Tiến sĩ Trần Nhơn - Quốc sử “triều” ta (1)

  • Bởi Hồ Gươm
    04/12/2011
    18 phản hồi

    Trần Nhơn

    Giáo sư Phan Huy Lê “mơ mộng”
    Soạn ra bộ quốc sử “triều” ta.(2)
    Tìm đâu người đức tài, trí dũng,
    Dám viết nên chân sử nước nhà!

    Tội diệt chủng, tương tàn huynh đệ,
    Nỗi đau xuyên thế kỷ hành tinh.
    Tác nhân lịch sử thành giun, dế,
    Thái sử quan ngoảnh mặt làm thinh?

    Nhân dân đã phá bung ràng buộc,
    Ai nhận công đổi mới về minh?
    Mười năm sau hòa binh tuột dốc,
    Diệt công thương (là) “sáng suốt, anh minh”?

    Đảng xưa hội tụ lòng yêu nước,
    Nay là nơi mua bán chức quyền (?!)
    Thang giá trị, luân thường đảo ngược,
    Quốc sử mình có dám viết lên?

    Người lớn, trẻ con đều ngán sử,
    Thuộc sử Tàu hơn quốc sử ta.
    “Sử sinh động” biến thành “sử tử”,
    Tích không vào, tản cũng không ra. (3)..

    Sử thế giới biến thành sử Đảng,
    Chín (mươi) tư năm “ta thắng, địch thua”.
    Mác rỉ, Lê cùn luôn “tỏa sáng”,
    Diệt Nga hoàng Đảng cướp ngôi vua.

    Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại,
    Hội sử hay là hội nô văn?
    Sử “chép” vậy mà không phải vậy,
    Đầu Tây, mình Việt đảng lai căng.

    Vạch mặt bọn lừa dân dối Đảng,
    Mọt sâu toàn trị cướp “ngai vàng”;
    Đồng chí trung kiên thành “phản loạn”,
    Bán Hoàng sa, Bản Giốc, Nam Quan...

    Chui vào rọ bá quyền Bắc thuộc,
    Bán lương tâm, phụ chính phù tà.
    Phong thánh cho gian hùng mãi quốc,
    Sử quan là “sử tặc nước nhà”.

    Trả chân sử về cho quốc sử,
    Sự thật lạnh lùng chẳng chống ai.
    Chỉ chống bọn mặt người dạ thú
    Dối lừa dân, hãm hại anh tài.

    Còn mê muội Lê nin tà đạo
    “Đảng vi tối thượng, dân vi khinh”.
    Lời huyết lệ gửi vào di cảo,
    Đợi thời gian phán xử công minh.

    Hội ta nên tọa đàm học tập
    Anh em Thái sử Bá nước Tề.
    “Thôi Trữ giết vua” là sự thật,
    Cổ kề gươm sử bút vẫn phê.(4)

    Vẽ, tán...hay tô hồng đảng sử
    Là chuyện buồn thế sự hôm nay.
    Chúc Hội giữ vẹn toàn danh dự,
    Tránh xa phường ưng khuyển mặt dày!

    Tháng 11/2011

    TS Trần Nhơn

    ____________________________________

    (1) “Quốc sử “triều” ta” có sử dụng một số ý trong bài “Quốc sử do ai chép?” của Nguyễn Thông.

    (2) Hội khoa học lịch sử Việt Nam vừa kỷ niệm 45 năm thành lập. Lễ rất to, ở nhà hát lớn thủ đô, có cả chủ tịch nước tham dự. Tại buổi lễ long trọng, vị đứng đầu nền sử học nước nhà hiện nay, giáo sư Phan Huy Lê nói rằng một trong những việc lớn của các nhà sử học sắp tới là soạn ra bộ quốc sử, chí ít cũng 25 tập.

