Frank Ching - Trung Quốc Lạm Dụng Lịch Sử?

  • Bởi Khách
    22/10/2011
    0 phản hồi

    Frank Ching<br />
    Nam Hải Trường Sơn chuyển ngữ

    Cộng tác viên Frank Ching của tạp chí The Diplomat nhận định rằng hỗn hợp các yêu sách vừa có tính lịch sử vừa có tính pháp luật của Trung Quốc tại Biển Đông là mâu thuẫn. Bắc Kinh không thể vừa ăn bánh vừa đòi tiền.

    Học giả Lucian Pye của Hoa Kỳ đã từng đưa ra một tuyên bố nổi tiếng rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là "một nền văn minh giả dạng nhà nước." Nhận định này có lẽ rất xác đáng vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, nhưng Trung Quốc của ngày nay đã được chuyển hóa thành một nhà nước hiện đại nắm giữ một vai trò chủ động trên nhiều diễn đàn quốc tế.

    Tuy vậy nhưng Bắc Kinh cũng vẫn cố lợi dụng dòng lịch sử dài lâu của Trung Quốc để tạo sức ép cho lý lẽ của mình trong những tranh chấp trên trường quốc tế. Hơn bất cứ nơi đâu, ý đồ này được triển hiện rõ ràng nhất trong vụ tranh chấp lãnh thổ hiện thời trên Biển Đông, nơi mà Trung Quốc đang nằm trong vị thế đối chọi với một số quốc gia láng giềng của mình.

    Các nước bị lôi kéo vào cuộc tranh cãi ầm ĩ ở đây bao gồm Hoa Kỳ, Ấn Độ, và Nhật Bản cũng càng ngày càng có nhiều khả năng hơn. Đó là một hỗn hợp có sức bùng nổ mạnh mẽ.

    Vào năm 1996, Trung Quốc phê chuẩn Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) và công khai tiếp nhận điều khoản của hiệp ước này quy định rằng "Trung Quốc có chủ quyền và quyền tài phán trong phạm vi 200 hải lý của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa" — một khái niệm mà trước đây vẫn chưa được hiểu rõ.

    Nhưng đồng thời Trung Quốc lại tái khẳng định yêu sách chủ quyền của mình trên các hòn đảo nhỏ, mạch đá, và rặng san hô tại Biển Đông dựa vào những căn cứ lịch sử — những căn cứ không được công ước này thừa nhận. Điều đó có nghĩa là Trung Quốc đòi hỏi tất cả mọi quyền lợi do luật pháp quốc tế hiện hành ban bố, và, thêm vào đó, đòi hỏi những quyền lợi thông thường không được thừa nhận với lý do là vì nền văn minh của họ có thể truy tầm căn nguyên từ vài ngàn năm về trước.

    Về mặt lịch sử, Trung Quốc đã từng là một cường quốc thống trị tại Đông Á và xem các nước yếu kém hơn là chư hầu của mình. Bây giờ, bằng cách cứ khăng khăng với những yêu sách lãnh thổ phản ánh một mối quan hệ lịch sử đã biến mất cách đây hàng trăm năm kể từ khi phương Tây bắt đầu trỗi dậy, Bắc Kinh, trên một chừng mức ý nghĩa nhất định, đang cố gắng hồi sinh và hợp pháp hóa tình huống của thời kỳ mà họ đã từng chiếm địa vị một nước bá chủ không bị ai thách thức.

    Tính mập mờ về những bộ phận của luật pháp quốc tế mà Trung Quốc thừa nhận và những điều khoản mà họ bác bỏ là nguyên nhân gây ra vụ tranh chấp trong hiện tại, trực tiếp lôi kéo sự cạnh tranh của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei, cũng như gián tiếp bao hàm quyền lợi của nhiều quốc gia khác.

    Đòi hỏi của các nước Đông Nam Á chủ yếu là dựa vào các điều khoản của bộ Luật Biển. Nhưng Trung Quốc thì đưa ra lập trường rằng chủ quyền của họ trên những vùng lãnh thổ liên đới đã hiện hữu trước khi bộ Luật Biển được thông qua, và bởi thế luật lệ đó không thể áp dụng đối với họ. Lịch sử là lá bài con át chủ luật pháp.

    Vào năm 2009, Trung Quốc đệ trình lên Ủy Ban Luật Biển Của Liên Hiệp Quốc một bản đồ để hỗ trợ cho các yêu sách của họ về "chủ quyền không thể tranh cãi trên các hải đảo tại Biển Đông và những hải vực kế cận" cũng như "đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tại những nơi đó."

    Nét đặc trưng của tấm bản đồ này một đường gián đoạn hình chữ U bao quanh hầu như toàn bộ Biển Đông và ôm sát bờ biển của các nước láng giềng bao gồm Việt Nam, Mã Lai, và Phi Luật Tân. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đệ trình lên Liên Hiệp Quốc một bản đồ để hỗ trợ cho các yêu sách chủ quyền lãnh thổ của mình, nhưng không đưa ra một lời giải thích nào để xác minh rằng họ muốn đòi hỏi chủ quyền trên toàn bộ hải vực cũng như tất cả các hải đảo nằm trong lòng chữ U hay không.

    Đây là một sự chuyển hướng triệt để so với lập trường mà Trung Quốc đã đề ra khi họ phê chuẩn công ước này. Vào lúc đó, Trung Quốc đã phát biểu rằng họ sẽ tiến hành hiệp thương "với các nước có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp với Trung Quốc dựa trên cơ sở của luật pháp quốc tế và theo đúng với nguyên tắc công bằng."

    Điều đáng chú ý, đặc biệt từ quan điểm của Hoa Kỳ, là lập trường của Trung Quốc đối với UNCLOS cũng đã chuyển hướng trên một bình diện khác. Vào năm 1996, lập trường của Trung Quốc là tàu chiến của nước ngoài muốn đi qua lãnh hải của họ cần phải được họ chấp thuận. Bây giờ, Trung Quốc lại tuyên bố rằng tàu chiến nước ngoài cần phải được Trung Quốc chấp thuận trước khi đi qua vùng đặc quyền kinh tế của họ — một khu vực rộng lớn hơn nhiều nhưng không nằm trong vùng biển mà họ có chủ quyền.

    Hoa Kỳ phản đối lập trường đó, và giữ vững quan điểm rằng các hải vực tại vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia nào cũng thuộc hải phận quốc tế và tàu thuyền hải quân của tất cả các nước khác đều có quyền tự do đi vào và thậm chí có thể tiến hành thao tác mà chẳng cần ai phê chuẩn cả.

    Sự bất đồng ý kiến giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ (cũng như hầu hết các nước phát triển khác) trong vấn đề này đã dẫn đến nhiều vụ chạm trán giữa hai nước, với tàu giám sát của hải quân Hoa Kỳ thực hiện nhiều nhiệm vụ thu thập tin tức trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và đang bị họ thách thức.

    Mánh lới dựa vào lịch sử của Trung Quốc là một phát triển tương đối mới trong lãnh vực luật pháp quốc tế, mặc dù đó chẳng phải là chuyện hoàn toàn không có tiền lệ. Ví dụ, các nước ven biển thường được phép đòi hỏi nới rộng quyền tài phái trên biển, đặc biệt là các vùng vịnh hoặc hải đảo, khi những đòi hỏi đó công khai, tồn tại từ lâu, có tính duy nhất, và được các nước khác rộng rãi chấp nhận.

    Nhưng trong trường hợp của Trung Quốc, những đòi hỏi của họ rõ ràng không có tính duy nhất mà cũng không được các nước khác rộng rãi chấp nhận vì những đòi hỏi này đang bị tranh biện công khai. Thế nhưng quan chức và học giả Trung Quốc vẫn cứ cố gắng chống đỡ lý lẽ của họ bằng cách viện dẫn tài liệu lịch sử.

    Ví dụ, Lý Quốc Cường, một học giả tại Trung Tâm Nghiên Cứu Sử Địa Biên Cương của Học Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc, vào tháng bảy vừa qua đã phát biểu trên tờ China Daily rằng: "Chứng cứ lịch sử biểu thị rằng người Trung Quốc đã khám phá những hải đảo trên Biển Đông từ thời nhà Tần (221 - 206 TCN) và nhà Hán (206 TCN - 220 SCN)." Ông ta quả quyết rằng biên giới biển của Trung Quốc đã được xác lập từ thời nhà Thanh (1644-1911).

    "Trái lại," ông ta viết, "trước thời nhà Thanh của Trung Quốc, Việt Nam, Mã Lai, và Phi Luật Tân hầu như chẳng biết gì về các hải đảo ở Biển Đông."

    Để tạo sức ép cho lý lẽ của mình, Việt Nam đã viện dẫn nhiều bản đồ và cứ liệu địa lý minh chứng cho "chủ quyền lịch sử" có từ thế kỷ thứ 17 của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này không thể sánh với tính cổ xưa trong yêu sách của Trung Quốc, nhưng, tối thiểu, nó biểu thị rõ rằng yêu sách của Trung Quốc đã bị tranh biện hàng mấy thế kỷ rồi, và như thế Trung Quốc chưa hề có quyền tài phán duy nhất và liên tục trên các hải đảo này.

    Và, nếu lấy lịch sử làm tiêu chuẩn, thì giai đoạn lịch sử nào mang tính quyết định? Xét cho cùng, nếu thời nhà Tần hay nhà Hán được dùng làm mốc thì lãnh thổ của Trung Quốc ngày nay sẽ nhỏ đi rất nhiều, vì vào thời đó Trung Quốc chưa đoạt được Tây Tạng, Tân Cương hay Mãn Châu, khu vực mà bây giờ được gọi là vùng đông bắc.

    Một thỏa hiệp mà Trung Quốc đề nghị với các nước láng giềng là gác chuyện tranh chấp lãnh thổ để cùng tiến hành việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Gần đây nhất, đề nghị này mới vừa được Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào đưa ra vào ngày 31 tháng 8 [năm 2011] khi ông ta hội kiến với Tổng Thống Benigno Aquino của Phi Luật Tân.

    Tuy nhiên, có rất nhiều vấn đề nghiêm trọng. Thực sự Trung Quốc đưa ra chính sách này với dụng ý gì?

    Trang mạng của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc giải thích rằng: "Khái niệm 'gác tranh chấp, cùng khai thác' có bốn yếu tố sau:

    1. Chủ quyền trên các lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc.

    2. Khi điều kiện chưa chín muồi để giải quyết triệt để vấn đề tranh chấp lãnh thổ, đàm phán về chủ quyền có thể hoãn lại để gác tranh tranh chấp qua một bên. Gác tranh chấp qua một bên không có nghĩa là từ bỏ chủ quyền mà chỉ tạm thời đình chỉ tranh chấp.

    3. Tiến hành việc khai thác chung tại các lãnh thổ liên quan.

    4. Mục đích của việc khai thác chung là để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau và tạo điều kiện cho một giải pháp tối chung về chủ quyền lãnh thổ."

    Bốn điểm này xác định rõ rằng thay vì gác lại việc tranh chấp lãnh thổ, ý niệm cùng khai thác là sách lược mà Trung Quốc dùng để áp đặt yêu sách chủ quyền của mình lên đối phương. Chủ quyền của Trung Quốc là kết quả mong muốn mà họ đã vạch rõ cho bất cứ tiến trình khai thác chung nào. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi chẳng có nước nào chịu đồng ý với đề nghị này của Trung Quốc.

    Có lẽ là vì tính xung đột giữa các yêu sách mang tính lịch sử và UNCLOS nên nhiều học giả khác của Trung Quốc hiện tại đang lên tiếng kêu gọi tái xét bộ Luật Biển.

    Lý Kim Minh, một giáo sư tại Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Nam Á của Đại Học Hạ Môn, nói rằng UNCLOS có nhiều "thiếu sót" và do đó "Trung Quốc nên suy xét kỹ tình huống của mình trước khi thi hành UNCLOS." Điều đó có nghĩa là mặc dù Trung Quốc đã phê chuẩn hiệp định vốn đã có hiệu lực suốt 17 năm qua này, nhưng Bắc Kinh không cần tuân thủ các điều khoản của nó trừ phi công ước này được tu chỉnh bằng một cách nào đó để hỗ trợ cho các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ của họ.

    Bắc Kinh dường như muốn được đối xử như một trường hợp ngoại lệ của luật pháp quốc tế. Họ muốn vừa ăn bánh vừa đòi tiền. Nhưng luật pháp là luật pháp. Luật pháp quốc tế có nghĩa lý chi khi nó không còn tính chất quốc tế, và khi nó không còn là luật pháp?

    Tháng 10, 2011

    Copyright © 2011 Nam Hải Trường Sơn

    Chủ đề: Đối ngoại

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi