Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 4)

  • Bởi Admin
    23/11/2011
    0 phản hồi

    Andreas Lorenz<br />
    Ba Cơ dịch

    Ý tưởng của một nhà nước mạnh

    Điều đấy không phải là mới. Ý tưởng về một con đường đặc biệt của châu Á đã phổ biến ở Viễn Đông trước khi Trung Quốc bước lên sân khấu thế giới như là một cường quốc kinh tế. Khi cái được gọi là “những con hổ châu Á” – Singapore, Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc – đạt đến những tỷ lệ tăng trưởng cao, các chính trị gia đã đưa ra lời giải thích riêng của họ.

    Đặc biệt là nguyên thủ tướng Malasia Mahathir Mohamad và đồng nhiệm của ông từ Singarpore, Lý Quang Diệu, đã giải thích thành công của đất nước của họ với “những giá trị Á châu”. Các chính trị gia thản nhiên đáp trả những người phê bình chỉ trích về đàn áp chính trị và những điều kiện làm việc khắt nghiệt trong các nhà máy và vùng kinh tế đặc biệt của họ, những nơi sản xuất rẻ tiền để xuất khẩu sang châu Âu và châu Mỹ và đã trở thành gương mẫu cho nhà cải cách kinh tế Trung Quốc Đặng Tiểu Bình: làm việc cực nhọc và kỷ luật quan trọng hơn là có phần và thảo luận.

    Mahathir, một bác sĩ đã qua đại học, tiếp đồng nghiệp tôi, Erich Follath, và tôi vào một buổi sáng trời mưa trong tháng 10 năm 1997, ngay giữa cuộc khùng hoảng tài chính châu Á. Ông ấy ngồi trong một gian phòng tối tăm ở sau một bàn làm việc to trong áo đồng phục của viên chức Malasia, một cái bảng tên màu đen trước ngực: Mahathir.

    Ông có một vài cái máy tính xách tay kiểu mới nhất xung quanh mình. Ông ấy nói với một giọng nói nhẹ nhàng: “Các phương án phương Tây về dân chủ mà trong đó cá nhân chiếm ưu thế đang đe dọa thống lĩnh Malasia.” Và: “Phương Tây ép buộc chúng tôi theo những ý tưởng của nó. Ở chỗ các ông thì gia đình không còn có nghĩa là vợ và chồng và con cái của họ nữa. Đồng tính luyến ái được phép kết hôn, diễu hành trên đường phố. Người ta chạy truồng đó đây. Chúng tôi không muốn điều đó. Trước sau gì thì chúng tôi cũng tin vào gia đình, vào sức mạnh của nguồn gốc văn hóa chúng tôi.”[1]

    Sau thời gian đảm nhiệm chức vụ, Lý Quang Diệu đã tạo cho mình một chức vụ có một không hai, lúc đầu là Senior Minister, rồi sau đó là Minister Mentor, người ta cũng có thể gọi là Giáo chủ Tóc bạc. Cũng như Mahathir, ông không phải là một nhà dân chủ. Trong những hồi ký của mình, ông say sưa với việc Tòa thánh Vatican bổ nhiệm các Hồng y của mình như thế nào. Và ông đã tổ chức People’s Action Party của mình theo gương mẫu đó.[2]

    Ông làm việc trong một gian phòng khiêm nhường ở góc của một dinh thự chính phủ từ thời thuộc địa, được canh gác bởi những người lính Gurkha trong áo đồng phục màu xanh và nón có vành rộng màu xám, ngay giữa một công viên lớn ở Singapore. Tôi đã gặp ông ấy ở đó hai lần. Là Senior Minister, ông tiếp khách trong một chiếc áo len đan và thích giảng giải về mục tiêu lý tưởng của ông ấy cho một chính phủ châu Á: “Đối với một người Mỹ, có thể đó là được sự tự do không giới hạn để phát triển bản thân mình. Đối với tôi là một người châu Á, người dẫn một đất nước ra khỏi nghèo khổ, thì điều đấy có nghĩa là: tạo cho người dân có một căn hộ thoải mái, lo về một nền y tế tốt và công việc làm, cũng như lo cho con cái của họ được đào tạo và có một tương lai đàng hoàng.”[3]

