Nguyễn Trung - Suy nghĩ về sự nghiệp duy tân đất nước. Hay là ảo tưởng? (3)

  • Bởi Admin
    26/10/2011
    25 phản hồi

    Nguyễn Trung

    II. Lịch sử nói gì? Việt Nam dưới triều đại Gia Long và Nhật dưới thời Minh Trị

    Từ lâu, mỗi khi nghĩ về thân phận hèn kém ngày nay của quốc gia và dân tộc mình, tôi băn khoăn với không biết bao nhiêu câu hỏi “vì sao?”. Trong những vì sao? không đếm xuể như sao trên trời ấy, cộm lên trên tất cả vẫn là những câu hỏi về vận mệnh đất nước ta trong thế giới ngày nay.

    Đất nước ta không nhỏ, dân tộc ta có cả một bề dày lịch sử và văn hóa dù chẳng phải là tuyệt đỉnh nhân loại, nhưng hậu duệ như chúng ta ngày nay chẳng đến nỗi phải hổ thẹn về tổ tiên và nguồn gốc của mình, kể cả đối với những ai đó quá nguội lạnh và để quên đâu đó niềm tự hào về cội nguồn. Đấy là chưa nói hậu duệ chúng ta ngày nay có không ít thua kém tổ tiên mình trong những giai đoạn tổ quốc đứng trước những thách thức quyết liệt nhất, nợ các bậc tiền bối của mình về không biết bao điều!

    Một đất nước như thế, một dân tộc như thế, vì sao đến hôm nay vẫn đứng trong hàng ngũ các nước nghèo và lạc hậu trên thế giới?[4] Bài 1 và trong một số bài viết khác tôi đã đưa ra những số liệu so sánh nước ta đi như vừa qua là quá chậm so với thiên hạ.

    …Nhất là trong thế giới đương đại ngày nay, chỉ tính từ sau chiến tranh thế giới II, ở cả 5 châu lục cộng lại, đã có tới hàng chục nước từ hoàn cảnh tương tự như nước ta, nay đã vượt lên bỏ xa nước ta về trình độ phát triển. Trong những nước này, một số đã đứng vào nhóm các nước phát triển, một số đã tham gia tổ chức OECD (Organization for Economic Cooperation and Development), một số nước là thành viên của “G” nọ “G” kia có vai trò nổi bật đối với sự phát triển của cả thế giới.… Vì sao?

    Điểm lại, Việt Nam thời Gia Long là một quốc gia phát triển hoàn chỉnh nhất trong lịch sử của mình, và đấy cũng là diện mạo của nước ta ngày nay. Việt Nam thời triều đại Gia Long có thể được coi là một nước mạnh trong khu vực của lịch sử đương thời. Có lẽ ngoài Trung Quốc giữ vị thế lịch sử là “thiên quốc”, thời ấy nước ta nếu không phát triển hơn thì có lẽ cũng không thua kém các quốc gia còn lại khác trong khu vực châu Á bao nhiêu.

    Thế nhưng, sau khi triều đại Gia Long củng cố vững chắc địa vị thống trị quốc gia của mình khoảng hơn 5 thập kỷ, ở châu Á vào những năm 1866-1869 xuất hiện cuộc cách mạng Thiên Hoàng Minh Trị[5], đưa nước Nhật đi hẳn về một ngả khác, bỏ lại bơ vơ “Thiên Quốc” mà Nhật đã từng chịu không ít ảnh hưởng, bỏ lại cả châu Á lạc lõng phía sau - trong đó có nước ta.

    Không thể không hỏi: Điều gì đã làm nên sự khác biệt giữa Nhật và Việt Nam như giữa trần gian và địa ngục thế này?

    Không có nước nào giống nước nào trên thế giới. Nhưng so sánh tương đối mọi mặt, sự khác biệt giữa Việt Nam và Nhật đại thể không đến nỗi một trời một vực. Nói theo ngôn ngữ cổ, từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802 đến khoảng giữa đời vua Tự Đức (trị vì 1847- 1883) (nghĩa là khi xảy ra cách mạng Thiên Hoàng Minh Trị 1866-1869), nếu hai nước không được kẻ tám lạng kẻ nửa cân[6], chí ít ta cũng được năm, sáu lạng hoặc nhỉnh hơn chút chút, nghĩa là đều có sự phát triển kinh tế, chính trị và nội trị - bao gồm cả văn hóa – na ná ngang nhau, có những vấn đề về phát triển phải giải quyết trong đối nội và đối ngoại gần như giống nhau.

    Sử liệu mách bảo, cái mà lúc ấy nước ta không có hoặc khác hẳn so với Nhật là ở những điểm:

    Sức ép mở mang thương mại của các nước “Tây dương” từ đầu thế kỷ XIX (đặc biệt là cuộc tiến công của tầu chiến Mỹ do đô đốc Perry chỉ huy bắn phá Yokohama 1853), có thể được coi như làn sóng cuối cùng dẫn tới sụp đổ triều đại Mạc Phủ, mở đường cho thời đại Thiên Hoàng Minh trị. Từ đây nước Nhật được thúc đảy cải cách, nhằm phát triển mở mang kinh tế theo con đường công nghiệp hóa. Trước đó, tại Nhật đã có những làn sóng, lúc âm thầm, lúc dữ dội, thường xuyên xói mòn mãi đến tận gốc rễ chế độ chính trị phong kiến Tống Nho của Nhật. Đó là quá trình hình thành từng bước và liên tục qua nhiều thế kỷ kinh tế đô thị của các tầng lớp trên, thường trực tạo ra sức ép về văn hóa và tư tưởng. Sức ép này chỉ rình chờ bắt lấy cơ hội thay đổi. Và khi cơ hội đến, chính nó đã trở thành động lực của sự thay đổi nước Nhật[7]. (Sức ép văn hóa tư tưởng này chính là điều đã bị triệt tận gốc ở nước ta suốt triều đại các vua Nguyễn).

    Nhật tranh thủ điều kiện này mở rộng tầm nhìn ra toàn thế giới.

    Từ đây Nhật đặc biệt chú trọng cải cách giáo dục; đề cao học tập nhiều cái mới, ứng dụng khoa học và công nghệ phương Tây, xây dựng được một chính thể với mục tiêu duy nhất là tạo mọi điều kiện cần thiết để phát triển nước Nhật.

    Song cách phản ứng của nước ta thời ấy là:

    Bế quan tỏa cảng, coi mở rộng thương mại với bên ngoài chỉ làm hỏng đất nước. Các sứ thần của ta như Nguyễn Hiệp, Lê Đĩnh, Phan Lương…đi các nơi về báo cáo nhà vua là các nước đều làm khác, khuyên phải thay đổi, nhưng nhà vua đều cho là không hợp, mặc dù suốt toàn bộ sự nghiệp thành vương của mình Gia Long tiếp xúc nhiều với thế giới bên ngoài, không chi riêng với nước Pháp; khoảng năm 1839 vua Minh Mạng đã cho sứ bộ của mình đi một số nước châu Âu để nắm tình hình... Đã thế, sử liệu còn cho thấy nhìn chung triều đình chủ trương phó thác việc buôn bán cho Hoa kiều, Hoa kiều hầu như đứng ngoài luật pháp...[8] Không ít các trí giả như Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Điểu… đã từng đi du học phương Tây, đưa ra nhiều kiến nghị cải cách, song tất thảy đều bị bỏ xó. Mọi điều mới mẻ được tâu lên, các cận thần thường bác bỏ trước – vì cho đấy là những gì “khác đời” và trái với đạo lý và triết lý của triều đình, sau đó đến lượt nhà vua tán thành các cận thần của mình. Không ít trường hợp nhà vua trực tiếp bác bỏ cái mới. Thực tế này đã triệt bỏ mọi khả năng canh tân của Việt Nam khi thách thức và thời cơ đến (Georges Condominas)[9]

    Thế giới và thế giới quan của triều đình nước ta ở giai đoạn này chỉ có Trung Quốc và là Trung Quốc, mặc dù triều đại Gia Long ý thức rất rõ Trung Quốc như một mối nguy xâm lược thường trực. Nho giáo và Khổng giáo không những được tiếp thu nguyên vẹn mà còn được nâng lên thành nền tảng trí tuệ, đạo lý và kỷ cương cho đất nước mình, thậm chí còn được vận dụng là chất liệu cho tầm cao văn hóa nước nhà… Tất cả chỉ để nuôi dưỡng lề thói cũ như một giường cột tinh thần gìn giữ sơn hà xã tắc, thực chất chỉ là để gìn giữ triều chính tồn tại. Có thể xem đấy là một dạng ý thức hệ nguy hiểm, được nâng lên tới mức như lẽ sống, một quốc đạo của triều đại này.

    Giáo dục chẳng những hầu như không đếm xỉa gì đến khoa học - công nghệ, càng không quan tâm mở mang dân trí, tri thức, mà chỉ tập trung vào dùi mài kinh sử làu làu theo kiểu trích cú tầm chương (chủ yếu là Tứ thư Ngũ kinh, Sử Tàu…), với mục tiêu duy nhất là đào tạo ra các tầng lớp quan lại giúp vua cai trị đất nước. Nguồn lực quốc gia thực hiện mục tiêu này chủ yếu lấy từ thuế đánh vào đất đai rất hạn chế, đương nhiên với mọi hệ quả hủ bại của tình trạng một đất nước kém phát triển; quan liêu tham nhũng tệ hại trở thành tất yếu[10].

    Kết quả hai nước gặt hái được cũng hoàn toàn trái ngược nhau:

    • Nhật trở thành nước đế quốc trong khoảng thời gian rất ngắn, chỉ vài thập kỷ sau đã cùng nhiều đế quốc khác tham gia cuộc chiến tranh nha phiến… Sau hơn 3 thập kỷ, năm 1895, Nhật đã có chiến thắng đầu tiên chống Trung Quốc và chiếm được Đài Loan, thập kỷ tiếp sau đó lại chiến thắng đế quốc Nga Hoàng trong thủy chiến ở Hoàng Hải năm 1905 giành được Mãn Châu; tháng 12-1941 – nghĩa là chỉ sau 7 thập kỷ kể từ cách mạng Thiên Hoàng - Minh Trị, Nhật đánh trận Chân Châu Cảng làm nước Mỹ bàng hoàng và trở thành một đế quốc gây chiến tranh thế giới II…
    • Khi quân Pháp nổ súng chiếm Đà Nẵng 1858, Việt Nam từ đỉnh cao của triều đại Gia Long phải ký Hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhượng địa Nam Kỳ, rồi lần lần sau nhiều diễn biến khác, phải gông trên người mình ách thuộc địa Pháp cho đến tận 1945, với không biết bao nhiêu hệ lụy.

    Những điều kiện địa lý tự nhiên và tình hình thời sự mọi mặt thời đó trong khu vực châu Á cho phép giả định là sức ép mở mang thương mại từ các nước Tây Dương dội vào Nhật lúc bấy giờ đại thể cũng tương đương như tác động vào nước ta. Chỉ có cách tiếp cận và sự lựa chọn giải pháp cho thách thức của hai nước lúc đó khác nhau.

    Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hai kết quả trái ngược nhau của hai nước có lẽ bắt đầu từ tầm nhìn.

    Nhận thức thế giới một cách khác, Nhật đã mau chóng học hỏi và tự tạo ra cho mình động lực mạnh mẽ đi vào con đường công nghiệp hóa, bắt kịp sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và vươn lên rất nhanh. Trong khi đó các triều đại vua Việt Nam thay nhau tự trói mình vào tầm nhìn thủ cựu của chính mình để tự vệ, và qua đó tự biến mình trở thành kẻ nô lệ của quá khứ, trước khi bị ngoại bang áp đặt ách thuộc địa.

    Rất nên có những công trình nghiên cứu tìm hiểu kỹ thêm khía cạnh Việt Nam thời ấy đã tự trói mình vào triết lý hủ bại để tự làm suy yếu mình, trước khi Pháp có thể dốc ra lực lượng chưa hẳn là mạnh áp đảo về mặt quân sự để khuất phục được Việt Nam thành thuộc địa. Từ điểm này của lịch sử, nên chăng tự hỏi: Ngày nay ta đang tự trói mình như thế nào?

    Trước hết phải nói tới bộ máy quan liêu cai quản đất nước ta quá bất cập của thời ấy, được đào tạo ra trên cơ sở một thế giới quan lỗi thời và từ một nền giáo dục lạc hậu như đã nói trên. (So với ngày nay thế nào?) Ngoài việc xây dựng lăng tẩm, khó mà nói rằng các vương triều thời đại Gia Long đã để lại tiến bộ mới nào đáng kể về kinh tế, khoa học công nghệ, hay kết cấu hạ tầng của đất nước… – giữa lúc thế giới phương Tây đã chuyển sang thời kỳ công nghiệp hóa, và chủ nghĩa tư bản đang trên đường trở thành chủ nghĩa đế quốc.

    Trên cơ sở một nền kinh tế ngày càng sa sút nhanh chóng do sự kìm hãm của bộ máy cai trị quan liêu, và với triết lý quốc gia lấy Nho giáo - Khổng giáo làm gốc như thế, đã hình thành một thượng tầng kiến trúc “gia cố” không ngừng sự lạc hậu của đất nước, làm cho đất nước ngày một nghèo đi và tích tụ những mâu thuẫn xã hội mới. Sức ép thương mại từ bên ngoài và sự thâm nhập của công giáo (được vận dụng là những hình thức mở đường cho chủ nghĩa thực dân) làm cho nội trị đất nước phức tạp thêm, đồng thời làm cho triều đình càng tự trói mình chặt hơn nữa, càng bảo thủ lạc hậu để cố thủ; từ đó quan liêu gia tăng, mâu thuẫn xã hội và loạn lạc ở các địa phương cũng gia tăng. Cuối trào – kể từ Tự Đức, đất nước còn phải chịu thêm gánh nặng loạn các “giặc cờ” (các nhóm giặc cờ đen, cờ vàng khác nhau là tàn dư tan vỡ của cuộc cách mạng Thái bình thiên quốc ở Trung Quốc).

    Có thể nói, đến triều Tự Đức đất nước thật sự kiệt quệ, mục nát, triển vọng để phát triển không có, sức đề kháng không còn lại bao nhiêu. Chúng ta trân trọng và tôn vinh ý chí hy sinh chiến đấu của Nguyễn Tri Phương trong bảo vệ thành Hà Nội. Song cũng cần chú ý một chi tiết của lịch sử thành Hà Nội bị hạ năm 1882 (thất thủ lần thứ nhất), được viên lãnh sự Pháp tại Hà Nội thời đó là Kergaradec báo cáo về nước, Tsuboi đã sưu tầm được và đưa vào luận văn tiến sỹ của mình: “…188 thủy thủ hay binh sĩ Pháp và 24 người châu Á, với chỉ 8 họng súng (đại bác hay súng trường?- NT) đủ đánh chiếm một tỉnh thành được bảo vệ bởi những lực lượng thiện chiến nhất của Việt Nam, từ Huế ra, gồm 7000 người, dưới quyền lãnh đạo của viên tướng tài nhất của họ..”[11]. Một số sử liệu chi tiết khác còn ghi, khi tướng Nguyễn Tri Phương từ Huế ra đến nơi để giữ thành, nhiều súng thần công đã hoen gỉ không dùng được, kỷ cương trong thành mục nát… Có lẽ một chi tiết này cũng đủ cho chúng ta thấy tận bên trong mọi hệ quả mọt luỗng sâu xa của một triều chính quốc gia tự trói mình làm nô lệ quá khứ.

    Trong phần nói về đình thần – nghĩa là về các tầng lớp quan lại kế cận triều đình của các vương triều thời Nguyễn, sử gia Trần Trọng Kim nhận xét: Nhà vua cai trị đất nước qua đình thần nên hầu như xa rời và không nắm được thực trạng đất nước; đình thần vừa bảo thủ, tranh giành lẫn nhau về ảnh hưởng và quyền lợi, vừa rất sợ những ai hơn mình, coi bất kể cái gì mới đều là không hợp và có nguy cơ làm bộc lộ yếu kém của mình… Sử gia kết luận đau sót: “Đến khi nước Pháp đã sang lấy đất Nam Kỳ, đã ra đánh Bắc, tình thế nguy cấp đến nơi rồi, thế mà cứ khư khư giữ lấy thói cổ, hễ ai nói đến sự gì hơi mới một tí, thì bác đi. Như thế thì làm thế nào mà không hỏng việc được.”[12] Còn sứ Pháp tại Huế P. Rheinart báo cáo về thống đốc Pháp ở Nam Kỳ năm 1875 “…Con số những người muốn chống đối vì mất độc lập công nhiên của đất nước Việt Nam sẽ rất nhỏ không thể lôi cuốn nhân dân. Dân chúng biết là chẳng còn có thể mất gì thêm nữa, sẽ chỉ có thể được lợi trong sự đổi thay, bất kể đổi thay thế nào khỏi tình trạng hiện tại…”[13] Tâm thế dân tình như vậy, làm sao nước không mất?!

    Sự tranh giành diệt lẫn nhau trong nội bộ đình thần rất quyết liệt, như xưa và nay thường thấy ở bất kỳ một triều chính chuyên chế nào trên thế giới – nghĩa là không có ngoại lệ. Càng mục nát càng tranh giành nhau. Đỉnh cao của sự vận động này trong lịch sử các triều vua Nguyễn theo các sử liệu Tsuboi sưu tầm được có lẽ là sự việc nhân vật quan đại thần Trương Đăng Quế loại bỏ các kình địch của mình, tự tay tiến hành âm mưu phế con cả của vua Thiệu Trị là Hồng Bảo (An Phong), để đưa con thứ của vua là Hồng Nhậm lên ngôi – vua Tự Đức. Hậu họa là đất nước đã kém, nát, lại không bao giờ được yên do những chống đối phát sinh sau đó.

    Cuối đời, vua Tự Đức cũng tiến hành một số thay đổi: cải cách thuế ruộng đất 1875, cải cách quân đội 1876, cải cách thi cử 1879… Tsuboi nhận xét: “…Tuy nhiên mọi cải cách đều hỏng chỉ vì bản thân chế độ không đặt ra một vấn đề nào cho cả Tự Đức lẫn các quan; họ thấy chính quyền của họ điều hành tồi tệ, nhưng họ không ngờ vực gì hết đối với những khuôn phép Nho giáo đang là nền móng của triều đại. Sự tin tưởng mù quáng của họ vào hệ thống đó đã ngăn cản họ…”[14] (người trích dẫn tô đậm). Một nhận xét nhức buốt còn nguyên tính thời sự cho hôm nay.

    Chỉ có thể kết luận: Chính vì sự mù quáng này, chung cuộc Việt Nam mất nước vào tay thực dân Pháp ở thời điểm Việt Nam phát triển hoàn chỉnh nhất trong lịch sử của mình và là một nước mạnh trong khu vực. Đấy cũng là cảm nghĩ chua xót của tôi khi ngồi vào bàn phím viết “Thời cơ vàng – Hiểm họa đen” năm 2006.

    Vì vậy vẫn chưa hết, vẫn nhoi nhói các câu hỏi:

    - Vì sao Nhật thời Minh Trị có được cách nhìn khác, dẫn tới tầm nhìn khác và sự lựa chọn khác, trong khi đó Việt Nam dưới triều đại các vua thời Gia Long không có được?

    - Vì sao Nhật thời Minh Trị thực hiện được cái mà tầm nhìn mới mở ra cho họ, còn Việt Nam các triều đại Gia Long cuối cùng cũng nhận ra phải cải cách nhưng hoàn toàn bất lực?[15]

    - Vân vân…

    Sử gia Trần Trọng Kim còn ghi chuyện này nữa: Nước sắp mất, triều đình ta còn cử sứ Phạm Thận Duật sang cầu cứu nước Tàu, mà không biết là chính Tàu lúc này ốc không mang nổi mình ốc, cho nên chỉ rước thêm hậu họa. Tổng đốc Lưỡng Quảng lúc ấy là Trương Thụ Thanh báo cáo về Bắc Kinh: “Nước Nam và nước Tàu tiếp giáp với nhau mà thế lực nước Nam thật suy hèn, không có thể tự chủ được nữa, vậy ta nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh thượng du. Đợi khi có biến thì ta chiếm lấy những tỉnh phía Bắc sông Hồng Hà…”[16]

    Chuyện ngày xưa là như vậy.

    Tôi tin rằng kìm hãm kinh tế phát triển qua việc bế quan tỏa cảng đã trực tiếp giữ Việt Nam đứng lại trong chế độ phong kiến nông nghiệp lạc hậu. Song có lẽ chưa đủ. Đến nay tôi thực sự chưa có câu trả lời nào thuyết phục được chính mình về khúc quanh lịch sử này. Chắc chắn còn phải có các yếu tố gì khác nữa sâu xa hơn thuộc phạm trù văn hóa. Xin thỉnh cầu mọi người lý giải.

    Trong hầu hết những bài tôi viết gần đây có liên quan, tôi vẫn chưa giải thoát được mình khỏi câu hỏi: Chẳng lẽ dân tộc ta chỉ thông minh dũng cảm, chỉ cố kết được với nhau khi bị ngoại xâm, còn trong thời bình thì…? Xin nói ngay, sự cố kết để tự vệ, để tồn tại như thế, cho dù anh dũng đến thế nào đi nữa, vẫn là dạng thấp hơn so với cố kết để phát triển và để từ đó tạo ra văn hóa của phát triển của dân tộc, của quốc gia. Có phải như vậy không? Tự nhận diện lại dân tộc mình và vai trò của thể chế chính trị – rõ ràng là một vấn đề rất trọng đại của kịch bản duy tân.

    Ngoài đời phong phú những đàm tiếu: Một người Việt Nam nếu không hơn, không bằng, không hẳn thua một người Nhật; ba người Việt Nam thường thua một người Nhật; ba người Việt Nam chắc chắn thua ba người Nhật!..

    Rồi đây, đàm tiếu hay không đàm tiếu, duy tân hay không duy tân… sẽ có thể tranh luận nổ trời với nhau. Song trước hết xin hãy để lịch sử là tấm gương soi lại mình khởi đầu cho cuộc tranh luận này.

    Cuối cùng, dựa vào sử, tôi muốn đặt ra ở đây câu hỏi cũ kỹ đã bao nhiêu người đặt ra và vẫn đang tìm câu trả lời: Có hay không nguy cơ đất nước ta ngày nay lại lỡ hẹn với con tầu thời đại, như triều đại Gia Long đã từng lỡ hẹn? Lịch sự gợi ý cho ta những gì?

    III. Những hòn đá tảng và hố đen trên con đường

    Có nhiều lắm. Từ lịch sử để lại, và từ những hậu quả do thể chế chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước hôm nay gây ra. Chẳng có cách nào khác, ngoài ý chí nhìn thẳng vào sự thật và chân cứng đá mềm.

    Không thể đề cập hết được mọi chuyện trong bài viết này, dù là chỉ lựa chọn những vấn đề lớn. Trong phần III này tôi chỉ xin lẩy ra 2 vấn đề mà tôi cho là nóng bỏng nhất:

    1. Quán tính lịch sử,

    2. Tình trạng đoàn kết dân tộc hôm nay.

    III.1. Quán tính lịch sử

    Đây là một trong những chủ đề lớn, tôi đã đề cập đến trong tiểu thuyết “Dòng đời” - xuất bản năm 2006[17]

    Gọi là quán tính lịch sử, tôi hiểu đơn giản đấy là những gì lạc hậu vốn có trong quá khứ của đất nước, cách mạng đã tìm cách xóa bỏ hay thay đổi rất triệt để. Nhưng vì nhiều lý do và nguyên nhân khác nhau, hôm nay những cái cần và phải xếp vào kho lưu trữ của lịch sử như thế cứ tự nó sống lại, hoành hành dữ dội, như thể theo một chu kỳ nào đó của quán tính.

    Cái quán tính lịch sử này rất oái oăm và gây ra không ít đau khổ cho đất nước, đã được dân ta bao đời dưới chế độ phong kiến khái quát trong một câu ca dao cửa miệng:

    Con vua thì lại làm vua
    Con lão sãi chùa lại quét lá đa

    Đơn giản là vì cái quán tính lịch sử này thường đảo lộn hay băng hoại hầu hết mọi giá trị hay những nỗ lực tốt đẹp của xã hội, mà trước đó nhân dân và những lực lượng tinh túy của mình phải đổ xương máu mới giành lại hay mới xây dựng nên được, ví dụ chiến đấu dẹp bỏ một triều đại thối nát để dựng lên một triều đại lành mạnh mới. Một khi cái quán tính lịch sử này trỗi dậy, có nghĩa là một chu kỳ mới của cái vòng đời oái oăm đầy đau khổ của đất nước lại bắt đầu…

    Tôi vấp phải cái quán tính lịch sử này, đơn giản vì ngày càng cảm thấy, đất nước độc lập thống nhất vừa mới đây thôi, nghĩa là cả một quá khứ hào hùng đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm còn nóng hổi, biết bao nhiêu giá trị cao quý rèn luyện được trong quá trình này còn đang nóng bỏng con tim, thế nhưng sao những tiêu cực trong cuộc sống mọi mặt của đất nước hôm nay cứ như cỏ dại khắp nơi không sao diệt được, càng ngày càng khó diệt. Tất cả chẳng dính dáng gì đến chủ nghĩa xã hội hay định hướng xã hội chủ nghĩa được chọn lựa là mục tiêu phấn đấu.

    Tôi nhờ các nhân vật trong truyện làm người phát ngôn cho nỗi lo của mình:

    …“...bi kịch lớn nhất của cuộc đời ở mọi quốc gia thường là thắng lợi của một cuộc cách mạng trở thành một thứ chiến lợi phẩm! Kẻ thắng xô sát nhau chia quả thực! Ai nhặt được cái gì thì nhặt! Ai giành được cái gì thì giành!..” (tập II).

    “…tệ nạn tham nhũng... Sự bóc lột này lớn hơn hàng trăm lần, hàng nghìn lần, hàng nhiều nghìn lần so với sự bóc lột thặng dư giá trị còn đang tồn tại trong xã hội nước ta...” (tập III). Tất yếu dẫn đến câu hỏi “Đất nước này bây giờ là của ai?”

    Hệ quả của những tiêu cực này lớn lắm. “...30 năm xây dựng rồi mà vẫn chưa bước ra khỏi nhóm quốc gia nghèo nhất thế giới! Vẫn còn là một quốc gia lạc hậu!..” “...Chẳng lẽ đã giành lại đất nước rồi, bây giờ lại chịu để mất nước vào cái kiếp nô lệ của nghèo hèn và lệ thuộc?..” (tập IV) Làm gì? Làm như thế nào chặt đứt vĩnh viễn các vòng xoáy của quán tính lịch sử hành hạ đất nước?..

    Truyện kết thúc, vợ của nhân vật chính nhắc nhủ chồng – thương binh đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, Phạm Trung Nghĩa,: “Anh chưa hiểu hết bao nỗi lo này đâu… Anh và các đồng chí của anh đang phải bắt tay vào nhiệm vụ khó nhất trong đời mình!..”[18]

    Sao? Suốt một đời người trực tiếp trải qua 4 cuộc chiến tranh rồi, bỏ lại một chân trên chiến trường, tóc bạc răng long hết cả với nhau rồi, thế mà bây giờ lại phải cùng với những chiến hữu của mình bắt tay vào nhiệm vụ khó nhất của đời mình?.. Thế là thế nào?!..

    Thăm thẳm nỗi lo khủng khiếp về cái quán tính lịch sử, nỗi lo lại phải làm lại từ đầu!…

    Từ cái chân giả làm bằng gỗ của đại tá thương binh Nghĩa, trăm ngàn tiếng thét của những người đã ngã xuống vang lên như búa bổ liên hồi trong đầu đại tá:

    - “Không được phản bội một hy sinh nào!”

    - “Không một mất mát nào được bỏ qua!..” [19]

    - …

    Trên đây là những thứ từ ngoài đời, được chắt lọc gửi gắm vào truyện.

    Truyện mới ra mắt bạn đọc được dăm sáu năm nay, nhưng cái quán tính lịch sử hiện hữu trong đời sống hôm nay yêu quái hơn, hiện đại hơn nhiều lần trong truyện; tinh vi, đau buốt, đồi bại, tàn phá hơn nhiều lần trong truyện… Đất nước cũng đang oằn lên hơn nhiều lần – chỉ cần xem tầm vóc các vụ tham nhũng đổ bể ngày càng lớn hơn, xem các chỉ số lạm phát dăm năm trở lại đây, xem báo chí bị bưng bít gắt gao hơn, quyền của người dân bị xâm phạm, bị tước bỏ nhiều hơn, môi trường bị tàn phá nghiêm trọng… Chưa nói đến tình trạng tội phạm hình sự quá trầm trọng và số tuổi trẻ phạm trọng tội ngày càng nhiều. Lại còn thêm nỗi lo thâm nhập của quyền lực mềm!..

    Câu chuyện trong Bài 2 này không còn bàn về sự hiện hữu của cái quán tính lịch sử nữa, mà chuyển sang xoay quanh cái đang lên ngôi của nó, với tất cả những mầm mống sẵn có của nó từ cái xã hội phong kiến trước kia, ủ kỹ trong môi trường sống của đất nước, đang được thời thi nhau trỗi dậy, nảy nở, bây giờ lại được cộng nhập vào cái mới có hôm nay, với tất cả dây mơ rễ má chằng chịt trên dưới ngang dọc chéo, mang đủ mọi màu sắc xanh đỏ tím vàng, được sản sinh ra từ cái thượng tầng kiến trúc mới tạp-pí-lù đang được hiện đại hóa một cách tạp-pí-lù trong quá trình hội nhập hôm nay…

    Một quốc gia vốn mang sâu trong mình tàn dư phong kiến lạc hậu như thế, nhưng lại không có đủ bản lĩnh chăm lo được cho mình có một cơ thể lành mạnh với sức đề kháng tốt để hội nhập, làm sao có khả năng hấp thụ có chọn lọc và sáng tạo? Cho nên cái du nhập và thâm nhậm tạp-pí-lù vào phần xác và phần hồn cơ thể quốc gia mình hôm nay như đang diễn ra là hệ quả tất yếu.

    (Cái “chết” của nước ta bây giờ có lẽ là ở chỗ trong thời hội nhập ngày nay nước ta cái gì cũng có, cũng giành được chút xíu, song trong mỗi cái chút xíu ấy cái của chính ta, cái trở thành là ta, không bao nhiêu; mà trong khi đó cái lai căng, cái rởm thường là quá nhiều, lấy đi của ta quá nhiều, lấn át đi quá nhiều cái là chính ta và cái thành là ta. Không kể đến những cái không mời,những cái không muốn mà tự nó cứ ùn ùn đổ vào nước ta… Trạng thái này đều có trong kinh tế, trong nghiên cứu khoa học công nghệ, trong đời sống văn hóa, trong giáo dục, trong tư duy, trong lựa chỗ đứng cho đất nước trên thế giới, trong tầm nhìn xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đối ngoại… Kết cục hiện nay cái ta là ta và thành là của ta còn quá khiêm tốn, chưa tạo ra được bao nhiêu sự phụ thuộc lẫn nhau cần phải có, mà chủ yếu hiện nay cái ta lệ thuộc vẫn nặng hơn.

    Không thể đổ lỗi cho yếu kém, mà phải nhìn nhận ta chưa có bao nhiêu cái ý chí giác ngộ sự yếu kém của mình. Trên đời này không gì buồn hơn khi ta tồn tại mà lại không hẳn chính ta là ta! Trong thâm tâm tôi cứ vấn vương câu hỏi: Kể từ khi nước ta tiếp xúc với thực dân Pháp giữa thế kỷ thứ 19 cho đến nay, khoảng một thế kỷ rưỡi trôi qua, nhưng vì sao nước ta vẫn cứ ở trạng thái chung chiêng, lơ mơ, không biết người biết ta cho đến nơi đến chốn trong cái thế giới chẳng dung tha chút nào cái lơ mơ thế này? Hình như ta vẫn cứ phải mượn kính của người mà đọc cái thế giới này, mượn được cái kính nào thì đọc như thế. Ta đọc được cái xu thế tất yếu của thời đại, nhưng lại chưa sao thấy rõ được cái xu thế phát triển của cái thế giới đương đại, cách ta nhìn cái thế giới hiện hữu quanh ta càng lôi thôi…Và cho đến hôm nay, hình như ta vẫn chưa sao đọc chính xác được mình! Trong khi đó hòa nhập, hội nhập vào thế giới đòi hỏi phải thực sự biết người biết ta... Nghĩa là ta đến hôm nay – hết thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 này rồi, thế mà vẫn còn lúng ta lúng túng chưa sao tạo ra được vị thế cần phải có cho đất nước. Đổ bao xương máu từ thế hệ này sang thế hệ khác mà đất nước hôm nay sao vẫn còn bị uy hiếp nhiều bề: Sư uy hiếp của lệ thuộc, của vị trí quốc gia nghèo và thua kém, của tình trạng rất dễ bị chấn thương từ bên ngoài bằng đủ mọi thứ quyền lực!.. Cứ nhìn các bước đi của thiên hạ như thế nào, để không thể nào dửng dưng, lại càng không thể cứ dương dương tự đắc mãi không chán là đã từng đánh thắng mấy đế quốc to!.. Đất nước phải thay đổi quyết liệt để sang một trang khác…)

    Từ Cách Mạng Tháng Tám đến nay, đất nước chưa bao giờ có nhiều như bây giờ những thứ có tên gọi như chức tước, danh tước, chức sắc, quân hàm, huân chương, bằng cấp, cấp bậc, cấp ủy, trật tự dọc trên dưới… Chưa bao giờ có nhiều như bây giờ sự phân chia lợi - quyền ngang dọc chéo, hoạt động lễ nghi, lễ lạp, hội hè, cúng bái, mê tín dị đoan, có quá nhiều ma chay, cưới xin, bói toán… Chất lượng của những thứ bên trong mỗi cái tên gọi này nhìn chung thấp, lẫn không ít của giả, có những thứ có thể mua được. Danh sách những tên gọi này khá dài, trong khi đó văn hóa lai căng tràn lan.

    Chỉ cần hình dung mỗi một cái tên gọi như thế chứa đựng bên trong những gì, rồi tập hợp những cái tên gọi ấy lại trong một hệ thống ma trận (matrix) cấu trúc hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của đất nước, cũng có thể hình dung ra toàn bộ cái linh hồn, cái thượng tầng kiến trúc, các hệ thống, bộ máy, cỗ máy, đơn vị vận hành hay là phục vụ cho sự vận hành của sơn hà xã tắc nước ta hôm nay. Sẽ thấy được tất cả những thứ này cồng kềnh, nhiễu nhương, phức tạp, riêm rúa, ít chất lượng và kém hiệu quả như thế nào. Cũng không biết bao nhiêu hủ tục rơi rớt lại từ ngàn xưa khắp chốn trong nước, nay bỗng dưng được phục hồi, được nâng cao đến tầm nhìn nhận nó là văn hóa, hay là cố ý nhầm lẫn nó là văn hóa… – và xa hơn nữa là làm những việc này nhân danh gìn giữ truyền thống, gìn giữ văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc… Các bước đi của đất nước vì thế rất chậm chạp, hoặc có khi một bước tiến vài bước lùi, tiến chỗ này lùi chỗ khác…

    Khái quát lại về thực trạng thượng tầng kiến trúc đất nước và ảnh hưởng của nó, tôi muốn ký hoạ một hình ảnh thế này: Từ khởi sự đổi mới đến năm 1995, nền kinh tế nước ta là một thanh niên tràn đầy sức sống, trên mình anh ta là bộ quần áo rách toác vì các cơ chế chính sách chạy theo không kịp sức lớn và hoạt động năng động của anh ta. Hình ảnh kinh tế nước ta hôm nay là một người có nhiều biểu hiện già trước tuổi, sử dụng quá nhiều thuốc “ICOR” tăng lực, trên mình anh ta có quá nhiều xiêm áo, khung, mũ mão hàng mã và các đồ trang sức hàng tạp hóa, anh ta bây giờ đi đứng chậm hẳn và khó có khả năng tung hoành dọc ngang!..

    Ví von là như vậy.

    Cái chất phong kiến còn sót lại khá đặm đặc như vậy trong phần xác phần và phần hồn cơ thể đất nước hôm nay sao có những nét hao hao đáng sợ so với những gì sử gia Trần Trọng Kim đã ghi lại về triều chính các vua nhà Nguyễn và những gì có thể đọc được trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Quả thực đã hai thế kỷ trôi qua, nhưng đất nước chưa tiến xa cái quá khứ đau buồn của mình được bao nhiêu.

    Bác sỹ P. H…, Thành phố Hồ Chí Minh, mổ xẻ: “Cho dù là người lạc quan nhất bạn cũng cảm thấy bi quan và phẫn nộ khi nhìn chung quanh mình. Phải nhìn nhận rằng tình hình đất nước không khả quan. Biên giới bị kẻ thù xâm lấn. Ngư trường bị kẻ thù chiếm đoạt và kiểm soát. Kinh tế suy thoái. Lòng người ly tán. Cái ác lên ngôi. Đạo đức suy đồi. Hệ thống giáo dục và y tế rối beng. Nhìn chung, nền tảng xã hội bị lung lay đến tận gốc. Tất cả những nét vẽ đó làm cho bức tranh xã hội Việt Nam ảm đạm. Nghèo. Hèn. Câu hỏi là “tại sao”. Tại sao nên nông nỗi này?... Ai cũng có thể tìm cho mình câu trả lời. Có thể nhiều câu trả lời. Nhưng quan điểm cá nhân, tôi nghĩ đến một câu trả lời đơn giản nhất. Lãnh đạo. Nói chính xác hơn là do lãnh đạo bất tài nên đất nước mới ở trong tình thế nghèo hèn như hôm nay…”[20]

    Xin tất cả - người dân và người cầm quyền đất nước - cùng nhau ngẫm nghĩ cho kỹ, để nhìn thẳng được, nhìn thấu được thực trạng đất nước hôm nay, nhận diện chuẩn xác nó, cùng nhau hành động xoay chuyển nó. Đây chính là công việc của cải cách, của dấy lên trong đất nước một cao trào duy tân.

    Người dân không đứng lên giành lấy cho mình sự giác ngộ như thế, sao tránh khỏi hoạt động thụ động theo kiểu bày đàn? Vâng, người dân phải vượt qua nỗi sợ của mình, đứng lên giành lấy. Vì không thể trông chờ vào bất kỳ sư ban cho hay lòng bác ái nào.

    - A ha, thế là duy tân đang xúi giục dân đứng dậy?

    - Đúng. Nhưng với sự giác ngộ tự giành lấy. Một khi sự giác ngộ như thế của dân được tạo mọi điều kiện để trở thành tiếng nói phải được lắng nghe, phải được chấp thuận, phải được thực hiện, có lẽ có thể tránh được các cuộc nổi dạy, và như thế sẽ sang trang được lịch sử.

    Người cầm quyền không giác ngộ như vậy, khác gì tự tay xây đắp cho chính mình sự đổ vỡ không thể đảo ngược được? Trên hết cả, người cầm quyền, lại do Đảng lãnh đạo, không đi với dân thì đi với ai? Không vun đắp cho cái giác ngộ của dân, không tạo ra tiếng nói như thế của dân từ sự giác ngộ này thì làm gì? Lãnh đạo là gì?

    Vì vậy, xin người dân và người cầm quyền đều phải cùng nhau ngẫm nghĩ, cùng nhau ai phải thực hiện trách nhiệm nấy, không nhầm việc nhầm chỗ. Để sau này đừng một ai nói rằng: “Tôi không biết!”.

    Xin nói thêm một ý khác nữa:

    Có nhận xét “dân nào, chế độ ấy”. Điều này cũng có cái lý của nó. Tình trạng đất nước như hôm nay, có một phần nhất định do dân ta vốn như vậy, chấp nhận như vậy, cam chịu như vậy.

    Xin nói thực thà với nhau thế này để cả người dân và người cầm quyền cùng nghe: Tình trạng như hiện nay ở nước ta mà rơi vào các nước khác như Ai Cập, Tuy-ni-di.., có lẽ phải xảy ra đến hai hay ba mùa “hoa lan hoa nhài” rồi. Ở nước ta không. Vì dân ta tốt quá, cái đó đúng. Vì dân ta còn thương Đảng lãnh đạo quá, cái đó đúng… Vì nhiều thứ nữa… Song còn vì một phần là dân ta vốn như thế… Tôi trạnh nhớ đến anh Hoàng Ngọc Hiến: “Cái nước mình nó thế…”

    Tuy nhiên, phải công bằng. Trong bài viết về vấn đề hiền tài, tôi cho rằng: “Một xã hội chịu tác động như thế ngày này qua ngày khác, cùng với nền giáo dục như đang được tiến hành, dần dà cũng tạo nên một thứ văn hóa cần thiết cho sự tồn tại hàng ngày của chính xã hội ấy.”[21] Cho nên, ngày nay “cái nước mình nó thế” còn là hệ quả, là sản phẩm tất yếu của chế độ chính trị nước ta hiện nay. Nhẹ nhàng hơn thì cũng phải nói: Chế độ chính trị nước hiện nay góp phần không ít nuôi dưỡng và làm trầm trọng thêm trạng thái “cái nước mình nó thế”.

    Đây chính là một khía cạnh khác nữa vô cùng quan trọng của cái quán tính lịch sử mà duy tân sẽ phải đối mặt!

    Có ý kiến viện dẫn câu nói của J. P. Sartre để lý giải, đại ý: Sống trong xã hội gian dối, người không biết nói dối trở thành kẻ vô lại. Cuộc sống cũng thừa nhận có hiện tượng này. Song tôi muốn thiên về ý: Nhận biết thực trạng này, là để khắc phục nó. Vì vậy duy tân phải làm được vai trò đánh thức dân đối với thực trạng này. Cụ Phan Chu Trinh đặt vấn đề khai dân trí trước tiên, có lẽ vì coi nhiệm vụ duy tân trước hết là như vậy. Tôi mong duy tân thay đổi được “cái nước mình nó thế”.

    III. 2. Tình trạng đoàn kết dân tộc hôm nay

    Xin nói rõ, trước bước ngoặt định mệnh của đất nước, đoàn kết dân tộc trước hết phải là vì nhau và cùng nhau xả thân cho một Việt Nam là tổ quốc ngay trong tim của mỗi người con trong cộng đồng dân tộc Việt Nam ta, là cùng nhau xây dựng một thể chế dân chủ vận hành đất nước có phẩm chất gần như đồng nghĩa với tổ quốc – nghĩa là không thể để cho việc xây dựng một nhà nước của dân, do dân vì dân chỉ là một khẩu hiệu.

    Đoàn kết dân tộc với nội dung như vừa trình bầy là sự cố kết của ý chí, trí tuệ, tâm huyết với dân tộc, với đất nước, là cố kết của các giá trị chân chính và của đạo đức, của sự khác biệt sáng tạo và phẩm chất của từng cá nhân được tiếp tục trau giồi, rèn luyện, để từng người và toàn dân tộc phấn đấu về một hướng cho một Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh.[22]

    Đoàn kết dân tộc với nội dung mới như thế không thể chỉ là “xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điềm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc.., đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa khoan dung…”[23].

    Đoàn kết dân tộc như vậy vượt ra ngoài cả liên minh công nông và trí thức, vì nó là cố kết lại với nhau của sự giác ngộ của từng người Việt Nam dù là ai – sự giác ngộ về thực trạng đất nước, về vị thế yếu kém hiện nay của Việt Nam trong thế giới này, về những thách thức đất nước đang phải đối mặt, và từ đó quyết tâm cùng nhau phấn đấu đưa đất nước mình vươn lên thành một quốc gia văn minh trên thế giới. Bên cạnh một Trung Quốc bá quyền và muốn siêu cường, dân tộc ta càng phải cố kết lại với nhau như thế.

    Đoàn kết dân tộc như thế còn vượt xa rất nhiều cả “khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ”[24] để cùng nhau giương cao ngọn cờ dân tộc – dân chủ đã từng làm nên mọi thắng lợi và thành tựu của nước ta từ Cách Mạng Tháng Tám đến nay. (Đáng lo là đến nay cái việc “khép lại quá khứ, không ngoái lại quá khứ” vẫn chưa làm xong, về nhiều mặt là chưa làm được!)

    Đoàn kết dân tộc như thế từ nay về sau trước hết phải được xây dựng, phải được vun đắp thường xuyên và liên tục đời này sang đời khác bởi một nền giáo dục chân chính.

    Ngay sau 30-04-1975, nhiệm vụ đoàn kết hòa hợp hòa giải dân tộc đã được đề ra, song vì có quá nhiều cái tha hóa, cái bất cập, nhất là vì nhìn nhận sai về đòi hỏi phải thống nhất dân tộc trên nền tảng của dân chủ, về chiến lược phát triển đất nước.., cho nên đến nay nhiệm vụ này chưa thực hiện được bao nhiêu, và trên thực tế là còn đứng xa đòi hỏi cố kết dân tộc trong giai đoạn mới của đất nước.

    Đoàn kết dân tộc với nội dung như vậy là điều kiện tất yếu phải có cho tồn tại và phát triển đất nước, được đặt ra trước bước ngoặt định mệnh hôm nay.

    Từ các phần trên của Bài 2 này, mở rộng ra một chút là từ những vấn đề có liên quan tôi đã trình bày trong Bài 1 và trong bài viết trước nữa về vấn đề hiền tài, tôi kết luận: Chúng ta chủ yếu mới đạt được cố kết dân tộc cho sự tồn tại, cho bảo vệ đất nước, chưa có bao nhiêu yếu tố quan trọng này cho phát triển đất nước trước bước ngoặt mới, cho việc xây dựng truyền thống và văn hóa mới cho phát triển lâu dài sau này. Đấy là kết luận 1.

    Xem xét thực trạng đất nước hiện nay như đã trình bày trong bài này và Bài 1 – trước hết là xem xét tác động của tha hóa dẫn tới những biểu hiện của trạng thái mất phương hướng, mất niềm tin, vô cảm, tâm lý bi quan chán trường, tâm lý thực dụng không cần đến ngày mai… trong tâm tư của đại bộ phận nhân dân, tôi đi tới kết luận 2: Hiện nay trong xã hội nước ta đang tồn tại cuộc khủng hoảng tinh thần lớn nhất kể từ Cách mạng Tháng Tám đến nay – cuộc khủng hoảng các giá trị.

    Song ngay trong Báo cáo chính trị tại Đại hội XI cũng chỉ nêu lên đơn giản đại đoàn kết là đường lối chiến lược và diễn giải nội dung rất công thức, song phần đánh giá thực hiện chỉ nêu “dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chưa được phát huy đầy đủ.., …chưa được thể chế đầy đủ thành pháp luật, hoặc đã thể chế hóa nhưng chưa được thực hiện nghiêm túc…”[25], nghĩa là nhận thức của đảng cầm quyền còn rất xa thực tế cuộc sống và những đòi hỏi hiện nay, chưa làm rõ những vấn đề mới đặt ra. Đây là kết luận 3.

    Trong tình hình có 3 đặc điểm như vậy, lại đang lúc đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế kéo dài từ nhiều năm nay, thách thức bên ngoài rất lớn, nhiệm vụ đoàn kết dân tộc cho giai đoạn này vừa càng trở nên khó khăn, đồng thời càng vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định vận mệnh đất nước. Nghĩa là thành hay bại, sớm thoát ra được khỏi khủng hoảng hiện nay để đi vào một giai đoạn phát triển mới, hay lún sâu vào những bước khủng hoảng tiếp trong nước và thất bại trước những thách thức mới từ bên ngoài, phụ thuộc rất nhiều vào thực hiện ra sao nhiệm vụ đoàn kết dân tộc lúc này.

    Tôi nghĩ và hy vọng trong vòng vài năm nữa có thể ra khỏi khủng hoảng kinh tế hiện nay để đi vào ổn định, phát triển, nếu… Nhưng tôi chưa thấy trong vòng vài năm tới có thể ra khỏi cuộc khủng hoảng các giá trị, cũng chưa biết bao giờ có thể khắc phục được cuộc khủng hoảng này. Điều này có nghĩa: Giả thử ra khỏi được khủng hoảng kinh tế hiện nay mà không có cải cách chính trị đi trước một bước, thì nguy cơ quay lại nó khá lớn và rất sớm theo kiểu ngựa quen đường cũ[26], chưa kể đến tình hình xảy ra những đột biến bất khả kháng (tỷ như dịch bệnh, tsuinami, động đất…), hoặc tình trạng xảy ra một domino nào đó, bắt đầu từ … - ví dụ, nước Hy-lạp vỡ nợ chẳng hạn... -, dẫn tới những cơn địa chấn kinh tế ngoài tầm kiểm soát của con người…

    Ví dụ, sau khi ra khỏi khủng hoảng kinh tế rồi, mà cái dối trá vẫn ở thế áp đảo trong đời sống mọi mặt – có nghĩa là cái yếu kém vẫn có dinh lũy kiên cố để ẩn nấp, cái ăn thật làm giả vẫn có đất sống, cái giả vẫn có khả năng thắng cái thật..; trong một tình hình như thế, xin hỏi cái trật tự mới vừa giành lại được hay hình thành được sau khủng khoảng, rồi các thể chế, luật pháp, chính sách đã được cải tiến, rồi một số cái tốt khác vừa mới tạo ra được… – vâng, nghĩa là cứ giả định rằng có nỗ lực (hay có phép tiên) đạt được một trạng thái như thế sau khi ra khỏi khủng hoảng, song những cái tốt đẹp vừa mới giành được ấy sẽ bền vững được bao lâu?

    Các văn kiện chính thức của BCHTƯ ĐCSVN khóa XI lần đầu tiên chính thức nêu đích danh và lên án các hiện tượng “chạy ghế” và “nhóm lợi ích”, một tiến bộ rõ rệt so với trước đó (cũng có nghĩa là hôm nay những cái “ác” này đã quá trắng trợn, quá lộng hành, không thể lặng thinh được nữa). Tuy nhiên, nhiều phát biểu – kể cả của người có cương vị cao – thừa nhận đến nay chưa phát hiện được một trường hợp “chạy ghế” nào, kêu gọi mọi người chỉ giùm để trừng trị. Sờ mó vào các “nhóm lợi ích” càng không dễ, báo chí đã nói công khai các đoàn kiểm tra, kiểm toán của Quốc hội, Chính phủ nhiều khi không lấy được số liệu cần phải có của các tập đoàn. Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư có lần phải thừa nhận không kiểm soát hay không nắm được hoạt động của tập đoàn… - nghĩa là căn bệnh đã nặng đến mức cái đầu không vãy được cái đuôi. Vân vân… Cuộc sống thực đến giờ phút này đang là thế.

    Như vậy, tiếng nói của đạo đức, của giá trị có được sức nặng bao nhiêu?

    Bên trong sự “vô cảm” của những cái “ác” này – đúng hơn có lẽ nên gọi đấy là sự “lỳ lợm” (để tiếp tục vụ lợi), làm gì có có chỗ đứng cho ý niệm về “accountability” (tạm dịch: tính trách nhiệm, tính tin cậy được)? Tính khả thi nào của kỷ cương, luật pháp, chính sách… có thể địch nổi sự lỳ lợm này?

    Đến nay, âm thầm hay lộ liễu, sự lỳ lợm vẫn đang thắng. Đồng minh của sự lỳ lợm này là tình trạng bất cập, tình trạng tác trách không thể nào chấp nhận được của một bộ phận không ít những người thuộc biên chế bên Đảng hay bên chính quyền sống ăn lương bằng tiền của dân đóng thuế - một hệ quả tất yếu của toàn bộ chính sách tổ chức – cán bộ và của nền giáo dục nước nhà (bao gồm cả công tác đào tạo cán bộ cho hệ thống chính trị của đất nước). Nơi nương trú của sự lỳ lợm này là bộ máy nhà nước cồng kềnh, chồng chéo và kém hiệu quả. Chỉ một ví dụ mỗi đêm mất 2000 tấn khoáng sản đem đi xuất tại một cửa khẩu ở Cao Bằng mà không gây nhức nhối gì trong toàn bộ hệ thống điều hành đất nước và cứ để cho nó ngang nhiên tồn tại dai dẳng, đủ minh chứng tình hình này[27].

    Bây giờ xin nói vài điều về sự vô cảm trong dân, một hình thái phản kháng thụ động hiện nay, một hiện tượng đang mầm mống không biết bao nhiêu hậu họa. Bàn điều này, chí ít để thấy ngay được rằng mọi bưng bít, trấn áp, che đậy, khỏa lấp, mỵ dân, xoa dịu… sẽ chẳng khác gì mấy việc lấy một miếng vải bẩn băng bó một vết loét trầm trọng, tất yếu dẫn đến nguy cơ hoại tử.

    Hiện nay tâm trạng dân ta chưa đến nỗi như viên sứ Pháp tại Huế, P. Rheinart, năm 1875 báo cáo cho cấp trên ông ta[28]. Song hiện nay tâm lý chán trường, bi quan, mất lòng tin, thờ ơ, tránh né, quay về tự lo thậm chí tự làm luật, quay về chỉ quan tâm cho mình, quay về chỉ biết mình… trong dân không thể xem thường. Phổ biến vẫn là câu chuyện ngàn xưa “đấu tranh – tránh đâu?” nhưng ngày nay ở mức độ trầm trọng hơn nhiều, giữa lúc ngoài đời đang xảy ra không biết bao nhiêu việc xấu, việc nghiêm trọng, có bao nhiêu việc không thể bàng quan được[29]. Sự thật của bức tranh toàn cảnh ngoài đời này khác rất xa so với những gì có thể thấy được, nghe được, những gì được phản ánh qua các buổi truyền hình “các đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri” – dù là ở ngay thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hay ở bất kỳ một tỉnh nào, một khu vực bầu cử nào trong cả nước. Có thể nhận xét: Bức tranh toàn cảnh ngoài đời là sự thật, còn cách tiếp cận và xử lý sự thật theo kiểu như trên tivi nói trên chỉ là “chuồn chuồn đập nước” – chủ yếu vẫn là làm cho có làm, sờ mó được bao nhiêu vào sự thật để xử lý? Nghĩa là cái dân chủ đại diện trong thể chế chính trị của nước ta chỉ có thể đạt được kết quả có tính hình thức như vậy. Làm thế nào bây giờ?

    Đang xảy ra hiện tượng một số nước ngừng nhận tiếp lao động Việt Nam sang làm việc, trước hết vì số lao động theo hợp đồng bỏ trốn việc để cư trú bất hợp pháp tại nước chủ nhà lớn quá, tình hình còn tiếp diễn. Số phụ nữ ta lấy chồng nước ngoài ngày càng nhiều, có quá nhiều bi kịch đau thương, có quá nhiều trường hợp biến thành việc buôn bán phụ nữ một cách ghê sợ.., song tình hình này vẫn tăng lên ở nhiều tỉnh. Có doanh nghiệp, có người, đã lo “để” tài sản của mình ở nước ngoài, không phải là vì kinh doanh hay là “tuồn ra ngoài” do gian lận, mà - có người đã nói thẳng với tôi là - vì “tâm lý chợ chiều”…

    Ngoài bao chuyện đau lòng về “hình ảnh người Việt” ra, đằng sau, sâu xa bên trong tất cả những hiện tượng vừa nêu trên là gì, là trạng thái gì của đất nước ta hôm nay? Làm sao không lo lắng được trước những hiện tượng như vậy? Cố kết dân tộc lại với nhau như thế nào bây giờ trong tình hình như vậy?

    Nhưng lúc này đất nước không thể không thực hiện đoàn kết dân tộc. Chẳng lẽ cứ phải chờ đến lúc Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông ta mới thức dạy cụm lại?

    Song rõ ràng, chỉ có thực thi luật pháp, thực thi dân chủ (giả thử là thực hiện được) mà không đồng thời duy trì, phục dưỡng và tôn vinh các giá trị, làm sao có đoàn kết dân tộc? Mà không có cái này thì cũng chẳng có cái kia.

    Hiển nhiên, như thế để bảo vệ và xây dựng đất nước ngày nay đi lên văn minh hiện đại, nhất thiết phải kinh qua một cuộc cải cái triệt để, sâu rộng thể chế chính trị và thượng tầng kiến trúc của đất nước, thậm chí cuộc cải cách này phải đi trước một bước. Bởi vì, đoàn kết dân tộc để bảo đảm giành thắng lợi trước hết là thực hiện sự cố kết các giá trị của dân tộc, chẳng cố kết giai cấp nào thay thế được nó cả. Làm sao thiếu được một cao trào duy tân cho một cuộc cải cách như thế?

    Trí thức nước nhà và những người nắm quyền lãnh đạo đất nước nghĩ gì?

    IV. Phần kết: Thay đổi cách nhìn

    IV. 1 Thay đổi cách nhìn

    Thiết nghĩ nên bắt đầu công việc bằng thay đổi cách nhìn.

    Nên vượt qua nỗi sợ của chính mình, với tinh thần không cam chịu, để thay đổi cách nhìn. Có ý chí, ai cũng có thể làm được, kể cả những người ít hay không có điều kiện được học hành nhiều. Quyết tâm và giúp đỡ lẫn nhau, chắc chắn ai cũng làm được, cả nước làm được; hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước cũng có thể làm được hay sẽ được thúc đẩy. Dân chủ, công khai minh bạch, xây dựng – làm như thế, chắc chắn sẽ làm được.

    Thay đổi cách nhìn, sẽ thấy nhiều cái khác, nhiều cái mới.

    Ví dụ, tái cấu trúc kinh tế để chuyển sang phát triển năng động và bền vững đang được đặt lên bàn nghị sự quốc gia. Nếu chúng ta thay đổi cách nghĩ, cách nhìn về công nghiệp hóa như đã tiến hành hơn 2 thập kỷ vừa qua, rút ra kết luận phải tận dụng tốt hơn nữa lợi thế nước đi sau, phải phát huy hơn nữa nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người, tận dụng lợi thế lớn nhất (phần nào còn là các thách thức nữa) của đất nước là đất đai, khí hậu, vị trí địa lý tự nhiên trong hội nhập kinh tế thế giới, lại phải nhằm vào phát triển một nền kinh tế có hàm lượng khoa học công nghệ ngày càng cao, tiến tới một nền kinh tế của tri thức, của văn hóa.., chắc chắn thay đổi cách nhìn như thế, chúng ta sẽ tìm ra cách xắp xếp lại nền kinh tế nước ta, thay thế cái gì bằng cái gì, bỏ bớt cái gì và bỏ như thế nào, duy trì cái gì, phát triển cái gì mới… – nhất là trong lúc bản thân cấu trúc kinh tế thế giới và phương thức vận hành của nó đang thay đổi. Tôi đã có dịp trình bày một số suy nghĩ riêng về chủ đề này trong các bài viết trước.

    Ở đây, tôi chỉ xin lưu ý thêm:

    - Thay đổi cách nhìn trong kinh tế, trước hết nên khắc phục bằng được cái nôn nóng, manh mún cục bộ (ít nhiều mang tính tranh thủ, chụp giật, chia chác), cái tư duy dễ làm trước, khó bỏ lại sau.., mà phải kiên định chuyển sang cách nhìn chiến lược, bài bản, có tính quy hoạch cao hơn, bước trước chuẩn bị bước sau. Cần thay cách nhìn quá thiên về tăng trưởng để chú trọng hơn về phát triển. Hiện nay không thế.

    - Nên chú ý phát triển một nền kinh tế của văn hóa nữa – văn hóa về sản xuất/tiêu dùng theo những chuẩn mực của văn minh, về chất văn hóa trong sản phẩm, về môi trường tự nhiên, về phương thức kinh doanh, về sự hài hòa các lợi ích, về thân thiện với con người và phục vụ con người, về đặc thù văn hóa và cái bản sắc riêng của đất nước ta, về hòa nhập và hội nhập. Chí ít đấy là việc làm ra những sản phẩm kinh tế mang tải nét văn hóa hay giá trị tạo ra sự khác biệt của Việt Nam… Vân vân… Nó còn là gì nữa, tiến hành như thế nào..? Là nước đi sau, ta nên chú ý bỏ công sức bàn vỡ câu hỏi quan trọng này. Nó có thể góp phần quan trọng làm nên sự khác biệt mà nền kinh tế nước ta phải có để có chỗ đứng trong kinh tế thế giới.

    - Trong chiến lược công nghiệp hóa, nên đặc biệt quan tâm phát triển tốt hơn nữa 2 ngành kinh tế rất quan trọng của nước nhà: (1) nông nghiệp, (2) dịch vụ. Vì nước ta có lợi thế lớn nhiều mặt cho 2 ngành này. Nói ngắn gọn ở đây là: Học hỏi và hình thành cả một chiến lược lâu dài xây dựng bằng được 2 ngành này theo những hình mẫu tiên tiến và đã thành công trên thế giới. Ta có lợi thế nước đi sau và thị trường rất triển vọng cho 2 ngành này, nhất là kinh tế thế giới đang thay đổi sâu sắc.

    Tôi đã đôi ba lần có dịp nói tới và bây giờ xin nhấn mạnh: Giáo dục trước hết, chứ không phải công nghiệp hóa – hiện đại hóa sẽ là yếu tố hàng đầu quyết định số phận nước ta trong thế kỷ 21. Nghĩa là giáo dục phải tiến nhanh và trở thành một trong những yếu tố nền tảng phải có cho công nghiệp hóa. Trước sau, nền giáo dục nước nhà cần nhằm vào cái đích hình hài, xây dựng nền tảng và nuôi dưỡng một quốc gia dân chủ của những công dân là con người tự do.

    Không thể nói hết chung quanh câu chuyện thay đổi cách nhìn. Về quá khứ, hiện tại, và tương lai. Về thế giới. Về ta và thế giới. Về quan hệ Việt – Trung. Về chính nước ta và mỗi bản thân chúng ta… Về từ thế giới nhìn lại chúng ta… Ở đây tôi xin được nhắc lại để nhấn mạnh một điểm: Nên nhìn rõ những thách thức mới của thế giới hôm nay, đặc biệt là khu vực Châu Á –Thái Bình Dương, trong đó có nước ta. Chỉ có cách nhìn mới, có đoàn kết dân tộc, có sự dấn thân cùng đi với cả trào lưu tiến bộ của thế giới, nước ta mới tạo ra được chỗ đứng cần phải có tại địa bàn năng động, không ít nóng bỏng và rất quyết liệt này.

    Thay đổi cách nhìn về ta, rất nên mạnh dạn nhìn thấu những yếu kém của ta. Nhất là nên từ các bài học của lịch sử, cố nhìn thấu những yếu kém của ta. Đương nhiên không phải để tự ti, mà là để không cam chịu, trước hết là để khiêm tốn, để có ý chí giải phóng mình ra khỏi các thứ bệnh cản trở sự tiến bộ của đất nước, ví dụ: “tâm lý tiểu nông đậm mùi hủ nho” (manh mún, thiển cận coi trời bằng vung, hẹp hòi, bảo thủ, đố kỵ, hợm hĩnh, nhiều khi khôn vặt đến lưu manh nhưng lại dễ bị lừa trong chuyện lớn…), “nếp nghĩ mì ăn liền và bóc ngắn cắn dài” (trong Đảng còn có tư tưởng”nhiệm kỳ”), thói ỷ vào chi viện, thói tự huyễn theo kiểu “nhất thế giới.., nhất Đông Nam Á” và những thứ “xấu xí” khác, … (người Trung Quốc ngày xưa mắc nặng chứng bệnh “AQ”, bây giờ có nhiều thứ bệnh thời nay của “Người Trung Quốc xấu xí”[30]). Tôi rất xin lỗi nếu bị khép tội phỉ báng người mình.

    Sông có lúc, người có khúc. Người ít hay người nhiều, con người bao giờ cũng là người, không bao giờ là thánh. Thiết nghĩ, muốn phát huy những phẩm chất dân tộc ta đã tạo dựng nên được suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm của mình, nhất thiết phải khắc phục những yếu kém nói trên, đồng thời cần bền bỉ xây dựng cho mình những giá trị và phẩm chất mới phải có, để có thể cùng đi với trào lưu tiến bộ của thế giới, nhất là tính trung thực, sự khoan dung lẫn nhau và ý chí dấn thân vì sự thật, vì tiến bộ. Tạo ra chuyển biến này càng phải là nhiệm vụ của duy tân.

    Đang viết, điện thoại reo. Bạn tôi, một nhà giáo tạm thời tử thần ung thư đang điểm danh, xúc động chia sẻ: Học trò anh, cũng là một nhà giáo, khi giải thích cho học sinh của mình lý do xin nghỉ dạy 2 ngày để đi thăm thày cũ, học sinh thích quá vỗ tay hoan hô vì được nghỉ học. Tôi hiểu được các em và nghĩ chắc là các em tôi cũng vui như thế. Nhưng không biết vì sao, tôi vẫn thoáng rùng người nhớ lại đã được đọc, hay được nghe ở đâu đó câu chuyện một phụ huynh học sinh là thương binh già…Trong một buổi họp trường ông ta phê phán (nói cho đúng hơn là mắng) thầy hiệu trưởng, đại ý: …Tôi đã đi qua nhiều chiến trường và chết chóc, đã chứng kiến nhiều người thân thể bị bom đạn làm rách nát song vẫn có cơ may chữa chạy lành lặn… Nhưng nếu một ai đó để linh hồn mình rách nát, thì khó cơ chữa khỏi và hoàn toàn không có đồ thay thế (kiểu như chân tay giả)! Tại trường này, cái khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” ở tường treo trên đầu ông kia kìa, nó chỉ là “lễ” trước tiên! Nhà trường của ông làm ăn như thế này là đang đào tạo ra những linh hồn như thế!..

    Có thể hình dung nhiệm vụ giải phóng khỏi thứ di sản văn hóa cần bỏ lại phía sau, lại còn phải nuôi dưỡng cái chân, thiện, mỹ, cái mới nữa.., quả thực là sự nghiệp khó nhất và vô cùng quan trọng, nhất là lúc này và thường xuyên mãi mãi về sau đối với dân tộc ta, sau khi từ nay trở đi Việt Nam là một quốc gia độc lập.

    IV.2. Thử nghĩ về được và mất

    Thay đổi cách nhìn, cũng nên thay đổi cách nghĩ về được/mất. Có lẽ phải ý chí, trí tuệ và dũng cảm lắm, dám vì mục tiêu trong sáng, dám vì chân lý, mới có thể đụng chạm được vào nhìn lại và thay đổi cách nghĩ về được/mất. Được – mất đã xảy ra. Được – mất cần và phải lựa chọn cho hiện tại và tương lai.

    Ví dụ, thành quả cách mạng đã giành được là cái được lớn lắm; song cứ mài cái được rất vinh quang đã thành lịch sử này ra mà hưởng thụ, mà sống, sẽ có nghĩa là mất, rồi sẽ có lúc mất hết vì tha hóa. Cuộc sống của đất nước hôm nay, nói cụ thể hơn nữa là cuộc sống tinh thần, đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước hôm nay, đã có ở mức hơi quá nhiều cái trạng thái mài cái được rất vinh quang đã thành lịch sử này ra mà hưởng thụ, mà sống tiếp. Xin kể lại ở đây, lúc sinh thời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nhiều lần phải nhắc nhở, khuyến cáo điều này một cách có ý tứ, kể cả trong những dịp quốc lễ lớn.

    Mặt khác, sự thật cuộc sống đất nước có nhiều cái được bị đánh mất đến bây giờ vẫn chưa biết sao lấy lại được. Nhiều lắm. Những cái mất ấy đang gây ra không biết bao nhiêu khó khăn cho đất nước hôm nay, và có thể mai sau nữa, nhất là mất niềm tin. Cứ nhìn lại những giá trị đã xây dựng được nhưng ngày nay đang mai một hoặc bị đảo ngược sẽ rõ, bao giờ làm lại được? Một trong những cái được rất lớn ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công nay bị mất (thoạt đầu có thể là mất do hoàn cảnh chiến tranh), đến giờ chưa có cách gì lấy lại được, đó là Hiến pháp năm 1946. Cứ đem ra thảo luận công khai trong cả nước, chắc sẽ thấy rõ tổn thất này đối với hôm nay lớn như thế nào, và từ đó có thể sẽ có được nhiều gợi ý cho công việc sửa đổi Hiến pháp sẽ phải thực hiện. Sau khi đất nước thống nhất, có nhiều cơ hội lớn tuột tay, đấy là những cái mất vô cùng xót xa, nhất thiết phải nhìn lại.

    Thay vì nuôi dưỡng niềm tự hào chính đáng là động lực phấn đấu của hôm nay, nhằm đưa đất nước ra khỏi số phận nghèo hèn, lại đi ngược dòng, muốn lấy cái được đã thành lịch sử làm chân lý, làm giường cột, làm khuôn vàng thước ngọc cho hiện tại và tương lai, thì trên thực tế - dù thừa nhận hay không thừa nhận – là đã chủ động tự quy hoạch và thực hiện cho mình cái mất hết. Phải chăng không ít thứ đã mất hết rồi? Đối với sự nghiệp của Đảng cộng Sản Việt Nam tôi cũng nghĩ như vậy, xin trở lại vấn đề này trong Bài 3.

    Trong cuộc sống, trong phấn đấu, trong xây dựng đất nước luôn luôn có được và mất. Mất mà có được bài học và chung cuộc là tạo ra được khả năng xoay chuyển tình thế, thì thực chất và cuối cùng là được. Nhưng được mà phải trả giá lớn, làm hỏng cái được và chung cuộc là số âm với nhiều hệ lụy xấu, thì chắc chắn đấy là mất. Con người ta không phải là ông thánh, lại thêm những yếu kém vốn có của chính nó; đồng thời cuộc sống luôn luôn đi theo bản đồ riêng của nó mà con người khó biết hết được, nên hành động có đúng, có sai là đương nhiên, có được có mất là tất yếu. Tôi nghĩ, nếu có cái tâm và ý chí Tổ quốc trên hết, có trí tuệ dẫn dắt, chắc chắn sẽ có khả năng xử lý đúng đắn cái được/mất đã xảy ra cho hiện tại và tương lai.

    Trong lịch sử cận đại, nước ta có nhiều cái được/mất vô cùng quan trọng, người cầm quyền và người dân nhất thiết phải trấn tĩnh xem lại để quyết định đường đi nước bước của tương lai đất nước. Phải như thế, nếu muốn đất nước sang trang, đổi đời.

    Trong Dòng đời, má Sáu Nhơn, một cơ sở cách mạng tại Sài Gòn, đã cất gữ một bản viết tay in litho Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945 ngay từ những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến (23-09-1945). Thế nhưng chỉ vài năm sau ngày 30-04-1975, một đêm má phải dứt ruột tiễn con cháu mình đi di tản. Trở lại nhà, ngay đêm ấy, má xé bản Tuyên Ngôn Độc Lập, vừa xé vừa khóc. Song vì tiếc xương máu của nhân dân mình – trong đó có xương máu chính con cháu ruột thịt mình, má lại cất bản Tuyên Ngôn rách vào chỗ cũ. Rồi một ngày, trăng trối trước giờ phút lâm chung, má gọi bầy cháu nội của mình đến và trao tận tay bản Tuyên Ngôn rách: “Các con phải giữ lấy! Bảo nhau cha truyền con nối thực hiện bằng được!..” Còn cụ Phạm Trung Học, chú ruột của đại tá thương binh Phạm Trung Nghĩa phải thốt lên: “Cái giá phải trả cho độc lập thống nhất đất nước đắt lắm!.. Đắt quá!..”

    Ai dám nói những gì nước ta đã đạt dược trong 35 năm đầu tiên của quốc gia độc lập thống nhất là không đắt?

    Để giành thắng lợi phía trước, nhất thiết phải học được từ quá khứ bài học được/mất.

    Khi tôi viết đến đây, trên thế giới sôi nổi những tin tức về các cuộc biểu tình Chiếm lấy phố Wall ở nhiều nơi phát triển nhất trên thế giới này. Động cơ (motivation) và mục tiêu của hành động này là chính đáng: Nhất thiết phải sửa chữa những khuyết tật của phát triển. Cụ thể ở đây là sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn và việc phân bổ gánh nặng của khủng hoảng quá nặng lên vai tầng lớp thu nhập thấp hơn trong xã hội. Biểu tình như thế không phải là phương thức sửa chữa khuyết tật, nhưng nó đặt ra được vấn đề phải sửa chữa, nó thúc đẩy sự quan tâm và những nỗ lực cho công việc sửa chữa.

    Các nước phát triển này, - tư bản hay đế quốc, muốn gọi thế nào thì tùy - lúc này khác có những cuộc biểu tình rất lớn như thế. Vừa mới đây nhất là các cuộc biểu tình ở Mỹ chống chiến tranh Iraq giữa lúc cuộc chiến đang nóng bỏng. Những cuộc biểu tình này ở Mỹ cùng với nhiều thể chế khác nữa của hệ thống pháp quyền Mỹ không phải là không có tác động đối với chính quyền Obama bây giờ. Những sự việc này cho thấy hệ thống chính trị những quốc gia này được thiết kế sao cho có khả năng vạch ra quyết liệt các điều cần vạch ra (dù rằng không phải khuyết tật nào cũng vach ra được), và có khả năng điều chỉnh, sửa chữa những khuyết tật được vạch ra (dù không hiếm trường hợp là không thể, là bất lực). Làm gì có chế độ chính trị tiên thánh nào trên thế giới luôn luôn sửa chữa được 100% khuyết tật xảy ra.

    Coi cuộc biểu tình Chiếm phố Wall là sự giãy chết của chủ nghĩa tư bản, là những “triệu chứng” hay “bằng chứng” cho việc xã hội loài người nhất định tiến lên chủ nghĩa xã hội… là tuỳ cách nhìn của mỗi người. Tôi quan tâm đến một khía cạnh khác: Mong muốn thể chế chính trị ở nước ta có được sức mạnh như thế vạch ra và sửa chữa các khuyết tật. Một cỗ xe hiện đại thế nào đi nữa cũng phải có cái thắng (cái phanh) mới đắc dụng được. Còn hơn thế, phong trào duy tân đất nước tôi muốn xới xáo lên trong Bài 2 này, để gợi ý, để xin được bàn luận.., không phải chỉ có mỗi một việc là làm ra cái thắng cần phải có, nó còn phải nhằm vào cải thiện và xây lại cả bộ máy.

    Như đã nêu trên, điểm khởi động là người dân phải đứng lên tự giải phóng. Nên thông qua thực hiện dân chủ và công khai minh bạch để khuyến khích người dân tự đứng lên giải phóng. Cả nước, ngoài Đảng cũng như trong Đảng, xin cùng nhau vắt óc tìm cách thực hiện sự khởi động này.

    - Suy nghĩ về duy tân như vậy, tôi ảo tưởng?

    - Gần như chắc chắn. Nhất là ảo tưởng về khả năng thực hiện.

    - Vậy nêu ra con đường duy tân để làm gì?

    - Vì theo cách nhìn của tôi, muốn thực hiện được cải cách triệt để đất nước thì có lẽ nên có một phong trào duy tân như thế làm động lực. Tôi tin đấy là con đường cải cách thành công lâu dài, bền vững, để đất nước đoạn tuyệt hẳn với cái quán tình lịch sử tai ác, đi vào giai đoạn phát triển mới. Để đừng tái diễn cái cảnh sau 25 năm đổi mới, cái quán tính lịch sử bây giờ lại lên ngôi! Tôi hy vọng như vậy!.. Con đường ấy có thể người dân và người cầm quyền không thể đi được trong trạng thái hiện nay… Hoặc là, con đường ấy người dân muốn đi, người cầm quyền không dám, không muốn… Hoặc là, con đường ấy người cầm quyền không muốn, chưa muốn, hoặc phải cân nhắc trong, ngoài nhiều thứ, nhất là vào thời khắc nhạy cảm như hiện nay. Hoặc là, con đường ấy người cầm quyền tự thấy không thể đi được. Hoặc là, người cầm quyền dứt khoát bác bỏ nó… Hoặc là cuộc sống còn có con đường khác?.. Hoặc có thể tôi nghĩ sai… Vân vân… Tôi hy vọng sẽ đến gần sự thật tôi đang đi tìm.

    Nguyễn Trung
    Võng Thị, ngày 20 tháng 10, 2011

    Chú thích

    [1] Cách nhìn này của tôi không giống quan điểm có cái tên gọi là “giải phóng lực lượng sản xuất” như đã từng thực hiện ở nước ta.

    [2] Ví dụ: (1) Chúng ta chắc sẽ rất khó hình dung nổi những cố gắng lặng lẽ, bền bỉ, tự thân – nghĩa là hầu như không có một sự trợ giúp nào có cái tên gọi là “quốc doanh” của Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, những nỗ lực giành chỗ đứng cho sản phẩm Việt Nam ngay trên thị trường Việt Nam và nước ngoài. Năm này qua năm khác, Hội này tìm mọi cách đưa các sản phẩm ấy đến các chợ, các vùng khắp cả nước hoặc ra bên ngoài, giới thiệu chúng, vận động người tiêu dùng hiểu và yêu thích tiêu thụ, vận động các doanh nghiệp cùng nhau bảo vệ nhãn hiệu và thương trường của mình chống lại thị trường lậu và nạn cướp nhãn hiệu... (2)Khó mà nói hết những khó khăn do nghèo thiếu và những khó khăn do những cái đầu chật hep từ bên ngoài NXB gây ra mà Nhà xuất bản Tri thức phải vượt qua để dịch và mang đến bạn đọc chúng ta những bộ sách quý giá của văn minh nhân loại đang vô cùng cần thiết cho nước ta lúc này. Khỏi phải nói người đọc chúng ta vui như thế nào khi có trong tay các cuốn sách như Bàn về tự do, Nền dân trị Mỹ … Còn rất rất nhiều những ví dụ làm ấm lòng người như thế, vân vân…

    [3] Tìm đọc các bài viết “Biển Đông, cái biển hay cái ao?”, “Tô-tem sói…” vân vân… trên tạp chí Thời Đại Mới các số trong năm 2011.

    [4] Ngày nay Việt Nam được đánh giá là nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, song cách diễn đạt như vậy vẫn không thay đổi vị trí nước ta đứng xa về phía cuối trong bảng xếp hạng quốc gia tính theo GDP p.c.

    [5] Theo sử liệu,

    [6] Đơn vị đo lường cũ của ta: 1 cân ta = 16 lạng ta.

    [7] Xem: Cao Huy Thuần, Từ bao giờ và bằng cách nào người Nhật thoát ra khỏi quỹ đạo tư tưởng của Trung Quốc? , tạp chí Thời đại mới, số 19 – xuất bản tháng 7-2011. Trong bài này, dựa vào tìm hiểu những công trình nghiên cứu của những học giả lỗi lạc của Nhật, Cao Huy Thuần cho rằng sức ép về văn hóa, tư tưởng thay đổi nước Nhật có trước cả thời kỳ khai sáng ở châu Âu.

    [8] Xem Trần Trọng Kim, “Việt Nam sử lược”, NXB Đà Nẵng 2001; Yoshiharu Tsuboi, “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847 - 1885”, MXB Nhã Nam & NXB Tri thức, 2001

    [9] Xem thêm Tựa cho sách của Tsuboi, Tsuboi - sách đã dẫn.

    [10] Tham khảo thêm (a) những sử liệu và những lời bình của Trần Trọng Kim, trong “Việt Nam Sử Lược”; (b) những sử liệu rất phong phú của các giáo sỹ ngoại quốc, các quan chức và nhà buôn các nước, trước hết là Pháp, được Yoshiharu Tsuboi sưu tầm, hệ thống hóa và lý giải trong luận văn tiến sỹ của mình, bảo vệ tại Pháp năm 1982, sau đó đã xuất bản thành sách với tựa đề “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa” – đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản tại Việt Nam.

    [11] Xem Y Tsuboi, sách đã dẫn, trang 255, bản dịch của Nguyễn Đình Đầu, do 2 NXB Nhã Nam và Tri Thức đồng phát hành năm 2011.

    [12] Xem Trần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 420, bản do NXB Đà Nẵng in và phát hành năm 2002.

    [13] Xem Y Tsuboi, sách đã dẫn, trang 136.

    [14] Tsuboi, sách đã dẫn, trang 339.

    [15] Nên tham khảo thêm bài viết của anh Cao Huy Thuần, nêu trong chú thích (4).

    [16] TRần Trọng Kim, sách đã dẫn, trang 522.

    [17] Nguyễn Trung, tiểu thuyết Dòng đời, NXB Văn nghệ, TPHCM, 2006.

    [18] Nguyễn Trung, “Dòng đời”, sách đã dẫn, tâp IV, tr 857, 858.

    [19] Tìm xem thêm: Trần Bạch Đằng, “Vài suy nghĩ về tiểu thuyết Dòng đời”

    http://www.viet-studies.info/NguyenTrung/DongDoi_TranBachDang.htm

    [20] Tôi chưa xin phép tác giả trích dẫn, nên xin viết tắt tên tác giả như vậy.

    [21] Nguyễn Trung, trong Tạp chí Thời đạ mới, số 22, xuất bản tháng 8-2011.

    [22] Gần đây và tại Đại hội XI, cái đích của dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tinh túy trong Di Chúc của người được viết lại là: xây dựng một “Việt Nam hòa bình, độc lập thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Viết chi tiết và viết dài ra như thế vẫn là cái đích của dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí minh đã đúc kết nên. Điều cốt yếu là phấn đấu thực hiện thành công cái đích này.

    [23] Văn kiện Đại hội XI, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 240.

    [24] Xem Nguyễn Trung, bài về vấn đề Hiền tài, TĐM số 22, đã dẫn.

    [25] Văn kiện Đại hội XI, NXB Chính trị Quốc gia, tr. 171.

    [26] Theo dõi trong 25 đổi mới, cũng thấy chu kỳ các cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước ta có biểu hiện ngắn lại, nội dung cũng ngày càng phưc tạp hơn, cuộc khủng hoảng hiện nay là phức tạp nhất vì chủ yếu là khủng hoảng cơ cấu kinh tế.

    [27] Trên thực tế bộ máy nhà nước của hệ thống chính trị nước ta là hai bộ máy song trùng, dính vào nhau, đan xen nhau, chồng lấn nhau ờ mọi cấp mọi ngành giữa hai bên đảng và chính quyền. Nếu gọi mọi người làm việc ăn lương ở cả hai bộ máy này dưới cái tên chung là viên chức, hầu như chắc chắn nước ta có tỷ lệ này tính theo số dân cao nhất Đông Nam Á và vào loại rất cao trên thế giới. Song điều nguy hiểm nhất là nó rất kém hiệu quả, tính trách nhiệm và tin cậy được thấp (accountability), rất khó cải cách, một trong những nguyên nhân làm cho chống tham nhũng trở thành gần như không thể. Cách đào tạo, tuyển chọn và sử dụng đội ngũ viên chức này càng làm trầm trọng thêm vấn đề.

    [28] Tìm xem Tsuboi, sách đã dẫn.

    [29] Báo cáo Chính trị tại Đại hội XI đã phải nêu khá rõ thực trạng này. Xem Văn kiện Đại hội XI, sách đã dẫn, tr, 173.

    [30] Tên quyển sách “Người Trung Quốc xấu xí”, của Bá Dương.

    Lên trang viet-studies ngày 25-10-11

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    25 phản hồi

    Nhân chuyện cụ cố Tổng Nông mới cưới cô vợ trẻ hơn tuổi con của cụ cách đây mấy ngày. Xin phép được có đôi lời “mừng” cho các cụ đã về hưu và các cụ còn tại vị, những cụ vẫn đang là hình tượng đẹp lão tốt đời của giới trẻ và nhân dân VN. Xin các cụ thứ lỗi cho con, hôm nay phải nói ra sự thật mà các cụ bảo con không được hở miệng

    Ở các nước Tư bản cái chuyện đạo đức của các đầy tớ nhân dân thường được lôi ra xét nét từng ly từng tý một. Dân chúng người ta sợ nhất dù lãnh đạo có tài nhưng thiếu đạo đức thì coi như vứt đi hết. Thiếu tư cách đạo đức thì cái gốc làm người đã mất chứ nói chi làm lãnh đạo. Ấy là ở xứ người

    Ở ta từ xưa đến nay, hễ đã là lãnh đạo thì chuyện đời tư của các cụ là hết sức nhậy cảm. Tốt thì phải khoe và vẽ thêm rồng thêm phượng nhưng xấu nhất định phải che không được nói tới, vì như vậy là làm mất uy tín lãnh đạo, dám nói xấu đảng tội nặng quyết không tha

    Báo chí còn bị cấm thì người dân làm sao mà biết được. May ra chỉ mấy anh thư ký, bảo vệ mỗi khi các cụ ngồi họp kín mới chụm vào nhau thì thào ông này trai gái, ông kia hay văng tục, ông nọ say xỉn tối ngày.v.v. Thế nên trong mắt người dân và nhiều cán bộ đảng viên nhãi nhép, các cụ vẫn là những ngôi sao sáng trên trời, là những bậc thánh nhân xuống trần gian giúp nước

    Thực ra ngay cả mấy anh thư ký, bảo vệ cũng không ai rành bằng chính các cụ với nhau. Những mưu mô bẩn thỉu nhằm triệt đối thủ, những chiêu ăn bẩn của nước của dân, giết người diệt khẩu, phản thầy hại bạn, bán nước hại dân.v.v. Các cụ ai cũng không ít thì nhiều đều có nhúng tay vào cả. Những chuyện như vậy là bí mật quốc gia, nếu chúng hở ra thì đừng nói dân mà ngay đảng viên thường cũng rùng mình khiếp sợ. Hở ra thì cho đến đứa con nít cũng nhận ra rằng cái thần tượng bấy lâu mà mẹ cha chúng kính thờ hoá ra chỉ là một phường lưu manh vô lại, làm dân thường cũng không xứng đáng chứ nói gì làm “đầy tớ” nhân dân

    Lịch sử sẽ minh chứng cho những lời tôi nói tất cả là sự thật và không sớm thì muộn nó cũng dần lộ rõ trong nay mai. Nói sớm thế này vì thấy nhiều bác vẫn còn mang ảo tưởng hiến kế, phải trái, đúng sai cho các cụ nghe. Trong khi các cụ còn đang nát óc lập mưu, làm sao giết được thằng này đưa thằng khác lên, làm sao cho túi tao nó dầy thêm tí nữa, rồi con kia sao chân nó không dài thêm một chút, còn hơi đâu mà nghe mấy cái chuyện của các bác. Nếu còn nhiệt huyết tôi khuyên các bác hãy nói với dân, để nhân dân hiểu ra sự thật còn bõ công hơn. Không thì nói chuyện với cái đầu gối của mình may ra là nó sẽ hiểu

    Phan Sơn viết:

    “…Họ đồng hóa lòng yêu nước với sự thù hận cộng sản trong khi sự thù hận chẳng bao giờ là một tình yêu. Hay họ yêu nước một cách hời hợt, nghĩa là không yêu nước tới mức thấy cần phải dành cho nó một cố gắng liên tục, bền bỉ và thành thực. Ngay cả đối với phần lớn trong số rất ít người còn quan tâm tới đất nước thỉnh thoảng một cuộc hội thảo hay một tuyên ngôn, một thư ngỏ cũng được coi là đủ. Họ không chuyển được lửa vì chính họ không có lửa. Hơn nữa họ cũng không có trọn vẹn lẽ phải và chính nghĩa sau khi làm quá nhiều thỏa hiệp không nên làm, không được làm và nhiều khi cũng không cần làm...

    Hòa giải xã hội với trí thức

    Đoạn này có thể đúng nhưng liệu đoạn sau đây có đúng không?

    'Họ đồng hóa lòng yêu nước với yêu Đảng, yêu CNXH trong khi sự thực yêu Đảng, yêu CNXH chưa chắc đã là yêu nước. Hay họ yêu nước một cách hời hợt, nghĩa là không yêu nước tới mức thấy cần phải dành cho nó một cố gắng liên tục, bền bỉ và thành thực. Ngay cả đối với phần lớn trong số rất ít người còn quan tâm tới đất nước thỉnh thoảng một cuộc hội thảo hay một tuyên ngôn, một thư ngỏ cũng được coi là đủ. Họ không chuyển được lửa vì chính họ không có lửa. Hơn nữa họ cũng không có trọn vẹn lẽ phải và chính nghĩa sau khi làm quá nhiều thỏa hiệp không nên làm, không được làm và nhiều khi cũng không cần làm...'

    Bác Tê nói đúng, nhưng cái sự đúng của bác hông mấy người nghe, vì bản tính của trí thức Việt là muốn phò.
    Tôi tự hỏi bản kiến nghị trí thức hải ngoại dài ngoằng có bằng một buổi tranh luận của 13 vị giữa hội trường Đại Học Quốc Gia HN không nhỉ?
    Và thật ngạc nhiên khi trò này dẫn cái link về hội trí thức Meirokusha (lúc đầu chỉ có 13 người, đông nhất cũng chưa quá 30):
    http://danluan.org/node/1217
    Đột nhiên thấy thầy Vĩnh Sính trong danh sách kiến nghị!

    Nhật Bản là một tấm gương mà nhiều quốc gia lân bang muốn bắt chước, nhưng tới nay chúng ta chưa thấy dấu chỉ nước nào có thể sánh kịp. Bởi vì, muốn phát triển kinh tế xã hội, khoa học giáo dục… trước tiên, chúng ta phải thay đổi chính trị! Đó là quy luật tất yếu để phát triển quốc gia của nhân loại.

    Nhiều người thấy Nhật hoàng, chiếc Kimono, và các sản phẩm kỹ nghệ điện tử tràn ngập trên thị trường thế giới… nhưng điều gì đã làm cho Nhật Bản có được kỳ tích chính trị và kinh tế một cách lẫy lừng như ngày nay?

    Người viết xin thưa, đó là cuộc cách mạng chính trị do Minh Trị Thiên Hoàng (1852 - 1912) [*1] khởi công thực hiện. Mutsuhito 16 tuổi lên ngôi hoàng đế vào ngày 3 tháng 2 năm 1867 và làm được một cuộc cách mạng "Minh Trị: Enlightened rule" [*2] xứng với tên ông, và khai sáng một Thời Đại Minh Trị (Meiji Era) hoàng kim trong lịch sử của Xứ Phù Tang. Dầu rằng lúc ấy tuổi còn trẻ nhưng ông đã am tường việc triều chính để biết nghe lẽ phải và thay đổi chế độ từ quân chủ phong kiến sang quân chủ lập hiến. Bởi thế, thay đổi chính trị ở Nhật là do Nhật hoàng và triều đình chớ không phải do dân chúng.

    Vào thời thập niên 1850 – 1860 Nhật Bản buộc phải mở các hải cảng cho nước ngoài vào buôn bán, nhiều nhân vật chính trị nước này đã nhận định: “Nhật Bản muốn tránh tình trạng bị đô hộ thì cần có một chính quyền mạnh, hợp thời, và kỹ thuật hạng nhất của Tây phương.” Do đó vừa sau một năm lên ngôi thì Nhật Hoàng đã ký sắc lệnh cải tổ chính trị và chuyển việc điều hành quốc gia xuống cho các bộ vào năm 1868.

    Song song với việc cải tổ chính trị, Nhật hoàng đã gởi nhiều phái đoàn đi ra nước ngoài khảo sát về các chính quyền, tuyển chọn những tinh hoa tư tường của nhân lọai mang về áp dụng cho xứ sở. Bộ Giáo Dục Nhật Bản được thành lập vào năm 1871 để phát triển giáo dục theo hệ thống của Hoa Kỳ, là một nền giáo dục tự do [*3]. Năm 1872 phổ thông hóa quân đội, và 4 năm sau Nhật Bản bãi bỏ giai cấp Võ Sĩ Đạo (Samurai) để làm giảm đi mẫu “người hùng quân sự” trong xã hội mà thay thế bằng hình ảnh “thương gia trí thức.” Nhật Bản nhờ sĩ quan Pháp tổ chức Lục Quân [*4], nhờ sĩ quan Anh tổ chức Hải Quân [*5], nhờ kỹ sư Đức phụ trách công trình kiến trúc [*6].

    Thượng Viện Nhật Bản được thành lập vào năm 1884, tổ chức nội các theo kiểu của Đức do ông Ito Hirobumi làm Thủ Tướng đầu tiên năm 1885 [*7]. Bản Hiến Pháp Minh Trị [*8] là bản hiến pháp đầu tiên của Nhật Bản do Thủ Tướng Ito Hirobimi biên soạn, sau khi nghiên cứu và đúc kết các bản hiến pháp của Hoa Kỳ và Châu Âu, để ban hành vào ngày 29 tháng 11 năm 1889 tại Nhật. Nhờ vậy mà nước Nhật đã được kỹ nghệ hóa nhanh, dưới sự hướng dẫn của chính phủ bằng sự hợp thời hóa chính trị trong một xã hội thịnh vượng, ổn định và điều hòa. Nhìn chung nước Nhật đã Tây phương hóa về nhiều phương diện, đặc biệt vào Thời Đại Minh Trị đã khai sáng, đã làm cho Nhật Bản trở thành một quốc gia giàu đẹp và hùng mạnh.

    Chúng ta biết rằng, mỗi nước đều có luật pháp cai trị riêng nhưng dưới chế độ quân chủ phong kiến được gọi là pháp lệnh. Pháp lệnh thuộc mô thức cai trị một chiều, lệnh trên truyền xuống kèm theo hình phạt nếu cấp dưới không thi hành. Còn hiến pháp thuộc mô thức cai trị hai chiều, có chiều đi và chiều về, giải thích quyền hạn song phương của người cai trị và người bị trị. Sự ra đời của nền quân chủ lập hiến Nhật Bản với lý thuyết khế ước xác định chính quyền. Muốn được chính danh Nhật Hoàng phải dựa trên giao kèo, trên sự đồng thuận của toàn dân về pháp luật của thành phần cai trị thông qua Hiến Pháp Minh Trị (Meiji Contitution). Hiến pháp đã làm giảm quyền lực cai trị của vua chúa, tăng nhân quyền và tăng tự do mà dân tộc văn minh tiến bộ về chính trị dân chủ hưởng nhờ.

    Anh Quốc, Hòa Lan, Bỉ Quốc… Nhật Bản, Thái Lan, Mã Lai là những quốc gia có chính thề quân chủ lập hiến chuyển qua đại nghị theo đường hướng hòa bình, như lời triết gia Hegel: “Xã hội con người được cai trị từ một người, đến một giai cấp và đến toàn dân.” Đó là hình ảnh tiêu biểu cho một xã hội dân chủ.

    Vào thời đại kỹ nghệ phát triển, Nhật Bản cũng như các nước kỹ nghệ Tây phương, vì kinh tế đã sản xuất sản phẩm hàng loạt, cho nên họ đã cần nhiều công nhân, và cần nhiều nguyên liệu… Họ mở rộng thành phố và cần mang lương thực từ đồng quê vào đô thị, hay nhập cảng từ nước ngoài… Dân chúng tập trung vào việc phát triển toàn diện của nền kinh tế quốc gia, đang khi nước Nhật cần nguyên liệu để cho các nhà máy của họ hoạt động như sắt, thép, xi măng, gỗ, hóa chất, sản phẩm dầu hỏa… Vì cần tài nguyên, cần thị trường tiêu thụ và xuất cảng những sản phẩm mà Nhật Bản làm ra, cho nên họ phải gia nhập phe trục Đức – Ý – Nhật để xâm chiếm những quốc gia khác trong Đệ Nhị Thế Chiến (*9).

    Năm 1945, sau khi Hoa Kỳ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, khiến cho Nhật Hoàng Hirohito phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (*10). Nhật Hoàng còn phải qua dinh Thống Tướng Hoa Kỳ Douglas MacArthur mà trình diện định kỳ (*11). Theo Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa Đoàn Bá Cang đã làm việc lâu năm ở Nhật Bản có đưa ra một nhận xét: “Nhật Hoàng trình diện mà không cảm thấy mất nước, không cảm thấy nhục vì ông thức thời nên ông mới cứu được nước ông. Còn người Việt Nam chúng ta thì sao?”

    Ở đời con người ta lại thường chịu chết, chớ không chịu nhục (ninh thọ tử bất ninh thọ nhục), nhưng Nhật Hoàng Hirohito, lại là người dám thực hiện việc “nhập nô xuất chủ” theo phương thức canh tân của nhà cách mạng Lý Đông A. Nhật Hoàng chấp nhận làm tù binh Hoa Kỳ để mưu tìm đường cứu dân cứu nước, đang khi từ thủ tướng và nhiều bộ trưởng Nhật Bản đã tự vẫn, vì không chịu nhẫn nhục. Việc đi trình diện của Nhật Hoàng cũng bị nhiều cận thần và quân dân Nhật dè bỉu chống báng. Người Nhật thời ấy đã chống vua hơn chống giặc. Hành động tự sát seppuku của đám quân phiệt cũng chỉ gây thêm hỗn loạn cho chính trường, gây thêm khổ đau cho dân chúng Nhật… Nếu Nhật Hoàng mà tự ái nghe lời bọn người quá khích, thì chắc chắn nước Nhật đã đổ vỡ, trở thành quốc gia nghèo đói như bao nước khác mà thôi.

    Nhìn lại trang sử cận đại của Nhật Bản, chúng ta nhận ra nỗi khổ tâm của Nhật Hoàng. Ông đã chấp nhận làm tù binh, thầm lặng làm cuộc trao đổi và trả giá với Thống Tướng Hoa Kỳ MacArthur để nhằm giải cứu cho Nhật Bản, rồi từ đó mà xây dựng phát triển thành một nước dân chủ đầu tiên theo Hoa Kỳ tại Châu Á (Accepting MacArthur's implicit bargain -- help me and I'll keep you from being tried as a war criminal -- Hirohito did his part to remake Japan along an American model, backing the new constitution, ‘renouncing’ his divinity, and trying gamely to play the part of "Japan's first democrat).

    Nhật Hoàng là người sống với thực trạng mất nước, ông khởi công từ thực trạng đó như việc đi trình diện tướng 5 sao của Hoa Kỳ. Nhật Hoàng không nuối tiếc hão huyền, cũng không mơ mộng viển vông… Với quyết tâm cứu nước, Nhật Hoàng đã sẵn sàng thích ứng và xử dụng mọi hoàn cảnh mới, mọi điều kiện mới, mọi chướng ngại thành phương tiện để cứu dân cứu nước… và từ đó ông hướng dẫn dân nước Nhật Bản tiến lên.

    Lúc đó mọi người Nhật Bản cũng đều nghĩ rằng, Hoa Kỳ sẽ cai trị nước Nhật với khoảng thời gian tối thiểu 50 năm cho tới trăm năm. Nhưng khác với mọi người lầm tưởng, chỉ 5 năm sau, thì Hoa Kỳ trao trả độc lập của nước Nhật về cho Nhật Hoàng Hirohito. Vấn đề đáng nói nữa là thủ tướng tương lai Morihiro Hosokawa – cháu Thủ Tướng Fumimaro Konoe tự vẫn – cũng là người thức thời và nhẫn nhục. Ông đã hợp tác với Hoa Kỳ, và tuyển chọn số nhân vật trẻ, rồi đào tạo họ trở thành những lãnh tụ chính trị, những chính trị gia, những nhà hoạt động cho tương lai nước Nhật.

    Đang khi đó, đại đa số dân Nhật Bản lại chỉ biết căm thù Hoa Kỳ là kẻ không đội trời chung, và không tiếc lời nguyền rủa những người Nhật thức thời như Nhật Hoàng, như Morihiro Hosokawa… là “tên lông lá” hợp tác với Hoa Kỳ cầu lợi, chớ chẳng mưu cầu cứu nước cứu dân gì. Tất cả chỉ biết ngêu ngao chửi đổng! Cho tới khi Hiệp Ước San Francisco được ký kết, Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Nhật Bản vào năm 1951. Lúc này mới chứng tỏ được công cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của Nhật Hoàng và chính trị gia Nhật Bản là đúng đắn, là tài tình và mang lại thành công.

    Những người đã từng bị đại chúng khinh khi nguyền rủa… thì giờ đây lại được coi là những “Vị Cứu Tinh” của Nhật Bản. Và nước Nhật đã thay đổi nền tảng chính trị từ quân chủ mà sang dân chủ để thoát vũng lầy khủng hoảng kinh tế, và nhờ thể chế chính trị dân chủ, Nhật Bản đã thúc đẩy quốc gia phát triển toàn diện, đưa đất nước phát triển tới bước phú cường, thịnh vượng vào bậc nhất Á châu ngày nay. Qủa là một bài học, và đáng học cho chúng ta nhằm thóat cảnh nghèo nàn lạc hậu. Và Câu giải đáp mà nhiều học giả uyên bác thời nay phải đồng ý, đó là “nền chính trị tự do dân chủ đã làm cho Nhật Bản trở thành siêu cường.”

    Phan Sơn viết:
    “…Họ đồng hóa lòng yêu nước với sự thù hận cộng sản trong khi sự thù hận chẳng bao giờ là một tình yêu.

    Công nhận thương các bác cộng sản. Tham lam, ích kỷ, tự reo rắc oán hận, tự chuốc lấy thù ghét rồi lại than vãn sao chẳng ai yêu chúng tôi. Chuyên gia cóp/pết nhưng cũng có lúc nhầm chỗ.

    Sự nghiệp duy tân đất nước tùy vào chương trình hiện đại hóa - đó là một thực tế, không phải ảo tưởng.

    Có không ít người chê trách B. Hồ dùng vũ lực để loại bỏ chính quyền bảo hộ là sai đường lạc lối, không cần thiết nhưng hiện nay có không ít nhà dân chủ cũng sai đường lạc lối.
    Ở VN thời 1945 dùng vũ lực như ĐCSVN là phương pháp để lật đổ chính quyền. Thời nay ở các nước cộng sản như VN, dân chủ đa đảng là vũ khí làm sụp đổ đảng CS. Một số quí vị nói như thế không đúng thì cứ phân tích tại sao ĐCS Liên Sụp đổ, tại sao TQ lại dùng vũ lực để loại bỏ phong trào Thiên An Môn, và tại sao ĐCSVN ngày càng áp dụng chính sách nghiệt ngã hơn với các nhà dân chủ đa đảng.
    Hợp thời nhất là dân chủ độc đảng và tiệm tiến dần tới dân chủ lưỡng đảng. Mời các bạn xem http://vn.360plus.yahoo.com/lbui12/ và góp ý nơi trang dân luận này.

    Ý kiến cho là Vietnam không thua kém Nhật trước thời minh tri hay so sánh Vietnam sau chiến tranh với Nhat ban sau thế chiến II theo tôi là lầm lẫn và khập khiễng. Xã hội Nhật từ xưa đã chuyên môn hóa rất cao, chia giai tầng rõ ràng. Phương Tây đã rất ngưỡng mộ kỹ thuật, nghệ thuật Nhật bản khi tiếp xúc với nền văn hóa này. Còn cảm tưởng của Tây phương khi tiếp xúc với văn hóa Việt thì không ấn tượng (ký sự của đại úy thủy quân Hoa kỳ viết vào đầu thế kỷ 19 http://books.google.com/books?id=WikPAAAAYAAJ&pg=PR2&dq=history+of+a+voyage+to+the+china+sea+j.+white&hl=en&ei=F5CoTsnLDo2JrAfqhczBDQ&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=1&ved=0CDcQ6AEwAA#v=onepage&q=history%20of%20a%20voyage%20to%20the%20china%20sea%20j.%20white&f=false
    Chất lượng con người của ta và Nhật tại những thời điểm so sanh thật khác xa. Tôi hơi thất vọng với cách nhìn hơi phiến diện của bác Trung (ý này tôi cũng đã từng nghe trên báo chí Vietnam) trong 1 tài liệu đề cập đến vấn đề quan trọng về su nghiep duy tan dat nuoc

    Nguyễn Trung viết:
    Xin nói thực thà với nhau thế này để cả người dân và người cầm quyền cùng nghe: Tình trạng như hiện nay ở nước ta mà rơi vào các nước khác như Ai Cập, Tuy-ni-di.., có lẽ phải xảy ra đến hai hay ba mùa “hoa lan hoa nhài” rồi. Ở nước ta không. Vì dân ta tốt quá, cái đó đúng. Vì dân ta còn thương Đảng lãnh đạo quá, cái đó đúng… Vì nhiều thứ nữa… Song còn vì một phần là dân ta vốn như thế… Tôi trạnh nhớ đến anh Hoàng Ngọc Hiến: “Cái nước mình nó thế…”

    Tôi nghi ngờ nhận định của ông Nguyễn Trung rằng hiện nay “dân ta còn thương Đảng lãnh đạo quá”. Tuy nhiên, cứ cho rằng ông Nguyễn Trung nói đúng đi, thì câu hỏi là: Vì sao dân ta còn thương Đảng lãnh đạo quá vậy? Xin thưa đó là do một sự HIỂU LẦM vô cùng tai hại của toàn dân Việt về điều mà tôi vẫn thường gọi là MÓN NỢ ĐỘC LẬP, TỰ DO mà “kụ” Hồ và Đảng của “kụ” đã mang đến cho dân tộc VN.

    Thực ra, AI NỢ AI đây? Dân tộc VN nợ ông Hồ và ĐCSVN, hay ông Hồ và ĐCSVN nợ dân tộc VN? Theo tôi, trong thực tế dân tộc VN chưa bao giờ có được độc lập cả từ năm 1945 đến nay. Ông Hồ và ĐCSVN đã giành được quyền cai trị trên miền Bắc từ năm 1954, và trên toàn cõi VN từ năm 1975. Nhưng nước ta chưa hề được ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, vì khi ông Hồ còn sống, ông đã chịu sự điều khiển của Nga Tàu (như việc ông bị gọi sang Bắc Kinh để buộc làm cuộc Cải Cách Ruộng Đất, hoặc việc ông bị TQ bắt phải ký Công hàm Phạm Văn Đồng 14/9/1958 thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của TQ). Và ngày hôm nay, các nhà “lãnh đạo” VN như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng chịu lệ thuộc vào TQ như sao chắc mọi người đều thấy (qua việc dâng đất, nhượng biển đảo, câm mồm khi TQ giết hại, bức bách ngư dân ta trên Biển Đông v.v…).

    Như tôi đã nói nhiều lần, ông Hồ và ĐCSVN đã tranh đấu rất gian khổ và hy sinh rất lớn để đuổi Pháp ra khỏi VN. Nhưng đó không phải là để giành lại ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ cho dân tộc ta, mà (như lịch sử đã chứng minh QUÁ RÕ qua các hành vi của ông Hồ và Đảng ông từ năm 1945 đến nay) chính ra là để đưa đất nước ta vào quỹ đạo của phe xã hội chủ nghĩa (tức là phe CS) dưới sự lãnh đạo của Quốc tế 3 CS (mà đầu não là LIÊN XÔ và TRUNG QUỐC). Ông Hồ và ĐCSVN đã hy sinh mọi quyền lợi của dân tộc VN (như phá tan văn hóa cổ truyền của dân tộc, hủy hoại nhiều di sản lịch sử VN như chùa chiền, đền miếu, v.v…,, không kỷ niệm ngày Quốc Tổ Hùng Vương v.v…) mà đi THỜ PHỤNG mấy ông Tây râu xồm Mác, Lê, Ăng Ghen, và ông Tàu đầu hói Mao Trạch Đông v.v… Điều này quá rõ ràng, nhưng nhờ tuyên truyền rất rộng rãi của ĐCSN, và do lòng ngu trung của nhiều người Việt qua ảnh hưởng của văn hóa Khổng Mạnh, nên cho đến nay, nhiều người Việt vẫn còn LẤN CẤN với món nợ tinh thần này, mà chưa dứt khoát loại trừ đảng hại dân, bán nước CSVN.

    Tôi tin rằng, với thời gian, qua công cụ thông tin hiện đại và những bằng chứng lịch sử hiển nhiên không thể chối cãi được, nhân dân ta sẽ dần dần thức tỉnh trước sự hiểu lầm lớn này, và sẽ nhận ra rằng kẻ MANG NỢ chính là ông Hồ và ĐCSVN vì đã lường gạt dân tộc qua chiêu bài “Độc lập, Tự do, Hạnh phúc” dỏm mà họ đã sử dụng trong gần 70 năm qua. Ngày mà đa số người dân trong nước thức tỉnh trước sự DỐI TRÁ này của ĐCSVN cũng chính là ngày tàn của chế độ CSVN độc tài, độc đảng, độc ác và phản quốc hiện nay.

    đấu tranh giai cấp của ĐCS viết:

    Thật tình tôi thấy các bác Phan Sơn, Kép Tư Bền, Tháng Chạp cứ lảm nhảm "đấu tranh giai cấp của ĐCS" mãi cũng thấy chán vì nó mơ hồ!

    Đã xác định đấu tranh thì chuyện giết người, chiếm đoạt tài sản là chuyện không thể tránh khỏi. Nhân loại đã và đang trải qua mấy nghìn năm lịch sử với rất nhiều cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang, nhưng không phải tất cả đều do người CS khởi xướng.

    Phan Sơn viết:
    Trích dẫn:
    Vì theo cách nhìn của tôi, muốn thực hiện được cải cách triệt để đất nước thì có lẽ nên có một phong trào duy tân như thế làm động lực. Tôi tin đấy là con đường cải cách thành công lâu dài, bền vững, để đất nước đoạn tuyệt hẳn với cái quán tình lịch sử tai ác, đi vào giai đoạn phát triển mới. Để đừng tái diễn cái cảnh sau 25 năm đổi mới, cái quán tính lịch sử bây giờ lại lên ngôi! Tôi hy vọng như vậy!.. Con đường ấy có thể người dân và người cầm quyền không thể đi được trong trạng thái hiện nay… Hoặc là, con đường ấy người dân muốn đi, người cầm quyền không dám, không muốn… Hoặc là, con đường ấy người cầm quyền không muốn, chưa muốn, hoặc phải cân nhắc trong, ngoài nhiều thứ, nhất là vào thời khắc nhạy cảm như hiện nay. Hoặc là, con đường ấy người cầm quyền tự thấy không thể đi được. Hoặc là, người cầm quyền dứt khoát bác bỏ nó… Hoặc là cuộc sống còn có con đường khác?.. Hoặc có thể tôi nghĩ sai…

    Theo lập trường đấu tranh giai cấp của ĐCS, thì thái độ của chính quyền đối với sự góp ý của giới trí thức trong và ngoài Đảng là:

    - Hoan nghênh nếu góp ý thuần túy chuyên môn.

    - Hoan nghênh nếu góp ý không thuần túy chuyên môn nhưng vẫn bảo vệ lợi ích giai cấp vô sản, bảo vệ XHCN.

    - Tôn trọng và tranh luận với những ai dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên mà xét lại hoặc bác bỏ CNXH và lập trường đấu tranh giai cấp.

    - Hoan nghênh nếu góp ý vẫn theo lập trường đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa Marx để chỉ ra sai lầm và cách khắc phục sai lầm cho chính quyền.

    - Không hoan nghênh, trung lập hóa, cô lập hoặc trấn áp với thành phần trí thức còn lại.

    Thật tình tôi thấy các bác Phan Sơn, Kép Tư Bền, Tháng Chạp cứ lảm nhảm "đấu tranh giai cấp của ĐCS" mãi cũng thấy chán vì nó mơ hồ !

    Bác Phan Sơn có thể cho khoảng 5 ví dụ cụ thể về đấu tranh giai cấp của cái gọi đảng CSVN hiện nay được không ? Họ đấu tranh cho ai, vì cái gì, ai ủy quyền cho họ, ủy quyền ra sao, dựa trên cơ sở nào, cách đấu tranh ra sao và kết quả thế nào ? Phải có số liệu, có thông kê và phương pháp cụ thể chứ. Chẳng lẽ cứ nói khơi khơi, không có cơ sở, số liệu như thằng cu út 4 tuổi nhà tôi vẫn thường bi bô kể chuyện ở trường học à ?

    Chào ông Nguyễn Trung. Nguyên nhân kinh tế Việt Nam không phát triển được vì không có lớp người cán bộ kinh tế bao gồm kinh tế gia, thương gia, kỹ nghệ gia... từ thượng tầng cho chí hạ tầng cơ sở. Thời Việt Nam Cộng Hòa, sau 20 năm xây dựng và kiến thiết đất nước, và vừa mới tạo ra được số ít người biết làm kinh tế... thì sau 1975, tất cả lớp người này đều vào tù cải tạo hoặc đày ải nơi vùng kinh tế mới! Bởi thế mà Việt Nam ngày nay lụn bại, còn Cộng Sản thì không thể ngóc đầu lên nổi!

    Mời ông Trung vào Không Gian Blog của Dân Luận, đọc "Nostramus: Chính Nghĩa của Dân Tộc Việt Nam" và cho xin ý kiến, vì đã tới lúc dân tộc cần xòng phẳng rõ ràng.

    papylon viết:

    Tôi không cho rằng đó là cách suy nghĩ đúng đắn của ĐCS. Đất nước này không của riêng ĐCS nên các anh không có quyền tự cho mình là bố người khác để mà ban phát, cho phép, hoan nghênh được nói gì, cấm không được nói gì. Cả nước đổ máu làm cách mạng, cuối cùng đảng cộng sản xông ra cướp công tất cả, rõ ràng là độc tài, bị khinh bỉ, không ai ủng hộ. Có giàu như Gadhafi rồi cũng chẳng để làm gì. Quan chức cộng sản cầm tấm hộ chiếu đi đến đâu cũng bị thế giới họ khinh, nhục lắm. Trong nội bộ đảng thì đấu đá cắn xé nhau, thương lắm. Các anh xem thế nào đổi mới tư duy đi.

    “…Họ đồng hóa lòng yêu nước với sự thù hận cộng sản trong khi sự thù hận chẳng bao giờ là một tình yêu. Hay họ yêu nước một cách hời hợt, nghĩa là không yêu nước tới mức thấy cần phải dành cho nó một cố gắng liên tục, bền bỉ và thành thực. Ngay cả đối với phần lớn trong số rất ít người còn quan tâm tới đất nước thỉnh thoảng một cuộc hội thảo hay một tuyên ngôn, một thư ngỏ cũng được coi là đủ. Họ không chuyển được lửa vì chính họ không có lửa. Hơn nữa họ cũng không có trọn vẹn lẽ phải và chính nghĩa sau khi làm quá nhiều thỏa hiệp không nên làm, không được làm và nhiều khi cũng không cần làm...

    Hòa giải xã hội với trí thức

    Nhật Bản thời Thiên hoàng Minh Trị và VN thời Minh Mạng khác nhau ở chỗ:

    Thiên hoàng Minh Trị: "Thoát Á Luận"
    Minh Mạng: "Bế quan tỏa cảng"

    Hiện nay, BCT ĐCSVN là một ông vua tập thể. Ông vua thời xưa còn dám chịu bị đàn hặc, can gián, còn dám nghe lời nói thẳng dù nghịch nhĩ. Ông vua tập thể thời nay thì ngược lại. Thế nên biết bao nhiêu bài viết hay, những ý kiến hữu ích đều trở thành 'nước đổ đầu vịt'.

    Tuy bi quan nhưng tôi vẫn hoan nghênh những bài viết của ông Nguyễn Trung cũng như những bài viết tương tự của những tác giả khác. Dù không lọt tai ông vua tập thể hiện nay thì vẫn có thể lọt tai nhiều người khác, trong số đó biết đâu sau này có người trở thành lãnh đạo có thể giúp canh tân đất nước.

    Phan Sơn viết:
    Theo lập trường đấu tranh giai cấp của ĐCS, thì thái độ của chính quyền đối với sự góp ý của giới trí thức trong và ngoài Đảng là:

    - Hoan nghênh nếu góp ý thuần túy chuyên môn.

    - Hoan nghênh nếu góp ý không thuần túy chuyên môn nhưng vẫn bảo vệ lợi ích giai cấp vô sản, bảo vệ XHCN.

    - Tôn trọng và tranh luận với những ai dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên mà xét lại hoặc bác bỏ CNXH và lập trường đấu tranh giai cấp.

    - Hoan nghênh nếu góp ý vẫn theo lập trường đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa Marx để chỉ ra sai lầm và cách khắc phục sai lầm cho chính quyền.

    - Không hoan nghênh, trung lập hóa, cô lập hoặc trấn áp với thành phần trí thức còn lại.

    Tôi không cho rằng đó là cách suy nghĩ đúng đắn của ĐCS. Đất nước này không của riêng ĐCS nên các anh sản không có quyền tự cho mình là bố người khác để mà ban phát, cho phép, hoan nghênh được nói gì, cấm không được nói gì. Cả nước đổ máu làm cách mạng, cuối cùng đảng cộng sản xông ra cướp công tất cả, rõ ràng là độc tài, bị khinh bỉ, đêk ai ủng hộ. Có giàu như Gadhafi rồi cũng chẳng để làm gì. Quan chức cộng sản cầm tấm hộ chiếu đi đến đâu cũng bị thế giới họ khinh, nhục lắm. Trong nội bộ đảng thì đấu đá cắn xé nhau, thương lắm. Các anh sản xem thế nào đổi mới tư duy đi.

    Canh tân đất nước mở mang dân trí làm cho người dân không còn ngu dốt và đất nước giầu mạnh, vậy sao mà "rất gian truân và cũng rất đau đớn"? Đau đớn cái gì? Bác Hồ cũng đã nói "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Ta yếu vì ta dốt. Nhưng ta đã dốt thì lại có chủ trương làm ta dốt hơn để giữ vững quyền lợi của một số người theo lý tưởng quá cao siêu của nhân loại.Tưởng chỉ có chiến tranh đầu rơi máu chẩy mới đau đớn chứ? Nhìn chung bài này có nhiều ý đúng hơn là nhiều ý chưa thuyết phục, nhất là còn nhiều chỗ lý thuyết suông, mặc dù kiến thức rộng nhưng lại chưa tổng hợp các mặt trái. "Càng thông kinh sử càng khờ". Có nhiều ý hay nhưng người khác đã nói trước bác và nói ngắn gọn hơn, hợp với thời đại công nghiệp. Sở dĩ ta thua kém các nước trong khu vực vì chỉ có một mình nước ta tôn thờ hai ông Tây, một ông người Đức, một ông người Nga. Có người đã nói "dân tộc văn minh thì chỉ thờ tổ tiên mình chứ không tôn thờ ngoại bang dị tôc." Ý bác thế nào? Ta không quan tâm đến phát triển kinh tế vì ta lãnh trách nhiệm "cao cả" là "tiền đồn của phe XHCN ở Đông Nam Á"!!! Ta là tên lính biên phòng canh giữ cho các nước khác ăn no ngủ yên. Còn hiện nay cái cái khẩu hiệu "trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ" tuy không thực hiện quyết liệt như trước nhưng vẫn còn đuôi. Ở nước ta không chết vì dại mà chết vì khôn,aajkhoong chết vì ngu mà chết vì hiểu biết, không chết vì giá rét mùa đông mà chết vì áo bông Trung quốc. Đó là dân, còn lãnh đạo thì ngược lại, khôn vơí dân, dại với nước ngoài, khôn với người lương thiện, dại với kẻ lưu manh. Kinh tế gặp khó khăn ngoài nguyên nhân khách quan thì còn nguyên nhân chủ quan là ta phải nuôi gần 5 triệu người bị chất độc da cam (hơn dân số Singapo) và hàng chục vạn người ăn bám là những người trong tổ chức đảng, phi sản xuất, cộng thêm nuôi một con số lớn những người trai trẻ khỏe mạnh nhưng không ở trong lực lượng sản xuất mà ở trong lực lượng bảo vệ, chuyên trấn áp người yêu nước. Ai không muốn mở mang dân trí? Nếu mở mang dân trí thì đem lại "hậu quả" gì cho chế độ? Chịu, không dám trả lời vì còn lâu mới đến tuổi đi Văn Điển nhưng có điều là điều hiển nhiên: Sùng bái cá nhân là mất dân chủ và là một hình thức ngu dân. Mỹ, Anh, Pháp, Đức... có học tập tư tưởng đạo đức ai không? Bác NT biết rất nhiều, mong bác trả lời. Cám ơn bác đã gợi ý một đề tài hay, tuy muộn.

    Trích dẫn:
    Vì theo cách nhìn của tôi, muốn thực hiện được cải cách triệt để đất nước thì có lẽ nên có một phong trào duy tân như thế làm động lực. Tôi tin đấy là con đường cải cách thành công lâu dài, bền vững, để đất nước đoạn tuyệt hẳn với cái quán tình lịch sử tai ác, đi vào giai đoạn phát triển mới. Để đừng tái diễn cái cảnh sau 25 năm đổi mới, cái quán tính lịch sử bây giờ lại lên ngôi! Tôi hy vọng như vậy!.. Con đường ấy có thể người dân và người cầm quyền không thể đi được trong trạng thái hiện nay… Hoặc là, con đường ấy người dân muốn đi, người cầm quyền không dám, không muốn… Hoặc là, con đường ấy người cầm quyền không muốn, chưa muốn, hoặc phải cân nhắc trong, ngoài nhiều thứ, nhất là vào thời khắc nhạy cảm như hiện nay. Hoặc là, con đường ấy người cầm quyền tự thấy không thể đi được. Hoặc là, người cầm quyền dứt khoát bác bỏ nó… Hoặc là cuộc sống còn có con đường khác?.. Hoặc có thể tôi nghĩ sai…

    Theo lập trường đấu tranh giai cấp của ĐCS, thì thái độ của chính quyền đối với sự góp ý của giới trí thức trong và ngoài Đảng là:

    - Hoan nghênh nếu góp ý thuần túy chuyên môn.

    - Hoan nghênh nếu góp ý không thuần túy chuyên môn nhưng vẫn bảo vệ lợi ích giai cấp vô sản, bảo vệ XHCN.

    - Tôn trọng và tranh luận với những ai dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên mà xét lại hoặc bác bỏ CNXH và lập trường đấu tranh giai cấp.

    - Hoan nghênh nếu góp ý vẫn theo lập trường đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa Marx để chỉ ra sai lầm và cách khắc phục sai lầm cho chính quyền.

    - Không hoan nghênh, trung lập hóa, cô lập hoặc trấn áp với thành phần trí thức còn lại.

    Kiên nhẫn đọc hết 2 bài dài của bác Nguyễn Trung, tôi chỉ thấy có 1 hỏi giá trị tuy chẳng mới mẻ gì: tại sao ta khác Nhật và kém các nước nhiều thế?

    Và tôi xin mạo muội có trả lời như sau:

    1. Dân tộc ta chưa bao giờ có thế hệ hay các cá nhân trí thức lớn tầm cỡ như các nhà tư tưởng, triết gia của dân tộc. Tôi hiểu nhà tư tưởng hay triết gia của dân tộc là những người có khả năng và biết nhìn trước, lo trước, nghĩ trước cho dân tộc, cho đất nước mình cả hàng trăm năm, cả vài thế hệ trước, và để lại tư tưởng tiến bộ của mình thấm vào các thế hệ sau, rồi các thế hệ sau nữa mới thực hiện chúng, kịp thời đưa đất nước dân tộc mình phát triển.
    Điều đó đã xảy ra với các dân tộc châu Âu thời Phục Hưng hay Ánh sáng, với nước Mỹ thế kỷ 18, và với Nhật thời Minh trị thế kỷ 19 nên các dân tộc đó phát triển rực rỡ.

    Còn nước ta chỉ có những nhà chiến lược giỏi đánh nhau như Trần Hưng Đạo, Quang Trung hay Hồ Chỉ Minh... mà thôi. Cho nên cái dân tộc VN ta luôn có chỉ là những cảnh huynh đệ tương tàn, đất nước đau thương...

    Các nhà "tư tưởng" của VN hoàn toàn chỉ có biết làm 2 việc đều "tương tử" dân tộc, đó là: học theo 110% tư tưởng của TQ và phụng sự theo (đi sau hầu như nô lệ) các nhà cầm quyền vốn quen đánh nhau với tầm nhìn rất ngắn hạn: sống sót qua chiến tranh! Đảng cộng sản VN hiện nay cũng đang làm thế.

    2. Vì lý do như trên: chúng ta mải đánh nhau suốt mấy chục năm liền qua với bao nhiêu kẻ thù (mà thực chất nội chiến vẫn là chủ yếu: hơn 30 năm "nội chiến" sau 1975 chưa tàn!) nên đất nước ta đang kém rất xa các nước xung quanh vì bị họ bỏ vượt lên.

    Tóm lại, chúng ta kém họ là đúng, là xứng đáng, chẳng oan ức gì đâu, bác Trung ạ!

    Mà tác giả trực tiếp của sự sa sút thê thảm (không ngẫu nhiên) hiện nay của dân tộc ta là cái đảng cộng sản của bác đó: vừa đi vác tư tưởng ngoại lai độc hại về vừa ưa bạo lực, chiến tranh...

    Democracom.

    Admin viết:
    Việt Nam và Nhật Bản khác nhau ở chỗ: Trí thức Nhật Bản dám đứng độc lập ngoài chính phủ để kêu gọi và thực hiện khai trí, còn trí thức Việt Nam như bác Nguyễn Trung hay Nguyễn Trường Tộ chỉ biết van xin Đảng - chính phủ - hoàng thượng - hãy thay đổi và hãy nghĩ đến nhân dân. Nếu họ không nghe thì ôm hận mà nằm xuống, chả giải quyết được gì cho đất nước hay dân tộc cả!

    Bác này lại nói giống Nguyễn Cảnh Bình. Nói vậy có phần khiên cưỡng. Đứng độc lập và kiến nghị triều đình thay đổi, cả 2 việc đều quan trọng như nhau. Từ thời cụ Phan Chu Trinh cũng đã làm chứ đâu phải không.

    Ngày nay, Nguyễn Cảnh Bình đi làm sách khai thương, giáo sư Chu Hảo đi làm sách khai trí, nhưng cứ vào tiệm sách nhìn những cuốn kinh điển dày cộm nằm chỏng chơ hết ngày này sang này khác, mở ra xem thì cuốn nào cũng chỉ in chừng 1000 cuốn là nhiều, in xong nộp lưu chiểu từ mấy năm trước mà vẫn chưa bán hết. Thấy mà nản.

    Có lẽ làm gì thì cũng phải nghĩ cách làm tối ưu, hợp thời thế. Tuần Việt Nam làm khác, Bauxite làm khác. Thay vì làm Nhà xuất bản tư nhân, có lẽ thời nay các bác ấy nên làm một kênh Huffington Post thì hiệu quả hơn. Muốn làm vậy thì cũng phải biết dựa vào tiếng tăm, tên tuổi của mình để mà giả vờ "xin xỏ" triều đình chứ, như FPT trước tiên phong tìm cách mở đại học tư nhân dựa hơi doanh nghiệp vậy, dù bị không ít bọn bảo thủ cản trở. Đứng độc lập không khó, nhưng muốn đứng độc lập bền vững để đến được cái đích duy tân thì không thể không biết cách "xin xỏ".

    Việt Nam và Nhật Bản khác nhau ở chỗ: Trí thức Nhật Bản dám đứng độc lập ngoài chính phủ để kêu gọi và thực hiện khai trí, còn trí thức Việt Nam như bác Nguyễn Trung hay Nguyễn Trường Tộ chỉ biết van xin Đảng - chính phủ - hoàng thượng - hãy thay đổi và hãy nghĩ đến nhân dân. Nếu họ không nghe thì ôm hận mà nằm xuống, chả giải quyết được gì cho đất nước hay dân tộc cả!

    Mất công bỏ ra hơn tiếng đồng hồ đọc hai bài của ông NT, chẳng có gì mới lạ mà nói dai như giẻ rách.

    Điều nổi bật là vô số điều mâu thuẫn. Xin phép chỉ trích dẫn điều mâu thuẫn chính: ông NT kêu gọi trao đổi, cùng nhau suy nghĩ, ... nhưng riêng ông ta thì "kiên định" (do não trạng độc tài, độc đoán?)

    Thế thì viết/đọc để làm gì? Xin kiếu.

    Bác đòi người ta vượt qua chính mình nhưng chính bác lại "kiên định". Vậy bác kêu gọi đoàn kết kiểu gì, hay chính là kiểu đảng của bác vẫn kêu gọi aka Mỹ cho tiền nhưng gạt vụ kiếm xác lính miền Nam ra ngoài . Gọi bằng từ gì cho được nhỉ, đểu ? Compromise là meet somewhere in the middle, tức là mọi người đều phải vượt qua chính mình 1 tẹo, riêng bác thì vẫn "kiên định". Phải công nhận bác là người cộng sản chân chính . Lại nhớ câu thơ "Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi", bác còn thế, nói gì ai khác .

    Về cái đảng của bác, bác phải cho tụi cháu biết là với điều kiện là mức độ phạm tội nào của đảng bác thì bác không thể, về mặt đạo lý cũng như tri thức, bám khư khư cái đảng của bác nữa, giết hại dân lành nhiêu đó đủ chưa ? hãm hại người tài nhiêu đó đủ chưa ? hay bán nước ? Mất thác Bản Giốc, Ải Nam Quan, Trường Sa, Hoàng Sa, Tây nguyên với "dự án chính trị lớn của đảng" nhiêu đó đủ chưa ? Hay bác cho con số nạn nhân cụ thể, 10 triệu, 20 triệu người phải bị đảng của bác tiêu diệt thì bác mới nhận ra ? Hay mất đất mất đảo như vậy chưa đủ để bác nhận ra, thế thì bác cho con số cụ thể, thí dụ mất luôn Hà Nội thì bác mới nhận ra ? Hoặc dù gì đi nữa, đảng của bác có bán sạch đất nước và tận diệt tới người phi đảng viên cuối cùng nhưng bác vẫn tin, vậy phải coi "kiên định" của bác là gì ? Và thật sự bác có yêu nước, có lo lắng cho tương lai của đất nước như lời bác nói không, hay chỉ lo cho cái đảng của bác thôi ? Hay nói đúng hơn, giữa đảng của bác và đất nước (chắc không phải của bác, hoặc bác quan niệm đất nước thuộc về đảng của bác), bác sẽ "kiên định" chọn đảng ?

    Với kiểu biện luận như vậy, bác mong ai nghe ?

    PS: Đảng của bác đúng là đánh mất sự lãnh đạo từ lâu rồi, họ đang "cai trị" và "thống trị", tất nhiên, nhờ những người như bác .

    Hồi đó mà Minh Trị của Nhật cũng nói với đám sĩ phu: Mỗi nước mỗi khác, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống, xã hội, dân trí của Nhật chưa cho phép duy tân... thì nước Nhật ngày nay cũng khốn nạn rồi.

    Bác Trung ạ,
    Liệu chúng ta viết những lý luận dài dòng phỏng có ích gì cho những kẻ đang nắm quyền văn hóa có lớp 3, không còn dây thần kinh xấu hổ khi tỉnh queo trả lời trước công luận về vụ VINASHIN hay gần đây nhất là vụ tiền POlime rằng tất cả do cấp dưới làm sai còn người đạo diễn toàn bộ các vở kịch này hoàn toàn phủi tay vô trách nhiệm.
    Nhà cầm quyền ở ta có một thói quen bất kỳ khuyết điểm là đổ cho cấp dưới, tai nạn giao thông ngày một gia tăng được giải thích là do ý thức người tham gia giao thông, nợ nước ngoài gia tăng là do cấp dưới vô trách nhiệm, VINASHIN và các tập đoàn Nhà nước phá sản thì đổ cho bị cấp dưới báo cáo không trung thực v.v...
    Vâng làm sao để cho người ta hiểu tất cả là DO LÃNH ĐẠO DỐT NÁT, BẢO THỦ, DẠI DỘT ( và tham lam, nhưng thực ra tham lam là thuộc tính của con người, nếu anh tham lam nhưng tài giỏi thì thiên hạ vẫn được nhờ, nhưng cái chết ở ta là lãnh đạo dốt nát, làm không ra tiền, chỉ biết vay nợ và bán tài nguyên nhưng lại tham lam, thành ra đất nước mới suy kiệt nhanh như vậy).
    kết cục tất yếu của người lãnh đạo dốt nát và tham làm là xây dựng chế độ độc tài, tiêu diệt tự do báo chí và các tiếng nói phản biện. Tất cả đều đi đúng theo quy luật lịch sử