Nguyễn Thị Hồi - Kiến nghị sửa đổi, bổ sung những nội dung cơ bản của Hiến Pháp hiện hành

  • Bởi Admin
    06/10/2011
    7 phản hồi

    PGS.TS. Nguyễn Thị Hồi (Đại học Luật Hà nội)

    Hiến pháp năm 1992 hiện hành là Hiến pháp của thời kỳ đổi mới. Trải qua gần hai mươi năm thực hiện, do hoàn cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi nên một số nội dung của Hiến pháp đã không còn phù hợp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với điều kiện kinh tế - xã hội và tư duy pháp lý hiện đại, một số nội dung của Hiến pháp cần được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu mới.

    Trước hết, Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Chúng tôi cho rằng, trong điều luật này nên bỏ cụm từ “mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Bởi lẽ:

    Chúng ta đang phấn đấu để thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, và để có được một xã hội như vậy, cần phải huy động sức mạnh và có sự đóng góp công sức của toàn thể nhân dân, trong đó có vai trò vô cùng quan trọng của các doanh nhân. Đó cũng là lực lượng mà Nhà nước cần phải bảo vệ, động viên, tranh thủ sức mạnh và sự đóng góp của họ. Nếu cứ ghi nhận như Hiến pháp năm 1992 thì có thể gây ra một trạng thái tâm lý “hình như Nhà nước có sự phân biệt đối xử” đối với lực lượng này.

    Ngoài ra, hiện nay, quan niệm về giai cấp rất khó xác định vì các lực lượng xã hội đã có sự biến động rất lớn theo thời gian. Có thể cùng một người vốn là nông dân, một thời gian sau nhập ngũ, hết nghĩa vụ về học đại học rồi trở thành giảng viên đại học, thành cán bộ, công chức hay nhân viên văn phòng thì xếp họ thuộc về giai cấp nào? Hoặc một công nhân, học lên cao đẳng rồi làm giám đốc doanh nghiệp, thì họ là trí thức hay công nhân?

    Hơn nữa, bên cạnh việc quan tâm đến lợi ích của lực lượng cầm quyền, các Nhà nước đều cố gắng quan tâm đến lợi ích chung của toàn thể nhân dân, của toàn xã hội. Do đó, chúng ta không nên quá nhấn mạnh đến tính giai cấp của Nhà nước, vì như vậy có thể gây ra những trở lực không đáng có cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

    Với lập luận trên, chúng tôi đề nghị Điều 2 của Hiến pháp nên được viết lại là: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước là của nhân dân, do nhân dân uỷ quyền cho Nhà nước thực hiện thông qua việc thực hiện quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan đại diện, quyền thông qua Hiến pháp”.

    Thứ hai, hiện nay, một hoạt động đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới là tổ chức trưng cầu ý dân để bảo đảm cho nhân dân thực hiện quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Ví dụ, ở Anh, Nhà nước đã tổ chức trưng cầu ý dân về việc giữ lại hay bỏ ngôi Vua; các Nhà nước thuộc Liên minh châu Âu tổ chức trưng cầu ý dân về các vấn đề: gia nhập Liên minh châu Âu; sử dụng đồng tiền chung châu Âu hay có phê chuẩn Hiến pháp châu Âu hay không?...

    Để bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, để phù hợp với xu thế thời đại, thiết nghĩ, Hiến pháp nên có một điều riêng quy định việc trưng cầu ý dân và điều đó cần nhanh chóng được cụ thể hoá trong một đạo luật của Quốc hội. Có như vậy thì quyền “tham gia biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” của công dân - đã được ghi trong Hiến pháp - mới có thể trở thành hiện thực; nếu không, quyền này của công dân Việt Nam vẫn chỉ là một quyền “hữu danh vô thực”. Thực tế, công dân nước ta - từ khi Hiến pháp đầu tiên ra đời đến nay - chưa thực hiện được quyền này.

    Thứ ba, việc Hiến pháp dành riêng Điều 4 để ghi nhận quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, ghi nhận “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh của nước ta. Tuy nhiên, để từng bước thực hiện được mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, thiết nghĩ, đã đến lúc điều này cần được cụ thể hoá trong một đạo luật riêng, tương tự như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc Luật Công đoàn. Trên thực tế, mặc dù là tổ chức lãnh đạo xã hội, lãnh đạo Nhà nước, song Đảng cũng chỉ là một tổ chức thành viên của hệ thống chính trị, tồn tại và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ thuộc quyền quản lý của Nhà nước, nên giống như các tổ chức khác của hệ thống chính trị, sự lãnh đạo của Đảng cũng cần phải được thực hiện theo pháp luật. Trong điều kiện phấn đấu để xây dựng Nhà nước pháp quyền, không một tổ chức nào có thể đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật. Có luật này sẽ tránh được cảm giác dường như trong xã hội vẫn có tổ chức “siêu quyền lực”, đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật; đồng thời ngăn chặn được tình trạng có những kẻ thoái hoá, biến chất, lợi dụng danh nghĩa tổ chức đó để vi phạm pháp luật, trục lợi cho bản thân và gia đình.

    Thứ tư, Điều 6 Hiến pháp hiện hành quy định “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Chúng tôi cho rằng, quy định trên vô hình trung đã thu hẹp hình thức sử dụng quyền lực nhà nước của nhân dân, đặc biệt là không phù hợp với chủ trương không thành lập Hội đồng nhân dân ở một số địa phương và với xu thế phát triển của nền dân chủ. Thực tế, tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện quyền lực nhà nước, vì thế, theo chúng tôi, quy định này nên được sửa lại là “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua tất cả các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, qua quyền thông qua Hiến pháp và quyền biểu quyết trong các cuộc trưng cầu ý dân”. Như thế, tất cả các cơ quan nhà nước đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân là lẽ đương nhiên.

    Thứ năm, Điều 50 của Hiến pháp 1992 có nêu: “Ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Theo chúng tôi, điều này đã thu hẹp phạm vi quyền con người. Quyền con người phải được hiểu là quyền tự nhiên, bẩm sinh của con người, gắn liền với con người với tư cách là một con người, một thực thể của giới tự nhiên. Quyền công dân chỉ là những quyền pháp lý, được pháp luật thừa nhận cho công dân tuỳ theo khả năng của Nhà nước. Quyền con người thuộc phạm trù phổ biến, tồn tại song song với sự tồn tại của con người, phổ biến trong mọi quốc gia, mọi dân tộc và mọi thời đại. Quyền công dân luôn có sự thay đổi theo thời gian, được thừa nhận tuỳ theo khả năng bảo đảm thực hiện của Nhà nước và theo xu hướng ngày càng được mở rộng hơn, ngày càng có tính khả thi hơn. Phạm vi quyền con người rộng hơn quyền công dân. Vì thế, chúng tôi đề nghị nên sửa đổi điều luật theo hướng khẳng định các quyền tự nhiên chính đáng của con người được Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ.

    Thứ sáu, về quyền và nghĩa vụ học tập của công dân được nêu tại Điều 59 của Hiến pháp, chúng tôi cho rằng, trong xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức, của Chính phủ điện tử hiện nay, khi mà điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nằm ngay trong đầu óc con người, trong trình độ nhận thức của con người, tri thức của con người giữ vai trò là động lực trực tiếp của sự phát triển, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thì tầm quan trọng của giáo dục phải được đề cao đúng mức. Trên thế giới hiện nay có nhiều nước đã thực hiện phổ cập giáo dục bắt buộc cho công dân đến hết cấp II, Nhà nước ta cũng đã chủ trương “thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở” (Điều 36 Hiến pháp năm 1992). Do đó, Điều 59 của Hiến pháp nên được sửa đổi theo hướng quy định bậc trung học cơ sở là bắt buộc, không phải trả học phí. Có như vậy mới có thể dễ dàng thực hiện được chế độ phổ cập giáo dục bắt buộc cho công dân.

    Thứ bảy, về các cơ quan trong bộ máy nhà nước:

    - Các quy định về Quốc hội trong Hiến pháp nên được sửa đổi theo hướng xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan lập pháp của Nhà nước. Quốc hội có quyền làm luật và sửa đổi luật, có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp, còn quyền thông qua Hiến pháp là quyền của nhân dân, được thực hiện theo hình thức trưng cầu ý dân.

    Hiến pháp nên quy định việc thành lập một cơ quan bảo hiến để bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của luật và giám sát hoạt động của Quốc hội.

    - Quyền lực của Chủ tịch nước nên được tăng cường theo hướng Chủ tịch nước là người nắm quyền hành pháp tối cao và là người có thực quyền hành pháp. Theo đó, cách thức hình thành chức vụ Chủ tịch nước cũng nên được thay đổi theo hướng phù hợp, nếu có thể thì nên để cử tri cả nước bầu trực tiếp. Đồng thời với việc tăng cường quyền lực cho Chủ tịch nước, Hiến pháp cũng nên giới hạn số nhiệm kỳ được nắm giữ quyền lực của Chủ tịch nước và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực của Chủ tịch nước.

    - Vị trí của Chính phủ nên được xác định theo hướng Chính phủ là cơ quan hành pháp của Nhà nước. Các thành viên của Chính phủ có thể do Chủ tịch nước lựa chọn và đề nghị để Quốc hội phê chuẩn.

    - Các cơ quan Toà án và Kiểm sát (hoặc Công tố) nên được tổ chức theo cấp xét xử. Chức vụ Thẩm phán và Kiểm sát viên (hoặc Công tố viên) nên do Chủ tịch nước bổ nhiệm.

    - Để bảo đảm hiệu quả hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, thiết nghĩ, Hiến pháp nên định rõ trong cùng một thời gian, không ai có thể vừa là thành viên của cơ quan lập pháp, vừa là thành viên của cơ quan hành pháp hoặc tư pháp. Hiến pháp cũng nên giới hạn số nhiệm kỳ của những người nắm giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước.

    - Đối với cơ quan chính quyền địa phương, chỉ nên thành lập Hội đồng nhân dân ở cấp tỉnh, còn cấp huyện và cấp xã chỉ nên thành lập cơ quan quản lý hành chính. Điều đó có thể giảm bớt sự cồng kềnh trong bộ máy nhà nước và cũng có thể tăng cường được hiệu quả quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, cần phải xây dựng một cơ chế hữu hiệu để giám sát hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương để ngăn chặn, hạn chế sự chuyên quyền, độc đoán và sự lạm quyền của các cơ quan này.

    - Về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nên chăng Hiến pháp chỉ cho phép cơ quan chính quyền cấp tỉnh trở lên mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, còn cơ quan quản lý cấp huyện và cấp xã chỉ có quyền ban hành văn bản hành chính để tổ chức thực hiện quy định của pháp luật, thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương và quản lý các lĩnh vực hoạt động của địa phương.

    Nguồn: Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Văn bản Hiến pháp là do các bộ óc lớn tầm cỡ quốc gia soạn thảo ra, sao mà có nhiều chỗ không hợp lý và "lẩm cẩm" thế? HP 1980 thì nói TQ là kẻ thù, hợp tác toàn diện với Liên xô. HP 1992 thì có chỗ lại như vừa là HP vừa là cương lĩnh của Đảng CS:" Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức." Hiện nay có các loại hình CN như công nhân quốc doanh, CN trong các công ty TNHH, CN trong các công ty liên doanh, CN trong các khu chế suất 100% vốn nước ngoài, CN tự do, vậy thì CN nào lãnh đạo (Đảng là đại biểu của CN)? 3 thành phần trên là nền tảng nhưng trong QH có 38 đại biểu là doanh nhân (không có đại biểu nào là công nhân thực thụ)vậy vai trò của doanh nhân như thế nào? Doanh nhân thuộc giai cấp nào? Lại còn các ông sư, các thầy tu, người buôn thúng bán mẹt, thợ cắt tóc...thì vai trò của họ như thế nào (ngoài CN,ND và trí thức)? Liên minh với g/c nông dân sao cướp ruộng đất của g/c nông dân để g/c nông dân phải cơm đùm cơm nắm, nằm bờ nằm bụi lên tận thủ đô biểu tình? Còn g/c công nhân thì lương không đủ sống, thế thì nền tảng ở chỗ nào? Hiện nay xã hội tạo ra loại người "hai trong một" giống như động vật lưỡng thể vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, đó là các vị đảng viên ( có khi là cán bộ có chức có quyền) mà lại làm giám đốc một công ty lớn.Lúc họp điều hành công ty thì ông ta là ông chủ, còn người làm thuê là công nhân, nhưng khi họp chi bộ thì ông ta là đảng viên và người công nhân cũng là đảng viên, nghĩa là hai ĐỒNG CHÍ họp với nhau, nhưng đồng chí (ông chủ) lại bóc lột đồng chí (là công nhân). Quái gở!! Hình như Đảng CS kéo lùi tiến trình tiến lên CNXH. "Cách mạng XHCN là cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong lịch sử loài người vì xóa bỏ chế độ người bóc lột người". Nay đảng viên được làm kinh tế tức được quyền bóc lột, tức là quay trở lại thời kỳ tư bản.Hội đồng lý luận TƯ và các giáo sư tiến sĩ ở trường Nguyễn Ái Quốc lý gải sao về hiên tượng này? Hay cứ ỉm đi cho qua chuyện để chỉ nhớ...lĩnh lương. Sao báo chí lề phaie không đưa vấn đề thảo luận HP mà chỉ thấy trên báo lề trái?

    Hân Hạnh viết:
    Bài này viết cụ thể hơn nhiều bài khác, tuy vậy vẫn giống bài trả lời đài nước ngoài của ông luật sư là còn miốn giữ ghế ( thì đó là miếng cơm manh áo, ai chả thế) nên có chi tiết mâu thuẫn, tức là vẫn thừa nhận điều 4 HP 1992. Ông Luật sư nói là Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp vào việc điều hành của Nhà nước. Bà PGS TS này thì lại đề xuất ý kiến :" Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khôn khổ của HP và pháp luật." Như vậy thì ai đề ra điều luật để Đảng hoạt động hay Đảng tự đề ra luật cho mình? Vừa đá bóng vừa thổi còi hay sao? Theo một ông TS khác (hình như là Bùi ...Sơn thì phải) thì pháp luật là thượng tôn mới đúng, nghiã là đảng phải hoạt động trong phạm vi HP và Pháp luật do nhà nước đề ra

    Đây tôi nghĩ chính là cái vướng nhất hiện nay. Ở nước ngoài chỉ có Đảng cầm quyền (tức là hôm nay cầm quyền, ngày mai xuống) thế mới là đúng qui luật, mới hợp với xu thế dân chủ. Còn mình Đảng lãnh đạo, đúng là vừa đá bóng vừa thổi còi. Người ta gọi là không có cạnh tranh. Nếu có ra đời Luật Đảng thì cũng chẳng có nghĩa lý gì, mình anh một sân luật ra đời làm gì. Cái này vừa rồi trên Viet-studies có đăng bài viết của nhà nghiên cứu Tống Văn Công rồi. Tôi nghĩ rất hay. Mời các bạn cùng tham khảo:
    http://www.viet-studies.info/kinhte/TongVanCong_ChiCoDangCamQuyen.htm

    Khách Hân Hạnh viết:
    ...
    Đảng là thành viên trong Mặt trận TQ như các đoàn thể khác nhưng Đảng lại lãnh đạo MTTQ đã là điều vô lý.

    Chính xác! Cũng như nếu Đảng lãnh đạo toàn diện xã hội thì việ quy định các tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là vô nghĩa bởi vì 'Đảng lãnh đạo toàn diện' sẽ có nghĩa là Đảng có thể chỉ đạo để lập ra những luật theo ý mình. Vì vậy hoặc là để điều 2 thì phải bỏ điều 4 hoặc là phải sửa lại điều 2. Nếu không muốn thì gộp chung lại thế này: "Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng" ha ha ha!!

    Khách Hân Hạnh viết:
    <>Có điều là theo HP 1946 thì quốc hiều là VNDCCH, theo HP đã sửa 1959 thì quốc hiều là CHXHCNVN. vậy sửa HP lần này thì Quốc hiệu sẽ là gì?

    Quốc hiệu CHXHCNVN ra đời là vào năm 1976. Quốc hiệu này được nêu lần đầu trong HP 1980, không phải là HP 1959.

    Nguyễn Thị Hồi viết:
    Các cơ quan Toà án và Kiểm sát (hoặc Công tố) nên được tổ chức theo cấp xét xử. Chức vụ Thẩm phán và Kiểm sát viên (hoặc Công tố viên) nên do Chủ tịch nước bổ nhiệm.

    Nên bổ xung thêm là 'và phải được QH phê chuẩn'. Sau đó các thẩm phán tòa thượng thẩm và Công tố viên chỉ tuân theo HP và luật pháp mà thôi.

    Cuối cùng theo tôi điều quan trọng nữa là phải loại bỏ cụm từ "theo quy định của pháp luật" ra khỏi HP mới.

    Trích dẫn:
    Ngoài ra, hiện nay, quan niệm về giai cấp rất khó xác định vì các lực lượng xã hội đã có sự biến động rất lớn theo thời gian. Có thể cùng một người vốn là nông dân, một thời gian sau nhập ngũ, hết nghĩa vụ về học đại học rồi trở thành giảng viên đại học, thành cán bộ, công chức hay nhân viên văn phòng thì xếp họ thuộc về giai cấp nào? Hoặc một công nhân, học lên cao đẳng rồi làm giám đốc doanh nghiệp, thì họ là trí thức hay công nhân?

    Cái ý của câu này đã được nêu ra vài lần trong các comments tranh luận về chủ nghĩa Mác với Thang Chap, Kép Tư Bền nhưng hình như là hai bác TC và Kép chưa có câu trả lời.

    Nay bà Nguyễn Thị Hồi, PGS.TS. Nguyễn Thị Hồi (Đại học Luật Hà nội), lại nêu ra, bác Kép Tư Bền có ý kiến gì không ?

    Trích dẫn:
    Thứ ba, việc Hiến pháp dành riêng Điều 4 để ghi nhận quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, ghi nhận “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là cần thiết và phù hợp với hoàn cảnh của nước ta.

    Nhà nước (chính phủ, quốc hội, tòa án) là cơ quan cao nhất trong hệ thống quyền lực và là của mọi người dân. Tại sao phải cần có đảng lãnh đạo mà không phải là nhà nước lãnh đạo ?

    Tại sao chủ tịch nước, chủ tịch QH, thủ tướng, chánh tòa án NDTC, VKSNDTC lại phải ở dưới quyền của một tổng bí thư ? Năm vị này của nhà nước, do dân bầu ra, không có quyền tự lãnh đạo hay sao ?

    Bài này viết cụ thể hơn nhiều bài khác, tuy vậy vẫn giống bài trả lời đài nước ngoài của ông luật sư là còn miốn giữ ghế ( thì đó là miếng cơm manh áo, ai chả thế) nên có chi tiết mâu thuẫn, tức là vẫn thừa nhận điều 4 HP 1992. Ông Luật sư nói là Đảng lãnh đạo nhưng không can thiệp vào việc điều hành của Nhà nước. Bà PGS TS này thì lại đề xuất ý kiến :" Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khôn khổ của HP và pháp luật." Như vậy thì ai đề ra điều luật để Đảng hoạt động hay Đảng tự đề ra luật cho mình? Vừa đá bóng vừa thổi còi hay sao? Theo một ông TS khác (hình như là Bùi ...Sơn thì phải) thì pháp luật là thượng tôn mới đúng, nghiã là đảng phải hoạt động trong phạm vi HP và Pháp luật do nhà nước đề ra. Ta hay nói Đảng thành ra hiểu chung chung quá. Đảng gồm các đảng viên, đảng viên là những con người cụ thể. Đã cùng là người thì phải bình đẳng với nhau, đều phải thực hiện những điều phấp luật quy định như nhau, không được thiên vị, có như thế mới tránh được việc siêu quyền lực. Đảng là thành viên trong Mặt trận TQ như các đoàn thể khác nhưng Đảng lại lãnh đạo MTTQ đã là điều vô lý. Có điều là theo HP 1946 thì quốc hiều là VNDCCH, theo HP đã sửa 1959 thì quốc hiều là CHXHCNVN. vậy sửa HP lần này thì Quốc hiệu sẽ là gì?

    Mọi sửa đổi Hiến pháp VN hiện hành mà không bác bỏ Điểu 4 đều là trò hề vô ích!

    Bởi vì, còn Điều 4 thì mọi điều khác của Hiến pháp, dù tốt đẹp đến đâu, đều sẽ không được thực thi (vì người ta chỉ thực thi Điều 4), và cả Hiến pháp chỉ là tờ giấy lộn, như thực tế hơn sáu mươi năm qua đảng CSVN đã chứng mình.

    Chỉ có viết lại Hiến pháp (loại ngay Điều 4) mới mở ra cơ hội mới cho Dân tộc. Mà đảng CSVN có chủ trương viết lại Hiến pháp không? Không bao giờ! Có nghĩa là đáng CSVN sẽ không bao giờ cho Dân tộc một cơ hội ngửng đầu lên, trừ khi nhân dân tự đứng lên giành lấy!

    Quá nhiều đề nghị sửa Hiến pháp, quá ít cái nhìn dũng cảm vào bản chất vấn đề. Vô hình chung lại gây nên hy vọng không có cơ sở cho người dân.

    Tôi không phản đói những đóng góp tâm huyết, nhưng chỉ xin có ý kiến như trên, mạo muội xin góp vào thôi.

    JLN