Luật sư Ngô Ngọc Trai bàn về sửa hiến pháp

  • Bởi Admin
    07/10/2011
    12 phản hồi

    Luật sư Ngô Ngọc Trai

    Nếu nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp này thống trị các giai cấp khác thì nhà nước đó không thể nào mang trong mình các giá trị dân chủ. Một nhà nước không thể vừa mang trong mình giá trị dân chủ, vừa mang bản chất là một công cụ bạo lực.

    Từ những biến chuyển của cuộc sống đã đưa đến nhu cầu sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam. Chiều hướng sửa đổi là tăng cường dân chủ để phù hợp với phát triển nhận thức về hiến pháp. Nội dung sửa đổi cơ bản vẫn xoay quanh vị trí vai trò của nhà nước trong hiến pháp.

    Bài viết này soát xét lại căn nguyên của sự hình thành nhà nước và hiến pháp, mối tương quan giữa nhà nước và hiến pháp. Có thể nào nhà nước không có hiến pháp có được không? Hoặc có hiến pháp mà không có “nhà nước” có được không? Đặc biệt từ đó minh định lại ý nghĩa của thuật ngữ “nhà nước” trong hiến pháp.

    Với nội dung đó người viết muốn bạn đọc cùng bình tâm xem lại những vấn đề lâu nay vẫn được coi là hiển nhiên chưa đụng chạm đến. Phân tích làm rõ ra đây với mong muốn giúp cho bạn đọc có được cái nhìn tường minh hơn về hiến pháp. Chúng ta hiểu rằng: Cần phải hiểu về dân chủ mới biết cách xây dựng xã hội dân chủ. Cần phải hiểu về hiến pháp mới biết cách xây dựng hiến pháp dân chủ. Dân chúng nào thì chính phủ ấy, khi chúng ta than phiền về chính phủ, chính là lúc chúng ta cần nhìn lại chính mình.

    Quan điểm của Lê Nin về sự hình thành nhà nước

    Bàn về nhà nước, hay bàn về vị trí của nhà nước trong hiến pháp Việt Nam, không thể nào không nhắc lại một số luận điểm triết học của Lê Nin về nhà nước. Trong bài giảng đọc “Bàn về nhà nước” tại trường đại học Xvéc-đlốp (ngày 11 tháng bảy 1919). Đăng lần đầu tiên trên báo "Sự thật", số 15, ngày 18 tháng Giêng 1929. Lê Nin nói:

    - Học thuyết về nhà nước là dùng để bào chữa cho những đặc quyền xã hội, bào chữa cho sự bóc lột, bào chữa cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản; vì vậy, sẽ sai lầm lớn nếu hy vọng rằng người ta sẽ tỏ ra vô tư trong vấn đề này.

    - Lịch sử chứng minh rằng nhà nước, một bộ máy cưỡng bức đặc biệt, chỉ xuất hiện ở nơi nào và khi nào mà xã hội đã chia thành giai cấp, tức là chia thành các nhóm người mà nhóm người này luôn luôn có thể chiếm đoạt lao động của những nhóm khác, người này bóc lột người khác.

    - Trước khi xã hội chia thành giai cấp, thì cũng chưa có nhà nước. Nhưng cùng với sự xuất hiện và sự xác lập của tình trạng xã hội phân chia thành giai cấp, cùng với sự phát sinh của xã hội có giai cấp thì nhà nước cũng xuất hiện và được củng cố.

    - Bao giờ cũng vậy, trong mỗi xã hội có nhà nước đều có một nhóm người cai trị, chỉ huy, thống trị, và để giữ chính quyền, họ sử dụng một bộ máy cưỡng bức, một bộ máy bạo lực,

    - Nhà nước là một bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của một giai cấp này đối với giai cấp khác.

    - Nhà nước là một bộ máy để cho giai cấp này áp bức giai cấp khác, một bộ máy dùng để duy trì dưới sự thống trị của một giai cấp đối với tất cả các giai cấp bị lệ thuộc khác.

    Luận điểm của Lê Nin rất rõ ràng, những nội dung trên đã trở thành nền tảng kim chỉ nam cho việc xây dựng nhà nước ở Việt Nam. Cách đặt vấn đề và diễn giải của Lê Nin về nhà nước cho chúng ta thấy:

    Thứ nhất: Khởi nguyên cho sự hình thành nhà nước là vấn đề tài sản. Tài sản rồi sự bất bình đẳng về tài sản là căn nguyên hình thành lên các giai cấp. Nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng về tài sản là lòng tham con người, tài sản có xu hướng tích tụ do con người có lòng tham.

    Thứ hai: Bản chất, vai trò của nhà nước, đó là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị đối với phần còn lại của xã hội. Nhà nước có vai trò là “công cụ”, có mục đích là duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị đối với phần còn lại của xã hội.

    Thứ ba: Đã là “công cụ” thì sẽ được sử dụng trong một khoảng thời gian hữu hạn, có điểm bắt đầu và sẽ đến lúc kết thúc. Lê Nin cho rằng có thời kỳ chưa có nhà nước, nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội hình thành nên các giai cấp. Lê Nin cũng cho rằng nhà nước rồi sẽ tiêu vong khi mà của cải dư thừa con người không còn tranh chấp với nhau về tài sản nữa, đó là thời kỳ của chủ nghĩa cộng sản.

    Từ những luận điểm trên tất yếu đi đến kết luận mối quan hệ giữa nhà nước và dân chủ, nhà nước và hiến pháp, như sau:

    - Nếu nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp này thống trị các giai cấp khác thì nhà nước đó không thể nào mang trong mình các giá trị dân chủ. Một nhà nước không thể vừa mang trong mình giá trị dân chủ, vừa mang bản chất là một công cụ bạo lực.

    - Nếu trong xã hội tồn tại giai cấp này thống trị giai cấp khác thì không thể nào có bình đẳng, dân chủ. Cốt lõi của dân chủ là bình đẳng, không có bình đẳng tất không thể có dân chủ.

    - Nếu hiến pháp mang ý nghĩa là khế ước của tất cả công dân về việc thiết lập bộ máy chính quyền để bảo vệ các quyền tự do dân chủ cho các công dân thì không có chỗ cho hiến pháp trong nhà nước của Lê Nin. Người viết chưa từng nghe thấy quan điểm của Lê Nin về hiến pháp. Hiến pháp - khế ước của toàn thể nhân dân về việc thiết lập chính quyền - không thể nào tồn tại trong một xã hội mà giai cấp này áp bức các giai cấp khác bằng công cụ nhà nước.

    Một cách đặt vấn đề khác về sự hình thành nhà nước

    Để xây dựng hiến pháp dân chủ, chính quyền dân chủ, chúng ta cần một cách đặt vấn đề khác, một ánh nhìn khác về căn nguyên đưa đến sự hình thành, thiết lập bộ máy chính quyền.

    Con người do nhu cầu tìm kiếm thức ăn, chống chọi lại thú dữ, thiên tai đã từ bỏ cuộc sống tự nhiên nguyên thủy, đơn độc, hoang dại, tụ tập lại cùng sống với nhau hình thành lên xã hội loài người. Từ đó đã làm xuất hiện nhu cầu tổ chức, xắp xếp, duy trì trật tự giữa các thành viên. Chính quyền khi đó xuất hiện với nhiệm vụ đơn giản là điều tiết các mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội.

    Khi con người tự nhiên chuyển hóa thành con người xã hội đã đưa đến những chuyển hóa hoàn toàn năng lực nhận thức và năng lực hoạt động của con người. Con người tự nhiên hoạt động dựa trên bản năng, con người xã hội hoạt động dựa trên các giá trị. Theo thời gian, con người đúc kết lên các thang giá trị mà toàn bộ đời sống hoạt động của con người dựa trên và hướng đến các giá trị đó. Các chuẩn mực giá trị như: bình đẳng, công bằng, tự do, dân chủ, khoan dung, hạnh phúc… đã trở thành hệ giá trị phổ quát của nhân loại, sau này được cụ thể hóa bằng các quy định về nhân quyền.

    Quá trình nhận thức và hoạt động của con người dựa trên và hướng tới các chuẩn mực giá trị được loài người thừa nhận, khi đó chính quyền chuyển từ vai trò điều tiết các hoạt động của con người sang vai trò là công cụ, phương tiện bảo vệ cho các chuẩn mực giá trị - các quyền con người. Sự chuyển hóa vai trò này diễn ra âm thầm và trong thời gian dài.

    Tới thời điểm này, không còn nghi ngờ gì nữa, vai trò của chính quyền đã được xác lập không thể chối cãi. Chính quyền không là công cụ bạo lực của giai cấp này áp bức giai cấp khác. Chính quyền cần phải là phương tiện để bảo vệ nhân quyền. Mục đích tối hậu của chính quyền là bảo vệ nhân quyền. Một quốc gia mới được thành lập như Palestin hay Nam Sudan thì chính quyền được hình thành phải có mục đích là để bảo vệ nhân quyền, có vậy mới có được tính chính danh được nhân dân trong nước thừa nhận, được quốc tế thừa nhận.

    Với cách đặt vấn đề như vậy ta thấy:

    - Căn nguyên cho sự hình thành chính quyền đó là nhu cầu về một thực thể trung gian để đảm trách giải quyết những vấn đề mà mỗi cá nhân không thể đảm nhiệm được. Chính quyền hình thành không phải xuất phát từ nhu cầu của một nhóm nhỏ có tài sản để áp bức bóc lột phần còn lại. Đó là nhu cầu của toàn bộ các thành viên trong xã hội.

    - Sự tích tụ tài sản không phải là nguyên nhân đưa đến sự thành lập chính quyền, đó là cái nhìn sai lệch. Ngược lại sự tích tụ tài sản là hệ quả của việc thành lập chính quyền, khi mà một số nhỏ nắm trong tay quyền lực đã sử dụng nó để làm giàu.

    - Tài sản có xu hướng tích tụ do con người có lòng tham, điều này là phản ánh đúng thực tế nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ. Nguyên nhân cơ bản khác đưa đến sư tích tụ tài sản hay sự bất bình đẳng về tài sản là do có sự bất bình đẳng về năng lực phẩm chất con người. Người khỏe hơn, nhanh hơn thì săn được nhiều thú hơn là lẽ đương nhiên.

    - Vai trò chức năng của chính quyền không phải là bất biến. Vai trò chức năng của chính quyền dần thay đổi và chuyển biến hoàn toàn bản chất theo quá trình phát triển nhận thức của con người về các thang giá trị. Ban đầu chính quyền có vai trò duy trì trật tự, điều tiết quan hệ giữa người với người (việc điều tiết ban đầu có thể chưa đảm bảo các giá trị bình đẳng, công bằng…). Khi con người văn minh và đã xây dựng lên các thang giá trị được thừa nhận thì chính quyền khi đó là công cụ phương tiện của con người để bảo vệ chính các quyền con người.

    - Không thể nào tồn tại xã hội mà không có chính quyền, điều này xuất phát từ chính bản chất khiếm khuyết của loài người. Con người có trí thông minh nhưng không phải là không thể mắc sai lầm (con người không phải thánh thần), con người lại có bản năng dục vọng thúc giục lôi kéo, không thể nào từ bỏ được. Bởi lẽ đó một người có thể dốt nát, nhầm lẫn (vô ý) hoặc bị dục vọng lôi kéo (cố ý) xâm phạm tới quyền của người khác. Do vậy khi sự vi phạm vẫn có thể xảy ra thì vẫn luôn cần một thực thể trung gian để điều tiết, bảo vệ các quyền con người. Không thể nào trông đợi vào sự tự giác tận cùng của con người.

    Hiến pháp xuất hiện từ khi nào?

    Như trên đã phân tích, không có hiến pháp trong nhà nước của Lê Nin, khi nhà nước là công cụ do một giai cấp thiết lập để áp bức các giai cấp khác.

    Hiến pháp chỉ xuất hiện khi đông đảo con người đã thừa nhận tôn trọng một số chuẩn mực giá trị nhất định (các chuẩn mực giá trị cũng dần hoàn thiện theo thời gian). Khi con người cùng thừa nhận phải tôn trọng các chuẩn mực đó thì mới nảy sinh nhu cầu tìm kiếm cách thức thực hiện. Hiến pháp là sự ghi nhận các chuẩn mực giá trị và cách thức để bảo vệ các chuẩn mực giá trị đó. Chính quyền được thiết lập theo nội dung thứ hai.

    Theo những luận giải về sự hình thành hiến pháp ở trên thì hiến pháp có trước chính quyền. Nhưng thực tế có nhiều bằng chứng cho thấy chính quyền có trước hiến pháp. Vậy phải chăng là có mâu thuẫn?
    Khi nhiều người tập trung lại sống cùng với nhau thì chính quyền xuất hiện, xét theo diễn biến phát triển của lịch sử thì rõ ràng chính quyền có trước. Vào thời kỳ văn minh Hy lạp khoảng năm 300, 400 trước công nguyên mới xuất hiện bản hiến pháp. Ngay ở Việt Nam vào thời điểm năm 1945, 1946 thì chính phủ được thành lập rồi, sau mới có Hiến pháp. Như vậy thực tế có nhiều bằng chứng cho thấy chính quyền có trước hiến pháp.

    Nếu coi: Hiến pháp là khế ước của tất cả mọi người sống trên một lãnh thổ quốc gia cùng cam kết thừa nhận tôn trọng các chuẩn mực giá trị, cùng thống nhất lập nên một thực thể trung gian là chính quyền để bảo các chuẩn mực giá trị đó, khế ước đó được gọi là hiến pháp.
    Như vậy chính quyền là kết quả của việc thực thi hiến pháp, chính quyền là kết quả của việc các công dân thực hiện các cam kết của chính mình. Hiến pháp có trước chính quyền.

    Thời điểm những năm 1945, 1946 ở Việt Nam chính quyền ra đời trước khi có hiến pháp nhưng thực ra khi đó trong xã hội đã tồn tại các chuẩn mực giá trị phổ quát của nhân loại - Hiến pháp bất thành văn. Bản thân sự thành lập chính phủ và việc soạn thảo ban hành hiến pháp năm 1946 thực hiện theo các mô thức quốc tế, chính là sự thừa nhận các giá trị phổ quát của nhân loại.

    Bản hiến pháp năm 1946 nhằm hợp thức hóa tính chính danh của chính quyền trên phương diện quốc tế. Theo đó chính phủ muốn nói với quốc tế rằng, tuy chính phủ tôi ra đời trước nhưng đã được quốc dân chấp thuận công nhận bằng bản Hiến pháp này đây.

    Chính quyền ra đời nhằm mục đích giúp cho đời sống con người được tốt hơn.

    Chính quyền chỉ là một trong rất nhiều tổ chức mà con người thành lập lên với mục đích giúp cho đời sống con người được tốt hơn. Ngoài việc thành lập chính quyền, con người còn thành lập lên các tổ chức xã hội.

    Tóm lại: Bộ máy chính quyền với ý nghĩa là thực thể trung gian được hình thành để đảm nhiệm những việc mà từng cá nhân không thể đảm đương được, đó xuất phát từ nhu cầu của toàn thể dân chúng và được xây dựng dựa trên các chuẩn mực giá trị. Ban đầu chức năng của nó là điều tiết mối quan hệ giữa người với người, sau này chức năng của nó là công cụ phương tiện bảo vệ nhân quyền. Có như thế mới đặt ra vấn đề có hiến pháp và xây dựng hiến pháp sao cho dân chủ để có được đời sống xã hội dân chủ. Còn nếu chiếu theo luận điểm của Lê Nin về nhà nước thì không cần có hiến pháp, hiến pháp không có ý nghĩa gì cả.

    Minh định lại thuật ngữ “nhà nước” trong hiến pháp

    Trên thực tế, đã xảy ra những việc đánh tráo khái niệm, đánh tráo ngôn từ, hay làm ảo thuật với từ ngữ. Có một số từ mới xuất hiện hoặc có một số từ hoàn toàn biến mất nhằm phục vụ cho những mục đích chính trị. Một số từ được gán ghép cho ý nghĩa hoàn toàn mới. Hoặc một số từ gần giống nhau về nghĩa được sử dụng lập lờ để cố tình làm cho người khác nhầm lẫn, hiểu sai vấn đề, lẩn tránh trách nhiệm. Đó chẳng là gì khác là những thủ đoạn chính trị, giúp cho người làm chính trị đạt được mục đích của mình.

    Không biết nguyên thủy, thuật ngữ “nhà nước” mang ý nghĩa gì? Nhưng tới nay, thuật ngữ “nhà nước” có thể coi là ngôn từ chính trị quan trọng bậc nhất ở Việt Nam. Việc sử dụng thuật ngữ “nhà nước” quá phổ biến đã làm cho mọi người quên đi gốc gác của nó. Việc khám phá và sử dụng thuật ngữ “nhà nước” đã tạo lên sự phù hợp, logic, đúng đắn, chính đáng cho việc xác lập một thể thức nắm giữ, sử dụng quyền lực trên đất nước Việt nam. Chính nó đã tạo lên thế và lực cho thể chế chính trị được áp đặt lên quốc gia Việt Nam. Thuật ngữ nhà nước luôn đi kèm với nó là quyền lực.

    Hãy cùng xem xét một số thông tin về vấn đề này.

    - Hiến pháp năm 1992 có 147 điều trong đó có tới 160 từ “nhà nước”.

    - Hiến pháp năm 1980 có 147 điều thì có tới 209 từ “nhà nước”

    - Hiến pháp năm 1959 có 112 điều thì có tới 70 từ “nhà nước”

    Trong khi đó, Hiến pháp năm 1946 một số người cho là mang giá trị dân chủ có 70 điều chỉ có duy nhất 1 từ “nhà nước”. Được quy định tại Điều thứ 15 với nội dung: “Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.”

    Mở rộng thêm ta thấy:

    - Hai bản Hiến pháp của Việt Nam Cộng Hòa không có từ “nhà nước” nào.

    - Tuyên ngôn độc lập do chủ tịch Hồ Chí Minh viết có 1009 từ nhưng không có từ “nhà nước”.

    - Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do chủ tịch Hồ Chí Minh viết có 210 từ nhưng không có từ “nhà nước”.

    Xem ra có thời kỳ thuật ngữ “nhà nước” đã không được xem trọng sử dụng.

    Tới đây chúng ta phân biệt: nhà nước với nước, đất nước, quốc gia, tổ quốc.

    Nước, đất nước, quốc gia, tổ quốc chỉ thực thể tự nó hiện hữu, nội hàm trong đó bao gồm lãnh thổ địa lý quốc gia và xã hội loài người xây dựng trên đó. Các từ này mang ý nghĩa giống nhau, chỉ khác nhau về bối cảnh sử dụng, có thể được dùng thay thế cho nhau. Từ tổ quốc, đất nước mang sắc thái tình cảm, không sử dụng trong khoa học pháp lý, chỉ dùng trong thơ ca, văn chương khi người ta muốn khơi dậy tình cảm của con người.

    Thuật ngữ “nhà nước” chỉ thực thể nhân tạo, là một trong rất nhiều tổ chức được con người lập ra nhằm phục vụ cho đời sống của con người. Nhà nước là một bộ máy, công cụ của con người, bị xóa bỏ khi cần.

    Theo Lê Nin thì nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị, ngoài ra “nhà nước” là một bộ máy trong đó có Quốc Hội, Chính phủ, Tòa án, Quân đội, Công an, mặt trận tổ quốc…. Các nhà lập pháp xã hội chủ nghĩa đã gom vào trong nhà nước rất nhiều tổ chức khác nhau mặc dù các tổ chức đó được thành lập độc lập, có tên gọi riêng, chức năng riêng. Nhưng gom vào để làm gì, nếu bình thường tự các cơ quan, tổ chức kia đã là những chủ thể độc lập, có chức năng quyền hạn riêng biệt?

    Thực chất từ “nhà nước” rỗng tuếch không có gì cả, cái mà chúng ta gọi lâu nay như bộ máy nhà nước, cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước thực chất là chỉ một cơ quan của một tổ chức cụ thể có tên gọi riêng. Ví dụ cơ quan quốc hội, cơ quan chính phủ, cơ quan tòa án, cơ quan công an…

    Lâu nay chúng ta gọi chung là cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước là một thói quen không tốt, hình thành từ sự không phân định được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan riêng biệt. Điều này có gốc rễ từ việc thiếu vắng kiến thức về tổ chức bộ máy chính quyền của cả cán bộ lẫn người dân.

    Việc gọi tên chung chung là cơ quan nhà nước giống như ta vẫn gọi một người ngoại quốc là ông Tây. Nếu ta có kiến thức để phân biệt thì sẽ gọi là ông người Pháp, người Mỹ, người Đức, nhưng vì không thể phân biệt nên ta gọi chung là ông Tây.

    Chúng ta có Luật tổ chức quốc hội, Chủ tịch quốc hội; Luật tổ chức chính phủ, Thủ tướng chính phủ; Luật tổ chức tòa án, Chánh án tòa án nhân dân… Nhưng chúng ta không có Luật tổ chức nhà nước, không có chủ tịch nhà nước (ta có chủ tịch nước - có thể gọi tên khác là tổng thống hoặc quốc trưởng - chứ không có chủ tịch nhà nước).

    Chúng ta hoàn toàn có thể phân định rạch ròi từng cơ quan riêng biệt để gọi đúng tên của nó và cần bỏ đi cách gọi chung chung là cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước. Chúng ta cần gọi đúng tên để xác định đúng thẩm quyền, trách nhiệm.

    Một số trường hợp có thể bỏ đi từ “nhà nước”, Ví dụ:

    - Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính dưới sự chỉ đạo của chính phủ vậy có thể gọi là kho bạc chính phủ, kho bạc quốc gia hay kho bạc quốc gia việt nam giống như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam.

    - Ngân hàng nhà nước là cơ quan trực thuộc Chính phủ, vậy có thể gọi là ngân hàng chính phủ hoặc ngân hàng quốc gia, hay ngân hàng quốc gia việt nam

    - Thanh tra nhà nước, tên chính xác là Thanh tra chính phủ, Tổng thanh tra chính phủ do Thủ tướng bổ nhiệm

    Tự các cơ quan riêng biệt đã có khả năng đứng độc lập và thực hiện được công việc của nó, vậy gom vào làm gì? Xin thưa rằng, gom vào để tập trung quyền lực, Nhà nước tập trung vào trong nó quyền lực. Quốc hội có quyền lập pháp, quốc hội là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền lập pháp. Chính phủ có quyền hành pháp, chính phủ là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền hành pháp. Tòa án có quyền tư pháp, tòa án là cơ quan Nhà nước, do vậy Nhà nước nắm quyền tư pháp. Nhà nước theo đó tập trung vào trong nó tất cả các quyền mà các cơ quan nằm trong nó có sẵn.

    Nhà nước gom vào trong mình mọi thứ quyền lực, và đã nói đến “bên trong” thì có “bên ngoài” và “bên trên”. Bên ngoài là xã hội, bên trên là Đảng cộng sản. Biết bao nhiêu điều của Hiến pháp quy định quyền hạn của Quốc Hội, Chính phủ, Tòa án…, chỉ nhằm một mục đích phục vụ cho luận điểm: Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Tới đây ta thấy một sự logic hợp lý của việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ nhà nước. Một sự thật trần trụi về nhà nước là: Nằm trên nhà nước là Đảng cộng sản, “nhà nước” đã thỏa mãn khi thể hiện được vai trò công dụng của mình.

    Như vậy là từ “nhà nước” thực ra rỗng tuếch, được sử dụng để chỉ một bộ máy bao hàm trong đó các cơ quan riêng biệt, đặt tất cả dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nếu bỏ đi từ “nhà nước” mà vẫn muốn giữ nguyên lý đảng lãnh đạo toàn bộ thì sẽ phải quy định: Đảng lãnh đạo quốc hội, đảng lãnh đạo chính phủ, đảng lãnh đạo tòa án, đảng lãnh đạo công an, đảng lãnh đạo quân đội, đảng lãnh đạo mặt trận tổ quốc, đảng lãnh đạo hội phụ nữ … Quy định như vậy thì không liệt kê hết được và có vẻ thô bạo đi ngược lại với các mô thức chính quyền mang các giá trị dân chủ phổ quát đã được quốc tế thừa nhận.

    Tóm lại

    Bài viết này là bàn về việc sửa đổi Hiến pháp sao cho dân chủ để từ đó hòng mong muốn có được xã hội dân chủ. Nhưng chẳng thể nào tạo ra được một hiến pháp dân chủ khi lảng tránh cội nguồn gốc rễ của hiến pháp. Muốn xây dựng hiến pháp dân chủ chúng ta phải xem lại khởi nguyên của sự hình thành nhà nước và căn nguyên đưa đến sự ra đời hiến pháp.

    Chúng ta hiểu rằng: Một hiến pháp mang các giá trị dân chủ chưa chắc đã đem lại một đời sống dân chủ trên thực tế. Tuy nhiên, một đời sống thực tế muốn dân chủ thì tối thiểu bản hiến pháp của nó phải mang giá trị dân chủ. Không thể nào có một đời sống dân chủ mà hiến pháp của nó lại mang các giá trị phi dân chủ.

    Trong việc xây dựng hiến pháp, chúng ta cần xác định đâu là vấn đề quan trọng. Vấn đề nhà nước, cách thức tổ chức thiết lập bộ máy nhà nước, hay là vấn đề ghi nhận các quyền con người, quyền công dân và cách thức bảo vệ các quyền đó là quan trọng? Bởi lẽ khi ta quan trọng hóa vấn đề không thực sự quan trọng thì ta cũng sẽ nhầm lẫn không coi trọng vấn đề vốn thực sự là quan trọng.

    Qua bài viết này ta thấy rằng không một cơ quan nào có từ nhà nước mà ta không thể phân định rạch ròi để gọi tên chính xác của cơ quan đó và bỏ đi từ nhà nước. Rất nhiều cơ quan tổ chức ở Việt Nam có thể bỏ đi từ đệm thừa thãi nhà nước. Gọi một cách bao trùm chung chung là một thói quen xấu và chỉ đem đến hệ quả xấu. Đó là sự thiếu kiến thức phân định để có thể gọi tên chính xác cơ quan đó để xác định trách nhiệm. Trong các cơ quan chính quyền, có cơ quan mang chức năng giám sát hoạt động của cơ quan khác, nếu gọi chung như thế thì cơ quan thực hiện và cơ quan bị giám sát và cả cơ quan xử lý sai phạm cùng gom vào làm một dễ dẫn đến sự tiêu cực, làm xóa nhòa đi gianh giới chức năng, nhiệm vụ, bổn phận.

    Luật sư Ngô Ngọc Trai

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    ông Lê Hiếu Đằng thừa nhận trên thực tế, đa phần các dân biểu đồng thời cũng là đảng viên Cộng sản, "có thể trong lòng họ không đồng ý nhưng vì là đảng viên nên họ phải chấp hành chỉ thị của Đảng, họ phải bỏ phiếu thuận."

    Đại biểu bù nhìn !

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/10/111027_lehieudang_luattocao_text.shtml

    Dự thảo Luật tố cáo đang được thảo luận sôi nổi tại Quốc hội Việt Nam.

    Vốn đã được đề cập tới từ kỳ họp thứ tám quốc hội khóa XII, dự luật đang tạo những phản ứng tranh luận gay gắt trong các dân biểu.

    Nhiều người cho rằng dự thảo luật là một bước thụt lùi trong quá trình lập pháp của Việt Nam, khi đặt các hạn chế về hình thức tố cáo, giới hạn trách nhiệm của báo chí, trong lúc không đưa ra các biện pháp thích hợp để bảo vệ người tố cáo.

    'Mâu thuẫn'

    Trả lời phỏng vấn của BBC Tiếng Việt, luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh nói dự thảo Luật Tố cáo được đưa ra nhằm thay thế một phần cho Luật Khiếu nại Tố cáo 1998, bởi luật cũ chưa đạt hiệu quả.

    Tuy nhiên, ông Đằng nhận xét thay vì phải là một bước tiến bộ, thì dự thảo luật lại đang đưa ra những điều khoản trái ngược, thậm chí mâu thuẫn với một số luật khác, trong đó gồm cả Luật Báo chí và Luật Phòng chống tham nhũng.

    Ông nói: "Theo tôi, khi chúng ta làm luật, phải với tinh thần tiến bộ hơn luật cũ, phải tham khảo luật thế giới và phải theo dòng chảy văn minh tiến bộ hiện nay. Rất tiếc dự thảo đi ngược lại tinh thần đó, có những quy định lạc hậu hơn trước, đi ngược lại một số luật, ví dụ như Luật báo chí."

    Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

    Ông nhận xét việc dự thảo luật quy định "cơ quan thông tin báo chí khi nhận được tố cáo thì phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền để giải quyết" là vô lý, bởi nó ngăn trở sự tham gia của báo chí trong việc phòng chống tham nhũng.

    Một trong các nội dung gây bất ngờ của dự thảo là quy định về hình thức tố cáo, theo đó việc tố cáo qua thư điện tử, qua fax hay điện thoại không được chấp nhận.

    Trước đó, Thường trực Ủy ban Pháp luật đã thống nhất theo hướng hình thức tố cáo không quan trọng, mà điều cần quan tâm là tính chính xác, đầy đủ của nội dung thông tin tố cáo. Tuy nhiên, dự thảo được đưa ra thảo luận thì chỉ giới hạn chấp nhận hình thức truyền thống là tố cáo trực tiếp hoặc qua bưu điện.

    Về vấn đề này, ông Lê Hiếu Đằng nói: "Theo quy định hiện nay trong thể chế chính trị Việt Nam, mọi thứ phải thông qua Bộ Chính trị, Ban Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam hết. Vì vậy tôi nghĩ Bộ Chính trị, Ban Bí thư có lẽ không đồng ý điều khoản này, nên Ủy ban thường vụ lại nói ngược lại ý của bản thân Ủy ban thường vụ Quốc hội."

    "Nếu Bộ Chính trị, Ban Bí thư không chấp nhận nội dung này thì tôi thấy là không thỏa đáng... rõ ràng là sợ người dân tham gia vào lĩnh vực [tố cáo chống tiêu cực] này."

    "Vai trò của Ủy ban thường vụ quốc hội như vậy là chưa thực hiện được mong mỏi của người dân. Đứng trước áp lực nào thì [ủy ban] cũng cần thực hiện vai trò của Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất."

    Tuy kêu gọi các đại biểu quốc hội hãy cân nhắc kỹ để không thông qua các điều khoản bất hợp lý của dự luật, nhưng ông Lê Hiếu Đằng thừa nhận trên thực tế, đa phần các dân biểu đồng thời cũng là đảng viên Cộng sản, "có thể trong lòng họ không đồng ý nhưng vì là đảng viên nên họ phải chấp hành chỉ thị của Đảng, họ phải bỏ phiếu thuận."

    Cốt lõi và là mệnh đề đầu tiên để cho đất nước phát triển là DÂN CHỦ. Còn đảng cầm quyền thì không bao giờ có dân chủ. Tuỳ thuộc vào tình hình đất nước mà đảng sẽ nới ra một chút khi này hay thắt chặt thêm khi khác, còn trên thực tế chưa bao giờ chúng ta có dân chủ. Xin được mượn câu ngạn ngữ để nói về dân chủ ở VN "Một nửa ổ bánh mỳ vẫn là bánh mỳ nhưng một nửa dân chủ không thể gọi đó là dân chủ"
    Nội dung của DÂN CHỦ chính là QUYỀN BÌNH ĐẲNG giới. Mọi con người không phân biệt tuổi tác, không phân biệt giới tính, các tầng lớp XH đều có quyền bình đẳng như nhau. Trong bình đẳng vấn đề LỢI ÍCH TẬP THỂ được đặt làm ưu tiên phải được hiểu cho đúng. Từ tập thể KHÔNG PHẢI LÀ NHÀ NƯỚC LÀM ĐẠI DIỆN để tập chung lợi ích vào Nhà nước. Tập thể được nêu ra chính là ĐẤT NƯỚC VÀ NHÂN DÂN, phải được đặt lên hàng đầu, làm trọng tâm để tập trung chăm lo. Nhà nước do nhân dân lập nên (chứ không phải do đảng dựng lên) phải phục vụ cho mục tiêu đó. Như vậy buộc phải TÁCH QUYỀN LỰC CỦA ĐẢNG RA KHỎI CHÍNH QUYỀN điều này đảng không muốn từ bỏ khi thẳng thừng tuyên bố "Bỏ điều 4 Hiến pháp là tự sát". Đảng không từ bỏ thì mọi cải cách đều vô nghĩa

    Nói đến luật pháp và HP của ta thì quá chán và thất vọng vì ta chỉ bàn trên lý thuyết chứ trong thực tế thì mấy khi thực thi theo pháp luật. Điều này chứng tỏ nhà nước ta là một nhà nước thiếu văn minh, nhà nước ta giống như kiểu nhiêu xã ở vùng quê lạc hậu, con người đối xử với nhau theo cảm tính chứ không bị các điều khoản pháp luật ràng buộc. Cái đề tài sửa HP chỉ là cơ hội cho các nhà trí thức rỗi hơi phô trương kiến thức chứ có tác dụng gì đâu. Người dân không mấy chú ý tới sửa HP vì nó không thiết thực với đời sống hàng như giá cả leo thang, hai là như trên đã nói,người nhà nước (công an, tòa án, viện kiểm sát) có làm theo luật đâu, xem mấy vụ xử án công khai thì đủ biết, xem công an bắt và giam giữ người thì đủ biết. Gần đây nhất là tòa án Đống Đa Hà Nội bác đơn của các trí thức kiện đài TH Hà Nội. Có người đã tóm tắt luật pháp của ta như sau: trên giấy thì "chỗ thừa, chỗ thiếu, chỗ yếu, chỗ sai, chỗ mập mờ, chỗ vô lý" thực thi thì tùy tiện, bịp bợm ít nhiều mang mầu sắc lưu manh (cả tòa án và công an).Dân có tội thì tòa xử, tòa (cơ quan công quyền) có tội thì ai xử? Chính miệng ông bà quan tòa đã phát biểu "muốn xử đúng cũng được, muốn xử sai cũng được", "có một rừng luật nhưng toàn xử theo luật rừng". Mở đầu Tuyên ngôn độc lập và HP đã mâu thuẫn nhau. TNĐL thì"Người ta đều sinh ra có quyền bình đẳng", nhưng HP lại quy định là chỉ có Đảng CS được tồn tại và lãnh đạo. Bình đẳng là anh cũng như tôi, anh làm được cái gì thì tôi làm được cái ấy, anh được lập ra đảng của anh thì tôi lập ra đảng của tôi, giống như hồi đầu thế kỷ trước, khi đảng CS chưa lên cầm quyền. Điều này đã có nhiều người nói, nhưng không dám nói thẳng mà cứ loanh quanh, gọi là "độc tôn" cái gì đó. Có điều là chưa ai chất vấn Đảng CS là: Vì lý do gì Đảng CS không cho người ta lập các đảng khác giống như nhiều nước văn minh? Lúc đầu các đảng mới ra đời thì đảng nào cũng ít nhiều có tiến bộ, nhưng càng về sau thì càng thoái hóa biến chất, thậm chí một số phần tử trong đảng này đảng nọ còn lưu manh hoá, biến thành mafia. Đảng mafia thì nhà nước là mafia, độc quyền độc trị tham nhũng tràn lan, dân thì khổ, đất nước ngày càng tụt hậu. Đảng chỉ chăm lo khư khư giữ ghế chứ không đặt vấn đề thi đua với các nước khác để tiến lên. Tụt hậu, nợ nần là hậu quả của chính sách độc quyền độc trị, cả nước có một đảng nhưng toàn dân phải đóng đảng phí (thông qua các loại thuế) để nuôi thiểu số các ông bà đảng viên, lại còn chiếm bao nhiêu đất đai làm trụ sở, tiền xây bệnh viện và trường học thì không có, tiến chi cho Đại hội đảng (lấy từ ngân sách nhà nước chứ không phải lấy từ quỹ đảng phí) thì chi tiêu vô tội vạ. Một đất nước mà giáo dục, y tế luật pháp hỏng thì cả đất nước hỏng. Nước ta đang rơi vào tình trạng đó do đảng lãnh đạo.Chẳng biết đảng và nhà nước lập ra cái Hội đồng lý luận TƯ làm cái trò gì nhưng có điều sai từ gốc mà ta không dám nêu ra, đó là ta sai quy luật phát triển, ta thừa nhận 5 hình thái ý thức là quy luật, nhưng lại đốt cháy giai đoạn (bỏ qua thời kỳ TBCN tiến thẳng lên CNXH) nên giai đoạn nó đốt cháy ta. Pháp luật cũng là một hình thức giáo dục, thế nhưng nhiều người nhận xét công an và quan tòa là tụi mất dạy. Phài dạy cho chúng biết thế nào là giữ gìn nhân cách, trung thực và danh dự. Xem ông trung tướng công an chối cãi lật lọng, hôm nay nói một khác, hôm sau quay ngoắt nói một khác thì biết, mà chối phắt, đổi trắng thành đen lại là nghiệp vụ được giáo dục trong ngành CA, quan toà người là cầm cân nẩy mực của pháp luật cũng thế. Tất cả gốc gác của vấn đề đều do chế độ. Nhưng trước mắt thì nên lột mặt nạ của việc thực thi pháp luật hơn là bàn về việc sửa đổi pháp luật trên lý thuyết, HP cũng là hình thức pháp luật (luật mẹ).

    Đảng không phải là muôn thuở

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/10/111020_nguyendinhloc_inv1.shtml

    Hiến pháp sửa đổi sẽ điều chỉnh quan hệ giữa các vị trí quyền lực nhất tại Việt Nam?

    Một năm trước kỳ hạn Ủy ban Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp phải trình lên Quốc hội bản dự thảo đầu tiên vào cuối 2012, một cựu Bộ trưởng Tư pháp Việt Nam nêu quan điểm riêng về 'Luật về Đảng' và khả năng cải cách thể chế.

    Đề cập với BBC về khả năng sửa đổi Điều 4 liên quan vị thế “lãnh đạo độc tôn” của Đảng Cộng sản trong Hiến pháp 1992, Tiến sỹ luật học Nguyễn Đình Lộc, nguyên Ủy viên Ủy ban Luật pháp Quốc hội, cho hay đang có cân nhắc về việc soạn thảo một bộ luật riêng về sự lãnh đạo của đảng, nhưng trích dẫn Chủ nghĩa Marx, ông lưu ý “đến một lúc nào đó đảng không còn nữa” và “đảng không phải là muôn thuở.”

    Tiến sỹ Nguyễn Đình Lộc, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng cũng trả lời câu hỏi về việc có thành lập hay không Tòa án Hiến pháp, soạn Luật Biểu tình hay Luật chống biểu tình và các điều luật ngăn ngừa điều được một phần dư luận quan ngại và cho là hiện tượng 'công an trị' trong xã hội.

    Trong phần đầu cuộc phỏng vấn gồm hai phần với BBC, ông Nguyễn Đình Lộc lưu ý vì sao Quốc hội Việt Nam khóa XIII (2011-2016) cần đặc biệt coi trọng với việc sửa đổi, bổ sung bản Hiến pháp 1992.

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Đây là một công việc hệ trọng vì liên quan tới luật mà đây là luật cơ bản. Nó đề cập tới những vấn đề cơ bản của đất nước, từ chế độ chính trị tới chế độ kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, rồi bộ máy tổ chức nhà nước... Đó là tất cả những vấn đề cơ bản của xã hội, làm thế nào mà không hệ trọng được. Rồi quyền và nghĩa vụ công dân là những vấn đề rất cơ bản.

    BBC: Theo ông, vấn đề Luật về Đảng có được tích hợp trong Hiến pháp ở một hay một số điều nào đó không? Có thay đổi gì đáng kể liên quan nội dung điều 4 không?

    "Chủ nghĩa Marx đã nói đến một lúc nào đó đảng không còn mà nhà nước cũng không còn thì Đảng “muôn thuở” thế nào được"

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Vấn đề đó cũng đã có người nêu ra nhưng chưa rõ nét lắm vì nó cũng có một đạo lý của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ đang là đảng cầm quyền chứ không chỉ là đảng lãnh đạo chung chung. Và điều 4 của Hiến pháp đã ghi rồi. Vấn đề là rồi đây sẽ tính thêm xem có cần xây dựng “sự lãnh đạo của Đảng” thành một đạo luật không. Cái đó phải tính thêm.

    BBC: Nhưng cũng có người đặt ra câu hỏi rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang tại vị như vậy, một đảng cầm quyền như ông đã nói, nay lại ra một điều luật về đảng, thì những chủ thể khác cũng muốn lập đảng có thể lập luận rằng “Đã có một đạo luật nguyên tắc về đảng như thế, chúng tôi cũng muốn lập đảng phái chính trị, thì chúng tôi phải được phép thành lập.” Ý kiến của ông?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Bây giờ Việt Nam mới có một đảng. Bao giờ có đảng khác thì sẽ tính thêm. Việt Nam hiện chỉ có một đảng thôi.

    BBC: Trung Quốc hiện vẫn có một số đảng phái, bên cạnh Đảng Cộng sản Trung Quốc đương quyền, theo ông hình mẫu một đảng duy nhất tồn tại là Đảng Cộng sản và đồng thời cầm quyền như ở Việt Nam có phải sẽ kéo dài tới “muôn thuở”?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Nói một thời gian đã là khó rồi chứ nói “muôn thuở” thì nói thế nào được. Đến một lúc nào đó đảng không còn và nhà nước không còn. Chủ nghĩa Marx đã nói đến một lúc nào đó đảng không còn mà nhà nước cũng không còn thì Đảng “muôn thuở” thế nào được.
    TS Nguyễn Đình Lộc

    TS Nguyễn Đình Lộc xác nhận chủ đề về 'Tòa Hiến pháp' đang được bàn thảo sôi động ở Việt Nam

    BBC: Trước đây, ở miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, bên cạnh Đảng Cộng sản cầm quyền, đã có lúc có hơn một đảng cùng tồn tại. Liệu Đảng Cộng sản có hình dung là tới một lúc nào đó sẽ có sự trở lại của mô hình có nhiều hơn một đảng cùng tồn tại hay là không?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Cái đó hơi khó nói vì bây giờ thực tế là một đảng. Và cũng chưa có chỗ nào nói là xây dựng đảng thêm. Chưa có chỗ nào nói cả. Bây giờ chỉ biết là Đảng CSVN là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo.

    "Phân công quyền lực?"

    BBC: Nhưng cũng có ý kiến lâu nay nói mô hình một đảng duy nhất, lãnh đạo và cầm quyền đó làm dẫn tới tình trạng đảng này thâu tóm “tam quyền phân lập” giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quan điểm của ông?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Chúng tôi không theo quan điểm tam quyền phân lập, mà chúng tôi nói quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có phân công, phối hợp giữa các quyền lực đó, chứ không nói tam quyền phân lập. Đó là điểm khác.

    BBC: Theo dự kiến được công bố, dự thảo sửa đổi hiến pháp của Quốc hội khi hoàn tất sẽ báo cáo lên Bộ Chính trị. Tại sao vậy, trong khi Quốc hội về nguyên tắc đã là cơ quan lập pháp và quyền lực cao nhất của nhà nước và nhân dân rồi? Theo đó có thể hiểu Bộ Chính trị là “cao nhất” chăng?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Khi nói tới Bộ Chính trị là nói tới “lãnh đạo”, chứ có phải nói là “cao nhất” đâu.

    BBC: Còn quyền phúc quyết với Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp của nhân dân thì ra sao trong lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp này, thưa ông?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Nhiều khả năng lần này Hiến pháp (sửa đổi) sẽ quy định trưng cầu dân ý và dân phúc quyết về Hiến pháp.

    BBC: Vấn đề Tòa án Hiến pháp có được đặt ra không?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Đây cũng là vấn đề đang sôi động. Có khả năng là sẽ có Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Hiến pháp, cơ quan Bảo Hiến.

    "Lưỡng viện hay không?"

    Một số giới đang hy vọng Quốc hội khóa này cải tổ được hệ thống pháp luật

    BBC: Liệu còn quá sớm hay không khi đặt ra vấn đề cải cách thể chế chính trị. Gần đây, nguyên Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết nói với BBC về phương án có thể thành lập 'lưỡng viện', trong đó Bộ Chính trị, Trung ương Đảng là Thượng nghị Viện, Quốc hội do dân bầu là Hạ nghị Viện. Liệu có kịch bản này không, hay còn kịch bản nào khác?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Cái đó tôi thấy hơi trừu tượng. Năm 1945, ngay dưới thời Cụ Hồ, lúc đó cũng đã bàn Việt Nam một viện hay hai viện. Chính Quốc hội lúc bấy giờ rất là dân chủ, cũng quyết định là một viện thôi. Vì Việt Nam khác các nước.

    BBC: Liệu có khả năng sẽ có điều khoản nào đó trong bản Hiến pháp sửa đổi quy định là người dân có quyền thực sự lập đảng phái, hội đoàn chính trị - xã hội đích thực của họ hay không, ngoài Đảng Cộng sản?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Hiến pháp đã nói (dân) có quyền lập Hội rồi.

    BBC: Còn đảng phái thì không? Vì một số thành phần trong giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và có thể cả một số thành phần trong giới tư bản, tư sản trong nước có thể tiếp tục đảng Cộng sản của mình, thì tại sao các thành phần khác trong các tầng lớp, giai cấp, khuynh hướng trong xã hội lại không thể lập được đảng phái chính trị của riêng họ?

    Ông Nguyễn Đình Lộc: Cái đó đi vào cụ thể phải tính thêm. Vấn đề đó là tế nhị.

    Tiến sỹ Nguyễn Đình Lộc từng giữ các chức vụ Bộ trưởng Bộ Tư pháp từ 1992 đến 2002, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội luật gia và Đại biểu Quốc hội các khóa VII, IX, X và XI. Phần âm thanh của cuộc phỏng vấn gồm hai kỳ sẽ được đưa lên ở mục nghe xem trong thời gian tới đây. Mời quý vị đón theo dõi.

    Bài này đem giang ở trường Luật thì đạt 70%, còn đăng ở mục góp ý sửa HP thì không đạt yêu cầu. Sửa HP là cần thêm điều nào, bỏ điều nào, thay điều nào, sửa điều nào, đơn giản thế thôi, chứ lý luận dài dòng ra vẻ ta uyên thâm hiểu biết rộng làm gì.TÁc giả viết:"Chẳng thể nào ta ra được một bản HP dân chủ khi lảng tránh cội nguồn gốc rễ của HP." Xin hỏi: "Cội nguồn gốc rễ của HP" là gì? Còn câu nữa:"Muốn xây dựng HP dân chủ chúng ta phải xem lại khởi nguyên của sự hình thành nhà nước và căn nguyên đưa đến sự ra đời HP". Xin tác giả giải thích ý nghĩa câu này. Nhiều người nói lý luận rất đao to bua lớn, ấy thế mà có nhười hỎi:" Biểu hiện của xã hội dân chủ là gì? đòi dân chủ là đòi cái gì? Mất dân chủ là mất cái gì?Thì tất cả các ông TS nói chung và tS Luật nói riêng chẳng ai trả lời được!! Toàn những lý thuyết đâu đâu ấy, còn đào tạo kiểu này thì nước ta còn chậm tiến.Người Việt viết cho người Việt bằng chữ Việt, vậy mà nhiều người Việt không hiểu. Có người nói "trên đời này ngoài Anhxtanh ra, những người viết (nói) cho người khác không hiểu đều là những người DỐT về khả năng diễn đạt." Thế mà nhiều ông cứ cố tình dùng những từ ngữ bác học, nói,viết cho dân không hiểu. Xin tác giả hãy trả lời mấy câu hỏi trên và rút kinh nghiệm khi viết báo.

    Ông Mác này sai, ta chế ông Mác khác xài cũng được chả sao cả .

    Chính Mác cũng đã từng khẳng định nhà nước theo kiểu của ông là một thứ tư bản độc quyền với quyền lực vô hạn, tức là không phải xóa bỏ tư bản mà là tập trung tất cả tư bản vào tay nhà nước, aka nhà nước là tay tư bản duy nhất, vì vậy quyền hạn vô cùng . Tất nhiên Mác không nhìn ra vấn đề quyền lợi vô cùng vì ông tin những ai tin học thuyết của ông sẽ không màng tới quyền lợi, Mwá!

    Cách mà ông Trần Hải Hạc đưa ra, và Lenin áp dụng, đúng, Mác có bàn tới, nhưng đọc kỹ, đây là giải đáp tình thế, aka thời kỳ quá độ tiến lên thời kỳ quá đát . Còn nguyên tắc chính nằm ở cụm từ này "Dictatorship of the Proletariat", dịch mot-à-mot là "Nền độc tài của giới Vô sản" -bây giờ có bao nhiêu tính vô sản, mọi người đếm dùm cái, khá dễ vì quá ít- mỹ miều hơn thì kêu là "chuyên chính vô sản". Phân biệt rõ vì "Nền độc tài" là bản chất của nhà nước, không phải 1 thứ công cụ lúc thích thì xài, không thích thì treo lên cao cho mọi người thấy . Phát xuất từ đâu ra, monsieur Hegel! Mác chỉ nối dài thuyết lịch sử, và luận rằng bây giờ tới phiên vô sản, trong khi đó định nghĩa giai cấp của Mác rớt lả tả khi phải áp dụng vào xã hội hiện đại .

    Anh kép đọc Trần Hải Hạc nhìn ra được Mác trẻ chửi cha Mác già, nhưng anh điếu biết muốn là một chủ nghĩa phải có tính thuần nhất . Nếu không có tính thuần nhất chỉ là tư tưởng cá nhân, và nếu là tư tưởng cá nhân, nó không hơn gì những còm trên dân luận này .

    Ls Ngô Ngọc Trai có cách hiểu khá sơ sài, hời hợt về quan niệm của Lenin về Nhà nước. Từ đó ông đưa ra kết luận sai bét rằng:

    Trích dẫn:
    Nếu nhà nước là công cụ bạo lực của giai cấp này thống trị các giai cấp khác thì nhà nước đó không thể nào mang trong mình các giá trị dân chủ. Một nhà nước không thể vừa mang trong mình giá trị dân chủ, vừa mang bản chất là một công cụ bạo lực.

    Quan niệm của Lenin về Nhà nước là tiếp thu từ Marx và Engels. Ba vị này nhấn mạnh rằng:
    - Về mặt nội dung, thì Nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị nhằm bảo vệ trật tự hiện tồn. Để bảo vệ trật tự hiện tồn thì có khi giai cấp thống trị dùng Nhà nước để trấn áp giai cấp bị trị bằng bạo lực; có khi dùng Nhà nước để dàn xếp các xung đột giai cấp thông qua cách này cách khác một cách hòa bình (ví dụ như thông qua các điều luật - luật về lương tối thiểu, về BHXH, về thuế thu nhập chẳng hạn);
    - Về mặt hình thức, thì Nhà nước hiện đại, tức Nhà nước tư sản, mang hình thái đặc thù - hình thái dân chủ. Nhà nước đó tỏ ra là một thiết chế đứng ngoài và đứng trên các giai cấp, là Nhà nước của các công dân bình đẳng (dĩ nhiên chỉ bình đẳng về hình thức, nhưng dù sao cũng còn là bình đẳng, hơn hẳn chế độ phong kiến).

    Khẳng định như Ls Trai rằng "hễ là công cụ của giai cấp thống trị thì không thể mang tính dân chủ" cho thấy Ls không phân biệt được hai mặt nội dung và hình thức của Nhà nước, cứ tưởng rằng đó là hai cái đối lập nhau, không thể song song tồn tại.

    Nếu không có thời gian tìm hiểu một cách thấu đáo lý luận về Nhà nước của Marx trong các tác phẩm như "Hệ tư tưởng Đức", "Phê phán triết học pháp quyền của Hegel" v.v..., thì Ls Trai có thể tham khảo bài viết của Trần Hải Hạc mà Kép tôi đã giới thiệu: Chủ nghĩa Marx, Đảng cộng sản Việt Nam và vấn đề bốc lột, đăng trên Tạp chí Thời đại Mới, số 8, tháng 7/2003:
    http://www.tapchithoidai.org/TD8_THHac.pdf

    Trong khảo luận này Trần Hải Hạc đã chỉ ra sự phiến diện của loại ý kiến gán cho Marx (còn ở đây là Lenin) một lý thuyết về Nhà nước duy công cụ (Nhà nước chỉ là công cụ của giai cấp này nhằm trấn áp giai cấp khác), tức là chỉ nghe nói về mặt nội dung, mà bỏ qua mặt hình thức của Nhà nước hiện đại. Cách hiểu lơ mơ không đến đầu đến đũa đó rất chi là có hại cho công tác nghiên cứu học thuật một cách nghiêm túc.

    Bác NHC dùng chữ "nước nhà" thay cho "quốc gia" là hay quá. Tôi có, số 42684, cảm nhận là "quốc gia" gần với nation hơn, của chung toàn dân nhưng không biết chuyển qua chữ tương đương "nước nhà" như bác NHC. Cám ơn bác NHC.

    Trích dẫn:
    quan niệm phổ biến rằng: nhà nước làm ra HP và Luật dùng để quản lí xã hội mà ko hiểu được rằng Nhà nước làm ra luật pháp dựa trên những qui định của HP do nhân dân tạo ra,xây dựng...

    Quan niệm này tuy hoàn toàn sai nhưng lại phổ biến, thế mới ác !
    Tại sao lại phổ biến ?
    Lý do là người dân bầu ra các đại diện làm việc cho nhà nước (các cơ quan). Những đại diện cho dân này thông thường soạn thảo, đệ trình, bàn thảo, sửa đổi (dẹp bỏ hoặc thay thế) và có kết quả cuối cùng cho HP và LP. Tất cả các nước đều có quy trình này.

    VN cũng thế nhưng cái khác hoàn toàn là việc thực hiện quy trình này. Giống như ở đâu cũng có ứng, tranh, bỏ phiếu, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử. VN cũng có bầu cử nhưng lại gian lận và phản dân chủ !
    Cùng một hiện tượng nhưng bản chất lại khác ở VN, bản chất độc đảng XHCN.

    Về HP và LP, ở các nước dân chủ thì các khâu "bàn thảo", "sửa đổi (dẹp bỏ hoặc thay thế)", người dân có độ tiếp cận cao và ảnh hưởng quyết định.
    Có một số điều luật, tại tòa án người dân và các luật sư cho rằng không thích hợp với xã hội nữa, chánh án và thẩm phán lắng nghe. Sau đó họ, chánh án, có thể đề nghị không tuyên bố bản án hoặc không cứu xét vì cho rằng điều luật đã lỗi thời.
    Chánh án này, người dân, luật sư có thể chung hoặc riêng rẽ trình bày lý do và giải pháp cho chính phủ, quốc hội và TANDTC (tòa án HP) để sửa luật hoặc dẹp bỏ điều luật.

    Thông thường nếu được chấp thuận, các luật sư và các chánh án này sẽ nổi danh. Vị chánh án này có thể thăng chức vì đã vạch ra được điểm vô lý của luật và hiến pháp ...

    Quan điểm của người ta là mọi người cạnh tranh sao cho HP/LP hợp lý hơn, phù hợp hơn

    Ở VN thì tất cả phải do bộ chính trị quyết định. HP và LP có sai, có vô lý thì cũng kệ mịa nó, đụng vô đòi sửa sai là ở tù với 88 ngay.

    Bản chất XHCN của bộ chính trị là như thế, thích bạo lực

    NHCKhách viết:
    1/ Chữ Quốc Gia mà ta đang dùng nó đồng nghĩa với chữ nước nhà chứ ko phải Nhà nước-cơ quan quyền lực của xã hội;
    2/Anh NGỌC TRAI cần biết điều sơ đẳng này: thanh tra chính phủ là thanh tra nhà nước cấp TW.Do vậy chẳng ai lại bỏ đi chữ Nhà nước để thay bằng chữ CP cả.
    3/ Cách đặt v/đ của Lê-Nin về nhà nước ko phải là một sự chủ quan, tùy tiện:nó phản ánh đúng bản chất của một quá trình lịch sử.Quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp là nét chủ yếu, bao trùm của thời đại đó.Nhà nước là cái roi sắt quất vào mặt giai cấp bị trị, các dân tộc bị trị.Tính công cộng:quyền lực công cộng,phúc lợi chung.v.v.ở những giai đoạn lịch sử đó của nhà nước còn mờ nhạt, nó chỉ mang tính đặc thù.Lịch sử đã có quá nhiều biến đổi về giai cấp và quan hệ giai cấp: ở từng quốc gia cũng như trên thế giới. Đấu tranh giai cấp về chủ yếu đã được thay bằng HÀI HÒA giai cấp, HÀI HÒA lợi ích của các tầng lớp xã hội trong một xã hội, một đất nước, và vì thế bản chất, chức năng của nhà nước đã thay đổi.Bản chất giai cấp đã và đang được thay thế, nhường chỗ cho bản chất công cộng của quyền lực nhân dân được nổi nên. Vấn đề là nó được phản ánh như thế nào vào trong HP mà thôi...
    4/Có một cách hiểu sơ đẳng nhất vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay về HP, tiếc rằng đã ko được LS đề cập đến, đó là quan niệm phổ biến rằng: nhà nước làm ra HP và Luật dùng để quản lí xã hội mà ko hiểu được rằng Nhà nước làm ra luật pháp dựa trên những qui định của HP do nhân dân tạo ra,xây dựng...
    visitor viết:
    Trước năm 1975, Ngân hàng Nhà nước VN của VNDCCH có tên là "Ngân hàng Quốc gia VN". Sau năm 1975 mới đổi sang tên hiện nay.

    Về mặt ngôn ngữ từ 'Nhà nước' là cách viết thuần việt của từ Hán Việt 'Quốc gia' (Nhà = Gia, Quốc = Nước). Tuy vậy thực tế hiện nay 2 từ 'nhà nước' và 'quốc gia' không hoàn toàn có thể thay cho nhau được. Ví dụ: Tên "Đại học Quốc gia Hà Nội" thì OK chứ "Đại học Nhà nước Hà Nội" thì nghe có vể không ổn.

    Nếu dịch sang tiếng Anh thì người ta hay dịch 'Nhà nước' = 'State', còn 'Quốc gia' = 'National'. Ví dụ 'Chủ tịch nước Trương Tấn Sang' thì được dịch trên VTV4 là 'State President Truong Tan Sang', 'Ngân hàng Nhà nước VN' là "State Bank of Viet Nam". Còn "Đội tuyển Bóng đá Quốc gia" là "National Football Team".

    Bác nào giỏi về mặt ngữ nghĩa xin giải thích thêm về sự giống và khác nhau giữa 2 từ 'Nhà nước' và 'Quốc gia'.

    Về mặt ngôn ngữ như bác visitor viết, tôi nghĩ 2 từ 'Nhà nước' và 'Quốc gia' là như nhau. Quốc gia là chữ Hán Việt.

    Điểm khác :
    Theo tôi 'quốc gia' có một phần giống national (những gì thuộc về nation). Chữ nation nó gần với chữ cộng đồng dân tộc hơn. Một cộng đồng dân tộc thì không nhất định phải có lãnh thổ và chính quyền.

    Trong khi đó chữ state rõ ràng phải có một chính quyền.

    Nếu vậy chữ 'quốc gia' có thể mở rộng cho toàn dân, trong và ngoài nước, không phân biệt quan điểm chính trị.

    Trong khi đó 'nhà nước' chỉ thu hẹp cho phạm vi một lãnh thổ, một chính quyền mà trong đó có thể có nhiều cộng đồng dân tộc khác nhau.
    Ở một số nước độc tài như TQ, VN, dùng chữ nhà nước thích hợp hơn vì đây là 'nhà nước XHCN', mục đích là dành cho những ai theo CNXH, nó không bao trùm cho tất cả quan điểm mọi người

    Tên "Đại học Quốc gia Hà Nội", theo suy diễn trên thì có nghĩa là dành cho mọi người, tầm cỡ cả nước, không phụ thuộc một cơ cấu chính trị
    Nếu có tên "Đại học Nhà nước Hà Nội" thì khó có thể dành cho mọi người mà chỉ dành cho các quan chức

    Còn Trường đảng Nguyễn Ái Quốc (học viện HCM) không thể có tên 'quốc gia' vì nó không dành cho mọi người cho dù nó to lớn và có nhiều ngân sách

    Có nghe nói cấu "Một quốc gia hai nhà nước"

    Trích dẫn:
    Thứ hai: Bản chất, vai trò của nhà nước, đó là công cụ bạo lực của giai cấp thống trị đối với phần còn lại của xã hội. Nhà nước có vai trò là “công cụ”, có mục đích là duy trì sự thống trị của giai cấp thống trị đối với phần còn lại của xã hội.

    Như vậy dựa vào luận điểm này của Lê Nin, Hồ Chí Minh học theo và trong thực tế thiết lâp một chế độ đảng trị ?

    Nếu không tính VNCH, VN ta, từ VNDCCH cho đến CHXHCNVN không có một nhà nước theo đúng nghĩa của nó mà chỉ là một chế độ đảng trị.
    Gọi Trương Tấn Sang là chủ tịch nước thì có lẽ không đúng với bản chất thật của TTS bằng gọi là Đồng chí bí thư thứ hai BCHTƯĐ

    Chà, càng đọc về Mác và về Lê Nin, càng thấy chủ nghĩa này tỏ ra nguy hiểm và nó kích động bạo lực vì hận thù giai cấp

    1/ Chữ Quốc Gia mà ta đang dùng nó đồng nghĩa với chữ nước nhà chứ ko phải Nhà nước-cơ quan quyền lực của xã hội;
    2/Anh NGỌC TRAI cần biết điều sơ đẳng này: thanh tra chính phủ là thanh tra nhà nước cấp TW.Do vậy chẳng ai lại bỏ đi chữ Nhà nước để thay bằng chữ CP cả.
    3/ Cách đặt v/đ của Lê-Nin về nhà nước ko phải là một sự chủ quan, tùy tiện:nó phản ánh đúng bản chất của một quá trình lịch sử.Quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp là nét chủ yếu, bao trùm của thời đại đó.Nhà nước là cái roi sắt quất vào mặt giai cấp bị trị, các dân tộc bị trị.Tính công cộng:quyền lực công cộng,phúc lợi chung.v.v.ở những giai đoạn lịch sử đó của nhà nước còn mờ nhạt, nó chỉ mang tính đặc thù.Lịch sử đã có quá nhiều biến đổi về giai cấp và quan hệ giai cấp: ở từng quốc gia cũng như trên thế giới. Đấu tranh giai cấp về chủ yếu đã được thay bằng HÀI HÒA giai cấp, HÀI HÒA lợi ích của các tầng lớp xã hội trong một xã hội, một đất nước, và vì thế bản chất, chức năng của nhà nước đã thay đổi.Bản chất giai cấp đã và đang được thay thế, nhường chỗ cho bản chất công cộng của quyền lực nhân dân được nổi nên. Vấn đề là nó được phản ánh như thế nào vào trong HP mà thôi...
    4/Có một cách hiểu sơ đẳng nhất vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay về HP, tiếc rằng đã ko được LS đề cập đến, đó là quan niệm phổ biến rằng: nhà nước làm ra HP và Luật dùng để quản lí xã hội mà ko hiểu được rằng Nhà nước làm ra luật pháp dựa trên những qui định của HP do nhân dân tạo ra,xây dựng...

    Trước năm 1975, Ngân hàng Nhà nước VN của VNDCCH có tên là "Ngân hàng Quốc gia VN". Sau năm 1975 mới đổi sang tên hiện nay.

    Về mặt ngôn ngữ từ 'Nhà nước' là cách viết thuần việt của từ Hán Việt 'Quốc gia' (Nhà = Gia, Quốc = Nước). Tuy vậy thực tế hiện nay 2 từ 'nhà nước' và 'quốc gia' không hoàn toàn có thể thay cho nhau được. Ví dụ: Tên "Đại học Quốc gia Hà Nội" thì OK chứ "Đại học Nhà nước Hà Nội" thì nghe có vể không ổn.

    Nếu dịch sang tiếng Anh thì người ta hay dịch 'Nhà nước' = 'State', còn 'Quốc gia' = 'National'. Ví dụ 'Chủ tịch nước Trương Tấn Sang' thì được dịch trên VTV4 là 'State President Truong Tan Sang', 'Ngân hàng Nhà nước VN' là "State Bank of Viet Nam". Còn "Đội tuyển Bóng đá Quốc gia" là "National Football Team".

    Bác nào giỏi về mặt ngữ nghĩa xin giải thích thêm về sự giống và khác nhau giữa 2 từ 'Nhà nước' và 'Quốc gia'.