    Giáo sư Lê bộc lộ chút băn khoăn, các vương triều ngày trước, triều nào cũng có bộ quốc sử, gần đây nhất là triều Nguyễn với bộ Đại Nam thực lục (một phần quan trọng của bộ này là Đại Nam thực lục chính biên Đệ lục kỷ phụ biên chép về hai đời Thành Thái, Duy Tân, được ông bạn tôi - nhà nghiên cứu, một tay Hán Nôm cự phách, hàn sĩ Cao Tự Thanh đã dịch và chú giải xong, sách vừa ra đầu tháng 11), vậy mà “triều” ta, suốt từ khi khai sinh đến giờ, trải gần 70 năm không hề có quốc sử...

    (3) Nguyên lý tích tản:

    “Tích” là quá trình vận động của một hoặc nhiều đồi tượng vào bên trong lòng của một đối tượng khác, hoặc vào trong một phạm vi không gian/ thời gian nào đó. “Tản” là đi từ bên trong ra bên ngoài, theo một hướng hoặc nhiều hướng. Trong ngôn ngữ học, cụm từ tích/tản gần giống như tụ/tán, vào/ra, lui/tới … Ví dụ: Phổi là cơ quan tích tản khí, dạ dày là cơ quan tích tản thực phẩm, óc là cơ quan tích tản thông tin, cái chợ là cơ quan tích tản hàng hóa, quốc hội là cơ quan tích tản ý chí và nguyện vọng,… Mỏ dầu ở Trung Đông cũng là cơ quan tích tản. Từ hàng triệu năm trước, các chất hydrocarbua được dồn tích vào các tầng dưới mặt đất để tạo các mỏ dầu khí. Đến thế kỷ XX thì các mỏ dầu khí đó được khai thác, tức là dầu đang được tản dần ra...

    Mấy ví dụ trên cho thấy, không những các đối tượng vật thể mà cả các đối tượng phi vật thể đều tuân theo nguyên lý tích tản. Thực chất, tích/tản chính là hít vào/thở ra, nhưng đối tượng được hít/thở không đơn thuần là không khí nữa mà đã được mở rộng, được trừu tượng hóa. Chủ thể thở (đối tượng tiến hành thở) có thể là bất cứ đối tượng nào (everything), hơn nữa khách thể thở (đối tượng bị hít vào/thở ra) cũng có thể là bất cứ cái gì (everything).

    . Nguyên lý tích tản vô cùng gần gũi với chúng ta, đó là quá trình thở, là nhịp điệu vận động của tất cả mọi đối tượng. Nếu coi tích tản chỉ là vào ra, tụ tán thì ta thấy nguyên lý này quá đỗi bình thường, ngược lại khi gắn vecto chiều hướng và độ dài thời gian cho đối tượng thì các qui luật hiện hình rõ ràng. Cái đang tích vào, mà ta không thuận theo nó, lại cản trở, muốn tản nó ra, thì nhất định gặp khốn khó. Cái đang tản ra mà ta lại muốn co kéo nó về thì cũng sẽ gặp nguy nan. Cho nên, hiểu nguyên lý tích tản thì ta sẽ thảnh thơi mà thuận theo tự nhiên, không khi nào phải thốt lên câu “lực bất tòng tâm”. Vậy nên, có thể xem nguyên lý tích tản là đòn bẩy tư duy.

    Nguyên lý tích tản là một nguyên lý phổ quát và vĩnh hằng. Bất cứ ở đâu, bất cứ năm tháng nào tích/tản cũng đang điều khiển mọi quá trình biến dịch. Tích/tản là chân lý phổ quát chi phối lẽ vô thường của trời đất và nhân gian. Khi lá phổi của bạn ngừng tích/tản bạn sẽ theo vô thường mà về với cát bụi. Vậy, chúng ta có thể vận dụng nguyên lý tích/tản để xem xét, phân tích, đánh giá quá trình phát triển đối với một phong trào, một ngành nghề, một xã hội...trong thế giới phẳng văn minh đương đại, để từ đó tìm ra những lời giải thiết thực và bổ ích.

    (4) Người làm sử phải độc lập về tư tưởng, không để bất cứ quan điểm chính trị, đường lối cầm quyền nào chi phối. Thiết nghĩ chẳng cần nhắc lại đầy đủ chuyện anh em nhà Thái sử Bá nước Tề. Họ nào sợ gì Thôi Trữ, vì chỉ biết đặt chân sử lên trên hết, dù dao gươm kề cổ vẫn không sờn lòng.

    Thôi Trữ chuyên quyền, dám giết cả vua, bắt sử công phải chép theo ý mình, Bá chép vào thẻ “ngày ất hợi, tháng năm mùa hạ, Thôi Trữ giết vua là Quang”, Trữ chém Bá.

    Các em Bá gồm Trọng, Thúc chép như anh, số phận cũng như anh. Quý là người em cuối cùng vẫn chép không thay đổi, bởi “chép đúng sự thực là chức phận của người làm sử, nếu trái chức phận mà sống thì chẳng thà chết còn hơn”. Trữ đành chịu thua lòng chính trực, dám hy sinh để hoàn thành chức phận sử quan của anh em nhà Thái sử Bá, không dám chém Quý nữa.

    Từ khóa: Trần Nhơn

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    18 phản hồi

    Ai đã đem núi xương sông máu
    Đổi mô hình toàn trị độc tài,
    Đảng "thăng tiến", nước nhà tụt hâu,
    Quốc sử cần chép rõ đúng sai!

    Khách Bùi Văn Nịt viết:
    Quốc sử thì có thời kỳ huy hoàng, có thời kỳ đen tối, nhưng Đảng sử thì phải chép bằng máu và cả bằng sự nhục nhã, khuất phục ngoại bang. Tội của Đảng CS cao ngất trời, vừa dốt nát vừa tàn bạo (hơn cả Tần Thủy Hoàng)...

    Đúng là như vậy! Đây không phải là điều mới mẻ gì.
    Tôi đã nhìn thấy từ mấy chục năm nay.
    Xin có thơ rằng:
    Hãy viết quốc sử bằng lời trung thực,
    Chương sử Đảng phải chép bằng máu tươi.
    Lừa dối công nông, cầm tù trí thức
    Cho "ngai vàng đảng trị" mãi hồng tươi.

    Tà đạo Lê nin kéo lùi lịch sử,
    Sản sinh bao lớp người mất tính người.
    Từ một quái thai đảng trị Tháng Mười
    Đẻ ra Việt Trung Triều, Cu ba, Polpot...
    Thảm kịch khác nhau nhưng cùng một giuộc,
    Quan Thái sử mình có dám viết lên?

    Quốc sử thì có thời kỳ huy hoàng, có thời kỳ đen tối, nhưng Đảng sử thì phải chép bằng máu và cả bằng sự nhục nhã, khuất phục ngoại bang. Tội của Đảng CS cao ngất trời, vừa dốt nát vừa tàn bạo (hơn cả Tần Thủy Hoàng). Xin cung cấp một số vần thơ về CCRĐ tôi mới sưu tầm được, chỉ có thời ấy người ta mới viết được những dòng này:
    Đội về máu chẩy đầu rơi
    Đội đi để lại con thời không cha
    Đội về tan cửa nát nhà
    Đội đi để lại mắt nhòa lệ rơi
    Đội về làng xóm đổi đời
    Đội đi để lại muôn lời khóc than
    Đội về làng xóm hoang tàn
    Đội đi để lại muôn vàn thương đau
    Đội về trời đất thảm sầu
    Đội đi để lại một mầu tan hoang
    Đội về bao nỗi kinh hoàng
    Đội đi để lạ xóm làng xác xơ
    Đội về chiêng trống phất cờ
    Đội đi để lại giấc mơ kinh hoàng
    Đội về già trẻ hoang mang
    Đội đi để lại bao nàng bụng to....

    Nhà sử dân gian viết, cần ghi lại lại trong thời đại HCM: Công an , phòng thuế, kiểm lâm/ Trong ba thằng ấy nên đâm thằng nào? Tiến lên chiến sĩ đồng bào/ Cả ba thằng ấy thằng nào cũng đâm.

    Một kiến trúc sư U80 cho biết:
    Thời kỳ khởi nghĩa Tháng 8/1945, riêng xã Đông Lỗ, huyện Bình Sơn (hồi đó gọi là phủ Bình Sơn) - tỉnh Quảng Ngãi, "cách mạng" đã thi hành lệnh thủ tiêu bằng hình thức chôn sống 7 người (bị qui là bọn phản động Cao Đài), thực hiện gọn trong một đêm. Ông chủ tịch xã Đông Lỗ (là đảng viên 1930) không thông suốt với lệnh của thượng cấp, nên cứ lần lữa, chần chừ. Nhưng vị phó chủ tịch thì "hăng hái" thúc giục, và cấp trên cũng thúc ép, nên ông chủ tịch phải miễn cưỡng chấp hành.

    nghang viết:

    nghang viết:
    Oan hồn hố chôn người tập thể
    Những ngày đầu "cách mạng mùa thu",
    Sáu tám (1968) xuân Mậu Thân thành Huế,
    Bây giờ đang vất vưởng nơi đâu?

    Sử quan tìm gặp dân mà hỏi,
    Ghi chép những trang diệt chủng này.
    Hãy vạch rõ đúng sai, công tội,
    Những lỗi lầm quá khứ đắng cay.

    Đề nghị các nhà sử học về Khu 5, đặc biệt là Quảng Ngãi, tìm hiểu tội diệt chủng vô cùng dã man này. Một Giáo sư U80 kể: Chỉ riêng ở một thôn là thôn Văn Hà, xã Đức Phong, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi), những người "nhân danh cách mạng" (tiến hành kết tội phản động một cách tùy tiện, kết hợp "giải quyết ân oán giang hồ") đã chôn sống 32 người, có gia đình bị chôn sống cả 3 anh em ruột. Khi cấp trên có "lệnh khoan hồng" thì cấp dưới cũng ém nhẹm đi, tiếp tục gây tội ác.

    Oan hồn hố chôn người tập thể
    Những ngày đầu "cách mạng mùa thu",
    Sáu tám (1968) xuân Mậu Thân thành Huế,
    Bây giờ đang vất vưởng nơi đâu?

    Sử quan tìm gặp dân mà hỏi,
    Ghi chép những trang diệt chủng này.
    Hãy vạch rõ đúng sai, công tội,
    Những lỗi lầm quá khứ đắng cay.

    Chương sử đen cải cách ruộng đất,
    Quốc sử mình không thể bỏ qua.
    Nhất đội nhì trời, bầy đảng tặc
    Thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    Tám mươi năm lầm đường lạc lối,
    Đảng sửa sai, "đổi mới" lòng vòng.
    Sai càng sửa, sửa càng thêm rối,
    Quốc sử mình có dám chép không?

    "Giáo sư Phan Huy Lê “mơ mộng”
    Soạn ra bộ quốc sử “triều” ta.
    Tìm đâu người đức tài, trí dũng,
    Dám viết nên chân sử nước nhà!"
    ...
    "Hội ta nên tọa đàm học tập
    Anh em Thái sử Bá nước Tề.
    “Thôi Trữ giết vua” là sự thật,
    Cổ kề gươm sử bút vẫn phê."

    Khiển tướng không bằng khích tướng.
    Kính chúc GS Phan Huy Lê và các nhà sử học VN sớm hoàn thành bộ quốc sử "triều" ta.

    Lịch sử nên sưu tầm lại những gì người dân đã chép hộ các nhà sử học bằng cách chép của quần chúng.Thời CCRĐ có: Cửu tự cù lao con đấu bố/Bách niên giai lão vợ tố chồng. Văn chương chữ nghiã chui xó bếp/ I tờ xách cặp chay lăng xăng. Thời bao cấp là thời nhục nhã nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam thì có: Tông Đản là của vua quan/ Nhà thờ của lũ trung gian nịnh thần/ Con phe ở chợ Đồng Xuân/ Vỉa hè là của nhân dân anh hùng. Mất mùa thì tại thiên tai/ Được mùa thì tại thiên tài đảng ta. Mỗi người làm việc bằng hai/Để cho cán bộ mua đài mua xe/ Mỗi người làm việc bằng ba/ Để cho cán bộ xây nhà xây sân. Thời đổi mới tư duy: Ông Lê nin ở nước Nga/ Cớ sao lại đứng vườn hoa nước này/ Vừa phanh ngực vừa chỉ tay/ Tư duy đổi mới nước này còn lâu. Mong nh]anx ai còn nhớ những câu nào thì đưa lên mạng để mọi người cùng biết

    Ngang nhiên chà đạp lên cả luật pháp do chính mình thiết lập, lên các giá trị nhân đạo vẫn rao giảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bất nhân khi ném hàng triệu sinh linh vào hố tử thần, vào bể khổ của ngục tù và sự đày ải tinh thần, cũng như vật chất kể từ Cải cách Ruộng đất cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975 và suốt 36 năm qua, chưa thấy có tín hiệu cải thiện nào.

    Hả hê trên chiến thắng, ngông cuồng trên bạo lực, ngạo mạn trên sự giàu sang phú quý do tham nhũng mà có, những người cầm cán cân công lý của Đảng Cộng sản Việt Nam có lẽ chưa bao giờ nhận thức được sai lầm của các thế hệ tiền nhiệm chăng? Không những thế, họ còn tiếp tục mạnh tay hơn, tàn nhẫn hơn, đưa những người vô tội vào vòng lao lý hoặc cái chết tức tưởi bởi bàn tay của công an chỉ vì đi xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm!

    Cho nên, dễ nhận ra rằng, tại sao sau 36 năm đất nước thống nhất, mọi thứ khẩu hiệu hô hào hoà hợp, hoà giải dân tộc, quên quá khứ, hướng tới tương lai của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không mang lại ý nghĩa thuyết phục nào. Người ta vẫn thấy đậm màu sắc giả dối phía sau sân khấu tuyên truyền sặc sỡ và ầm ĩ. Trong lòng người Việt muôn phương vẫn nặng trĩu những ký ức oán hờn, tủi hận. Vết thương lòng vẫn rỉ máu vì chưa bao giờ được giải toả hoặc đền bù, chí ít một lời xin lỗi thành tâm cũng không.

    "Thuở anh chửa ra đời/ Trái đất còn nức nở/ Nhân loại chửa thành người...Sử chỉ có khi có người. Anh chửa ra đời, nhân loại chưa thành người thì làm gì có sử. NHư vậy là sử mới có từ khi có "anh". Tất cả những cái cũ vứt đi hết. Sử từ khi có "anh" thực chất là nhà chính trị viết sử, hay nhà sử viết theo con mắt của nhà chính trịnh, giống như anh lái máy cầy lái máy bay phản lực thì nhất định gây tai nạn. Tai nạn máy bay rất khủng khiếp nhưng không tai hại bằng tai nạn lịch sử, vì số người bị nạn của máy bay ít hơn cả dân tộc bị tai nạ lịch sử. Có điều lịch sử là ông quan tòa công minh nhất, một thế hệ có thể nhầm, một thời đại có thể nhầm, nhưng lịch sử không nhầm.

    Quốc sử “triều” ta
    Ba hoa bịp bợm
    Tô son trét phấn
    Ca tụng ‘kụ” Hồ
    Sáng suốt anh minh
    Dẫn dắt nhân dân
    Tiến về xã nghĩa
    Thờ Mác thờ Lê
    Thờ Mao Chủ tịch
    Thế giới đại đồng
    Ta thắng, địch thua
    Địch chết như rạ
    Ta không tổn thất
    Địch ác, ta hiền
    Địch ngu, ta sáng
    Chính nghĩa về ta
    Độc lập tự do
    Anh hùng bất khuất
    Tiếc thay sự thật
    Ai biết cũng buồn
    Nhượng Tàu đất biển
    Dâng đảo cầu an
    Quỵ lụy lân bang
    Để mua quyền chức
    Lịch sử công minh
    Rồi đây sẽ viết:
    “Đảng này nhơ nhớp
    Bán nước cầu vinh
    Triều đại “kụ” Hồ
    Là triều nhục nhả”
    .

    Thời nào cũng vậy, bên cạnh các sử gia chính thống được công nhận thì vẫn có những sử gia dân gian. Các sử gia dân gian không chép rõ ngày tháng, triều đại...như những sử gia chuyên nghiệp nhưng họ thường khái quát tình hình xã hội là thứ dễ nhận xét nhất một cách chính xác. Họ dùng thơ ca, hò vè để chép sử cho dễ nhớ, dễ truyền lại cho đời sau. Họ đã ghi lại lịch sử nước nhà thờ thời Bà Trừng bà Triệu, thời nhà Đinh, rồi thời vua Lê chua Trịnh (ếch kêu dưới vũng tre ngâm, ếch kêu mặc ếch tre dầm mặc tre) thời Nguyễn Gia Long (chi chi chành chành, cái đanh thồi lửa...). Thời xô viết Nghệ Tĩnh thì có thơ ca XVNT ghi lại diễn biến của thời kỳ này. Thời ta cũng có những câu thơ ca... xuất hiện ghi lại dấu ấn một thời như: Tông Đản là của vua quan/ Nhà thờ của lũ trung gian nịnh thần...Đầy tớ thì đi Von ga, còn những ông chủ ra ga đợi tàu hoặc "nhất thân nhì quyền, tam tiền tứ chế"... Ngày nay thì các ông thầy cúng thời @ cũng chép sử theo cách của mình là làm luôn văn cúng người chết, có người đã ghi được một đoạn và đưa vào lời bình bài Quốc sử do ai chép của Nguyễn Thông, xin chép lại vài câu: Cụ Hồ quê ở Nghệ An/ Một con cá gỗ cả ngàn người ăn/ Sinh ra thời buổi khó khăn/ Thằng Tây áp bức cụ răn dân mình/ Thành lập mặt trận Việt Minh/ Đánh Tây đuổi Nhật thình lình thắng to/ Nhà nhà hạnh phúc ấm no/ Có tem có phiếu phát cho mọi người/ Muối dầu gạo củi ai ơi/ Xếp hàng dằng dặc ta thời đi mua/ Làm việc thì phải thi đua / Đánh cho Mỹ ngụy nó thua tan tành/ Liên xô thì gọi bằng anh/Trung quốc bằng chị dân lành hát ca/ Gái trai lớn bé trẻ già/ Son mì nhẩy múa vang ca kết đoàn/ Đến ngày thống nhất khải hoàn / Toàn dân đói khổ tìm đàng vượt biên/ Xã hội chủ nghiã thần tiên/ Thế nhưng hết gạo hết tiền đói to/ Bữa thì chẳng dd]ợc ăn no/ Toàn học nghị quyết ra trò Mác Lê...

    Mấy cụ học trò của “sử gia” đàn anh TRẦN HUY LIỆU, như cụ Phan Huy Lê chẳng hạn, đâu có cụ nào đủ dũng cảm để nói ra SỰ THẬT đâu. Tất cả đều là cán bộ tuyên truyền ăn lương Đảng “ta” để vo tròn, bóp méo lịch sử hòng tuyên truyền cho “chính nghĩa” của Đảng “ta”. Thế thôi.

    Do đó, không bao giờ có thể mong đợi vào một bộ CHÍNH SỬ đúng đắn khi ĐCSVN vẫn còn cai trị đất nước. Tác giả Trần Quốc Việt đã viết như sau:

    “Lịch sử hàng hai của các chế độ toàn trị là giả lịch sử, nơi đến cuối cùng của nó không phải ở trong lòng người mà ở trong bãi rác của lịch sử đích thực.”

    Đây là một câu nói rất hay. Tôi thấy hầu hết cái gọi là “lịch sử” do các sử gia trong nước viết từ năm 1945 đến nay dưới sự chỉ đạo của ĐCSVN đều rơi vào cái mà tác giả Trần Quốc Việt gọi là “giả lịch sử” mà tôi vẫn gọi ngắn gọn hơn là SỬ GIẢ. Cái loại lịch sử này thực chất là loại tuyên truyền phục vụ cho mục tiêu giai đoạn của ĐCSVN mà thôi chứ chẳng ăn nhằm gì tới tính trung thực lịch sử cả. Thí dụ, trước đây trong thời gian kháng chiến chống Pháp (1946-1954), mãi cho đến những năm 1990, để hỗ trợ cho cuộc kháng chiến và kích động lòng yêu nước, phục vụ chủ trương trường kỳ kháng chiến của ĐCSVN, các sử gia Hà Nội đã nhìn các nhân vật lịch sử VN qua nhãn quan chủ chiến, nên ngày đêm ra rã buộc tội ông Phan Thanh Giản là nhu nhược, hèn nhát dâng hai tỉnh miền Tây Nam Bộ cho Pháp (mặc dù ông Phan Thanh Giản lúc đó ở vào thế tuyệt vọng trước thế lực quá mạnh của quân Pháp, và muốn cứu không cho nhiều người dân Việt phải thiệt mạng vô ích, nhưng cá nhân ông đã dùng độc dược quyên sinh để tạ tội với Vua, với nước, một nghĩa cử mà ở miền Nam các học sinh đều học kỹ và trân trọng ông như một người yêu nước, hy sinh vì Tổ quốc).

    Nhưng gần đây, kể từ khi chủ trương nhượng bộ Trung Quốc trong các cuộc đàm phán và ký kết các Hiệp ước trên bộ (1999) và trên Vịnh Bắc Bộ (2000) nhượng cho TQ hàng ngàn kilômét vuông đất và biển, cũng như nhượng bộ TQ trước hành vi TQ chiếm đoạt Hoàng Sa và lấn chiếm Trường Sa, ĐCSVN lại cho các sử gia ĐÁNH GIÁ LẠI hành động của ông Phan Thanh Giản. Bây giờ thì không còn chê trách ông Phan Thanh Giản nữa mà lại phục hồi vị trí của ông trong lịch sử. Tại sao vậy? Xin thưa chẳng qua là vì Đảng bây giờ còn hèn nhát, nhu nhược hơn gấp ngàn vạn lần, bởi vì cái thế và lực của ĐCSVN trong khi thương thuyết với TQ không đến nỗi yếu như cái thế của ông Phan Thanh Giản thời đó đối với Pháp. Nếu vẫn còn ra rã chửi ông Phan Thanh Giản thì có khác gì nhắc cho toàn dân Việt sự hèn nhát, nhu nhược của chính ĐCSVN. Tương tự, việc chửi rũa vua quan triều Nguyễn (đặc biệt là Vua Bảo Đại) cũng tịt ngòi từ ngày Đảng “ta” học được bài học là “phải biết cách sống với Trung Quốc” như ngài Đại sứ Lê Công Phụng đã từng nói với người Việt hải ngoại. Hóa ra ông Phan Thanh Giản và vua quan triều Nguyễn trước đây cũng đã “biết cách sống với Pháp” như Đảng “ta” biết với Tàu. Lịch sử cái quái gì mà thay đổi vèo vèo theo chủ trương từng thời của Đảng như vậy ? Loại lịch sử này, dĩ nhiên như tác giả Trần Quốc Việt nói, “không phải ở trong lòng người mà ở trong bãi rác của lịch sử đích thực”. Rõ chán.