Trần Hòa Bình - Phác thảo diện mạo báo chí thời kỳ 1954-1975

  • Bởi Admin
    10/12/2011
    3 phản hồi

    Trần Hòa Bình

    1954-1975 là một giai đoạn đặc biệt của lịch sử Việt Nam, gắn liền với sự kiện đất nước bị chia cắt, hình thành các thể chế chính trị và các lực lượng xã hội khác nhau. Theo đó, một cách đương nhiên, dòng chảy của đời sống báo chí Việt Nam đã có một bước ngoặt quan trọng và rõ rệt hơn các giai đoạn trước đó: nó có sự phân nhánh thích ứng với một bối cảnh chính trị xã hội như vậy.

    Nhìn đại thể, sẽ có hai khu vực báo chí của thời kỳ này: Báo chí miền BắcBáo chí miền Nam. Tuy nhiên, sự phân chia mang tính lịch sử độc đáo và phức tạp lại thể hiện rõ nhất ở báo chí miền Nam. Báo chí khu vực này tiếp tục phân nhánh thành hai khu vực nhỏ hơn: Báo chí cách mạng miền Nam và Báo chí Sài Gòn. Chưa hết, Báo chí Sài Gòn mới chỉ là một khái niệm chung quen được sử dụng, trên thực tế nó được hiểu bao gồm hai dòng báo chí cùng song song tồn tại trong các đô thị và các vùng bị chiếm đóng ở miền Nam: Báo chí yêu nước, tiến bộ và Báo chí của chính quyền. Điều đáng lưu ý là các lực lượng báo chí kể trên đều có tư cách pháp nhân để hoạt động công khai, riêng báo chí tiến bộ ở Sài Gòn chỉ mang danh nghĩa là của các lực lượng yêu nước, dân chủ, dân tộc với phương thức hoạt động hết sức linh hoạt, uyển chuyển.

    346b066861bfe4.jpg

    Nhắc đến tư cách pháp nhân của các khu vực báo chí thời kỳ này là để nói đến những mối quan hệ tương tác hoặc đối đầu giữa chúng. Sẽ dễ dàng nhận thấy sự gắn bó giữa báo chí miền Bắc XHCN và báo chí miền Nam (với tư cách là tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam)- một sự gắn bó sẻ chia trên mọi phương diện, chưa từng có trong tiến trình lịch sử báo chí nước nhà, được manh nha từ giai đoạn kháng chiến chống Pháp trước đó. Hai mảng báo chí này khác nhau về tên gọi, về những nhiệm vụ cụ thể trước mắt nhưng thống nhất về bản chất và mục đích. Báo chí yêu nước tiến bộ, về cơ bản vẫn có sự chỉ đạo của cách mạng thông qua bộ phận trí vận trong các đô thị miền Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn. Như vậy, nhìn một cách chung nhất chỉ còn sự phân chiến tuyến giữa báo chí Cách mạng và XHCN với báo chí chính quyền (ngụy) Sài Gòn. Đây là cuộc đối đầu vô cùng quyết liệt mang đậm dấu ấn lịch sử suốt 20 năm đất nước bị chia cắt, nó tác động dữ dội đến toàn bộ đời sống báo chí Việt Nam giai đoạn này, chi phối từ thái độ lựa chọn của các nhà báo đến những phương cách hoạt động nghề nghiệp của họ… Hơn thế nữa, những hoạt động báo chí ở Việt Nam lúc này còn có những tác động rất đáng kể tới giới truyền thông quốc tế, thu hút được sự chú ý của họ. Mức độ quyết liệt của cuộc đối đầu lần này diễn ra chưa từng có. Nếu chúng ta đã làm tất cả những gì có thể làm được trên mặt trận báo chí - tư tưởng để góp phần vào sức mạnh tổng lực của toàn dân tộc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, thì phía bên kia, chính quyền Sài Gòn với sự trợ giúp đắc lực của Mỹ cũng không một ngày buông lơi thứ vũ khí này. Chẳng hạn, Nha báo chí của họ luôn trực thuộc Phủ Tổng thống và vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến tranh, họ đã đổi tên Bộ thông tin thành Bộ chiến tranh tâm lý, công khai đưa bộ máy truyền thông vào tham chiến. Chính CIA cũng đã từng thú nhận, họ đã tạo ra các chiến dịch thông tin “đen” ra sao để chống phá cách mạng Việt Nam…

    Tất cả những ai quan tâm đến đời sống báo chí Việt Nam thời kỳ 1954-1975 đều nhận thấy sự phức tạp của nó; với các nhà nghiên cứu thì trước mắt họ còn là một sự ngổn ngang, bề bộn về tư liệu, nhân chứng và cả những cách nhìn nhận, đánh giá. Báo chí miền Bắc XHCN và báo chí cách mạng miền Nam về cơ bản đã có sự đánh giá thống nhất, bởi trước hết bản thân nó không quá phức tạp (ngoại trừ một vài “sự cố” như báo chí của nhóm Nhân văn - Giai phẩm ở miền Bắc những năm 1956-1958, hoặc một vài nhà báo chiêu hồi ở chiến trường miền Nam như trường hợp Xuân Vũ…). Cách đánh giá về báo chí chính quyền (ngụy) Sài Gòn cũng dễ đi đến thống nhất, bởi bản chất của nó là đối lập với báo chí Cách mạng và XHCN, nó là báo chí của “phía bên kia” chiến tuyến. Tuy nhiên, để hiểu sâu sắc và toàn diện về nhóm báo chí này thì lại không dễ, nó còn phụ thuộc vào tư liệu và cách phân loại tư liệu, phụ thuộc vào sự hiểu biết về tất cả những gì diễn ra sau những tờ báo đó, được vận hành bởi một guồng máy có bàn tay của các chuyên gia truyền thông và chuyên gia tâm lý chiến đến từ nước Mỹ và một số quốc gia khác. Cách đánh giá về nhóm báo chí yêu nước tiến bộ lại có những khó khăn khác. Bên cạnh một số nhà báo cách mạng được “đánh” vào làm nòng cốt ở Sài Gòn, lực lượng nhà báo của nhóm báo chí này còn được hình thành từ nhiều nguồn do được vận động hoặc chỉ là tự phát. Họ đa dạng về thành phần, quan điểm, chủ yếu gặp nhau ở tinh thần dân tộc và ghét ngoại bang. Những tờ báo do họ chủ trương hoặc góp mặt, vì thế, hơn hết cần được nhìn nhận một cách điềm tĩnh, khoa học, khách quan và cả sự thân thiện. Còn một khó khăn nữa ở đây là vấn đề tư liệu. Những tờ báo như thế phần lớn đã thất lạc. Rất nhiều tờ báo được quay ronéo của phong trào học sinh - sinh viên, phật tử… đã biến mất, chỉ còn sống trong ký ức của những người trong cuộc.

    Xuyên suốt một quãng thời gian hai thập niên với hàng trăm sự kiện báo chí đáng lưu ý, hàng ngàn tờ báo và cơ quan truyền thông (đài phát thanh, truyền hình, trung tâm tin tức, phim tư liệu chiến tranh…) cùng với sự tham gia của đông đảo nhà báo hoạt động trong các dòng báo chí kể trên - đời sống báo chí Việt Nam thời kỳ 1954-1975 quả thật đã chứa đựng trong lòng nó bóng dáng của một giai đoạn lịch sử dân tộc đặc biệt, chứa đựng những bài học kinh nghiệm nhiều khi được đổi bằng xương máu cho công việc làm báo và quản lý báo chí, những bài học vẫn chưa hết ý nghĩa trong tiến trình phát triển của nền báo chí nước ta. Việc phác họa một sơ đồ báo chí giai đoạn này là rất quan trọng, đặc biệt đối với các sinh viên báo chí đang học môn lịch sử báo chí Việt Nam, nó sẽ giúp họ tránh được cảm giác bị ngợp khi tiếp cận với một thực tiễn báo chí phức tạp, và có ngay một cái nhìn toàn cảnh để định hướng nghiên cứu, tìm hiểu.

    Dưới đây là phác thảo diện mạo báo chí Việt Nam 1954-1975, ở những nét sơ bộ. Những đường liền là sự phân nhánh các khu vực báo chí. Những đường đứt đoạn biểu thị mối quan hệ tương tác giữa một số khu vực.

    346b0671ccafc7.jpg

    Chú giải 1: Về báo chí miền Bắc

    Đội ngũ nhà báo được hình thành từ hai nguồn: những nhà báo đã trải qua kháng chiến chống Pháp và những nhà báo thế hệ mới. Có cơ sở đào tạo báo chí chuyên nghiệp. Từ những năm 1960, đội ngũ này và các phương tiện làm báo còn được chi viện cho báo chí cách mạng miền Nam. Hội nhà báo được tổ chức lại, chính quy hơn và tiếp tục giữ vai trò một thành viên của OIJ. Báo chí phát triển mạnh: các tờ báo từ chiến khu đưa về xuất bản tại Hà Nội và vẫn giữ vai trò chủ đạo, một số tờ báo tư nhân được cải tạo vào năm 1960, xuất hiện nhiều tờ báo mới đáp ứng nhu cầu của đời sống và dân trí (khoảng 50 tờ báo và bản tin địa phương; 50 tờ báo, tập san của các ngành; 24 tờ báo của các tổ chức xã hội…- những con số này ngày càng tăng về sau). Các cơ quan truyền thông khác đã có sẵn được phát triển theo quy mô lớn và hiện đại hơn (đài TNVN và hệ thống đài địa phương, khu vực. VNTTX và các phân xã ở khắp nước và nước ngoài. Năm 1970, đài THVN ra đời). Quan hệ quốc tế được mở rộng: có báo chí đối ngoại, các nhà báo và các hãng thông tấn lớn trên thế giới có mặt tại Hà Nội… Báo chí chuyển từ thời bình sang thời chiến từ 1964 và những bài học kinh nghiệm của một nền báo chí chiến đấu và xây dựng.

    Chú giải 2: Về báo chí cách mạng miền Nam

    Đội ngũ nhà báo được hình thành từ nhiều nguồn: các nhà báo đã trải quan kháng chiến chống Pháp, các nhà báo được đào tạo tại chỗ, lực lượng nhà báo được chi viện từ miền Bắc và một số nhà báo từ các đô thị đi theo cách mạng. Hoàn cảnh tác nghiệp của họ gian khổ như mọi nhà báo chiến tranh. Báo chí nhanh chóng có mặt: từ những năm đầu 1960 đã có khoảng 40 tờ báo và tạp chí cấp miền của MTDTGP, khoảng 40 bản tin của các địa phương in bằng bốn thứ tiếng Pháp, Anh, Trung Quốc và Khơme. Xuất hiện các cơ quan thông tin mới: Thông tấn xã giải phóng (L.P.A) ra đời 1961; Đài phát thanh Giải phóng 1962 (một đài nữa đặt trên đất bắc), ngoài ra còn có vai trò của Hãng phim Giải phóng. Báo chí cách mạng miền Nam lúc này được xây dựng theo mô hình báo chí miền Bắc (Nhân dân - Cờ Giải phóng, Quân đội nhân dân - Quân giải phóng, Phụ nữ Việt Nam - Phụ nữ giải phóng…). Thiết lập được mối quan hệ với báo chí quốc tế: tháng 1- 1962 Hội nhà báo yêu nước và dân chủ miền Nam ra đời, trở thành thành viên của OIJ. Các nhà báo nước ngoài đã có mặt tại căn cứ cách mạng; sự giúp đỡ phương tiện báo chí của bạn bè XHCN… Một nền báo chí hình thành và phát triển trong khói lửa chiến tranh; tư cách chiến sĩ của những người làm báo; sự gắn bó khăng khít và độc đáo của nó với báo chí miền Bắc- đó là những điểm nổi bật của báo chí cách mạng miền Nam giai đoạn này.

    Chú giải 3: Về báo chí yêu nước, tiến bộ trong lòng các đô thị

    Đội ngũ nhà báo đa dạng: một số “nằm vùng” từ thời chống Pháp, một số được đưa vào Sài Gòn theo dạng hồi cư (do cách mạng chỉ đạo), một số hình thành từ các phong trào học sinh - sinh viên yêu nước, một số vốn có cảm tình với cách mạng và kháng chiến… Cũng có trường hợp đi thẳng từ Hà Nội (Nguyễn Văn Bổng và tờ Tin Văn, 1967). Nhiều tờ báo mới được xuất bản nhưng chủ yếu là tranh thủ sử dụng những tờ đã có sẵn. Phương thức hoạt động của nhà báo cực kỳ linh hoạt, thích hợp với từng thời kỳ (kết hợp văn - báo; mượn các danh nghĩa để hoạt động: các phong trào, các tổ chức…). Nội dung báo chí luôn bám sát tình hình chính trị và thời cuộc diễn ra sôi động trong lòng các đô thị, gây thanh thế có lợi cho phong trào cách mạng. Khôn khéo tranh thủ uy tín của các hãng thông tấn và cácc nhà báo nước ngoài có mặt ở Sài Gòn trong việc đưa tin ra thế giới. Thành công đáng ghi nhận là suốt 20 năm trong vùng chiếm đóng, luôn luôn có một phong trào báo chí chống đối chế độ Mỹ ngụy với một lối làm báo sắc sảo và hoàn toàn thích hợp với hoàn cảnh sống của những người làm báo.

    Chú giải 4: Về báo chí của chính quyền Sài Gòn

    Lực lượng nhà báo nòng cốt lúc đầu là các nhà báo đã từng làm việc cho chính quyền ngụy thời Pháp và một số cây bút di cư từ miền Bắc. Về sau lực lượng này được bổ sung các thế hệ nhà báo trẻ được đào tạo bài bản về nghề nghiệp và quan điểm chống cộng, trong nước và từ nước ngoài. Phương tiện và điều kiện làm báo đạt tới mức tối ưu: hầu hết những phương tiện làm báo hiện đại nhất lúc bấy giờ đều có mặt khá sớm ở Sài Gòn (chẳng hạn, từ 1967 họ đã được trang bị máy in ốpsét nhiều màu, trong khi báo chí miền bắc 7 năm sau mới có điều kiện thử nghiệm phương tiện này). Người Mỹ, thông qua chính quyền Sài Gòn, đã không tiếc tiền để tung ra hàng loạt tờ báo chống cộng và lôi kéo các nhà báo, cải tổ hoặc cho ra đời những cơ quan truyền thông mới: Việt tấn xã, Đài phát thanh Sài Gòn và các đài tâm lý chiến, Truyền hình (1966)… Có cả một chính sách với những hoạch định cụ thể nhằm đưa báo chí vào guồng máy chiến tranh để chống phá cách mạng và đàn áp, kiểm soát các khuynh hướng báo chí tiến bộ, yêu nước. Báo chí là một bộ phận không tách rời của chiến tranh tâm lý (các tờ báo và đài phát thanh ngụy dân tộc, các chiến dịch “thông tin đen” do CIA khởi xướng, báo chí trở thành tài liệu tuyên truyền cho các đoàn cán bộ bình định.v.v...). Các hãng thông tấn và các nhà báo nước ngoài thường xuyên có mặt tại Sài Gòn và trên các mặt trận, tuy nhiên nhiều người trong số họ vẫn giữ được thái độ trung thực và khách quan khi phản ánh bộ mặt chiến tranh tàn bạo của Mỹ tại miền Nam Việt Nam (bộ ảnh chiến tranh của phóng viên I. Bundô người Nhật là một ví dụ)… Tóm lại, đây là một dòng báo chí chống cộng vừa quyết liệt vừa tinh vi theo phương thức chủ nghĩa thực dân mới.

    Trên đây mới chỉ là những nét phác thảo hết sức sơ lược về bức tranh toàn cảnh báo chí Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện nào về báo chí giai đoạn này. Một công trình nghiên cứu quy mô như thế là hết sức cần thiết vì nó không chỉ tái hiện diện mạo một chặng đường trong quá trình lịch sử báo chí dân tộc, mà còn có thể rút ra từ đó những bài học mang ý nghĩa nghề nghiệp quý giá đối với các thế hệ nhà báo hôm nay và mai sau. Công trình ấy cần có sự đóng góp trí tuệ của nhiều nhà nghiên cứu và các nhà báo tâm huyết, là một việc làm không thể chậm trễ hơn nữa khi mà cuộc chiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử dân tộc đã lùi xa ba thập niên.

    Nguồn: http://www.vanhoanghethuat.org.vn/2007.06/tranhoabinh.htm

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Viết trên "tính" đảng, ông Trần Hòa Bình làm những người sống trong làng báo Miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975, thấm thía hơn với hai chữ "lưỡi gỗ" mà sử gia Vượng ở Hà Nội đã nói. Nó một chiều. phân loại hơì hợt - để có lơ cho đảng - và vơ vào một cách rất "giai cấp", đúng như bản chất của người Cộng Sản. Tôi chỉ góp ý như vậy, chẳng hạn như ông nói: (đại để) Báo chí miền Nam có hai phần rõ rệt: Cách Mạng (ý nói CS của các ông và những phong trào thân các ông), phần kia là của "Mỹ Nguỵ", Thôi xin ông, gần 40 năm rồi. Trắng, Đen đã lần lần hiện rõ. Nói như ông chỉ khiến cho người ta coi thường cái gọi là Phê Bình, Nhận định, Phân tách, viết Sử của một đội nghũ ăn tiền đảng viết sử đảng mà thôi.Chúng tôi viết báo, lãnh lương từ Chủ báo, chưa hề nhận một đồng của Chính quyền VNCH, không chửi chính quyền bằng lời lẽ "giai cấp" như các ông, nhưng chúng tôi mỗi khi thấy gai mắt, vẫn đả chính quyền với lời lẽ có học như thường.Không có chuyện gọi Lãnh tụ của đảng CS là "thằng" Hồ, "thằng" Duẩn hay TT/VNCH là "thằng" Diệm hay "thằng" Thiệu như các ông đâu.

    một số tờ báo tư nhân được cải tạo vào năm 1960

    Ở ngoài bắc có báo tư nhân sao ? Báo tên gì, thuộc thể loại gì và ai là chủ bút (tổng biên tập) ?

    " được cải tạo vào năm 1960 " có phải là vụ án nhân văn giai phẩm không ? Tức là từ 1960, không còn báo tư nhân nữa

    Tại sao hiện nay hòa bình rồi mà lại không được phép có báo tư nhân ?