    Tất cả những phân tích này đều có một hạn chế nặng ký: chúng được đưa ra bởi những chính khách lãnh đạo thần dân của họ với một bàn tay cứng rắn. Các “giá trị châu Á” phục vụ họ như một lời biện bạch cho những cách xử sự độc tài. Cả hai người, Lý ở Singapore và Mahathir ở Malasia, đều tống khứ những người chỉ trích họ đi bằng cách để cho những người này – theo một “Luật Nội an” được giữ lại từ thời thực dân Anh – biến mất ở phía sau song sắt mà không cần đến phán xét của tòa án. Mahathir loại trừ Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Tài chính của ông ấy, Anwar Ibrahim, người dấn đến quyền lực, bằng cách ném người cha của sáu đứa con ấy vào tù với lời buộc tội lạm quyền và đồng tính luyến ái.

    Lý người Singapore và đồng nghiệp của ông đã hại các địch thủ chính trị như luật sư và chính trị gia đối lập Joshua Benjamin Jeyaretnam với những lời buộc tội làm hại đến thanh danh và yêu cầu bồi thường khổng lồ. Một nhóm tinh hoa nhỏ điều khiển quốc đảo Singapore, lãnh đạo chính phủ hiện giờ là một người con trai của Lý, Hiển Long. Vợ của ông ấy một thời gian dài đã lãnh đạo công ty đầu tư nhà nước Temasek với hơn 100 tỉ euro.

    Thế nhưng cuộc khủng hoảng tài chính thứ nhất đã ập đến vào năm 1997. Nó bắt đầu ở Thái Lan, nơi chính phủ phải bất lực đứng nhìn những kẻ đầu cơ tống khứ đi hàng triệu baht, sau khi họ đã đánh cược chống lại tiền tệ của Thái Lan. Các nhà đầu tư ngoại quốc rút bạc tỉ ra khỏi nước này. Ngân hàng Trung ương Thái Lan thả nổi tự do tỷ giá hối đoái, cái cho tới lúc đó được gắn vào dollar, đồng baht rơi xuống đến tận đáy.

    Malaysia, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc bị rơi vào dòng xoáy. Ở Bangkok, tôi đã tận mắt nhìn thấy các nhân viên ngân hàng từng giàu sụ đã tắt đèn và máy điều hòa nhiệt độ và kéo cửa chớp ngân hàng của họ xuống vĩnh viễn như thế nào. Trong thủ đô Thái Lan, cần cẩu đứng yên, doanh nhân còn bán cả trang sức của họ, chiếc Porsche của họ và rượu vang Pháp đắt tiền của họ trên cái được gọi là “Chợ trời của những người giàu trước kia”. Ở Seol, người dân hiến kim cương để giúp nhà nước thoát khỏi khó khăn, ở Indonesia hàng triệu người bất thình lình không biết được là mình lấy bữa ăn kế tiếp ở đâu ra. Hàng nghìn trẻ em bỏ học vì các em phải đi tìm cái gì đấy để ăn.

    IMF ban hành những chương trình tiết kiệm nghiêm ngặt. Trong lúc đó có một cảnh gây ấn tượng mà nhiều người châu Á cho tới ngày nay vẫn còn cảm nhận như là một sỉ nhục nặng nề: Sau một thời gian dài chống lại, Tổng thống Suharto ký kết hợp đồng vay tiền với IMF. Đứng bên cạnh ông, khoanh tay bình thản và hài lòng nhìn xuống, là sếp IMF thời đấy Michel Camdessus. Chẳng bao lâu sau đấy, Suharto bị lật đổ.

