Mô hình Trung Quốc: Đối thoại giữa Francis Fukuyama và Trương Duy Vi (3)

  • Bởi Admin
    08/11/2011
    2 phản hồi

    Bản dịch của Phạm Gia Minh

    Fukuyama: Tôi xin phép trả lời từng câu hỏi một. Trước tiên, khi so sánh những hệ thống chính trị khác nhau thì tôi nghĩ rằng nên tách bạch các chính sách riêng ra khỏi các thiết chế.Có nghĩa là phải nhìn thấy sự khác nhau giữa những chính sách cụ thể do một vài lãnh đạo nào đó đưa ra với cả hệ thống tổng thể nói chung. Rõ ràng là những người ra quyết định ở Hoa Kỳ đã từng phạm rất nhiều sai lầm, ví dụ như chiến tranh Iraq buộc chúng tôi phải trả giá đắt. Hay như cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ phố Wall là kết quả của hệ tư tưởng thị trường tự do, tiêu dùng gia đình quá trớn và sự sự mở rộng quá mức của thị trường bất động sản. Tuy nhiên những lỗi lầm trong chính sách là điều có thể xảy ra với mọi chế độ vào bất kỳ lúc nào. Tôi không nghĩ rằng các chế độ dân chủ lại có xu hướng đưa ra những chính sách sai lầm nhiều hơn các nhà nước độc tài. Thực tế là, các chế độ độc tài và toàn trị luôn gặp nhiều rắc rối nghiêm trọng hơn. Những sai lầm có thể tiếp tục níu kéo toàn xã hội vì không thể dễ dàng đuổi cổ những kẻ đã ra quyết định. Bởi vậy cái giá phải trả rốt cục sẽ rất lớn.

    Ngài nói rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ lựa chọn một nhà lãnh đạo quốc gia như George W. Bush. Thôi được, kể cũng hơi nặng nề khi nói như vậy. George W. Bush làm Tổng thống trong 8 năm, nếu ngài quay trở lại với vấn đề “ngụy vương” thì ngụy vương gần đây nhất của Trung Quốc, nói rất chân thành, chính là Mao Trạch Đông. Sự tàn phá mà Cách mạng Văn hóa đã gây ra cho xã hội Trung Quốc còn nghiêm trọng hơn rất nhiều những gì mà George W. Bush đã làm đối với xã hội Mỹ.

    Ngài cũng có nhắc tới một vài đặc trưng của lãnh đạo Trung Quốc. Tôi công nhận những mặt tích cực của lối lãnh đạo tập thể và việc hạn chế nhiệm kỳ đối với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Nếu Gaddafi hoặc Mubarak bị hạn chế nhiệm kỳ thì Libya và Ai Cập đã không bất ổn như vậy.

    Ngài cũng phát biểu rằng sự đồng thuận cần đạt được trong nội bộ lãnh đạo trong khi đưa ra những quyết định quan trọng. Theo ý tôi, điều này chính là một bài học được rút ra từ Cách mạng Văn hóa. Trong quá khứ, sự đồng bóng, trái tính của một cá nhân đã gây tổn hại cho cả xã hội. Bởi vậy Đảng Cộng sản đã phải lập ra những thiết chế, trong đó có quy định về nhiệm kỳ.

    Tôi muốn bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với hệ thống của Trung Quốc. Có nhiều người Mỹ không thể nhận thấy một thực tế: mặc dù Trung Quốc là quốc gia độc tài nhưng lại được thể chế hóa cao, có sự kiểm soát và đối trọng trong hệ thống của mình. Tuy nhiên chúng ta cần phải suy nghĩ về dài hạn.

    Cơ cấu của thể chế hiện nay trong Đảng Cộng sản Trung Quốc được tạo nền móng từ ký ức và kinh nghiệm của những người từng sống qua cuộc cách mạng văn hóa. Cho tới giờ ở Trung Quốc người ta vẫn chưa thể nói nói hết những gì về giai đoạn lịch sử đó. Các ngài không dạy thế hệ trẻ về những gì đã diễn ra trước đây, họ chưa hề trải nghiệm cách mạng văn hóa và rồi sẽ quên sự kiện đó. Nhưng vấn đề ở chỗ là điều gì sẽ xảy ra nếu như thế hệ mới không có kinh nghiệm và hiểu biết về những vết thương tâm lý trong một xã hội của nền độc tài toàn trị. Liệu họ có sẵn sàng sống với sự kiểm soát sử dụng quyền lực hiện nay không?

    Bởi vậy vì sao tôi vẫn tin rằng một hình thái pháp trị có kiểm soát và đối trọng trong dài hạn sẽ có ý nghĩa sống còn chứ không chỉ dựa vào ký ức và kinh nghiệm của một thế hệ. Nếu chẳng may thế hệ tiếp theo không có những thứ đó thì họ rất có thể lặp lại sai lầm. Thể chế pháp quyền và dân chủ chính là phương tiện để gìn giữ những gì được coi là tốt, là tích cực, tiến bộ của ngày hôm nay và truyền lại cho những thế hệ sau.

    Trong cuốn sách mới hoàn thành của tôi có một điều được nêu lên như một luận cứ, đó là tất cả chúng ta đều có bản chất chung của loài người. Chính vì có những đặc tính đó nên con người như chúng ta mới yêu thương gia đình, anh, chị em và con cái. Quý trọng bạn bè và gia đình là cách tự nhiên trong quan hệ xã hội giữa người với người. Tuy vậy, chúng ta không thể đặt nền móng của các hệ thống chính trị trên quan hệ bạn bè và gia tộc được. Bởi vậy, một trong những kỳ tích của nền chính trị Trung Quốc là đã thiết lập nên được hệ thống chính trị mang tính thể chế cao, không phụ thuộc vào quan hệ bạn hữa và gia đình, giòng tộc cũng như các mối quan hệ cá nhân khác.

    Theo cách đó, để được nhận vào các cơ quan công quyền thì phải thi bất kể người đó có ảnh hưởng thế nào. Hệ thống tuyển chọn này đã được thể chế hóa đầy đủ từ đầu thời Tiền Hán vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Nhưng vào cuối thời Hậu Hán, khoảng thế kỷ thứ 3, hệ thống chính trị bị tầng lớp quý tộc soán quyền, chủ yếu đó là những gia tộc giàu có và nắm nhiều quyền lực. Sau đó là thời kỳ Tam quốc rất phức tạp và rối ren trong lịch sử Trung Quốc. Chủ yếu là các gia tộc giàu có đã soán quyền đồng thời thủ tiêu chế độ tuyển dụng người tài đương thời. Tôi cho rằng điều này có thể xảy ra đối với bất kỳ hệ thống chính trị nào.

    Đó cũng là điều mà tôi lo ngại cho chính hệ thống của Mỹ hiện nay bởi lẽ có những tầng lớp siêu giàu. Họ có thể chăm sóc con cái họ trong những điều kiện rất hoàn hảo và gửi chúng tới những trường học rất tốt. Tất nhiên đó chưa phải là những gì đang diễn ra ở Trung Quốc nhưng có thể sẽ trở thành mối đe dọa đối với hệ thống Trung Quốc.

