Nguyễn Trọng Tạo - Câu chuyện kiểm duyệt

  • Bởi Admin
    01/11/2011
    1 phản hồi

    Nguyễn Trọng Tạo

    NGUYỄN TRỌNG TẠO: Bài trước tôi đã nói về CÂU CHUYỆN BIÊN TẬP, như một chia sẻ về cái nghề khó khăn không phải ai cũng làm trọn bổn phận với nghề, và không phải ai cũng tường tận để chia sẻ nỗi khó khăn của họ. Một số bạn đọc trên talawas, do nôn nóng về thông tin hay quan điểm về sự xuất bản cuốn THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU của Nguyễn Đức Tùng, nên cứ muốn bài viết về Biên tập lại đi thẳng vào vấn đề Kiểm duyệt (!) quanh cuốn sách này. Đó là một mong muốn tốt, nhưng nó ở ngoài bài viết CÂU CHUYỆN BIÊN TẬP của tôi. Thú thực, tôi chỉ không phát biểu (phản đối/ủng hộ) về điều gì đó khi mà tôi không thích phát biểu. Tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ của tôi. Và bây giờ là CÂU CHUYỆN KIỂM DUYỆT.

    CÂU CHUYỆN KIỂM DUYỆT

    Nói kiểm duyệt là nói đến chế độ kiểm duyệt báo chí của các chính quyền với luật lệ của nó. Luật báo chí của Pháp thông qua ngày 29.7.1881 hoặc 30.12.1898 đều có chế độ kiểm duyệt, và những luật đó đã chi phối báo chí Việt Năm thời Pháp thuộc. Tuy mỗi giai đoạn có khép nới khác nhau, nhưng các Sở kiểm duyệt hay Phòng kiểm duyệt đều có. Vì vậy mà nhiều bài báo bị đục bỏ, nhiều số báo hay tờ báo bị thu hồi hoặc cấm. Sau 1954, ở Việt Nam (dân chủ công hòa hay CHXHCN) luật pháp ghi “tự do báo chí”, không lập các Sở kiểm duyệt, nhưng thực chất vẫn áp dụng chế độ kiểm duyệt cả báo chí lẫn xuất bản. Riêng sắc lệnh báo chí 1956 (*) có nhiều điều cấm kị, đồng thời đã thu hẹp báo chí xuất bản về nhà nước quản lý, không còn báo và xuất bản tư nhân. Các tờ Nhân Văn và Giai Phẩm bị thu hồi, đóng cửa. Ngay cả chế độ Sài Gòn trước 1975 tuy cho ra báo và xuất bản tư nhân nhưng chế độ kiểm duyệt nhiều giai đoạn nặng nề. Thời đó, nhà văn Võ Hồng bộc bạch: “…với chế độ kiểm duyệt hẹp hòi hiện tại có lẽ tôi chỉ còn có cách viết cho trẻ em đọc mà thôi. Viết những cuốn sách đứng đắn, khách quan dành cho người lớn thì Sở Phối Hợp Nghệ Thuật không cho in. Bản thảo cuốn Như cánh chim bay đã đệ nạp 4 năm nay, đã yêu cầu xét lại nhiều lần mà vẫn ở trong tình trạng “hoãn xét”. Mà đó chỉ là một cuốn tiểu thuyết mô tả khách quan những nếp sinh hoạt của dân chúng miền Nam trong thời kỳ kháng chiến (giai đoạn 1946-1949) với những cảnh đi học Bình Dân Học Vụ, những cảnh nhập ngũ, những cảnh canh gác tàu chiến Pháp, những cảnh cơm ghé khoai….”. Và ta hiểu vì sao đến sách nhạc của Trịnh Công Sơn cũng bị thu hồi.

    Nhìn vào bản đồ thế giới về “Tự do báo chí” gần đây thì chỉ có một số nước như Canada, Na Uy, Thụy Điển… được tô màu xanh lam (màu tự do), còn lại là các màu đậm nhạt khác. Ngay cả Mỹ cũng không được tô màu xanh lam. Còn Trung Quốc và Việt Nam hay một số nước Trung Đông thì màu cực đậm.

    Những người viết, không ai thích điều đó. Đã “tự do ngôn luận”, lại còn bị “kiểm duyệt”, thì rõ ràng là mâu thuẫn rồi.

    Theo tôi biết thì ở Việt Nam hiện nay cơ quan quản lý báo chí xuất bản thuộc Bộ 4T. Nhưng đứng sau (hay đứng trước) Bộ 4T, còn có nhiều cơ quan khác của Đảng, của công an. Ngay buổi giao ban báo chí hàng tuần cũng tổ chức tại Ban Tuyên Giáo của Đảng. Theo dõi phát hiện các nội dung “có vấn đề” còn thuộc A25. Càng nhiều “tai mắt” (Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt – TH – làm thì ít lườm nguýt thì nhiều), thì họ cũng chỉ làm nhiệm vụ của họ thôi. Nhưng cái khó, cái phức tạp, cái đáng nói nhất là sự thẩm định nội dung tác phẩm để đưa ra những quyết định đúng hay sai khi hành xử với nó theo luật định.

    Có khi luật định một đường, hành xử một nẻo. Đó là sự lúng túng non kém hay áp đặt của bộ máy cơ chế.

    Vì thế mà thu hồi, rồi lại phát hành; bắt rồi thả; cấm rồi không cấm. Vân vân và vân vân…

    Cái khó là cơ chế giao quyền cho Tổng biên tập, và TBT bỗng thành một nhà kiểm duyệt bất đắc dĩ. TBT sợ trên. Biên tập sợ TBT. Tác giả sợ Biên tập… Cứ thế, cả nước bỗng trở thành nhà kiểm duyệt lúc nào không hay. Có lẽ nhà văn nhà báo “tự kiểm duyệt” cũng là từ những cái sợ đó mà ra.

    Nhưng cũng có lúc họ đã sợ nhầm.

    Có 1 tác giả nhờ tôi nói với 1 “người chịu trách nhiệm cao” trong hệ thống hãy xem bộ phim của họ, vì bộ phim đã bị Hội đồng duyệt phim hết sợ cái này lại sợ cái khác nên đã không OK cho bộ phim của họ. Nếu chỉ dừng ở Hội đồng duyệt thì bộ phim coi như xếp xó. May sao, “người có trách nhiệm cao” đã đến xem và OK. Thế là sáng hôm sau, Hội đồng được triệu tập, và, tất cả nhất trí với “người có trách nhiệm cao” đó. Bộ phim được giữ nguyên, dự ngay Liên hoan phim và đoạt giải cao.

    Có thể hiểu: Sự kiểm duyệt bị chi phối quá nhiều bởi các nỗi lo sợ… cấp trên. Nó đã thành một thói quen, một căn bệnh, một thứ dịch bệnh khó chữa.

    Nếu chúng ta có Luật kiểm duyệt rõ ràng minh bạch thì tự do ngôn luận mới thông thoáng được. Mọi tờ báo và nhà xuất bản cùng tuân thủ 1 Luật duy nhất về kiểm duyệt thì dù báo chí nhà nước hay báo chí tư nhân đều bình đẳng với nhau trước pháp luật. Khi đó chính báo chí tư nhân sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh nhất trên thì trường báo chí xuất bản.

    Khi đó có thể nói “tự do ngôn luận”, “tự do công bố” mà không phải đỏ mặt vì xấu hổ bởi kiểm duyệt.

    THÔNG TIN THÊM VỀ THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU:

    Tháng 5.2007, anh Nguyễn Đức Tùng bảo tôi anh muốn xuất bản cuốn sách này trong nước. Tôi rất vui, và ủng hộ anh, đề nghị anh để tôi chuyển bản thảo cho nxb Hội Nhà Văn do anh Trung Trung Đỉnh làm giám đốc. Anh TTĐ là bạn tôi, sẵn sàng. Theo tôi biết, anh TTĐ giao cho nhà văn Tạ Duy Anh biên tập. Nhà văn TDA là một người cẩn trọng và am hiểu văn chương sâu sắc, chính anh cũng có những tác phẩm bị gọi là “có vấn đề”. Và cũng có thể gọi anh là một “nhà biên tập mẫn cán”. Anh giữ lại tất cả những ý kiến của từng tác giả, kể cả người hỏi và người trả lời, nhưng cũng cắt đi một số ý “không cần thiết” thậm chí có cả sự thô (thiển) liên quan đến chính trị chính em. Văn bản biên tập đó được chuyển tới anh NĐT, và anh NĐT chuyển tới từng tác giả liên quan để sửa chữa trước khi đồng ý cho nxb in sách. Mọi việc đã diễn ra đúng như vậy (trừ một vài tác giả mà nxb chưa đồng ý đưa vào tập này, đã thống nhất với NĐT). Bản thảo coi như đã xong, nhà biên tập TDA chuyển bản thảo cho nhà văn Nguyễn Khắc Trường là Tổng biên tập (chịu trách nhiệm nội dung), nhưng TDA đã chuyển nhầm bản chưa sửa chữa, khiến NKT đọc xong phân vân, và đề nghị xem lại. Câu chuyện bị “lình xình từ đó”. Cuối cùng thì cơ quan chủ quản của nxb là Hội Nhà Văn đã lập Hội đồng thẩm định. Theo anh TTĐ thì họ đồng ý, nhưng bỏ ra bài “Mừng vui còn có hôm nay”. Trong lúc anh TTĐ đang tìm cách thương thuyết để giữ lại bài đó, thì A25 “mượn” bản thảo về đọc. Theo tôi biết thì người của A25 cũng đã OK. Đùng một cái, TĐTĐ được nxb Lao Động công bố ra mắt.

    Có một nhóm người bạn đã chuyển bản thảo TĐTĐ tới nxb LĐ, tất nhiên là được anh NĐT ủy nhiệm, với mục đích là in được trong nước. Theo NĐT thì bản thảo nằm ở nxb HNV quá lâu, lại nghe có chuyện lình xình thế, sợ không hay cho nxb mà một số người lãnh đạo lại là bạn của anh. Tôi cũng không biết chuyện “bí mật” này. Tuy nhiên trước đó mấy tháng, tôi có nói với anh TTĐ và mấy người bạn của NĐT rằng, nếu khó quá thì để tôi đưa cho một nxb khác in mẹ nó ra, có sao đâu. Nhưng anh TTĐ áy náy, muốn in bằng được ở nxb của anh.

    Nxb LĐ cũng có Giám đốc, Tổng biên tập và Biên tập như nxb HNV, còn sự biên tập chắc chắn là khác nhau. Nhưng theo tôi, họ cũng “mẫn cán” như anh TDA, không kém. Tuy nhiên họ không gặp khó khăn như ở nxb HNV. Thế là cuốn sách đã được ra đời.

    Tôi cũng chưa có thì giờ để đối chiếu cuốn sách với bản đầu tiên của nó trên talawas, nhưng tôi đã đọc lại một số bài thì thấy các nhà thơ đều phát biểu tự do và sâu sắc. Chắc chắn có sự biện tập đôi chút, và bản in ra đã được các tác giả đồng ý cho phép. Những phát biểu của tôi cũng được lược bỏ đôi đoạn ngắn, nhưng cũng không quan trọng lắm, vì vấn đề cuối cùng là tôi đã nói được ý lớn nhất của mình, và nó đã thành sách.

    Đây là cuốn sách rất thú vị đối với những người yêu thơ, thích nghiên cứu về thơ và các nhà thơ Việt nam. Đây là tiếng nói của những nhà thơ cùng thế hệ đi qua chiến tranh đầy đau thương khốc liệt cả hai chiến tuyến, nhưng cùng đồng hành trên con đường thơ và tình yêu dân tộc mình.

    11.12.2009
    Nguyễn Trọng tạo
    __________

    (*) Để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được sử dụng một cách đúng đắn, báo chí phải tuân theo những điều sau đây:

    a) Không được tuyên truyền chống pháp luật của Nhà nước. Không được cổ động nhân dân không thi hành hoặc chống lại những luật lệ và những đường lối chính sách của Nhà nước. Không được viết bài có tính chất chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại chính quyền nhân dân, chia rẽ nhân dân và chính quyền, nhân dân và bộ đội. Không được gây ra những dư luận hoặc những hành động có hại cho an ninh trật tự của xã hội.

    b) Không được tuyên truyền phá hoại sự nghiệp củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ của nước Việt Nam, làm giảm sút tinh thần đoàn kết, ý chí phấn đấu của nhân dân và bộ đội.

    c) Không được tuyên truyền chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa nhân dân các nước, làm tổn hại tình hữu nghị giữa nhân dân nước ta với nhân dân các nước bạn, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, không được tuyên truyền cho chủ nghĩa đế quốc, không được tuyên truyền chiến tranh.

    d) Không được tiết lộ bí mật quốc gia như: những bí mật quốc phòng, những hội nghị cơ mật chưa có công bố chính thức của cơ quan có trách nhiệm, những vụ án đang điều tra chưa xét xử, những bản án mà Toà án không cho phép công bố, những tài liệu số liệu và những cơ sở kiến thiết về kinh tế tài chính mà Uỷ ban kế hoạch Nhà nước hoặc các cơ quan có thẩm quyền chưa công bố.

    e) Không được tuyên truyền dâm ô, trụy lạc, đồi bại.

    Điều 12: Không được phát hành và in lại những báo chí mà cơ quan chính quyền đã có quyết định thu hồi (…)

    (SẮC LỆNH SỐ 282-SL NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 1956)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Dự luật tố cáo: Sao lại “khóa tay” báo chí?

    Phát biểu tại phiên thảo luận dự án Luật Tố cáo sáng 25-10, đại biểu (ĐB) Lê Thị Nguyệt (Vĩnh Phúc) thẳng thắn yêu cầu bỏ quy định ở khoản 1 Điều 48 về trách nhiệm của các cơ quan thông tin báo chí.

    Theo ĐB Nguyệt, quy định ở điều này nói rõ “cơ quan thông tin báo chí nhận được tố cáo thì phải chuyển cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết” đã “hạn chế vai trò, hiệu quả tác nghiệp của các cơ quan báo chí”.

    Chung thắc mắc này, luật sư Trương Trọng Nghĩa (ĐB TP.HCM) nói rằng quy định ở Điều 48 nói là báo chí nhận tố cáo phải chuyển cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền là không chính xác. “Chỗ này tôi đề nghị chúng ta đối chiếu với Luật Báo chí, như thế là “phải chuyển” hay “nên chuyển”? Nếu như báo chí nhận được (tố cáo) họ giữ lại để điều tra xác minh thêm thì có vi phạm hay không, nếu vi phạm thì xử lý như thế nào? Hoặc báo chí nhận được nhưng không chuyển thì có vi phạm hay không”. Luật sư đề nghị ban soạn thảo làm rõ thêm để tránh va chạm với Luật Báo chí.

    Thực tế không phải đợi đến khi có Luật Tố cáo báo chí mới vào cuộc phanh phui các hành vi tham nhũng tiêu cực mà chức năng này của báo chí đã được nêu từ… hơn 20 năm trước, trong Luật Báo chí 1989. Sau đó Luật Phòng, chống tham nhũng và nhiều văn bản khác đều minh định vai trò rất quan trọng của báo chí trong việc đấu tranh chống tiêu cực. Theo ĐB Lê Thị Nguyệt, “trên thực tế thì trong thời gian vừa qua các cơ quan báo chí đã góp phần phát hiện xử lý nhiều trường hợp tham nhũng, được dư luận xã hội hết sức đồng tình”. Những vấn đề thuộc về trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà báo, cơ quan báo chí đều đã được quy định trong Luật Báo chí và nhiều văn bản khác liên quan.

    Chính vì thế, nhiều người rất ủng hộ nữ ĐB Nguyệt khi bà nêu ra ba lý do để yêu cầu bỏ quy định tại Điều 48. Bà nói việc quy định như thế: “Một là sẽ làm lộ việc điều tra xác minh thông tin sự việc của các cơ quan báo chí. Hai là công dân gửi tố cáo cho cơ quan báo chí là để cung cấp thông tin sự việc chứ không phải là nhờ để chuyển đơn. Ba là mâu thuẫn với Điều 7 của Luật Báo chí quy định cơ quan thông tin báo chí có quyền và nghĩa vụ không tiết lộ người cung cấp thông tin”.

    Coi báo chí là “lực lượng xung kích” chống “giặc nội xâm” mà “khóa tay” như thế thì có nên không?

    Theo blog Bút Lông