    Cùng với cuộc khủng hoảng, bài hát ca ngợi các giá trị “châu Á” cũng câm lặng đi. “Cũng như tiền tệ, chúng đã bị giảm giá”, nhà khoa học người Singapore Simon Tay phán xét.[4]

    Nhưng cho tới ngày hôm nay, chính trị gia và khoa học gia vẫn giải thích cách thức hoạt động quốc gia của họ với ảnh hưởng to lớn của những đặc tính châu Á. Han Sung Joo, trước đây là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Hàn Quốc, người đã nghiên cứu tỉ mỉ về các nền tảng của sự thành công, tin rằng những đặc tính như vậy trước sau vẫn ăn sâu không chỉ ở Trung Quốc, Malasia hay Singapore, mà cũng cả trong nhiều quốc gia châu Á khác. Han hiểu điều đấy như “một nhà nước gia trưởng, một chính phủ điều khiển, doanh nghiệp tư nhân” cũng như sự nhấn mạnh đến “trật tự xã hội, hài hòa và kỷ luật” – ngược với “minh bạch, có thể đoán trước được, khả năng cạnh tranh toàn cầu và trọng lượng của sáng kiến tư nhân”, những cái nói chung là được mang vào trong mối quan hệ với những giá trị phương Tây.

    Chúng ta hãy nhìn Nhật Bản: đất nước này là một xã hội châu Á mà trong đó tìm kiếm một đồng thuận có ảnh hưởng đến cách cư xử mạnh hơn là đương đầu công khai và phê bình. Sau thảm họa thiên nhiên và nguyên tử 2011, theo cách nhìn của giới tinh hoa Nhật, thủ tướng Naoto Kan đã bước ra khỏi vai trò của mình khi ông lớn tiếng phê bình các giám đốc bất lực của tập đoàn năng lượng Tepco vì họ đã không kiểm soát được các lò phản ứng của họ ở nhà máy điện nguyên tử Fukushima.[5]

    Thành công kinh tế trước đây của Nhật Bản, Han nói, nằm trong hoài bão của giới tinh hoa nước này, muốn trở thành một đất nước giàu có và hùng mạnh về quân sự.

    Ở Hàn Quốc, các ý tưởng truyền thống và đạo Khổng hợp thành một hệ thống giá trị, cái đặt trọng tâm lên đào tạo, kỷ luật lao động, định hướng đến kết quả và vai trò dẫn đầu của chính phủ. Thêm vào đó, vì xung đột với Triều Tiên, là một “văn hóa quân đội”, và sự pha trộn này đã dẫn đến một “sự lệ thuộc quá mức vào quan hệ cá nhân, đến một hệ thống của những doanh nghiệp gia đình, đến câu kết giữa chính phủ và kinh doanh, thiếu minh bạch … và quan liêu đầy dẫy”.

    Sự vươn lên của châu Á có thật sự là nhờ vào một mô hình đặc biệt hay không, một mô hình mà cần phải tìm chiếc chìa khóa cho sự thành công của nó ở xa những cái được gọi là giá trị của phương Tây?

    Những nền dân chủ không có nhà dân chủ

    Các nhà tư tưởng hiện đại của châu Á như Han hoài nghi việc đấy. Vì các giá trị “châu Á” mang một hạn chế to lớn cùng với nó: chúng đặt quan hệ cá nhân, chính phủ gia trưởng và khiển trách đạo đức lên trên minh bạch, trách nhiệm đối với công cộng, sáng kiến cá nhân và quy định theo luật pháp và tạo nhiều chỗ hơn nữa cho kinh tế móc ngoặc, quan liêu và tham nhũng – theo Han “một hiện tượng phổ biến trong tất cả các nước châu Á ngoại trừ một ít trường hợp ngoại lệ”.

    Thêm vào đó, những truyền thống như thế hoàn toàn không bắt buộc phải đứng cản đường dân chủ. “Trong những thập niên vừa qua chúng ta đã nhìn thấy nhiều nước châu Á đã biến đổi trở thành những nền dân chủ chính trị, bao gồm Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippines. Ấn Độ đã là một nền dân chủ kể từ khi độc lập sau Đệ nhị thế chiến. Tất cả đều có những lần bầu cử có ý nghĩa và quy củ, tạo nên các chính phủ được bầu. Họ hưởng quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và các tổ chức chính trị … Những nước khác như Thái Lan, Mông Cổ và Malaysia đang kiên định bước đi theo hướng dân chủ tuy thỉnh thoảng còn bị giật lùi.”[6]

    Ở đây thì Han rất lạc quan. Vì phần lớn các quốc gia châu Á cho tới nay là “những nền dân chủ không có nhà dân chủ”, theo như nhà chính trị học người Indonesia Fadjroel Rachman, thường bị thống trị bởi những gia đình giàu có, chính trị gia tham nhũng và giới quân đội, trong trường hợp tồi tệ nhất là bởi cả ba nhóm.

    Hàng năm tổ chức New York Freedom House đo tình trạng tự do chính trị, kết quả cho châu Á năm 2010 không được tốt. Trong số 29 nước được khảo sát ở châu Á và Thái Bình Dương có 16 nước “tự do”, 15 “tự do một phần” và 8 “không tự do”.[7]

    Triều Tiên là một trường hợp như thế – một hệ thống độc tài đóng kín. Láng giềng Trung Quốc to lớn của nó ngược lại không thỏa mãn các tiêu chuẩn thông thường của một chế độ độc tài như chúng ta đã biết từ Liên bang Xô Viết hay Romania. Bắc Kinh cho phép phần lớn công dân có những quyền tự do cá nhân và kinh tế, như tự do làm giàu, tự do ra nước ngoài, tự do lựa chọn nghề nghiệp. Và tuy vậy, ĐCS kiểm tra chặt chẽ báo chí và tư pháp.

    Nếu như người ta đưa bầu cử quốc hội ra làm thước đo duy nhất cho một nền dân chủ, thì ngay cả Myanmar, Campuchia hay Singapore cũng dân chủ. Sự thật là những nước này ngược lại: cả ba quốc gia bị thống trị bởi hoặc một phe cánh quân đội, chính khách độc tài hay một nhóm tinh hoa nhỏ, những người tuy để cho bầu cử nhưng đe dọa, bỏ tù, giết chết hay đẩy những địch thủ của họ đến tình trạng phá sản và không cho người nào nắm lấy quyền lực mà không có sự ưng thuận và thiện cảm của họ.

    Ấn Độ được xem là nền dân chủ lớn nhất thế giới. Thật sự là giới truyền thông liên tục vạch trần các chính khách tham nhũng, nền tư pháp hoạt động độc lập, trên 700 triệu người có quyền bầu cử trong 28 tiểu bang thường xuyên được phép bỏ phiếu. Bang Uttar Pradesh ở Bắc Ấn còn được lãnh đạo bởi một nữ thủ hiến từ đẳng cấp Dalit thấp nhất, “tiện dân”. Bà có tên là Mayawati và đã tự cao cho dựng lên nhiều tượng riêng của mình. Ở đó và cũng ở những nơi khác, đảng “tiện dân” của bà giành được sự yêu mến của người dân và ảnh hưởng. Đảng Cộng sản Ấn Độ (Mác-xít) chiếm ưu thế trong bang Tây Bengal.

    Và tuy vậy: tham nhũng và bảo hộ [patronage] đầy dẫy. Chính trị ở Ấn Độ trong nhiều phần lớn đã suy thoái trở thành một hoạt động gia đình. Indira Gandhi đã là nữ thủ tướng 15 năm và đã nhanh chóng bãi bỏ nền dân chủ từ 1975 đến 1977, lãnh đạo bằng chỉ thị và cho bắt giam giới đối lập. Sau khi bà bị giết chết, người con trai Rajiv, một phi công không có kinh nghiệm về chính trị, trở thành người đứng đầu chính phủ.

    Từ khi ông bị một kẻ ám sát người Tamil giết chết năm 1991, người vợ góa Sonia của ông, một phụ nữ gốc Ý, nắm quyền trong Đảng Quốc Đại. Dường như không làm được điều gì mà không có bà ấy. Áp phích với ảnh của bà và người chồng đã qua đời được treo trên đường phố Mumbai trong tháng 4 năm 2001: “Chúng tôi cảm ơn”, chúng tuyên bố, rằng Sonia Gandhi đã bổ nhiệm chính trị gia B. K. Hariprasad vào chức vụ CWC & Gen Secretary AICC, một chức vụ cao trong đảng. Gia đình này hẳn sẽ tiếp tục đóng một vai trò trong tương lai của Ấn Độ: Rahul con trai của Sonia cũng là một chính khách.