    Bằng cách nào để có thể đảm bảo rằng tầng lớp tinh hoa lãnh đạo đất nước được tuyển chọn trên cơ sở tài năng lại không thiên vị gia tộc và bạn bè mình? Tôi cho rằng trong mấy thập kỷ qua, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã làm tốt công việc. Tuy nhiên vẫn tồn tại vấn nạn tham nhũng trong toàn bộ hệ thống, vì ai mà chả muốn quan tâm nhiều hơn tới họ hàng, bạn bè và con cái của mình. Tôi cho rằng một trong những vấn đề nội tại của hệ thống thiếu sự giải trình và chịu trách nhiệm chính trị của cấp trên đối với cấp dưới và đa số quần chúng đó là rất khó ngăn cản sự len lỏi của những mối quan hệ riêng tư vào hệ thống chính trị. Đó là nan đề mà tôi cho rằng cho tới nay vẫn chưa có lời giải.

    Tuy vậy, trong dài hạn, để duy trì hệ thống cho hai hay ba thập niên nữa tôi cho rằng Trung Quốc cần đẩy mạnh sự giải trình và chịu trách nhiệm của cấp trên đối với quần chúng ở dưới nhằm giải quyết nan đề này. Ít ra thì trong một hệ thống dân chủ, nếu có sai thì vẫn có thể sửa sai, đôi khi cũng mất một vài năm.

    Cho phép tôi nói qua về một nhận định liên quan tới nước Mỹ. Chúng tôi đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính. Như GS Trương Duy Vi đã phát biểu là không ai bị trừng phạt. Tôi cũng nghĩ rằng điều này thật là khủng khiếp vì chúng tôi đã không buộc những người có trách nhiệm về cuộc khủng hoảng này phải chịu trách nhiệm. Tại sao lại xảy ra điều này quả là rất phức tạp.Nhưng tôi không cho rằng nó liên quan tới hệ thống chính trị dân chủ của chúng tôi. Năm 1930 đã có một cuộc khủng hoảng tài chính còn lớn hơn hiện nay dẫn tới việc bầu chọn Roosevelt làm Tổng thống và thiết lập hệ thống an sinh xã hội và điều hành chính quyền đổi mới. Người ta đã đưa ra nhiều biện pháp mạnh bởi lẽ nhân dân tức giận về những gì đã xảy ra. Hệ thống của chúng tôi đã thiết lập được một sự giải trình và chịu trách nhiệm thực sự để đối phó với những sai lầm trong chính sách như thế đó.

    Theo một nghĩa nào đó, tôi thậm chí còn nghĩ rằng trong vài năm vừa rồi ở Mỹ một cách chính thức, cuộc khủng hoảng vẫn chưa tới mức quá lớn, bởi vì trên thực tế,các nhà hoạch định chính sách trong phạm vi nào đó đã hạ thấp mức độ nghiêm trọng của nó. Bởi vậy động năng chính trị có lợi cho cải cách đã bị xói mòn và điều này giải thích tại sao chúng tôi đã không kịp thời có những cải cách chế độ điều hành. Nhưng dù sao tôi không nghĩ rằng hệ thống dân chủ của chúng tôi đã gây nên cuộc khủng hoảng hiện nay.

    Trương Duy Vi: Quốc gia nào cũng có những sự kiện hoặc lỗi lầm khủng khiếp trong lịch sử phát triển của mình, kể cả Trung Quốc. Cách mạng Văn hóa và Đại Nhảy vọt quả thực là những thảm họa. Tôi từng trải qua cách mạng Văn hóa và có những ký ức của riêng mình. Tuy vậy cần phải nhấn mạnh lại rằng không có quốc gia nào là ngoại lệ. Hoa Kỳ có một trang sử của sự thảm sát người da đỏ và chế độ nô lệ cũng như tệ kỳ thị chủng tộc được thể chế hóa kéo dài hơn một thế kỷ. GS Fukuyama cho rằng các sai lầm được khắc phục bởi chính hệ thống Hoa Kỳ thì Cách mạng văn hóa và Đại nhảy vọt cũng đã được sửa sai bởi chính hệ thống Trung Quốc. Vấn đề “ngụy vương” cũng được giải quyết bởi hệ thống Trung Quốc. Ngày nay không một cá nhân lãnh tụ nào có thể đi ngược lại quy định thể chế bởi lẽ ở Trung Quốc đã hình thành hệ thống chuyển giao quyền lực kết hợp giữa lựa chọn và bầu chọn.

    Tôi cho rằng hệ thống hỗn hợp này có thể là tốt hơn việc bầu cử đơn thuần ở Phương Tây, đặc biệt trong bối cảnh tìm kiếm một hệ thống chính trị cho thế hệ sau.. Cái mà Phương Tây đang thực hành đó là tăng cường hệ thống bầu bán qua tranh cử mà tôi gọi là “những cuộc trình diễn dân chủ” hay “dân chủ kiểu Hollywood”. Đó là sự thể hiện khả năng trình diễn nhiều hơn là khả năng lãnh đạo. Chừng nào mà quy trình này vẫn hoạt động thì không quan trọng ai sẽ trúng cử, dù là ngôi sao điện ảnh hay vận động viên điền kinh chuyên nghiệp. Ngược lại, theo truyền thống quản trị xã hội truyền thống có một ý tưởng rất quan trọng cần tuân thủ, đó là quốc gia chỉ có thể được điều hành bởi những người đủ tài năng và kinh nghiệm, được lựa chọn theo chế độ tuyển dụng nhân tài. Điều này đã ăn sâu vào tiềm thức của người Trung Quốc.

    GS Fukuyama có nhắc tới Chủ tịch Mao. Một mặt, đúng là ông đã có những lỗi lầm nghiêm trọng. Nhưng mặt khác, chúng ta không nên bỏ qua một sự thật là ngày nay ông vẫn được tôn trọng khắp nơi trên đất Trung Quốc. Điều này nói lên rằng Mao đã làm gì đó đúng đắn. Sẽ không sòng phẳng nếu phủ nhận thành tựu chủ yếu của ông, đầu tiên là thống nhất một đất nước rộng lớn như Trung Quốc; hai là, giải phóng phụ nữ và ba là, cải cách ruộng đất. Đặng Tiểu Bình đã có lần phát biểu công của Mao so với tội sẽ là tỷ lệ 70% trên 30%. Chính tai tôi đã nghe thấy những lời này và cho rằng như vậy mới công bằng. Có lẽ sự khác biệt trong nhận thức của Mao xuất phát từ sự khác biệt về truyền thống văn hóa: Trung Quốc có truyền thống thay đổi chính trị trong khi đó Phương Tây lại thay đổi pháp lý.

    Nhờ có ba thập niên cải cách và mở cửa một tầng lớp trung lưu đã hình thành và ổn định vị thế. Tôi chia xã hội Trung Quốc ra làm ba giai tầng: thượng, trung và hạ. Cơ cấu này có thể ngăn chặn chủ nghĩa cực đoan trên diện rộng như dưới thời Mao. Thứ chủ nghĩa cực đoan đó vẫn có ở các quốc gia như Ai cập bởi lẽ ở đó còn thiếu tầng lớp trung lưu. Cơ cấu xã hội này cho thấy lý do vì sao Trung Quốc sẽ không nghiêng về chủ nghĩa cực đoan.

