Bùi Tín - Về tượng đài "Bà Mẹ Anh Hùng"

  • Bởi Hồ Gươm
    06/10/2011
    2 phản hồi

    Bùi Tín viết riêng cho VOA

    Phác thảo Tượng đài bà Mẹ Việt Nam Anh hùng

    Vấn đề xây dựng tượng đài “Bà Mẹ Anh Hùng” ở tỉnh Quảng Nam đang được bàn luận sôi nổi ở trong và ngoài nước. Theo dự định đây là một bức tượng đài hoành tráng, tạc vào một ngọn núi tự nhiên, hình nửa người một bà mẹ Việt Nam, dựa vào hình ảnh một bà mẹ có thật - mẹ Thứ có chồng và nhiều con cháu bỏ mình trong chiến tranh.

    Những người chủ trương dựng tượng rất tự hào khoe rằng đây sẽ là tượng đài không những đồ sộ nhất nước ta, mà còn là nhất cả khu vực Đông Nam Á. Họ so sánh bức tượng này với bức tượng Bà Mẹ Tổ Quốc trên đỉnh đồi Mamaép ở Stalingrad (Nga), đánh dấu cuộc chiến đấu kiên cường chống bọn phát xít Hitler trong Thế chiến II.

    Một điểm khiến dư luận băn khoăn là chi phí cho bức tượng này quá lớn, dự định ban đầu là 81 tỷ đồng, nay được nâng lên đến 410 tỷ đồng, bằng hơn 10 triệu đôla Mỹ.

    Bức tượng đã được khởi công ngày 27 tháng 7 năm 2007.

    Một ý kiến chung rất phổ biến là lúc này đất nước còn nhiều khó khăn, trong xã hội có nhiều gia đình thiếu thốn, nhiều cụ già không nơi nương tựa, ngay các bà mẹ có con bỏ mình trong chiến tranh có người sống cơ cực, đi bán vé số, đi nhặt rác thì, có nên hay không, bỏ một số tiền quá lớn như thế cho một việc không có lợi gì thiết thực, chỉ có ý nghĩa tuyên truyền. Làm việc này chẳng khác gì nhà nghèo chơi ngông, bày chuyện nuôi voi trong vườn nhà. Nên dành số tiền lớn ấy cho những công việc thiết thực cho dân sinh, như làm nhà cho dân nghèo, giúp đỡ người già, người tàn tật, neo đơn, xây trường học, làm cầu ở vùng núi cho các em đi học không phải bơi qua sông, rất nguy hiểm.

    Có ý kiến cho rằng nền văn hóa - nghệ thuật xây dựng tượng đài của ta còn thô sơ, chưa có tượng đài nào có giá trị thẩm mỹ cao như ở một số nước khác, những tượng đài hiện có đều thiếu cái “thần” tinh túy để truyền cảm. Năm 2004 khánh thành tượng đài Điện Biên Phủ nhân kỷ niệm 50 năm sự kiện này, thì ngay sau đó tượng bị lún, bị nghiêng, bị chảy nhựa xanh vàng vì đồng kém chất lượng, do tham nhũng, nay để hay bỏ đi đều khó xử.

    Nhà văn hóa Nguyên Ngọc rất có lý khi nêu rõ tượng quá lớn, bộ mặt quá to là ngược hẳn với bản chất cao quý, thầm lặng, khiêm tốn của các bà mẹ Việt Nam.

    Ông cho rằng một bức tượng quá khổ đến dị dạng sẽ trái ngược, xa lạ với tinh thần chắt chiu, tần tảo, lặng lẽ vô danh là bản chất của người Mẹ Việt Nam. Ông còn hài hước rằng đi đêm nhìn lên bức tượng như thế sẽ có người sợ hãi phát hoảng.

    Cuộc thảo luận còn đi xa hơn những điểm trên đây, đề cập đến bản chất chân thực của cuộc chiến tranh, đến suy nghĩ, tâm tư thầm kín của các bà mẹ đã có con bỏ mình trong chiến tranh. Tôi có bà chị ruột và một bà chị con ông bác ruột đều có con sinh Bắc tử Nam, chết ở tuổi 20 khi do học giỏi đã được gọi vào đại học, nhưng vẫn phải cầm súng vào Nam theo cưỡng ép của lãnh đạo. Tôi hiểu rõ tâm lý của 2 chị tôi. Ngay hồi ấy, năm 1967, 2 bà đã đau lòng không muốn cho con đi xa, huống chi là đi vào nơi các em phần lớn là không có ngày trở về, nhưng vẫn phải nuốt nước mắt xé lòng, tan nát ruột gan mà gượng cười. Sức ép của tuyên truyền, loa đài, của xã hội, của nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản thật ghê gớm. Sau 30-4-1975 các bà chị tôi vào tận Quảng Ngãi, Bình Định tìm xác con mà không sao thấy. Các bà gặp được 4 bà chị em ruột khác ở Sài gòn, từ Hà Nội vào từ hồi 1954, từ đó tự hòa hợp hòa giải với nhau tự nhiên, lập tức.

    Từ đó tôi hiểu rõ qua 2 chị tôi là nhiều bà mẹ Việt Nam sớm nhận ra rằng bản thân mình và con mình, gia đình mình, đồng bào mình đều là nạn nhân, bị lợi dụng lòng yêu nước để thỏa mãn tham vọng riêng của đảng CS là nắm độc quyền cai trị, do đó chế độ hiện tại ở cả nước còn kém xa chế độ ở miền Nam trước đây về dân chủ, tự do, nhân quyền, cả về công bằng xã hội.
    Do đó theo tôi nghĩ, một bức tượng chân thực bà mẹ Việt Nam nên là một bà mẹ giương đôi mắt, mở to miệng, thét lớn: “Trả con tôi đây! con tôi bị chết oan!”.

    Các bà mẹ ấy hiểu rõ rằng con các bà khi hy sinh đều nghĩ rằng tổ quốc sẽ có độc lập, dân ta sẽ có tự do. Nếu các con của các Mẹ biết trước rằng họ sẽ nhượng đất, nhượng biển, đảo cho quân bành trướng, và họ sẽ đàn áp, đạp giày vào mặt người yêu nước, thì con các bà không bao giờ hy sinh mạng quý của mình nhẹ nhàng như thế. Họ là nạn nhân của tham vọng đảng phái.

    Do vậy một bức tượng cực lớn như dự định chỉ là một sự khiêu khích đối với các bà mẹ chân chính yêu nước, yêu con, cùng là nạn nhân của đảng CS

    Vẫn chưa hết. Đất nước đã thống nhất về lãnh thổ nhưng chưa hòa hợp về tinh thần và chính trị như đảng CS đã hứa. Việc phong anh hùng cho các bà mẹ chiến sỹ miền Bắc và vẫn đố kỵ với các bà mẹ chiến sỹ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam là một việc làm thiếu đạo lý và công bằng, một sai lầm dại dột về chính trị, một lần nữa hạ nhục các bà mẹ chiến sỹ đáng kính ở miền Nam. Chỉ xin dẫn ra một thí dụ, bà Mẹ của liệt sỹ Ngụy Văn Thà từng cùng đồng đội chống trả dũng cảm quân bành trướng Trung Quốc cuối năm 1974 ở Hoàng Sa có nên được coi là bà Mẹ Anh hùng Việt Nam không? Có quá đi chứ.

    Do đó có thể tóm tắt rằng: bức tượng đài hoành tráng to nhất Đông Nam Á…chỉ là một sự việc mù quáng, một dịp làm tiền của các quan chức và bộ hạ tham nhũng, một sáng kiến chính trị tối tăm vô duyên có hại, một công trình dị dạng thô xấu về thẩm mỹ. Dù cho đang làm dở dang cũng cần sớm chấm dứt.

    Bùi Tín

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Huyền thoại về "Bà Mẹ Anh Hùng" ở Quãng Nam như tôi biết nó không đẹp và cao thượng như theo được thêu dệt, nhưng còn là câu chuyện của quê hương trong qúa khứ nên xếp lại vì những đau thương mà những gia đình trong cuộc đang còn mang cho đến hôm nay muốn quên đi.

    Quê tôi ở xứ Quãng Nam vào những năm đầu của thập niên 1960, chú tôi đang đi học ở Đà Nẳng thì cán bộ công sản nằm vùng dụ được chú bỏ nhà đi thoát ly lên núi theo Việt Cộng. Vì chú tôi đi nên bà nội tôi quyết ở lại trong trong quê Điện Ngọc (xưa gọi là Thanh Thủy) chờ chú tôi về mà không ra thành phố sống dưới chánh quyền VNCH cho được an ninh và an toàn.

    Vì chiến tranh tàn khốc ở quê nên cha mẹ tôi dọn ra Đà Nẳng để tránh bom đạn. Các cô, các bác và các chú tôi cũng vậy, đều ra Đà Nẵng để sống an toàn. Nhưng bà nội nhất định ở lại trong quê, vùng do Việt Cộng kiểm soát để có lúc gặp lại được người chú đi thoát ly.

    Cũng rất may cho chú tôi là đi theo VC sớm vào năm 1960/1961 nên không bị giữ lại ở Điện Ngọc làm du kích mà lên núi rồi nhập với bộ đội Bắc Việt nên đến 30/04/75 chú tôi vẫn còn sống sót. Nếu đi du kích trong làng thì chú tôi đã 100% chắc bị bắn chết rồi.

    Trong suốt thời gian gần 15 năm mà bà nội tôi ở lại trong quê chịu bao nhiêu sự kinh hải khủng khiếp của những trận đánh, đạn bắn, bom rơi, mìm nổ, pháo kích xãy ra ngay trong làng, ngay trong nhà của bà, nhưng may thay là bà tôi không bị đạn chết đi mà vẫn còn sống đến ngày chú tôi trở về.

    Trong 15 năm đó bà tôi có gặp lại chú tôi 3 lần, nhưng mỗi lần đều không ở Điện Ngọc mà ở đâu trên núi Bồ Bồ. Mỗi lần bà tôi phải đi bộ một hai ngaỳ mới tới, qua bao nguy hiểm mới đến chổ hẹn gặp.

    Đối với tôi bà nội tôi là tiêu biểu bà mẹ Việt Nam thương con không bờ bến vì thế nên bà đã ở lại trong quê và cũng nhờ vậy mà tôi biết ra được những trường hợp điển hình của sự làm nên “Bà Mẹ Anh Hùng” đã xảy ra như thế nào ở quê tôi trong thời kỳ chiến tranh.

    “Bà Mẹ Anh Hùng” theo tôi hiểu là bà mẹ có thật nhiều con hay toàn bộ con cái (có khi gần 10 đứa) đã hy sinh.

    Câu chuyện thường bắt đầu với một người con trai trong gia đình của bà mẹ anh hùng bị VC nằm vùng trong làng bắt đi mất trong một đêm tối. Chừng 3 hay 4 tuần sau thì cậu con trai này trở về làng với súng AK47 trên vai làm du kích trong làng. Những ngày đầu thì còn mang AK nhưng sau đó thì được mang carbin là may vì như thế cán bộ VC có lý do kích động lấy súng của địch làm súng của mình.

    Nếu anh du kích này may mắn sống sót được vài tháng trong làn đạn của lính Mỹ và VNCH đóng ở quốc lộ gần đó thì bất thình lình anh bị đưa qua làm du kích ở làng khác. Trong thời gian này cán bộ VC đến nhà bà mẹ anh hùng hối thúc gia đình cho những đứa con khác theo du kích.

    Nếu anh du kích đầu tiên của bà mẹ nay đã hy sinh (đến lúc này thì chắc đã hy sinh) thì sự thôi thúc từ VC sẻ là để trả thù cho con, cho anh, cho chị. Và cứ như thế tất cả con cái của bà đều hy sinh cho đến hết.

    Cái khổ nạn không phải chỉ dừng ở đó mà còn thêm nưã vì một khi gia đình đã có vài đứa con đi du kích hy sinh thì trở nên được tin cậy và trở thành cơ sở với hầm bí mật trong nhà, rồi phaỉ nuôi cơm cán bộ VC trong nhà. Việc này đã dẫn đến thảm cảnh trong chiến dịch Phượng Hoàng sau tổng công kích tết mậu thân 1968.

    Chiến dịch Phượng Hoàng đã bắt và phục kích giết được nhiều VC nằm vùng và vì vậy có những bà mẹ anh hùng bị VC thủ tiêu, xử bắn oan vì VC nghi là bà mẹ đã làm chỉ điểm cho VNCH hay CIA.

    Ngày nay nhiều bà mẹ anh hùng tôi gặp, họ không muốn nhắc tới chuyện xưa nưã.

    Riêng bà nội tôi nay đã qua đời. Sau khi chú tôi trở về bà không muốn ai trong gia đình nhắc lại chuyện chú tôi đã theo VC. Bà chết hạnh phúc vì chú tôi còn sống trở về.

    Trong những ngaỳ giổ chú tôi vì đã theo VC nên rất lạc lõng và xa lạ trong đại gia đình dù con cháu trong nhà trong bàn giổ không đề cập đến việc xâm lăng của Trung Cộng năm 1979, chuyện Hoàng Sa, Trường Sa, chuyện ngư dân bị Trung Cộng bắn giết, chuyện cho Trung Cộng thuê rừng đầu nguồn. Aỉ Nam Quan V.V.

    Chú tôi sống như người đã chết.

    Có lần tôi an ủi chú tôi như thế này: "Chú cứ nghỉ là chú đã đền nợ nước. Còn chuyện liên cang đến Trung Quốc chú đã không làm”.

    Các bác nào ở VN, viết một kiến nghị gởi cho chính phủ và quốc hội đi.
    Hoặc đình chỉ hoặc làm chi phi vừa phải theo khả năng xã hội hiện nay và nghiên cứu mỹ thuật tốt hơn