    Nhiều nghị sĩ và bộ trưởng trên bình diện liên bang và tỉnh hiện giờ cũng là những người “kế thừa”: con trai, con gái, con dâu và con rể đạt những chức vụ quan trọng, trên con đường đi đến đó, nhiều tiền bạc đã được rót ra, nhiều quà cáp đã được mang tặng.[8]

    Một xã hội dân sự sống động đặt dấu ấn lên đời sống chính trị và xã hội của Philippines. Sau chế độ độc tài kéo dài 21 năm của Ferdinand Marcos, từ năm 1986 báo chí được tự do và mang tính phê bình, các cuộc bầu cử là dân chủ, nếu như các đảng phái không lại cố gắng lén mang phiếu bầu cho ứng cử viên của mình vào thùng phiếu và đồng thời đánh cắp phiếu của địch thủ với mánh khóe được gọi là “dagdag-bawas”. Tuy vậy, các cấu trúc phong kiến vẫn không đổi từ nhiều năm nay: từ trước tới nay, thống trị Philippines vẫn là những gia đình có nhiều ảnh hưởng, có quân đội riêng và – khi cần thiết với bạo lực – lo sao cho quyền lực của họ không bị xâm phạm. Năm nào cũng có nhà báo, những người đụng đến các đề tài gây khó chịu, bị kẻ lạ bắn chết.

    Trong thời gian tranh cử tổng thống năm 1998, tôi đã đến thăm đồn điền rộng 100 ha “Balbina” của nhà đại công nghiệp giàu sụ Eduardo Cojuangco, người ủng hộ diễn viên Joseph Estrada tranh cử. Người hầu gái trong áo váy hoa dùng những cây quạt sặc sỡ đuổi ruồi ra khỏi bàn tiệc búp phê nhiều giờ liền, trên sân hiên cạnh bể bơi có người hầu mời kem. Cạnh đó, Cojuangco đã cho người dựng một sân chọi gà cho công nhân của ông ấy. Trong vườn có một nhà cầu nguyện mà Cojuangco đã xây cho Gretchen vợ của ông nhân dịp kỷ niệm ngày cưới.

    Bà ấy gốc Đức – “Ông cố của tôi ở Dresden” – và chào mừng khách một cách lão luyện trong lúc Estrada còn chưa đến. Thượng nghị sĩ, nghị sĩ và những người muốn trở thành như thế uống nước cam lạnh trong phòng khách. Cuối cùng, Estrada được bầu nhờ vào sự giúp đỡ của giới đại địa chủ – và sau đó đã vào tù vì tham nhũng.

    Cho đến nay, chính trị gia Philippines không thành công – hay không muốn – xóa bỏ nạn nghèo đói cùng cực. Hàng triệu người, một phần được đào tạo tay nghề tốt, phải để cho người khác bóc lột mình ở nước ngoài như là người giúp việc trong gia đình, trước hết là ở Hongkong, vì thị trường lao động trong nước không cho họ có được một cơ hội. Hiện giới chính khách đang thảo luận liệu chuyển đổi từ tổng thống chế sang hệ thống quốc hội có mang lại cải tiến hay không.

    Người Thái đi bầu thường xuyên, nhưng bầu cử mang dấu ấn của mua phiếu và lừa đảo. Họ gọi đêm trước ngày bầu cử là “đêm của những con chó tru”. Do chó sủa vang vì có nhiều người lạ trà trộn vào làng để dùng tiền mà thuyết phục người dân đặt cái dấu chéo vào đúng chỗ.

    Ngự ở trên tất cả là nhà vua đau bệnh Bhumibol, người thể theo Hiến pháp không có nhiều quyền hành nhưng lại có ảnh hưởng lớn và được người dân tôn sùng. Nhằm không để cho hình ảnh và kinh doanh của hoàng gia bị soi xét quá tỉ mỉ, người ta cấm lăng mạ nhà vua, một đạo luật mà theo đó tất cả mọi nhận xét mang tính chỉ trích về gia đình cao cả đấy đều có thể bị phạt. Trong quá khứ, giới quân đội đã thường đảo chính, từ 1932 là 18 lần. Với lần đảo chính cho tới nay là cuối cùng của họ, quân đội đã hạ bệ một thủ tướng tinh ranh nhưng được bầu lên một cách dân chủ là Thaksin Shinawatra. Thaksin, nguyên là cảnh sát, người trở nên giàu có trong kinh doanh viễn thông, đã dùng bạc tỉ của mình để mua một đảng và đã lôi kéo đặc biệt là những người đi bầu trong vùng nông thôn về phía mình bằng những chương trình được lòng dân như chăm sóc y tế rẻ tiền hơn.

    Năm 2010, Bangkok bị đe dọa sẽ chìm vào trong hỗn loạn, khi những người thuộc phe Thaksin, được gọi lả “Áo Đỏ”, đã làm tê liệt Bangkok nhiều ngày. Quân lính nổ súng vào những người đi biểu tình, nhà cháy, 91 người chết. Trước đấy, những người “Áo Vàng”, địch thủ của Thaksin, đã chiếm cảng hàng không mới. Thế nhưng vào tù cho tới nay chỉ là những người thuộc phe của nhà tỉ phú – việc tạo bất an lớn trong giới công cộng mang nhiều tính phê bình của Thái Lan.[9] Trong tháng 7 năm 2011, Thaksin, người trong thời gian vừa rồi bị kết án tham nhũng, từ nơi lưu vong đã thành công trong việc mang quyền lực đến cho Yingluck em gái của ông ấy – một phụ nữ kinh doanh hoàn toàn không có kinh nghiệm trong chính trị thế nhưng lại thắng lớn trong những lần bầu cử.

    Nhật Bản, đất nước trước thảm họa động đất và sóng thần trong tháng 3 năm 2011 là nước châu Á mạnh thứ nhì về kinh tế, là một nền dân chủ đại nghị, dựa vào mô hình Anglo-Saxon. Thế nhưng nhiều thập niên liền chỉ có Đảng Dân chủ Tự do là đứng đầu mà chính trị được tiến hành trong những hậu phòng của nó và trong đó thủ tướng được thương lượng theo nguyên tắc người bảo hộ [patronage]. Hậu quả là chính trị và kinh tế quan hệ chặt chẽ, quan liêu mạnh. Nhân viên các bộ có ảnh hưởng đến những quyết định của chính phủ nhiều hơn là trong những nước khác.[10]

    Indonesia, với gần 238 triệu dân là đất nước Islam lớn nhất thế giới, năm 1998 đã vứt bỏ chế độ độc tài của nhóm Suharto và “Trật tự Mới” của ông ấy, cái giao cho giới quân đội một vai trò mạnh. Trong lần bầu cử Quốc Hội năm 2009 có 38 đảng ra tranh cử, tuy vậy, cuộc tranh cử giằng co về chính sách chính trị thì ít mà nhiều hơn là về nhân sự. Quân đội, dưới thời Suharto đã cùng quản lý đất nước, mất ảnh hưởng, thế nhưng giới tinh hoa cũ trước sau vẫn còn ngồi ở những vị trí quan trọng và ngăn cản không cho những vi phạm quyền con người từ thời Suharto được mang ra xét xử.

    Vẫn còn chưa được chuộc lỗi là lần bắt cóc và giết chết những người đối lập, trong số họ có nhiều sinh viên, vào cuối những năm 90 bởi đơn vị đặc nhiệm “Kopassus” của quân đội. Đơn vị này được lãnh đạo bởi một người con rể của Suharto, Prabowo Subianto.

    “Người nhà Suharo sống không tệ đâu”, Franz Magnis-Suseno nói với tôi, một linh mục Dòng Tên có gốc Đức với tóc bạc trắng và tính thích áo in hoa. Nhà triết học 74 tuổi và chuyên gia cho đạo đức học Java giảng dạy tại trường Driyarkara của Dòng Tên về triết học ở Jakarta. Ông ấy là một người khách mời nổi tiếng trong các seminar và talk-show, cố gắng thuyết phục người dân Indonesia và qua đó củng cố nền dân chủ. Ông ấy lên án tổng thống đã nói dối. Chỉ khi thành công trong việc ngăn chặn tham nhũng, Magnis-Suseno nói, thì Indonesia mới có cơ hội trở nên dân chủ thật sự.

    Đó là một con đường khó khăn, như người ta thấy và một cái nhìn vào trong tạp chí chính trị nổi tiếng “Tempo”, trong bản tiếng Anh của số ra tháng 2 năm 2011, cho thấy rõ. Trong đấy là về thuế quan của Jakarta, bộ phận đã cho phép buôn lậu điện thoại Blackberry và rượu mạnh. Tiếp theo sau đấy một trang là biểu đồ với hơn 147 tỉnh trưởng và quận trưởng, những người hoặc đã bị tòa phán xử hoặc bị tố cáo vì tội hối lộ hay tham ô tiền công. Và cuối cùng, “Tempo” tường thuật về “Ủy ban triệt tiêu tham nhũng”, ủy ban mà đã bắt 24 nghị sĩ quốc hội. Ủy ban này tố cáo họ đã nhận tiền của một chính trị gia, người muốn trở thành phó giám đốc Ngân hàng Trung ương Indonesia với sự giúp đỡ của họ.

    Theo cách nhìn của phương Tây có hai nước châu Á là câu chuyện thành công về dân chủ: Hàn Quốc và Đài Loan. Ở đấy, những người từng là đối lập được bầu vào vị trí lãnh đạo nhà nước, những người mà trong thời độc tài hoặc đã ngồi trong tù hoặc là nằm trong danh sách chết của tay sai chính phủ: ở Hàn Quốc là Kim Dae Jung và Đài Loan là Chen Shui-bian.

    Mặc dù vậy, Chen hiện lại ngồi tù – lần này không phải là vì phê bình mà là vì tham nhũng. Cả vợ và con trai cũng bị án. Vào cuối nhiệm kỳ thứ hai của mình, ông đã bị đưa ra tòa – tuy đấy là một vụ gây tranh cãi nhưng hầu như không một ai ở Đài Loan lại tin rằng những lời buộc tội là hoàn toàn vô căn cứ.

    Đồng thuận Washington, Đồng thuận Bắc Kinh, đạo Khổng và tham nhũng. Châu Á vươn lên đến tầm to lớn mới giữa những cực đó. Nhưng động cơ quan trọng nhất cho sự tăng trưởng là Trung Quốc. Muốn hiểu được lần phục hưng của châu Á, người ta phải tiến đến gần con rồng Trung Quốc.

    Hết chương “Về đạo Khổng …”, mời các bạn đón đọc chương kế tiếp: “Máu xanh và bài ca đỏ”

    ______________

    [1] “Wir umarmen den Teufel nicht” ["Chúng tôi không ôm lấy quỷ"], Der Spiegel 44/1977

    [2] Lý Quang Diệu: The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew”, Prentice Hall, Singapore, 1999

    [3] “Ein schrecklicher Taifun” ["Một cơn bão đáng sợ"], Der Spiegel 15/1998

    [4] Simon S. C. Tay: “Asia Alone”, John Wiley & Sons, Singapore 2010

    [5] Xem Wieland Wagner: “Der Zornige” ["Người giận dữ"], Der Spiegel 14/2011

    [6] Han Sung Joo: “Keynote-Speech, Lauch of the Center for the Study of Governance”, Workshop, Jakarta, 2008

    [7] http://freedomhouse.org/images/Files/fiw/FH_rMOF_AP_2011_2.pdf

    [8] Xem Patrick French: “India – A Portrait”, Penguin Books, London 2011

    [9] Cung cấp một cái nhìn tốt vào hậu trường của chính trị Thái Lan là quyển sách bị cấm ở Thái của Paul M. Handley: “The King never smiles”, Yale University Press, New Haven and London, 2006

    [10] Xem Francis Fukuyama, người trong “The End of History and The Last Man” đã mô tả nền chính trị thỏa thuận của Nhận Bản; Wolfgang Merkel trong “Demokratie in Asien” ["Dân chủ ở châu Á"] đã cố gắng xem xét các hình thức chính phủ của từng nước một theo những giá trị dân chủ của họ.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi