Trần Minh Khôi - Chuyện giáo dục (II)

  • Bởi Khách
    05/10/2011
    3 phản hồi

    Trần Minh Khôi

    Phần II: Giáo dục tư duy (và công cụ tư duy)

    Tư duy độc lập là trách nhiệm công dân. Sống trong xã hội thần dân, một người chỉ cần biết vâng phục quyền lực nhà nước thì người đó đã làm xong trách nhiệm xã hội của mình. Sống trong xã hội công dân, một người không thể hiện được vị trí độc lập với nhà nước thì không làm tròn trách nhiệm xã hội của mình. Kỹ năng tư duy giúp cho công dân làm tròn trách nhiệm xã hội của họ.

    Nói đến tư duy là nói đến ngôn ngữ. Con người tư duy với ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tư duy. Kỹ năng tư duy do đó là kỹ năng ngôn ngữ. Phương pháp giáo dục mới phải chú trọng đến việc trang bị cho công dân một vốn liếng ngôn ngữ đủ để họ thực hiện trách nhiệm công dân của họ. Vốn liếng ngôn ngữ này bao gồm, và không giới hạn bởi, kỹ năng đọc và viết, kỹ năng lý luận, kỹ năng trình bày một quan điểm (hay ý niệm trừu tượng), kỹ năng lắng nghe và hiểu một quan điểm (hay ý niệm trừu tượng) được trình bày bởi người khác, kỹ năng thảo luận. Học sinh của chúng ta hiện nay đang gặp phải những khủng hoảng nghiêm trọng về các kỹ năng này.

    Công cụ tư duy chính của chúng ta là Tiếng Việt. Cần phải xem xét lại cách học và dạy tiếng Việt hiện nay. Tiếng Việt trong các chương trình giáo dục của chúng ta chỉ dùng lại ở mức độ phổ cập, nghĩa là chỉ vừa đủ để đọc văn bản. Trên thực tế, học sinh đã ngừng học Tiếng Việt từ rất sớm. Phần lớn thời gian học tập của họ là học kiến thức được chuyển tải qua Tiếng Việt chứ không chú trọng đến học Tiếng Việt.

    Hiện nay Tiếng Việt chưa chuyển tải hết kiến thức và tư duy của nhân loại. Rất nhiều lãnh vực của công nghệ, học thuật, kinh nghiệm, cả cổ điển và hiện đại, chưa có mặt trong Tiếng Việt. Cố gắng chuyển tải kiến thức nhân loại sang Tiếng Việt trong hơn một trăm năm nay, ngoài phần Chủ nghĩa Marx-Lenin, phụ thuộc chủ yếu vào cố gắng cá nhân. Do đó, chúng vừa thiếu sót, vừa thiếu đồng bộ, thiếu cân bằng (chưa nói đến chuyện sai lạc). Sự giới hạn này đặt ra một thử thách rất lớn cho không gian tư duy Tiếng Việt. Nếu một người chỉ biết tư duy bằng Tiếng Việt thì người đó bị giới hạn trong không gian này. Cái nhìn ra thế giới qua lăng kính Tiếng Việt là một cái nhìn đầy thiếu sót và hạn chế. Phải mất ít nhất là nửa thế kỷ để có thể chuyển tải phần quan trọng của kiến thức nhân loại sang Tiếng Việt. Do đó, việc trang bị một ngôn ngữ ngoài Tiếng Việt trở nên thiết yếu: nó giúp mở rộng không gian tư duy. Tiếng Anh là lựa chọn tốt nhất.

    Việt Nam là một quốc gia mà ở đó phần lớn công dân của nó không đọc được sách sử của cha ông để lại. Đây là một bi kịch lớn, mà càng lúc càng có nhiều người nhận ra. Phần lớn chúng ta đọc thơ văn Lý Trần, đọc Bình Ngô Đại Cáo, đọc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư qua bản dịch. Không đọc được sử của cha ông, chúng ta buộc phải đọc sử qua bản dịch của người khác. Chúng ta mù nên phải nhìn quá khứ qua con mắt của người khác (và phần lớn những người này cũng mù nên phải nhìn qua mắt của của người khác nữa). Chúng ta đoạn tuyệt với tư duy của cha ông mình. Một thế kỷ loạn lạc vừa qua có phần đóng góp của tình trạng vong thân đó. Việc đưa chữ Hán-Nôm trở lại với trường học là một việc cấp bách. Nó giúp mở rộng không gian tư duy của chúng ta về lại với không gian tư duy của cha ông mình.

    Quốc gia Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc, đa ngôn ngữ. Sự khác biệt của ngôn ngữ có tính sắc tộc hoặc vùng miền thể hiện sự đa dạng của tư duy. Sự đa dạng đã làm nên quốc gia Việt Nam hiện đại này cần phải được bảo tồn và phát triển. Ngôn ngữ sắc tộc và ngôn ngữ vùng miền cần phải được khuyến khích và đưa vào chương trình giáo dục chính thức.

    Bên cạnh đó, các ngôn ngữ tư duy khác như hội họa, âm nhạc, toán học phải có những chổ đứng xứng đáng trong các chương trình giáo dục. (Cùng với Hán-Nôm, âm nhạc cổ truyền đóng một vai trò quan trọng trong cố gắng nối liền tư duy hiện đại và tư duy truyền thống. Vẫn là bi kịch của sự vong thân: phần lớn chúng ta không biết đến nhạc của cha ông mình.)

    Nói tóm lại, trong một xã hội công dân, nếu giáo dục không làm tròn sứ mệnh trang bị cho công dân những công cụ tư duy cần thiết để họ có khả năng thực hiện trách nhiệm công dân thì nền giáo dục đó thất bại. Các chương trình giáo dục mới do đó phải đặt nặng về ngôn ngữ. Học là học chữ, học tư duy. Khi công dân được trang bị đầy đủ các công cụ tư duy thì họ sẽ làm chủ cuộc sống của họ, làm chủ đời sống quốc gia, họ sẽ tự đặt ra các tiêu chuẩn đạo đức và giá trị cho chính họ. Tiên học văn, và trong tiến trình “học văn” đó mỗi công dân sẽ tự học lễ cho chính họ. Đó là lộ trình giáo dục đưa con người đến tự do. Đó là sứ mệnh của giáo dục.

    Phụ chú về học Hán-Nôm

    Không biết sử thì không thể bàn chuyện quốc gia. Đó là lời khuyên của Lý Đông A. Một hệ luận trực tiếp của lời khuyên này là không biết Hán-Nôm thì khó có thể bàn chuyện quốc gia vì không biết Hán-Nôm thì khó có thể thật sự biết sử. Học Hán-Nôm, ngoài nhu cầu mở rộng không gian tư duy về lại với quá khứ của cha ông như đã nói ở trên, trở nên một nhu cầu thiết yếu trong việc xây dựng ý thức quốc gia. Tình yêu quốc gia, ước vọng và ý chí phục vụ quốc gia, như đã nói đến trong phần “tư duy giáo dục”, bắt nguồn từ đó.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    "Việc đưa chữ Hán-Nôm trở lại với trường học là một việc cấp bách. Nó giúp mở rộng không gian tư duy của chúng ta về lại với không gian tư duy của cha ông mình". Chữ Hán-Nôm là chữ Trung quốc đó hả ???

    "Hiện nay tiếng Việt chưa chuyển tải hết kiến thức và tư duy của nhân loại. Rất nhiều lãnh vực của công nghệ, học thuật, kinh nghiệm, cả cổ điển và hiện đại, chưa có mặt trong tiếng Việt. Cố gắng chuyển tải kiến thức nhân loại sang tiếng Việt trong hơn một trăm năm nay, ngoài phần Học thuyết Marx, phụ thuộc chủ yếu vào cố gắng cá nhân. Do đó, chúng vừa thiếu sót, vừa thiếu đồng bộ, thiếu cân bằng (chưa nói đến chuyện ngộ nhận). Sự giới hạn này đặt ra một thử thách rất lớn cho không gian tư duy tiếng Việt. Nếu một người chỉ biết tư duy bằng tiếng Việt thì người đó bị giới hạn trong không gian này. Cái nhìn ra thế giới qua lăng kính tiếng Việt là một cái nhìn đầy thiếu sót và hạn chế. Phải mất ít nhất là nửa thế kỷ để có thể chuyển tải phần quan trọng của kiến thức nhân loại sang tiếng Việt. Do đó, việc trang bị một ngôn ngữ ngoài tiếng Việt trở nên thiết yếu: nó giúp mở rộng không gian tư duy. Anh ngữ là lựa chọn tốt nhất."