Võ Trí Hảo - Quyền của dân nên đặt ở vị trí nào trong hiến pháp?

  • Bởi Admin
    06/10/2011
    5 phản hồi

    Võ Trí Hảo

    Việc quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không được đặt lên hàng đầu mà là hàng thứ năm trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 là không tuân theo kỹ thuật trình bày, thể hiện hiến pháp của các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, việc sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động như “Nhà nước tạo điều kiện” dễ tạo cảm giác Nhà nước đang ban ơn cho công dân.

    Thông lệ chung: Bắt đầu bằng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

    Thông lệ quốc tế chỉ ra rằng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được đặt ở vị trí đầu tiên như Hiến pháp Đức, Pháp, hoặc vị trí thứ hai sau phần các quy định chung như Hiến pháp Nga, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Thông lệ này không chỉ đơn thuần phản ánh việc tôn vinh quyền lợi của nhân dân, mà nó còn phản ánh logic của kỹ thuật lập hiến mà một bản hiến pháp hiện đại cần tuân theo.

    Nếu nhân dân là người chủ của đất nước, là chủ thể thông qua hiến pháp đứng ra trao quyền cho nhà nước, thì trong quan hệ ủy quyền nhân dân chính là bên A còn nhà nước là bên B của hợp đồng ủy quyền(1). Và một logic xuyên suốt từ luật tư sang luật công là trong hợp đồng thì thông tin, quyền và nghĩa vụ của bên A bao giờ cũng được đề cập trước bên B.

    Trong một số trường hợp thì hai bên của hợp đồng còn đưa ra các nguyên tắc chung của hợp đồng. Phần các nguyên tắc chung này có thể mang các tên gọi khác nhau như “quy định chung” (general provisions) (2) như trong Hiến pháp Hàn Quốc, hoặc “những vấn đề cốt lõi của hệ thống hiến pháp” (fundermentals of constitutional system)(3) nhưng nó đều có chung chức năng: là các nguyên tắc mà dựa vào đó nhân dân trao quyền cho nhà nước. Việc tách các nguyên tắc chung của hiến pháp thành một chương riêng dẫn đến trong một số trường hợp quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định ở chương thứ hai thay vì ở chương thứ nhất.

    Việc Hiến pháp 1992 của Việt Nam quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở chương thứ năm làm cho Hiến pháp của chúng ta khác biệt không chỉ với các nước tiên tiến như Nga, Đức, Nhật, Mỹ, Pháp, Hàn Quốc. Ngay Trung Quốc (4), Cuba (5) cũng quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở chương II (sau chương “Các quy định chung”).

    Việc quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không được đặt lên hàng đầu mà là hàng thứ năm trong Hiến pháp 1992 là không tuân theo logic chung của kỹ thuật trình bày, thể hiện hiến pháp.

    Tư duy bao cấp pha trộn với Nho giáo

    Mặc dù chế độ bao cấp đã bị bãi bỏ, “nhà nước chuyên chính vô sản” trong Hiến pháp 1980 được thay bằng “nhà nước của dân do dân vì dân” trong Hiến pháp 1992, nhưng tư duy bao cấp trộn lẫn với tâm lý “quan phụ mẫu” theo nếp nghĩ Nho giáo vẫn còn xuất hiện nhiều trong Hiến pháp 1992, đặc biệt ngôn ngữ ban ơn vẫn được sử dụng trong nhiều đoạn của hiến pháp.

    Tư duy này thể hiện rõ nét nhất ở chương III (Văn hóa, giáo dục khoa học, công nghệ) và chương V (Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân). Chỉ đếm riêng trong hai chương này thôi thì cụm từ “nhà nước tạo điều kiện” được sử dụng tới tám lần.

    Điều 31 quy định “Nhà nước tạo điều kiện (1) để công dân phát triển toàn diện”. Điều 34 quy định “Nhà nước... tạo điều kiện (2) để mọi người được chăm sóc sức khỏe”. Điều 41 quy định “Nhà nước... tạo các điều kiện (3) để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quyền chúng”. Điều 59 quy định “Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (4) học tập để phát triển tài năng” và “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (5) cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phụ hợp”. Điều 63 quy định “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (6) để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Điều 66 quy định Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện (7) học tập, lao động và giải trí”. Điều 75 quy định “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện (8) để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam...”.

    Thay vì sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động theo công thức “Nhà nước tạo điều kiện cho công dân...”, nên chăng sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức bị động theo công thức “Công dân được hưởng các điều kiện...”. Và quan trọng hơn, đằng sau công thức này là nghĩa vụ của Nhà nước. Nếu các điều kiện sống cần thiết không được tạo ra trên thực tế cho công dân thì Nhà nước đã vi phạm nghĩa vụ hiến pháp.

    Hiện nay, việc sử dụng ngôn ngữ ở dạng thức chủ động như trong hiến pháp hiện nay làm cho người đọc có cảm giác Nhà nước đang ban ơn cho công dân. Và việc sử dụng ngôn ngữ thiếu chính xác này còn làm cho trách nhiệm của Nhà nước thiếu rõ ràng, vì nếu các điều kiện sống cần thiết không được tạo ra cho công dân, thì công dân biết kiện ai. Vì Nhà nước chỉ “tạo điều kiện” khi Nhà nước thấy thuận cho mình, còn Nhà nước không có nghĩa vụ đảm bảo các điều kiện này sẽ tồn tại.

    ______________________

    (1) Hiến pháp là khế ước xã hội giữa nhân dân với nhau, nhưng sau khi nhân dân đã cùng nhau thỏa thuận trao quyền cho nhà nước thì nhân dân trở thành một khối thống nhất đại diện cho bên trao quyền, còn nhà nước trong quan hệ mới này sẽ đóng vai trò là người được ủy quyền.

    (2) Xem Hiến pháp Hàn Quốc http://www.servat.unibe.ch/icl/ks00000_.html

    (3) Xem Hiến pháp Nga http://www.constitution.ru/en/10003000-01.htm

    (4) Xem Hiến pháp CHND Trung Hoa tại http://english.peopledaily.com.cn/constitution/constitution.html

    (5) Xem Hiến pháp Cuba tại http://www.cubaverdad.net/cuban_constitution_english.htm

    ______________________

    Dân Luận: Dưới đây là toàn bộ Chương V trong Hiến Pháp 1992 của Nước CHXHCN Việt Nam. Tuy đặt ở Chương V, nhưng nếu thực hiện được tất cả những hứa hẹn sau đây thì người dân nước ta cũng đã nở mặt nở mày lắm rồi, ví dụ "Tiểu học là bắt buộc, không phải đóng học phí" hay "Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật." hoặc "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân."

    CHƯƠNG V: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

    Điều 49

    Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.

    Điều 50

    ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.

    Điều 51

    Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.

    Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.

    Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.

    Điều 52

    Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

    Điều 53

    Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

    Điều 54

    Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

    Điều 55

    Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.

    Điều 56

    Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.

    Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

    Điều 57

    Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

    Điều 58

    Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.

    Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.

    Điều 59

    Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

    Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.

    Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.

    Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.

    Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.

    Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù hợp.

    Điều 60

    Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

    Điều 61

    Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.

    Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.

    Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.

    Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

    Điều 62

    Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật. Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật.

    Điều 63

    Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.

    Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.

    Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật.

    Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.

    Điều 64

    Gia đình là tế bào của xã hội.

    Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

    Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

    Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.

    Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.

    Điều 65

    Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

    Điều 66

    Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

    Điều 67

    Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.

    Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.

    Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.

    Điều 68

    Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

    Điều 69

    Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

    Điều 70

    Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

    Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

    Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

    Điều 71

    Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

    Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.

    Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.

    Điều 72

    Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

    Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

    Điều 73

    Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

    Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

    Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.

    Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.

    Điều 74

    Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.

    Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

    Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.

    Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

    Điều 75

    Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

    Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

    Điều 76

    Công dân phải trung thành với Tổ quốc.

    Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

    Điều 77

    Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

    Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.

    Điều 78

    Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng.

    Điều 79

    Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

    Điều 80

    Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.

    Điều 81

    Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

    Điều 82

    Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình, hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.

    Nguồn: http://laws.dongnai.gov.vn/1991_to_2000/1992/199204/199204180001

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Hoàn toàn có lý. Nội dung mới là quan trọng! Hình thức chỉ là cái bề ngoài thôi. Tác giả Võ Trí Hảo này nhầm lẫn hình thức và nội dung rồi.

    Lý Lan viết:
    Nguyễn Đức Vương viết:
    Đặt ở vị trí nào không quan trọng. Quan trọng là nội dung các quyền đó là cái gì và được bảo vệ, thực hiện trên thực tế ra sao. Tác giả nói nhưng chưa thuyết phục, tôi lấy ví dụ chẳng hạn Hiến pháp của Mỹ 1789 ban đầu 7 Điều làm gì có qui định quyền công dân, sau đấy mới bổ sung 10 Điều Tuyên ngôn nhân quyền (Bills of Rights) và các tu chính khác chứ. Nói như tác giả chẳng lẽ Hiến pháp Mỹ như thế là không dân chủ khi đặt các quyền đứng ở sau à. Tác giả nói chung tư duy rất máy móc và vẫn chưa chín chắn vấn đề khi viết ra.
    Điều quan trọng chính ở nội dung các quyền đó qui định ra sao, phạm vi bảo vệ đến đâu, khi bị xâm phạm thì người dân có cơ chế nào để bảo vệ. Cái đấy (tôi nghĩ) xem ra mới là điều quan trọng và quyết định, không phải là nó đứng ở đâu.

    Hay, lập luận rất thuyết phục! Tôi đồng ý với ý kiến của Nguyễn Đức Vương.

    Cuối cùng vẫn là yếu tố con người các bác ơi.

    Hiến Pháp có thể vẫn thiếu xót và chưa hoàn chỉnh nhưng nếu nhà cầm quyền giỏi và làm đúng trách nhiệm, họ sẽ thu thập ý kiến toàn dân và thay đổi, tạo ra những cơ chế, cơ quan sao cho thích ứng với mọi người và xã hội

    Ngược lại nếu họ chỉ chăm chăm vào việc bảo vệ lợi ích của một nhóm người nào đó, của đảng CSVN chẳng hạn, và đàn áp những công dân đòi hỏi sự thay đổi, thì đó không phải là hiến pháp nữa

    Thiết kế không có nghĩa là thẩm mĩ và cảm nhận như thế nào, mà là nó vận hành như thế nào (Design is not just what it looks like and feels like. Design is how it works).

    Steve Jobs

    Nguyễn Đức Vương viết:
    Đặt ở vị trí nào không quan trọng. Quan trọng là nội dung các quyền đó là cái gì và được bảo vệ, thực hiện trên thực tế ra sao. Tác giả nói nhưng chưa thuyết phục, tôi lấy ví dụ chẳng hạn Hiến pháp của Mỹ 1789 ban đầu 7 Điều làm gì có qui định quyền công dân, sau đấy mới bổ sung 10 Điều Tuyên ngôn nhân quyền (Bills of Rights) và các tu chính khác chứ. Nói như tác giả chẳng lẽ Hiến pháp Mỹ như thế là không dân chủ khi đặt các quyền đứng ở sau à. Tác giả nói chung tư duy rất máy móc và vẫn chưa chín chắn vấn đề khi viết ra.
    Điều quan trọng chính ở nội dung các quyền đó qui định ra sao, phạm vi bảo vệ đến đâu, khi bị xâm phạm thì người dân có cơ chế nào để bảo vệ. Cái đấy (tôi nghĩ) xem ra mới là điều quan trọng và quyết định, không phải là nó đứng ở đâu.

    Hay, lập luận rất thuyết phục! Tôi đồng ý với ý kiến của Nguyễn Đức Vương.

    Đặt ở vị trí nào không quan trọng. Quan trọng là nội dung các quyền đó là cái gì và được bảo vệ, thực hiện trên thực tế ra sao. Tác giả nói nhưng chưa thuyết phục, tôi lấy ví dụ chẳng hạn Hiến pháp của Mỹ 1789 ban đầu 7 Điều làm gì có qui định quyền công dân, sau đấy mới bổ sung 10 Điều Tuyên ngôn nhân quyền (Bills of Rights) và các tu chính khác chứ. Nói như tác giả chẳng lẽ Hiến pháp Mỹ như thế là không dân chủ khi đặt các quyền đứng ở sau à. Tác giả nói chung tư duy rất máy móc và vẫn chưa chín chắn vấn đề khi viết ra.
    Điều quan trọng chính ở nội dung các quyền đó qui định ra sao, phạm vi bảo vệ đến đâu, khi bị xâm phạm thì người dân có cơ chế nào để bảo vệ. Cái đấy (tôi nghĩ) xem ra mới là điều quan trọng và quyết định, không phải là nó đứng ở đâu.

    Trích dẫn:
    Trong một số trường hợp thì hai bên của hợp đồng còn đưa ra các nguyên tắc chung của hợp đồng. Phần các nguyên tắc chung này có thể mang các tên gọi khác nhau như “quy định chung” (general provisions) (2) như trong Hiến pháp Hàn Quốc, hoặc “những vấn đề cốt lõi của hệ thống hiến pháp” (fundermentals of constitutional system)(3) nhưng nó đều có chung chức năng: là các nguyên tắc mà dựa vào đó nhân dân trao quyền cho nhà nước. Việc tách các nguyên tắc chung của hiến pháp thành một chương riêng dẫn đến trong một số trường hợp quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định ở chương thứ hai thay vì ở chương thứ nhất.

    Xin được góp ý kiến theo tinh thần của tác giả nêu ra về tính chính xác của ngôn ngữ. Và bởi tác giả chú tiếng Anh cho rõ nghĩa nên góp ý cũng dựa vào cách này:

    Common: có nghĩa là "áp dụng chung" và thường được dịch ngắn gọn thành "chung". "Common law" = "luật chung".

    General: thường mang nghĩa là "chung chung", nhưng nếu dùng trong văn bản nghiêm chỉnh thì hơi kỳ, vì thế nên dịch là "tổng quát". "General provisions" = "các quy định tổng quát".

    Trong ngữ cảnh của bài nói về hai bên của hợp đồng, gồm A và B, nên đã mang tính "tổng quát" thì phải áp dụng "chung" cho cả hai. Nhưng e rằng việc "áp dụng chung cho hai bên" chỉ là một khía cạnh thôi, và có lẽ người ta viết "các quy định tổng quát" vì có thể chúng cũng được áp dụng cho các quy định hay điểu khoản khác ở mức chi tiết hơn.

    Tôi không phải chuyên gia về luật và ngôn ngữ, nên chỉ xin góp ý (chưa chắc đúng hay chính xác) như thế để diễn đàn thảo luận.