    Về vấn đề tham nhũng, tôi cho rằng cần phải làm một sự so sánh theo “chiều dọc” và cả “chiều ngang”. Tham nhũng ở Trung Quốc là nghiêm trọng và không dễ ngăn cản. Tuy nhiên khi nhìn lại lịch sử thế giới các bạn sẽ thấy rằng tất cả các cường quốc, kể cả Mỹ đã trải qua những giai đoạn tham nhũng tăng cao và thường trùng hợp với quá trình hiện đại hóa nhanh chóng. Như thầy dậy của ngài là Samuel Huntington đã quan sát thấy rằng quá trình hiện đại hóa nhanh nhất thường đi kèm tình trạng tham nhũng tăng cao nhất. Điều này xảy ra chủ yếu là do chế độ điều hành và giám sát không theo kịp sự tăng trưởng về tài sản và vốn khi diễn ra quá trình hiện đại hóa nhanh chóng.

    Rốt cục thì nạn tham nhũng ở Trung Quốc sẽ bị chặn đứng và được giải quyết thông qua sự thiết lập những thiết chế giám sát và điều hành hữu hiệu hơn.

    Tôi từng qua Mỹ nhiều lần và thấy rằng cách định nghĩa thế nào là tham nhũng có ý nghĩa rất quan trọng. Trong cuốn sách mới viết, tôi đã đưa ra khái niệm “tham nhũng 2.0” khi mà cuộc khủng hoảng tài chính đã làm phát lộ rất nhiều vấn đề nghiêm trọng của “tham nhũng 2.0”. Chẳng hạn như các cơ quan đánh giá mức tin cậy về tài chính đã thu lời qua kinh doanh trên thị trường chứng khoán bằng cách trao cho các sản phẩm và định chế tài chính thiếu minh bạch chứng chỉ AAA. (là mức có độ tin cậy cao trên thị trường chứng khoán quốc tế - ND). Tôi coi đó là tham nhũng. Thế nhưng ở Mỹ người ta lại gọi đó là “rủi ro đạo đức” trong hệ thống pháp lý Mỹ. Tôi cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính có thể được ngăn chặn hiệu quả hơn nếu vấn đề này bị xử lý như là tham nhũng.

    Chúng ta cũng có thể so sánh theo chiều ngang. Tôi đã đi thăm hơn 100 quốc gia. Thực tế sinh động cho thấy, mặc dù ở Trung Quốc người ta phàn nàn rất nhiều về tham nhũng, nhưng ở các nước khác tình hình còn tồi tệ hơn rất nhiều. Để so sánh chúng ta tìm hiểu các quốc gia có kích cỡ từ 50 triệu dân trở lên và đang ở cùng trình độ phát triển, chẳng hạn như Ấn Độ, Ukraina, Pakistan, Brazil, Ai cập và Nga. Kết quả đánh giá của tổ chức Minh bạch quốc tế cũng đồng thanh với nhân định của tôi.

    Hơn thế nữa cần phải nhìn Trung Quốc theo các vùng miền khác nhau. Các vùng đã phát triển của Trung Quốc miễn dịch tốt hơn với tham nhũng. Có lần tôi làm việc ở Italy với tư cách là giáo sư mời, nhân tiện tôi thăm Hy lạp vài lần và nghĩ rằng Thương Hải dứt khoát ít tham nhũng hơn Italy và Hy lạp. Ở miền nam nước Ý, Mafia nghiễm nhiên hợp pháp hóa sự tồn tại của mình thông qua hệ thống dân chủ. Lần đầu tiên tôi tới thăm Hy lạp cách đây 20 năm , khi đó thâm hụt ngân sách rất cao. Còn giờ đây Hy lạp đang phá sản và cần sự hỗ trợ quốc tế. Tôi nói với các bạn Hy lạp của mình rất chân thành: “hai mươi năm trước, Thủ tướng của các bạn là Papandreou. Hai mươi năm sau Thủ tướng của các bạn vẫn là Papandreou. Nền chính trị của các bạn có vẻ như là công việc của một vài gia đình và nền kinh tế Hy lạp bị phá sản bởi lẽ hệ thống an sinh xã hội thì quá cao còn thực tiễn quản trị lại quá nghèo nàn, kém cỏi.” Có lần tôi còn đùa rằng chúng tôi cần gửi một đội ngũ các nhà quản trị từ Thương Hải hoặc Trùng Khánh để giúp đỡ Hy Lạp quản trị tốt hơn. Quả thực, bất kể là hệ thống chính trị nào, độc đảng, đa đảng hoặc không đảng phái thì rốt cục vẫn là vấn đề quản trị hiệu quả và mang lại được gì cho nhân dân của mình. Bởi vậy, quản trị tốt là điều quan trọng hơn dân chủ hóa theo phong cách Phương Tây.

    Điều này đã đưa tôi tới chính đề “sự cáo chung của lịch sử” mà GS Fukuyama nêu lên. Tôi chưa công bố quan điểm của mình, tuy nhiên nó hoàn toàn đối lập với GS Fukuyama. Tôi nhìn nhận rằng: không phải một sự cáo chung của lịch sử mà phải là chấm hết cho sự cáo chung của lịch sử.

    Dân chủ Phương Tây có thể chỉ là một hình thái mang tính giai đoạn trong lịch sử lâu dài của loài người. Tại sao tôi lại nghĩ vậy? 2500 năm trước, một vài thành phố- quốc gia chẳng hạn như Athen đã thực hiện dân chủ trong số các công dân nam giới của mình và sau đó lại bị khởi nghĩa Sparta đánh bại. Từ đó cho tới nay, hơn 2000 năm trôi qua từ “dân chủ” chủ yếu mang một nghĩa rộng tiêu cực, thông thường là tương đương với “chính trị của đám đông dân chúng”. Các quốc gia Phương Tây không thực thi hệ thống mỗi người một lá phiếu ở nước họ mãi cho tới khi quá trình hiện đại hóa ở nước họ đã hoàn thành.

    Thế nhưng ngày nay hệ thống chính trị dân chủ kiểu này không thể giải quyết các vấn đề lớn sau đây.

    - Thứ nhất là, thiếu vắng văn hóa “tài năng phải là đầu tiên”. Bất cứ ai được bầu lên đều có thể điều hành đất nước. Điều này đã trở nên quá đắt đỏ tới mức không chịu nổi thậm chí đối với Mỹ.
    - Thứ hai là, gói dịch vụ an sinh xã hội chỉ có thể tăng thêm chứ không giảm đi. Bởi vậy không thể tiến hành những cải cách như Trung Quốc đã thực hiện trong lĩnh vực ngân hàng và các xí nghiệp nhà nước.
    - Thứ ba là, càng ngày càng khó khăn để tạo ra sự đồng thuận ở các quốc gia dân chủ. Ngày trước, đảng thắng cử với 51% phiếu bầu đã có thể tập hợp toàn xã hội ở các nước phát triển. Ngày nay, xã hội Mỹ đang bị chia rẽ sâu sắc và phân cực. Đảng nào thất cử, thay vì thừa nhận thất bại lại tiếp tục gây cản trở.
    - Thứ tư là, những vấn đề đơn giản có tính chất dân túy có thể làm giảm sút mối quan tâm vào các vấn đề dài hạn của đất nước và xã hội. Ngay cả Mỹ cũng đang bị mối đe dọa này rình rập.

    Năm 1793, Vua George III của Anh Quốc đã phái đặc phái viên của mình tới Trung Quốc để mở mang thương mại hai chiều. Thế nhưng vua Càn Long đã quá ngạo mạn vì tin rằng Trung Quốc mới là quốc gia nhất thế giới. Bởi vậy Trung Quốc chẳng cần học hỏi ai. Điều này khi đó đã được định nghĩa là “sự cáo chung của lịch sử”, và từ đó Trung Quốc bị tụt hậu. Còn giờ đây tôi lại nhận thấy một tư duy tương tự ở Phương Tây.

    Cần phải tới Trung Quốc để tận mắt chứng kiến Trung Quốc đã tự cải cách như thế nào trong ba thập kỷ qua. Mỗi bước đi nhỏ nhưng cuộc hành trình không ngừng, không nghỉ. Phương Tây vẫn có niềm tin mạnh mẽ vào hệ thống của mình, tuy nhiên đó cũng chính là cái hệ thống ngày càng trở nên có lắm vấn đề. Hy lạp, cái nôi của nền dân chủ Phương Tây đang phá sản, còn nợ ngân sách của Anh đã cao tới 90% tổng sản phẩm quốc dân.

    Vậy còn Hoa Kỳ thì sao? Tôi làm một con tính đơn giản, cuộc tấn công 9/11 làm hao tổn cho Mỹ 1000 tỷ $. Hai cuộc chiến không khôn ngoan lắm làm tốn gần 3000 tỷ $ và khủng hoảng tài chính khoảng 8000 tỷ $. Hiện nay nợ ngân sách của Mỹ vào khoảng từ 10000 tỷ $ tới 20000 tỷ $. Nói cách khác, nếu đồng Đôla Mỹ mà không phải là đồng tiền dự trữ quốc tế - mà vị thế này có thể không kéo dài mãi- thì Mỹ đã bị coi là đã phá sản rồi.

    Sự trỗi dậy của Trung Quốc, điều mà chúng tôi vẫn gọi là “vận khí ” hay xu hướng chủ đạo có tầm cỡ và tốc độ chưa có tiền lệ trong lịch sử loài người. Cảm nhận của riêng tôi là hệ thống Phương Tây đang trượt dốc nên cần cần đại tu và cải cách. Một số người Trung Quốc luôn miệng ca ngợi và tôn thờ mô hình Mỹ, thế nhưng đối với những ai đã sống ở Châu Âu và đi Mỹ nhiều lần thì điều này là quá giản đơn và ngây thơ. Cần phải khách quan khi so sánh Trung Quốc với các nước Phương Tây. Cái gì là điểm mạnh và điểm yếu của Phương Tây? Đâu là ưu điểm và nhược điểm của chúng ta và điều gì đáng học hỏi hay ghi nhận từ Phương Tây? Đó mới là lối tư duy đúng.

    Fukuyama: Một lần nữa tôi muốn nói rằng ngài cần phân biệt giữa hệ thống chính trị và chính sách trong ngắn hạn. Khỏi phải nói cũng biết trong nhiệm kỳ trước, Hoa Kỳ đã vay nợ quá nhiều. Nhưng quả thực tôi lại không nghĩ rằng đó lại là vấn đề của hệ thống dân chủ.

    Nước Đức rất giống Trung Quốc ở một điểm là nền kinh tế lớn, liên tục có xuất siêu và một thị trường việc làm bùng nổ. Nhưng đồng thời Đức lại không bị ám ảnh bởi những đổi mới quá đáng trong lĩnh vực tài chính, điều đã làm suy thoái nền kinh tế Mỹ và cũng là nguyên nhân của bong bóng bất động sản. Đây cũng là một đất nước dân chủ, có điều là Đức đã có những lựa chọn khác Mỹ. Bởi vậy tôi không nghĩ rằng việc xác định một quốc gia là dân chủ hay không dân chủ ở đây là cần thiết. Mọi quốc gia đều có thể phạm sai lầm.

    Một lần nữa tôi muốn đặt sự vật vào viễn cảnh tương lai. Thực sự tôi không muốn xem thường những kỳ tích mà Trung Quốc đã đạt được. Tuy nhiên theo quan điểm của tôi thì ngài không thể suy đoán cho tương lai dài hạn nếu chỉ căn cứ trên những kết quả ngắn hạn. Nhật bản đã là một nước tưởng như không biết dừng bước vào những năm cuối của thập niên 1980 trước khi bong bóng bất động sản vỡ tung. Sau khi bong bóng vỡ và tiếp theo những chính sách sai lầm là 20 năm kinh tế trì trệ và tăng trưởng thấp. Thế mà nhiều người vào những năm 1980 đã tin rằng Nhật bản sẽ tăng trưởng cao hơn, cao nữa và sẽ vượt Hoa Kỳ. Hồi đó trên thế giới đã nảy nở một đức tin vào uy thế Nhật bản. Còn giờ đây, nếu nhìn vào tăng trưởng kinh tế trong dài hạn thì điều gì sẽ là thách thức lớn nhất đối với Trung Quốc cũng sẽ chính là điều sẽ thách thức mọi nền kinh tế khác.Thoạt tiên trong giai đoạn đầu, tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa rất nhanh thu hút nhiều cư dân nông thôn ra thành thị.

    Châu Âu cũng đã tăng trưởng rất nhanh trong giai đoạn này, Hàn Quốc và Nhật bản cũng vậy. Có lẽ 25 năm trước Trung Quốc cũng đã bước vào quá trình này. Đến một điểm nào đó, sự chuyển dịch này đã thu hút hết nhân lực ra khỏi khu vực nông nghiệp thì sẽ nảy sinh một thách thức mới về năng suất trong một nền kinh tế trưởng thành hơn. Tôi cho rằng có lẽ đây là một sự thật có tính toàn cầu và chẳng có quốc gia nào có thể duy trì liên tục mức tăng trưởng 2 con số cho tới khi đạt cái mốc đánh dấu sự ra nhập danh sách các nền kinh tế đã công nghiệp hóa. Điều này rồi cũng sẽ xảy ra với Trung Quốc.

    Giai đoạn tới đây nền kinh tế Trung Quốc sẽ phát triển chậm lại. Mọi quốc gia, đặc biệt là các nước Châu Á sẽ phải đối mặt với vấn đề giảm tỷ lệ sinh đẻ, thậm chí đó sẽ trở thành một gánh nặng lớn. Số người già cả ngày càng lớn do tuổi thọ được nâng cao đồng thời tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cũng thấp, đó là chưa kể đến chính sách một con. Điều này là một sự thật ở Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc lục địa.

    Gần đây tôi có dự một cuộc họp, tại đó một nhà kinh tế phát biểu rằng vào những năm 2040-2050 Trung Quốc sẽ có khoảng 400 triệu người trên 60 tuổi. Quả thực đó sẽ là một thách thức khủng khiếp mà các quốc gia phát triển khác cũng đang gặp phải. Bởi vậy, khi chúng ta nói về tính dẻo dai của một hệ thống chính trị, chúng ta phải luôn nghĩ trong dài hạn. Với tỷ lệ sinh sản giảm và dân số tuổi già ngày càng tăng thì hệ thống của chúng ta sẽ phải tỏ ra linh hoạt ra sao? Tuy nhiên tôi không thể nói rằng các quốc gia dân chủ có mọi lời giải. Đó là thách thức đối với mọi người.

    GS Trương Duy Vi có nêu lên vấn đề về chủ nghĩa dân túy với hàm ý rằng quần chúng không phải bao giờ cũng quyết định đúng trong các xã hội dân chủ. Tôi nghĩ là có rất nhiều ví dụ liên quan đến nhận định này trong các chính sách của Hoa Kỳ hiện nay. Đã đôi lần tôi phải lắc đầu vì những quyết định ngu ngốc của các nhà chính trị. Thế nhưng, Abraham Lincoln, người mà tôi cho là Tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ đã có một câu nói nổi tiếng:” Anh có thể lừa một vài người suốt đời, tất cả mọi người trong một lúc nào đó, nhưng không thể lừa tất cả mọi người mãi mãi.”

    Đặc biệt cùng với sự gia tăng của giáo dục và thu nhập thì tôi nghĩ rằng chủ nghĩa dân túy mà ngài nói đến, theo một số khía cạnh, cũng đã thay đổi. Đó là phép thử của nền dân chủ thực sự. Đúng là quần chúng trong ngắn hạn có thể quyết định sai hoặc chọn nhầm lãnh đạo. Nhưng trong dài hạn, nhân dân sẽ quyết định đúng đắn. Tôi nghĩ rằng trong lịch sử Hoa Kỳ chúng tôi có thể chỉ ra nhiều quyết định ngắn hạn sai lầm, nhưng cuối cùng thì nhân dân sẽ hiểu quyền lợi của họ ở đâu và điều này sẽ hướng họ tói những quyết định đúng đắn.

    GS Trương Duy Vi cũng đề cập tới tầng lớp trung lưu. Ông nói rằng họ sẽ đẩy lùi khả năng quay trở lại của chủ nghĩa cực đoan dân túy hoặc sự nổi loạn.

    Một trong những người thầy của tôi là GS Samuel Huntington năm 1968 đã viết một cuốn sách có tựa đề “Trật tự chính trị trong những xã hội đang thay đổi”. Trong đó có một điều đáng lưu ý khi ông phát biểu rằng các cuộc cách mạng không bao giờ được tạo ra bởi những người dân nghèo. Thực sự là tầng lớp trung lưu mới kiến tạo ra các cuộc cách mạng vì lẽ để cách mạng thành công phải có những người được đào tạo biết cách tận dụng các thời cơ, vận hội. Thế nhưng những cơ hội đó bị các hệ thống chính trị và kinh tế ngăn cản nên mới nảy sinh sự chênh lệch giữa kỳ vọng và khả năng của hệ thống đáp ứng chúng, và điều này làm phát sinh sự bất ổn chính trị.

    Bởi vậy theo tôi thì sự lớn mạnh của tầng lớp trung lưu không phải là đảm bảo đẩy lùi tình trạng nổi loạn mà chính là nguyên nhân của bất ổn.

    Những gì đã xảy ra ở Ai Cập và Tunisia chính là do sự gia tăng của giai cấp trung lưu và vì càng ngày càng có nhiều người được học hành biết sử dụng Internet. Khi đã được kết nối với thế giới bên ngoài, họ mới hiểu ra các chính phủ của họ mới kém cỏi làm sao.

    Nói về sự tăng trưởng bền vững ở Trung Quốc tôi không nghĩ rằng nguồn gốc của sự bất ổn sẽ bắt nguồn từ những người nông dân nghèo ở các vùng quê. Cách mạng về chính trị được thiết kế bởi giai tầng trung lưu có học bởi vì hệ thống chính trị hiện nay đang ngăn cản họ kết nối với thế giới bên ngoài rộng lớn hơn và cho họ vị thế xã hội mà họ xứng đáng được hưởng.

    Tôi biết rằng hàng năm có tới 6 – 7 triệu sinh viên mới ra trường ở Trung Quốc. Và một trong những thách thức lớn nhất đối với sự ổn định không phải là dân nghèo ở Trung Quốc mà là lệu xã hội có khả năng đáp ứng những kỳ vọng của tầng lớp trung lưu có học.

    Về vấn đề tham nhũng, tôi không muốn thuyết phục mọi người rằng dân chủ thì có thể giải quyết vấn đề tham nhũng hiệu quả hơn bởi một thực tế rất hiển nhiên đó là rất ít chế độ dân chủ đồng thời lại có mức độ tham nhũng cao. Đứng về nhiều góc độ, Trung Quốc có thể ít tham nhũng hơn nhiều nước trong số các nước dân chủ đó. Tuy nhiên tôi lại phải nghĩ rằng một trong những con đường đấu tranh chống tham nhũng chính là tự do báo chí, nơi mà người dân có thể phơi bày tham nhũng mà không lo bị đe dọa hoặc trả thù.

    Cứ cho là ở các quốc gia dân chủ không phải lúc nào cũng được như vậy đi, chẳng hạn như ở Italy, Thủ tướng sở hữu toàn bộ truyền thông. Tuy vậy tôi vẫn nghĩ rằng dù sao đi nữa, được tự do phát ngôn mà nhờ vậy mà quần chúng có thể phê phán những người có thế lực trong hệ thống chính trị có phân cấp mà không sợ bị trả thù cá nhân là một ưu điểm. Đó chính là ưu điểm khi có một hệ thống dân chủ tự do.

    Trương Duy Vi: Cảm ơn GS Fukuyama. Ngài nói rằng chúng ta cần đánh giá theo một khuôn khổ thời gian dài hơn. Năm 1985 tôi đến Mỹ với tư cách là một phiên dịch cho lãnh đạo Trung Quốc, chúng tôi được gặp TS Henry Kissinger. Khi được hỏi về mối quan hệ Trung - Mỹ ông ta đã nói rằng ông thà nghe chúng tôi trước vì chúng tôi tới từ một quốc gia có hàng ngàn năm văn hiến. Tất nhiên đó là biểu hiện của sự nhã nhặn. Tuy vậy chúng ta cần nhớ rằng Trung Quốc đã từng là một quốc gia tiên tiến nhất về sức mạnh và hệ thống chính trị trong gần 2000 năm qua. Tôi trân trọng TS Fukuyama vì không giống với nhiều học giả Phương Tây khác, ngài đã dành nhiều thời gian và sức lực để nghiên cứu các thiết chế chính trị của Trung Quốc cổ đại, bằng chứng là kết luận của TS về việc Trung Quốc đã xây dựng nên nhà nước hiện đại đầu tiên trên thế giới.

    Trung Quốc bị tụt hậu so với Phương Tây trong khoảng 200-300 năm gần đây. Thế nhưng Trung Quốc đang đuổi kịp nhanh chóng, đặc biệt tại các vùng đã phát triển. Tôi sợ rằng Phương Tây hơi quá ngạo mạn và không thể nhìn Trung Quốc với một tư duy rộng mở. Theo tôi thì Phương Tây đã có thể học hỏi ở Trung Quốc một số điều. Tổng thống Obama có thể đúng khi ông thúc giục Mỹ xây dựng đường sắt cao tốc, quan tâm nhiều hơn đến giáo dục cơ sở, giảm thâm hụt ngân sách, tiết kiệm nhiều hơn, phát triển công nghiệp chế tạo và vực dậy khu vực xuất khẩu. Ông đã nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không thể xếp hạng 2 thế giới. Rõ ràng là ông ta đã cảm nhận được áp lực từ sự trỗi dậy của Trung Quốc.

    GS Fukuyama có vẻ lạc quan về vấn đề chủ nghĩa dân túy và rất tin tưởng rằng Hoa Kỳ có thể học trên những lỗi lầm của mình, thay vì bị dẫn dắt bởi chủ nghĩa dân túy. Tuy nhiên tôi thiên về quan điểm cho rằng chủ nghĩa dân túy hầu như đã trở nên lan rộng hơn trên thế giới nhờ truyền thông hiện đại. Ngày nay một đất nước hay một xã hội quả thực là có thể đổ vỡ sau một đêm chỉ vì chủ nghĩa dân túy quá mức, và điều này còn ý nghĩa hơn vấn đề thể chế chính trị.

    Ở Trung Quốc, truyền thống hàng ngàn năm đã để lại dấu tích ở mọi thứ. Tôi không nói truyền thống là luôn tốt hay xấu, quan điểm của tôi là không thể hoặc không thực tế nếu loại bỏ truyền thống đã in dấu lên mọi thứ mà chúng ta đang làm hôm nay. Bởi vậy tôi luôn nói rằng, dù thích hay không thích thì tính cách Trung Quốc và những “gien di truyền lịch sử” vẫn luôn tồn tại cùng chúng tôi. Điều mà chúng tôi có thể làm là phát huy các ưu điểm trong truyền thống của mình đồng thời ngăn ngừa những nhược điểm. Những gì đã diễn ra trong Cách mạng văn hóa cho chúng ta thấy rằng rất khó để phá hoại truyền thống. Trung Quốc thừa hưởng nhiều truyền thống rất tốt đẹp trong đó có niềm tin vào chế độ sử dụng nhân tài. Bởi vậy tuyển chọn kết hợp với một số hình thức bầu chọn đang hứa hẹn một tương lai ở Trung Quốc và chúng tôi sẽ làm tốt việc này khi đã có hàng ngàn năm truyền thống tuyển chọn nhân tài.

    GS Fukuyama nói về những hình thái thay thế của dân chủ. Đó chính là lĩnh vực mà quan điểm của chúng ta khác biệt. Trung Quốc không có ý định tiếp thị mô hình của mình như một hình thái thay thế cho các quốc gia và dân tộc khác. Mục tiêu của chúng tôi chỉ đơn giản là điều hành, quản trị đất nước mình hiệu quả, cũng có nghĩa là hoàn thành sứ mệnh đối với 1/5 nhân loại, và không có gì hơn là đạt được mục tiêu đó. Nhưng có một sự thật là nếu anh làm tốt việc gì đó thì những người khác sẽ noi gương. Ngày nay thực sự tất cả các nước láng giềng Châu Á của Trung Quốc, từ Nga cho tới Ấn Độ, từ Việt Nam cho tới Lào, Cămpuchia và các dân tộc Trung Á đang học hỏi mô hình Trung Quốc bằng cách này hay cách khác.

    Quan điểm của GS Huntington về sự xung đột giữa tầng lớp trung lưu với nhà nước được đa số học giả Phương Tây và một số học giả Trung Quốc ủng hộ xã hội dân sự độc lập chia sẻ. Tuy nhiên Trung Quốc lại có một truyền thống văn hóa lâu đời của riêng mình mà theo đó tầng lớp trung lưu có những ảnh hưởng khác biệt. Đa số người Phương Tây nhìn nhận chính quyền như là “điều không muốn nhưng phải chấp nhận”, thế nhưng đa số người Trung Quốc lại coi chính quyền như một sự “bất đắc dĩ phải có”. Với di sản văn hóa như vậy, tầng lớp trung lưu có nhiều khả năng trở thành những người ủng hộ trung thành nhất vị thế ổn định của Trung Quốc trên thế giới. Hơn nữa, thay vì đối đầu, quan hệ giữa tầng lớp trung lưu với nhà nước Trung Quốc nói chung là tích cực. Điều này làm nảy sinh sự dính kết xã hội không có ở các xã hội Phương Tây.

    Bây giờ tôi sẽ nói về vấn đề tham nhũng. Chúng ta ai cũng biết bốn con rồng Châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Hongkong. Sau khi quá trình hiện đại hóa (có thể hiểu là công nghiệp hóa – ND) hoàn thành trên diện rộng, Đài Loan và Hàn Quốc đã tiếp thu hệ thống chính trị Phương Tây trong khi Họng kong và Singapore lựa chọn ít nhiều vẫn giữ nguyên hệ thống hiện hành. Hãy nhìn vào tình hình hiện nay: Hong kong và Singapore ít tham nhũng hơn Hàn Quốc và Đài Loan theo nhận định của tất cả những ai nghiên cứu về tham nhũng. Trong những năm 1960 tình trạng tham nhũng ở Hong Kong là trầm trọng, nhưng vấn nạn này đã được ngăn chặn thành công khi thành lập Ủy ban độc lập chống tham nhũng (ICAC). Nói cách khác, hệ thống dân chủ Phương Tây không phải là giải pháp tốt nhất đối với vấn nạn tham nhũng, ít ra là trong thế giới ngoài Phương Tây.

    Tổ chức minh bạch quốc tế đưa ra chỉ số về tham nhũng cho thấy trong các nền “dân chủ” với dân số 50 triệu trở lên tình trạng tham nhũng trầm trọng hơn Trung Quốc. Thực tế là tham nhũng ở Đài Loan trở nên tồi tệ hơn sau khi có dân chủ. Nếu không thì lãnh đạo Trần Thủy Biển đã không chịu kết cục phải ngồi tù. Liên tiếp 5 tổng thống Hàn Quốc được dân bầu đều dính líu vào các vụ tham nhũng tai tiếng. Trái ngược lại, Hong Kong và Singapore không cần phải tiếp nhận mô hình chính trị Phương Tây lại thành công trong nỗ lực giảm tham nhũng đáng kể nhờ chế độ pháp quyền và đổi mới các định chế.

    Một số người Trung Quốc đã biến tấu câu nói nổi tiếng của Churchill về dân chủ thành câu “dân chủ là hệ thống ít tồi tệ nhất “. Tôi đã kiểm tra lại bối cảnh mà Churchill phát biểu câu này và thấy câu nói được phát ngôn trong cuộc tranh luận ở Westminster vào năm 1947. Rõ ràng là ông ta nói về dân chủ kiểu Phương Tây và được thực thi ở Phương Tây. Winston Churchill bản thân cũng mạnh mẽ chống lại nền độc lập của Ấn Độ. Vậy thì làm sao ông ta có thể ủng hộ Ấn Độ tiếp nhận nền dân chủ kiểu Phương Tây? Tôi tự mượn câu nói của Churchill để mô tả mô hình Trung Quốc giống như một “mô hình ít tồi tệ nhất”, có nghĩa là tuy có những yếu điểm nhưng nó cho kết quả thực tế tốt hơn những mô hình khác.

    Fukuyama: Cho phép tôi được bắt đầu từ vấn đề về tầng lớp trung lưu. Phải chăng tầng lớp trung lưu Trung Quốc khác biệt với tầng lớp trung lưu ở những xã hội không Trung Quốc? Đó cũng là vấn đề mà tôi đã tranh luận rất nhiều với GS Huntington. Năm 1990 GS viết cuốn sách có tựa đề “sự xung đột giữa các nền văn minh” trong đó về cơ bản ông dựa trên luận cứ cho rằng văn hóa quyết định hành vi. Bất chấp những đổi thay do quá trình hiện đại hóa mang lại, ông cho rằng, văn hóa vẫn quyết định hành vi của con người, dù đó là người tân tiến.

    Tôi tin rằng văn hóa rất quan trọng. Lý do vì sao tôi nghiên cứu chính trị quốc tế chính là tôi thích quan sát những người khác mình. Bởi lẽ sự đa dạng văn hóa là một thực tế và thật tuyệt vời khi mọi người không ai giống ai. Nhưng có một câu hỏi lớn hơn đó là phải chăng văn hóa tỏa sáng xuyên thời gian theo cách thức phản kháng lại sự phát triển của chính trị, xã hội và kinh tế hay là quá trình hiện đại hóa sẽ dẫn tới một sự hội tụ về văn hóa?.

    Cho phép tôi viện dẫn một ví dụ. Nhìn quanh căn phòng thấy có nhiều phụ nữ ngồi hẳn có người sẽ tự hỏi: sao lại có nhiều thính giả nữ thế nhỉ?. Thời trước, vị thế của người phụ nữ bị hạ thấp và họ bị hạn chế nhiều cơ hội trong những xã hội mà tài sản thừa kế chỉ được truyền cho nam giới. Điều này từng là hiện thực ở Mỹ và Châu Âu vào thời kỳ mới phát triển. Nhưng khi bạn tới thăm các quốc gia phát triển và nơi đây ở Đông Á bạn sẽ thấy phụ nữ khắp nơi. Tại sao lại như vậy? Tại sao vị thế của phụ nữ lại được nâng cao như vậy? Vì sao họ làm việc ở các văn phòng và nhà máy? Vì sao họ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới về kinh tế và xã hội? Nguyên nhân chính là quá trình hiện đại hóa. Ngày nay không ai có thể vận hành một nền kinh tế mà lại thiếu sự tham gia của lực lượng lao động nữ.

    Saudi Arabia không cho phép phụ nữ lái xe, bởi vậy họ phải thuê gần nửa triệu lái xe từ Nam Phi tới chỉ để đưa đón phụ nữ nơi đây.Nếu như họ không có dầu lửa thì có lẽ không thể tượng tượng nổi hệ thống kinh tế này sẽ ra sao. Mặc dù văn hóa đạo Hồi có những quy định về vai trò của người phụ nữ, thế nhưng ở Trung đông phụ nữ đang trở nên mạnh mẽ và được tổ chức tốt hơn về chính trị. Họ đòi hỏi những quyền lợi bình đẳng như nam giới. Điều này đối với tôi có vẻ như một trường hợp mà các nền văn hóa khác nhau đều đi tới những giải pháp tương đồng về vấn đề vai trò người phụ nữ. Điều đó diễn ra chẳng phải vì văn hóa là yếu tố quyết định, mà bởi quá trình hiện đại hóa buộc xã hội phải tìm được lời giải.

    Tôi không nghĩ rằng chúng ta có một xã hội hiên đại mà không dành cho phụ nữ quyền bình đẳng. Tất nhiên đó vẫn là một vấn đề còn để ngỏ. GS Trương Duy Vi nói rằng tầng lớp trung lưu được học hành, tương đối an toàn, có tài sản riêng sẽ khác với tầng lớp trung lưu ở nơi khác chỉ bởi vì họ sống trong môi trường văn hóa Trung Quốc. Có thể đúng như vậy.

    Nhưng theo quan sát của tôi thì tầng lớp trung lưu trong các nền văn hóa khác nhau thực ra lại ứng xử rất giống nhau. Trong thế giới Ả rập, người ta nghĩ rằng dân Ả rập là khác biệt do chịu ảnh hưởng của Hồi giáo. Thế nhưng năm vừa qua nhân dân các nước A rập đã xuống đường biểu tình chống chính phủ. Bởi thế tôi cho rằng một số giả thuyết về vai trò của văn hóa có thể không còn đúng nữa. Có thể văn hóa quyết định một số hành vi trong quá khứ, nhưng trong điều kiện hiện nay, điều này đã khác rồi. Dưới ảnh hưởng của Internet và du lịch có lẽ hành vi của con người được định hình bởi nhu cầu và khát vọng của thế hệ đương đại, nhiều hơn là bởi những truyền thống sâu nặng của quá khứ.

    Cho phép tôi phát biểu một điều cuối cùng về những gì tôi đồng tình với GS Trương Duy Vi. Tôi cho rằng có sai lầm trong nhân dân Mỹ và Châu Âu khi đánh giá những thành tích của Trung Quốc, kể cả trong quá khứ và hiện tại. Cuốn sách gần đây của tôi viết có sáu chương thì ba chương về Trung Quốc. Riêng Trung Quốc đã chiếm nhiều chương hơn những khu vực khác của thế giới. Tôi thực sự đã dành nhiều thời gian để bản thân mình giảng thật nhiều giờ về lịch sử Trung Quốc ở mức có thể được, vì tôi nhận thấy sức mạnh của lịch sử Trung Quốc rất quan trọng đối với người Mỹ và cả người Trung Quốc.

    Không có nền văn hóa nào có thể tồn tại với các giá trị và định chế vay mượn. Điều mà tôi nhận thức được là Trung Quốc đang tìm lại những cội rễ xác thực của mình. Đó là một việc tốt mà Trung Quốc cần phải làm. Thách thức ở đây là trong khi đi tìm lại niềm tự hào trong lịch sử và truyền thống, cần phải tương thích chúng với những định chế hiện đại. Chúng ta phải làm việc này theo cách không dẫn đến chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa Sôvanh nước lớn.

    Một nước Nhật hiện đại sẽ phải như thế nào? Nó sẽ không giống Mỹ, Anh hoặc Pháp mà phải giàu đặc trưng Nhật. Tôi nghĩ rằng một Trung Quốc hiện đại cũng cần có những đặc trưng rất Trung Quốc. Cho nên một nhiệm vụ quan trọng là phải chỉ ra những gì thực sự là đặc trưng Trung Quốc và những gì mà xã hội hiện đại đòi hỏi. Đó cũng là một phần của trật tự quốc tế rộng lớn hơn. Và chỉ có cách đó chúng ta mới có thể chung sống trong hòa bình.

    Trương Duy Vi: Nhiều nhà khoa học chính trị Phương Tây có quan điểm rằng hiện đại hóa sẽ dẫn đến sự hội tụ văn hóa. Thế nhưng kinh nghiệm cho thấy không hẳn là như vậy. Lấy Trung Quốc là một ví dụ. Người Trung Quốc ai cũng biết là luôn bận bịu với hiện đại hóa, tạo tài sản và kiếm tiền. Thế nhưng mấy năm trước có một bài hát đã nhanh chóng trở thành nổi tiếng toàn quốc vì đã động viên mọi người hãy thăm cha, mẹ của mình thường xuyên hơn. Bài hát đó đã sưởi ấm trái tim mỗi người Trung Quốc và đề cập trúng nỗi trắc ẩn trong lòng công chúng. Nói khác đi, bất chấp những bước đi hối hả của hiện đại hóa và sự gia tăng của chủ nghĩa cá nhân, cốt lõi của truyền thống Trung Quốc vẫn là gia đình. Và vì nó mà người Trung Quốc sẵn sàng hy sinh nhiều hơn đa số người Phương Tây.

    Bản sắc văn hóa không thể thay đổi được bởi hiện đại hóa. Nếu không thì thế giới này sẽ thật là nhàm chán. Mà làm sao có thể làm thay đổi bản sắc của một nền văn hóa lực lưỡng như văn hóa Trung Quốc? Một khi nói đến văn hóa McDonald thì cũng có Tám trường phái ẩm thực Trung Quốc và quả thực, chúng rất khác nhau. Thực tế là kẻ đi trước mà không đủ sức chinh phục kẻ đến sau thì kẻ đến sau sẽ đồng hóa người đi trước. Tôi đánh giá cao quan điểm của Edmund Burke, một nhà triết học chính trị Anh thế kỷ 19, người cho rằng mọi thay đổi trong hệ thống chính trị phải xuất phát từ chính truyền thống của dân tộc.

    Ngoài ra, tôi nghĩ rằng nguyên nhân chính của sự đề cao văn hóa chính là thái độ ngưỡng mộ của chúng tôi đối với minh triết gắn kết với văn hóa. Minh triết và tri thức là hai thứ khác nhau. Ngày nay chúng ta có nhiều tri thức hơn bất kỳ lúc nào trong quá khứ. Trẻ em học phổ thông có thể biết nhiều hơn Khổng Tử hay Socrate. Tuy nhiên minh triết của nhân loại hầu như không thay đổi. Ở đây tôi có một lời khuyên giản dị không biết GS Fukuyama có chấp nhận hay không: nên chăng cần thêm yếu tố minh triết vào ba yếu tố cơ bản của các thể chế chính trị hiện đại mà GS đã nêu, cụ thể là nhà nước, tính giải trình, chịu trách nhiệm và pháp quyền . Hoa Kỳ đã từng thắng trong nhiều cuộc chiến tranh đứng về phương diện chiến thuật, nhưng lại thua nếu nhìn từ góc độ chiến lược, ví dụ như cuộc chiến Việt Nam, Afghanistan và Iraq chỉ là một vài minh chứng. Đó là các tình huống có liên quan tới minh triết và tôi nghĩ rằng tầm quan trọng của minh triết là không thể bỏ qua.

    Mới đây tôi qua Đức giảng bài. Có một nhà kinh tế Đức kể cho tôi một câu chuyện, đó là Thủ tướng Angela Merkel hỏi một nhà kinh tế Đức khác rằng tại sao không có nhà kinh tế của Đức nào đoạt giải Nobel về kinh tế. Câu trả lời là “thưa Bà Thủ tướng, xin đừng lo lắng về điều đó vì ở đâu có những nhà kinh tế hạng nhất thì nơi đó sẽ không có nền kinh tế hạng nhất”. Nói cách khác, ở nơi đó nền kinh tế có vấn đề.

    Trong số các môn khoa học xã hội mà Phương Tây đã xây dựng nền móng, tôi cho rằng môn kinh tế là gần với sự thật nhất vì nó giống khoa học tự nhiên ở chỗ phải dựa trên các mô hình toán. Với quan niệm đó, thành thực mà nói môn khoa học chính trị và các môn khoa học xã hội khác được khởi đầu ở Phương Tây có thể được coi là xa sự thật hơn môn kinh tế. Bởi vậy đó cũng là lý do vì sao chúng ta cần phải dũng cảm hơn trong tư duy và can trường hơn trong những nỗ lực để có những bài diễn thuyết mang tính đổi mới

    Tôi chia sẻ một điểm tương đồng với GS Fukuyama đó là cả hai chúng ta đang nỗ lực soạn ra một chương trình cho môn khoa học chính trị Phương Tây. Cuốn sách mới của GS đã kết nối cả nhân chủng học, xã hội học, kinh tế học, khảo cổ học và nhiều môn khoa học nữa. Những nỗ lực của GS xứng đáng được chúng ta tôn trọng và ghi nhận, mặc dù tôi không đồng tình với GS về tất cả mọi thứ.

    Về phần mình, tôi và các cộng sự thực ra đang tiến xa hơn GS Fukuyama và chúng tôi đang đặt dấu hỏi (xét lại – ND) đối với toàn bộ các bài giảng về chính trị Phương Tây. Tuy nhiên chủ ý của chúng tôi không phải là lấy điểm chính trị hay chứng minh Trung Quốc hay và Phương Tây dở hoặc ngược lại, mà là cố gắng tìm những lời giải mới trước các thách thức toàn cầu như giảm đói nghèo, sự xung đột giữa các nền văn hóa, sự thay đổi khí hậu và nhiều vấn đề khác có liên quan tới quá trình đô thị hóa. Minh triết của Phương Tây quả thực là chưa đủ và minh triết Trung Quốc sẽ có những đóng góp của mình.

    Thăng long - Hà nội 3/11/2011

    Phạm Gia Minh dịch

    Nguồn: The China Model: A Dialogue between Francis Fukuyama and Zhang Weiwei, New Perspective Quarterly, Fall 2011

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Quả thực tôi cũng thấy ông T.D.Vi đã tỏ ra quá ngạo mạn khi nói chuyện. Ông ta cố tìm mọi cách biện bạch để tô hồng mọi thứ ở TQ và làm ngơ, hoặc không thực thà về những gì TQ đang phải đối mặt.

    Mượng câu nói trong bài (ở đâu có nền kinh tế tốt thì không có nhà kinh tế tốt) - có khi chính vì mọi thứ ở TQ còn chưa tốt, còn quá nhiều vấn đề, nên mới cần nhiều sự biện luận, tô hồng.

    Dù vậy, cũng rất cần phải hiểu biết thêm về TQ và về những thành tựu mà họ đã đạt được. Dù gì, xã hội cũng phải đạt được các thành tựu mới có thể có khả năng giải quyết các vấn đề.

    Khi ở Phần 2 ông Trương Duy Vi nói "quá trình quyết định dân chủ" của thể chế TQ đã ở mức sau đại học, còn của Mỹ chỉ là đang "học đại học" hay trung học mà thôi, thì tự nhiên tôi thấy hụt hẫng, tiếc cho GS Fukuyama phải bỏ thời gian khiêm tốn và trọng thị tranh luận với kẻ vĩ cuồng cuồng gốc Tàu này.

    Kiên nhẫn đọc hết Phần 3 này với câu kết: "Về phần mình, tôi và các cộng sự thực ra đang tiến xa hơn GS Fukuyama và chúng tôi đang đặt dấu hỏi (xét lại – ND) đối với toàn bộ các bài giảng về chính trị Phương Tây..." thì sự kiêu căng trơ trẽn của T.D.Vi đã quá sức chịu đựng của tôi rồi! Đến tôi cũng sẽ không muốn tranh luận với kẻ lố bịch vĩ cuồng như thế, vì vô ích.

    Không biết cái minh triết của TQ mà ông Vi muốn đem dạy Gs Fukuyama và cả thế giới có phải tầm cỡ như minh triết của Mao - "Trí thức không bằng cục phân" - không? Hay: "Chân lý nằm trong họng súng!"?

    Democracom