn là một cơ chế điều hành đất nước phù hợp với văn minh thiện đức.

    * @ *

    Tóm lại, trong một xã hội văn minh thiện đức bình đẳng và tự do của con người được tuyệt đối tôn trọng, trạng thái đa nguyên được tuyệt đối tôn trọng, và quyền tư hữu được tuyệt đối tôn trọng. Bình đẳng, tự do, dân chủ, dân quyền, nhân quyền, đa nguyên và tư hữu là những yếu tính “đạo đức” không thể thiếu vắng để có được cái gọi là “một xã hội văn minh thiện đức.”

    Iris Vinh Hayes

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    Admin viết:
    Kịch bản 1:. Họ rung động …. Họ lên tiếng phản đối và xuống đường đòi công lý
    Kịch bản 2:KHÔNG biết rung động …. và chấp nhận
    Kịch bản nào diễn ra ở Việt Nam?

    Chào Admin,
    Bạn đưa ra hai Kịch bản, tuy đẹp tuy hay nhưng có nhiều điều không sát với hiện trang xã hội và bản chất người VN đâu ! Thực tế, theo ý kiến riêng của tôi, VN không thể có cách mạng Nhung ! Không xuống đường mà cũng không ở yên chấp nhận.Mà kịch bản sau đây, có phần giống Libya… hơn Đông Âu, có thể sẽ đến :

    Mâu thuẫn và căm thù giữa số đông người dân VN và đảng CSVN sẽ ngày càng tăng là điều chắc chắn. Cả hai bên đều không có thòi quen “lắng nghe nhau” “đồng cảm với nhau” hay ” nhượng bộ” nhau ( xin đưa số nhỏ trí thức ra ngoài bức tranh nhé ). Bạo lực và máu đổ đương nhiên phải đến ở VN ( CSTQ cũng thế : “ Huyết trái, Huyết hoàn” đã xuất hiện ! )
    Còn sau đó, có chăng một nền độc tài mới xuất hiện ở VN hay không, thì xin không đề cập, vì điều đó còn tùy mức độ tàn nhẫn trong những nổ lực “đấu tranh và dập tắt đấu tranh” nói trên !

    Xin dùng các câu hỏi thành thực nhất , để mong làm rõ hơn phần nào “kịch bản đáng buồn” nói trên :
    1/ CSVN có bao giờ chịu buông bỏ quyền lực độc tài không ? Chắc chắn là không ! Mọi “hình thức dân chủ” hoặc “ nới lỏng từng bước”…nếu có , thì lồng bên trong “nội dung / phương thức thực thi” chúng, vẫn là bản chất Độc tài và Toàn trị. Công bằng không thể xuất hiện, mâu thuẫn vẫn tồn tại như cũ mà thôi !

    2/ Có phải VN XHCN đang là thiên đường của CSVN không ? Vâng, thật sự là “thiên đường XHCN” của một thiểu số quyền lực ,và từ đó ,có sự ban phát để mua lòng trung thành của số còn lại. Chia xẻ thiên đường !

    3/ Điều 1 và 2, sẽ khiến CSVN ngày càng giàu hơn và không ngừng tìm kiếm các nguồn lợi, phải vậy chăng ? Không còn gì đúng hơn. Ngay cả nhận ra “sự cố” trong lúc tranh ăn có thể khiến họ có thể gặp nguy hiểm với đồng bọn, họ cũng sẽ không bao giờ từ bỏ !

    4/ Điều 3 ở trên, chắc chắn dẫn đến điều 4 này: Dân chúng sẽ tiếp tục nghèo và ngày càng nghèo hơn . Bất công và Cách biệt ngay càng lớn dần ( dù hôm nay, ván cờ 5 tỉ VS cái chết của bà Ngón mót café, cũng đã có thể gọi là cách biệt lớn rồi, nhưng cách biệt tiếp đến sẽ càng khổng lồ hơn nhiều !) – Không chắc người dân đã biết “phẫn nộ” vì bất công hay cách biệt ấy (dân ta vốn dễ tin vào chuyệnphước đức , vào số mệnh và cũng quen xem quan là bật “trên trước” khó mà đụng đến!).
    Thế nhưng chuyện ganh ghét và thèm muốn của cải của các “vị công bộc” ấy thì chắc chắn là có , và đó là hiện tượng rất phù hợp với lối suy luận của số đông người dân VN ( Thực tế, thường ít khi đẹp hay cao cả như chúng ta vẫn nghĩ . Trong CCRĐ, CSVN đã nắm rất rõ lòng ganh ghét và thèm muốn hèn hạ ấy của dân Việt , nên chỉ một mồi lữa, sự thèm khát ấy cháy bùng thành thãm họa vô nhân tính “ đào tận gốc, trốc tận rễ”, cái ác sẽ luân hồi, có lẽ thế ? ).
    Tuy thế, thúc đẩy sự bùng nổ không phải do các lãnh đạo cấp cao của CSVN, mà do chính lực lượng thừa sai bên dười vì đám ấy vô học, quá tham và quá khinh những kẻ trên, sẽ thi nhau cướp được gì trong dân thì cướp !Đã nghèo mà còn bị tàn hại, áp bức liên tục như thế, thì việc bùng nổ của số đông dân chúng VN khi ấy, thật khó mà biết trước hậu quả !
    ---------------

    Đảng CSVN nay không thể quản nổi và cũng không còn là gì cả, trong con mắt của những “bọn thừa sai” do chính họ tạo ra ! Đó mới là tai họa thật sự của VN !

    Tôi rất mong một chuyển đổi dân chủ trong hòa bình trước khi quá muộn, nhưng cũng tự nhận ra, đó chỉ là mong muốn cá nhân nhỏ bé, không thực tế !

    Thế nào là một xã hội văn minh và có nhân tính?
    Truyện xảy ra vào ngày đầu năm năm 2012. Tại huyện đảo Rügen thuộc tiểu bang Mecklenburg-Vorpommern (CHLB Đức). Chính quyền của huyện quyết định hủy bỏ cuộc bắn pháo hoa lúc giao thừa mừng năm mới bởi vì trước đó mầy hôm có một cháu gái 10 tuổi là khách du lịch đã bị thiệt mạng do tai nạn lở đất khi cùng mẹ và người thân đi dạo chơi ngoài bãi biển.
    So sánh với Việt nam ta: Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng long, tại Hà nội việc tổ chức hội hè, bắn pháo hoa, diễu binh vẫn được tỗ chức theo kịch bản đã được duyệt, không thay đổi mặc dù miền Trung bị bão lũ hoành hành, bao nhiêu người thiệt mạng, người dân khốn khổ khốn nạn cảnh màn trời chiếu đất, không cơm ăn áo mặc và tai nạn nổ kho pháo xẩy ra tại Mỹ Đình trước đó mấy hôm đã cướp đi mấy mạng người.
    Theo lời bà phó chủ tịch nước, bà Doan thì xã hội Việt nam dân chủ gấp hàng nghìn lần so với chế độ tư bản giãy chết.
    Mờ bà con nhận xét và so sánh.

    Trong đầu em đang nghĩ câu "ĐỪNG nghe CS nói", nên em nhìn nhầm chữ CÙNG thành chữ ĐỪNG, thành thật xin lỗi bác Văn Lang, mặt khác do quên mang kính cận, mong bác và độc giả thông cảm. Có lẽ là đừng nghe các ông tuyên huấn nói thì đúng hơn, phải không bác VL? Một lần nữa xin lỗi bác. Nhầm thế cũng là báo cáo với bác là em có đọc bài của bác, ngoài chỗ nhầm ra thì tán thành với các ý kiến khác của bác.

    Tôi viết : "Hảy nói cho nhau nghe và cùng nghe nhau nói" không phải "Hãy nói cho nhau nghe và đừng nghe nhau nói".

    Sao ông Khách Tạ Mũ lại sửa câu viết của tôi ?

    Càng đọc thì càng thấy đầu óc mung lung quá, mỗi người nói một khác, lại có khi ở một con người, cũng mỗi lúc nói một khác. Có chỗ khuyên con người không biết sợ mà phải biết dũng cảm hy sinh, có bác lại nói: "Họ biết sợ hãi vì họ còn là con người." Trước kia nhiều người không biết sợ hãi trước cái chết giữa bom rơi đạn nổ nên ta mới có chiến thắng như ngày hôm nay. Nhưng nay lại có điều làm cho con người vô cùng đáng sợ: đó là tính người của con người cứ từ từ rời xa con người. Con người vô cảm, dửng dưng, thờ ơ trước mọi bất công bất hạnh của đồng loại, điều này xẩy ra hàng ngày. Một điều đáng sợ nữa là con người không biết sợ trước lẽ phải, không biết sợ mất danh dư. Dửng dưng bịt tai trước nước mắt và cả những lời lên án, thậm chí là chí là xỉ vả của người khác. Điều này lại thấy ở cả các hàng ngũ cán bộ cao cấp và những nhà trí thức thức mới đáng sợ chứ.
    Rồi lại còn: "Hãy nói cho nhau nghe và đừng nghe nhau nói". Nếu "đừng nghe nhau nói" thì bác tác giả này có muốn bác nói mà người khác bỏ ngoài tai không? Tôi đã đọc được điều này ở trong một suốn sách nghiệp vụ báo chí, đại ý: trước khi nói cho người ta nghe thì hãy nghe người ta nói, xem họ muốn nghe cái gì, muốn biết cái gì thì mình nói về cái ấy. Có rất nhiều điều dân muốn biết, báo lề phải né tránh, báo lề trái lại làm độc giả thất vọng. Cứ xem nhiều câu hỏi đọc giả nêu lên mà có thấy ai trả lời đâu. Người ta thích kiểu nói giản dị "cơm bình dân" thì toàn lý thuyết cao đạo. Có lúc lại toàn bàn những điều viển vông, dự đoán điều nọ điều kia, đoán GIÀ, đoán non có trúng gì đâu? Kiểu nói như thánh như tướng là căn bệnh lây ở báo lề phải,là bị truyền nhiễm từ các ngài tuyên huấn mà dân đã nói từ lâu, từ thời bao cấp: "Không địch không ta là bọn con phe, nói chẳng ai nghe là ban tuyên huấn." Những điều học sinh Thúy Loan nêu lên là tâm trạng của rất nhiều người, hay trình độ chung của độc giả đều ở mức học trò? Đúng là đã có lớp ý kiến độc giả "cơm bình dân", "mỳ ăn liền" dễ tiêu thì cũng nên bớt các "nem công chả phượng" đi. Lý loạn cứ dần dần thay thế lý luận thì buồn lắm.

    Van Lang viết:
    ...
    Thực tế cho thấy Dân chủ và đạo đức là một sự song hành tương trợ cho nhau, tuy nhiên tự nó không thể xê dịch được. Thật khó khi đòi hỏi người khác vượt qua sự sợ hãi của riêng mình. Họ biết sợ hãi vì họ vẫn còn là con người. Và như thế họ cần thời gian chuẩn bị trong tư tưởng cho một sự thay đổi.

    Yếu tố có lẽ cần thiết nhất để đẩy mạnh một "diễn biến hòa bình" ở VN hiện nay là kiên trì đấu tranh cho một luồng thông tin tự do. Mỗi người trong chúng ta đều có thể góp phần làm công việc ấy, bằng cách này hay cách khác, công khai hay âm thầm, trong nước hay hải ngoại.

    Nếu như cái gọi là "ban tuyên huấn" chủ trương cho CA đánh sập các trang mạng tự do phản biện xã hội để tiếp tục đường lối ngoan cố, bưng bít thì mỗi người trong chúng ta cũng đều có thể góp phần để "vô hiệu hóa" mưu đồ ấy hay đánh sập nó bằng những thông tin về sự thật. Bởi vì sự thật cũng chính là công lý. Kẻ gian luôn sợ sự thật.

    Hảy nói cho nhau nghe và cùng nghe nhau nói. Hãy nêu lên sự thật, hãy lên tiếng, hãy kể lại cho nhau nghe những gì đã xảy ra, đang xảy ra và xảy ra như thế nào.
    ...

    Ngoài mỗi người trong chúng ta, cũng cần "phải có thêm" một cơ quan ngôn luận thì mới có tổ chức hơn, có khả năng tập hợp hơn và có khả năng "vô hiệu hóa" mưu đồ của cái gọi là "ban tuyên huấn"

    Cần một nền Dân chủ ở VN để nâng cao đạo đức hay nâng cao đạo đức để phát động một phong trao Dân chủ cho VN ?

    Thực tế cho thấy Dân chủ và đạo đức là một sự song hành tương trợ cho nhau, tuy nhiên tự nó không thể xê dịch được. Thật khó khi đòi hỏi người khác vượt qua sự sợ hãi của riêng mình. Họ biết sợ hãi vì họ vẫn còn là con người. Và như thế họ cần thời gian chuẩn bị trong tư tưởng cho một sự thay đổi.

    Yếu tố có lẽ cần thiết nhất để đẩy mạnh một "diễn biến hòa bình" ở VN hiện nay là kiên trì đấu tranh cho một luồng thông tin tự do. Mỗi người trong chúng ta đều có thể góp phần làm công việc ấy, bằng cách này hay cách khác, công khai hay âm thầm, trong nước hay hải ngoại.

    Nếu như cái gọi là "ban tuyên huấn" chủ trương cho CA đánh sập các trang mạng tự do phản biện xã hội để tiếp tục đường lối ngoan cố, bưng bít thì mỗi người trong chúng ta cũng đều có thể góp phần để "vô hiệu hóa" mưu đồ ấy hay đánh sập nó bằng những thông tin về sự thật. Bởi vì sự thật cũng chính là công lý. Kẻ gian luôn sợ sự thật.

    Hảy nói cho nhau nghe và cùng nghe nhau nói. Hãy nêu lên sự thật, hãy lên tiếng, hãy kể lại cho nhau nghe những gì đã xảy ra, đang xảy ra và xảy ra như thế nào.

    Một cây làm chẳng nên non,
    Ba cây chụm lại thành hòn núi cao

    Quốc hội chưa làm tốt vai trò giám sát !
    Câu quái quỷ này nghe mãi thấy nhàm vì từ 60 năm nay hoặc ít nhất là từ Mạnh, An, Trọng, Hùng đều biết cả nhưng không ai chịu làm gì cụ thể để giải quyết nó

    Riêng ông Nguyễn Văn An thì khá hơn Mạnh, Trọng vì đã chỉ ra lỗi tại cơ chế, mà cái này rất nhiều người cũng biết trước khi ông An chỉ ra, khi Tôn Đức Thắng làm chủ tịch QH 1960, đưa Hồ Chí Minh ký và phát hành HP phản dân chủ.

    http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/562870/Quoc-hoi-chua-lam-tot-vai-tro-giam-sat-tpp.html

    Quốc hội chưa làm tốt vai trò giám sát

    TP - “Bao nhiêu năm nay để một tổng công ty đầu ngành như xăng dầu tù mù không xác định được lỗ hay lãi, chứng tỏ hoạt động giám sát của Quốc hội chưa đi tới cùng”, Giáo sư Trần Ngọc Đường nhận định tại hội thảo bàn về công tác giám sát của Quốc hội ngày 30-12 ở Hà Nội.

    Đa số ý kiến tham dự hội thảo cho rằng, để Quốc hội (QH) làm tốt vai trò giám sát, nên để hiệp hội nhà khoa học đầu ngành các lĩnh vực đảm trách vai trò phản biện hoạt động của QH.

    GS Trần Ngọc Đường, chuyên gia cao cấp của Viện Nghiên cứu Lập pháp, chỉ ra các hạn chế, trong hoạt động giám sát của QH như, việc xem xét báo cáo của các cơ quan còn mang tính hình thức.

    Theo ông, các kỳ họp đều nghe báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội trong năm, nhưng thực chất chỉ là báo cáo mang tính minh họa thành tựu và thiếu sót, chứ không có tranh luận, phản biện, đánh giá sắc sảo.

    QH năm nào cũng phải ra nghị quyết bù lỗ kinh doanh xăng dầu, có năm tới mấy nghìn tỷ đồng, nhưng gần đây dân được biết ngành xăng dầu lãi chứ không lỗ... Như vậy là QH chưa đi tới cùng vai trò giám sát, GS Đường nhận định.

    Để hoạt động giám sát được tốt hơn, GS Đường cho rằng, cần tập trung vào việc chi tiêu ngân sách. “Ngân sách là vấn đề quan trọng, mọi chuyện đều dựa vào ngân sách. Giám sát ngân sách sẽ ra được mọi vấn đề, có tiêu cực không, có tham nhũng không, có vì dân hay không?", GS Đường nói.

    "Muốn vậy, hoạt động giám sát đòi hỏi phải có những cán bộ có kỹ năng, có thông tin. Các nhà khoa học sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc này. Trong các đoàn giám sát của QH phải có các thành viên chuyên gia của liên hiệp hội các nhà khoa học Việt Nam”, ông nói.

    GS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên đại biểu QH, cho rằng cần xem xét đại biểu QH có nhu cầu tư vấn của nhà khoa học không? Có những nhà khoa học có chuyên môn, nhưng lại chỉ trình bày những vấn đề xa rời thực tiễn, không gây được sự chú ý, quan tâm của đại biểu QH. Do đó, giới khoa học cần lắng nghe nhu cầu của đại biểu QH, đồng thời phải tự nâng cao năng lực và trình độ thực tiễn của bản thân để đáp ứng được vai trò là người giám sát QH.

    Theo GS Nguyễn Đăng Dung, giám sát phải là một chức năng của cơ quan lập pháp, tập trung giám sát cơ quan hành pháp, không giám sát xét xử, nhưng phải áp dụng biện pháp tư pháp. Phải có chế tài để tạo nên sự thay đổi nhân sự, chính sách. Các hiệp hội khoa học có thể đưa ra các phản biện xã hội và giúp hoạt động giám sát của QH đạt hiệu quả hơn. GS Dung nói: "Không có dự án nào của QH vượt ra khỏi khả năng chuyên môn của hiệp hội các nhà khoa học".

    Trong con người ta nhiều lúc có những mâu thuẫn khó cắt nghĩa. Các bác lớn tuổi, chắc có nhiều kinh nghiệm sống nên biết nhiều hơn. Còn lứa tuổi học trò chúng cháu chỉ biết nghe, nhưng đôi lúc muốn muốn có ý kiến chẳng biết có được đăng không, còn việc chấp nhận hay không là còn ở tùy người. Bác Nhẻn viết nhiều ý kiến chúng cháu thấy phải suy nghĩ đấy. Hình như bác Nhẻn thích câu nói ngày xưa của các cụ: "đi với bụt mặc áo cà xa, đi với ma mặc áo giấy", "gậy ông đập lưng ông" chúng cháu đã được học ngay trong thời gian ngồi trên ghế nhà trường là "nợ máu phải trả bằng máu". Thế bây giờ các bác cứ thuyết những tên lưu manh côn đồ xem chúng có thay đổi không? Các bác cứ thuyêt, chúng nó vẫn không thay đổi, cũng như nhà nước ta cứ đấu lý với Trung quốc về HS TS, nhưng Trung quốc cứ bịt tai thì ta làm thế nào? Có người đã nói đuà nhưng có lý là tôi treo giải một tỷ USD cho ai thuyết được bọn công an lưu manh côn đồ đối xử nhân đạo với người biểu tình đấy. Có người nói trong đấu tranh có hy sinh, điều này có lẽ đúng. Bây giờ làm gì còn cộng mà ghét cộng, có người đã đưa ra ý kiến này. Chúng cháu chỉ lặp lại ý này ở đây thôi, chứ không dám nói ở trường đâu. Chống bây giờ là chống những tiêu cực và bất công. Hình như người có công trước đây nay bị thiệt thòi, tuổi thanh xuân dốc hết rồi, nay không làm được gì, thiệt thòi thì kêu nhiều thành ra bị cho là bất mãn hay phản động. Bác nào có trình độ lý luận thì giải thích cho chúng cháu với. Có điều chúng cháu thấy ở website này có một cuộc "cách mạng" từ dưới lên, tức là có sự thay đổi từ người phản hồi ý kiến lên tác giả bài viết hay sao ấy (tuy ít thôi). Để ý tinh thì thấy Phan Xơn thay Phan Sơn, Nguyễn Ngọc RÀ xuất hiện bên cạnh Nguyễn Ngọc Già, lại có Bạch Húng thay cho Bạch Hùng, Gấu Trắng (Hùng là con gấu húng là loại rau) Nỏ thích chửi nhau thay cho Không thích chửi nhau. Lại có bác Nhẻn với bác Nịt, bác Vầu ...nghe là và dễ nhớ. Cái thay này là kiểu tương cà mắm muối thay cho nem công chả phượng. Riêng cánh học sinh lại thích cơm bình dân hơn cơm cao cấp vừa cầu kỳ vừa tốn thời gian đâm đau đầu, mỳ ăn liền dễ tiêu hơn và lại chóng "đói" món bình dân.

    Thật buồn cười khi bác Lo Văn Nhẻn không ưa Đảng CS nhưng lại thích học theo những mánh khóe của Đảng CS, ví dụ như chuyện khủng bố những "tên Ngụy ác ôn tàn ác". Dùng sự sợ hãi, dùng bạo lực để trấn áp xã hội có sinh ra đạo đức, có sinh ra tình người hay không, bác nghĩ kỹ lại đi!

    Pháp luật là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức, nhưng không phải là yếu tố duy nhất. Hiện tại những người ủng hộ tự do - dân chủ không có công cụ luật pháp trong tay, công cụ này đã bị Đảng CSVN lạm dụng để phục vụ mục đich riêng của mình; nhưng không phải vì vậy mà chúng ta bó tay. Thử tìm các biện pháp khác để khơi dậy đạo đức đi bác :D

    Khách Lo Văn Nhẻn viết:
    Rõ ràng là xã hội phải có luật pháp thì mới có đạo đức, điều này thì xưa xưa "như cơn mưa", chẳng có gì mới mà bàn, vì bản thân luật pháp là biện pháp điều chỉnh các hành vi của con người trong các mối quan hệ. Thế nhưng cứ ngồi mà thuyết về đạo đức thì liệu có thay đổi được xã hội này không? Xã hội này toàn bọn vô học cầm quyền, không đếm xỉa gì đến lẽ phải, luật pháp và đạo đức. Chúng bịt tai trước các thuyết lý, chúng không nghe mà có khi còn bảo những người lải nhải thuyết lý là những người hâm. Có lần một sĩ quan công an làm sai, người ta nhắc là phải làm theo lời Bác Hồ dạy thì ngài sĩ quan này còn bảo "Hồ với ai gì?" Ngài này chỉ biết và chì cần bác Hồ in trên tờ tiền 500 nghìn hay 200 nghìn thôi. Xã hội này thế đấy. "Người ta lớn bởi vì ta quỳ xuống", đừng quỳ nữa. Ngày trước dưới chế độ nguỵ, nhiều tên ác ôn tàn ác, nhưng bị các chiến sĩ biệt động ra tay diệt ác, thế là chúng chùn tay. Kinh nghiệm đấy.

    Rõ ràng là xã hội phải có luật pháp thì mới có đạo đức, điều này thì xưa xưa "như cơn mưa", chẳng có gì mới mà bàn, vì bản thân luật pháp là biện pháp điều chỉnh các hành vi của con người trong các mối quan hệ. Thế nhưng cứ ngồi mà thuyết về đạo đức thì liệu có thay đổi được xã hội này không? Xã hội này toàn bọn vô học cầm quyền, không đếm xỉa gì đến lẽ phải, luật pháp và đạo đức. Chúng bịt tai trước các thuyết lý, chúng không nghe mà có khi còn bảo những người lải nhải thuyết lý là những người hâm. Có lần một sĩ quan công an làm sai, người ta nhắc là phải làm theo lời Bác Hồ dạy thì ngài sĩ quan này còn bảo "Hồ với ai gì?" Ngài này chỉ biết và chì cần bác Hồ in trên tờ tiền 500 nghìn hay 200 nghìn thôi. Xã hội này thế đấy. "Người ta lớn bởi vì ta quỳ xuống", đừng quỳ nữa. Ngày trước dưới chế độ nguỵ, nhiều tên ác ôn tàn ác, nhưng bị các chiến sĩ biệt động ra tay diệt ác, thế là chúng chùn tay. Kinh nghiệm đấy.

    Kịch bản 1: dân tộc Việt Nam - tức là đa số người Việt - biết rung động mạnh mẽ trước vẻ đẹp của đạo đức, sự thật và bình đẳng. Họ rung động trước những ý kiến của Cù Huy Hà Vũ, Huỳnh Thục Vy, Tạ Phong Tần v.v... và không chấp nhận được cách hành xử ĐẠO TẶC mà lực lượng bảo vệ Đảng thực thi với những người đó. Họ lên tiếng phản đối và xuống đường đòi công lý cho những người đó. Đó là kịch bản đem lại cách mạng nhung ở nhiều nước.

    Kịch bản 2: dân tộc Việt Nam - tức là đa số người Việt - KHÔNG biết rung động trước vẻ đẹp của đạo đức, sự thật và bình đẳng, hoặc nếu có rung động thì cũng không đủ để vượt qua sự sợ hãi của riêng mình. Họ không quan tâm đến bảo vệ sự thật và công lý, bảo vệ quyền bình đẳng và quyền làm người; chấp nhận rằng luôn có những kẻ có quyền có thể đứng trên người khác, và chấp nhận rằng người có quyền có thể dùng vũ lực để trấn áp quan điểm khác biệt để duy trì một xã hội ổn định. Với kịch bản này thì các nhà đạo đức sẽ thua các đồng chí đạo tặc, vì họ quá cô đơn.

    Kịch bản nào diễn ra ở Việt Nam?

    Khách Lò Văn Nhẻn viết:
    Một bên là các nhà ĐẠO ĐỨC, một bên là những tên ĐẠO TẶC. Các nhà đạo đức gồm những trí thức, gìa có, trẻ có, nói chung đó là những người chân yếu tây mềm. Còn một bên là những tên đạo tặc gồm công an lực lượng bảo vệ, côn đồ lưu manh đủ hạng. Bên thì biểu tình, bên thì dẹp biểu tình. Bên đạo đức dùng lời hay ý đẹp giải thích phải trái, bao nhiêu lý thuyết cao siêu tuôn ra hết. Còn bên đạo tặc chỉ làm theo triết lý "Già đòn non nhẽ, đánh khỏe phải chừa". Mọi người thử tưởng tượng xem kết quả đi đến đâu.

    Một bên là các nhà ĐẠO ĐỨC, một bên là những tên ĐẠO TẶC. Các nhà đạo đức gồm những trí thức, gìa có, trẻ có, nói chung đó là những người chân yếu tây mềm. Còn một bên là những tên đạo tặc gồm công an lực lượng bảo vệ, côn đồ lưu manh đủ hạng. Bên thì biểu tình, bên thì dẹp biểu tình. Bên đạo đức dùng lời hay ý đẹp giải thích phải trái, bao nhiêu lý thuyết cao siêu tuôn ra hết. Còn bên đạo tặc chỉ làm theo triết lý "Già đòn non nhẽ, đánh khỏe phải chừa". Mọi người thử tưởng tượng xem kết quả đi đến đâu.