Xích Tử - Những chuyện kỳ cục của vài người Nam Bộ

  • Bởi Khách
    30/09/2011
    2 phản hồi

    Xích Tử

    Tuổi thơ, qua đọc, học từ nhà trường, sách báo, trong tôi đầy ắp những tưởng tượng về Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây), với những cánh đồng bạt ngàn bát ngát cò bay thẳng cánh, mênh mông sông nước, chằng chịt kinh rạch với vô vàn tôm cá, trăn rắn, xanh ngút ngát những rừng tràm rừng đước; với những con người Nam Bộ như Võ Tòng đả hổ, những kẻ “kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” hào phóng, trọng nghĩa khinh tiền tài, ghét thói mạt, những trang võ nghệ, những bậc tài tử… cải lương.

    Sau này lớn khôn dần, lọc qua lớp màng tưởng tượng trẻ thơ và hư cấu ấy, được “mục sở thị” và kiểm tra lại, tôi thấy những cái ấy phần lớn là có thật. Lịch sử, địa dư, cảnh quan đó tổng hợp thành không gian văn hoá Nam Bộ, đẫm vào tính cách Nam Bộ mà khái quát có thể nói là cái văn hoá mang theo từ thời “đi mở cõi” ở cấp độ quan phương, cộng với kiếu cách sống của khối hợp cư giang hồ tứ chiếng, kể cả người Hoa, người Khmer cùng những yếu tố của đời sống tinh thần hình thành thích nghi với địa dư sông nước, đồng bằng, những sự kiện, biến động lịch sử suốt 3 thế kỷ.

    Trong văn hoá ấy, yếu tố Việt vẫn là chủ đạo; trước hết, đó là tiếng Việt. Có thể có những biến âm địa phương, từ vựng địa phương dẫn đến sai chính tả do những cái địa phương ấy, song cái nền qui chiếu giá trị ngôn ngữ học của hệ thống tiếng Việt (chính tả, từ ngữ, ngữ pháp) vẫn là chung cho tất cả các vùng người Kinh trong cả nước, kể cả Nam bộ. Những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt vẫn được bảo tồn, dẫn dắt, điều chỉnh đời sống hàng ngày của người Nam bộ.

    Song bên cạnh đó vẫn rất nhiều cái khác, cái đặc thù. Cụ Nguyễn Đình Chiểu đã mang cái chất thanh tao, mượt mà như lụa của Huế vào Nam bộ để thành câu thơ rất thật thà “Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò”, chẳng hạn. Các vùng miền khác tôn trọng những đặc thù này, đôi khi với thái độ xem đó như sự tồn tại nét erotic, ngồ ngộ trong một vùng văn hoá. Lịch sử, qua nhiều chế độ chính trị - triều Nguyễn, thực dân pháp, nhà nước VNDCCH, VNCH, CHXHCNVN đều có những chính sách riêng cho Nam bộ. Sau 1975, ở Nam bộ vẫn tồn tại đơn vị hành chính “ấp” và chưa tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp đại trà như ở miền Trung.

    Tuy nhiên, sư kỳ cục của vài người Nam bộ cũng là do những nét đặc thù này, khi họ tự hào về nó, cố bảo vệ nó, dù nó vụng và sai (tức là bảo thủ). Ví như, dù ngôn ngữ chính tả thống nhất, đặc biệt là trong văn bản nhà nước, cho đến nay, người miền Nam vẫn phát âm và viết “hành chánh”, “tài chánh” thay cho “hành chính”, “tài chính”. Dĩ nhiên, đây là hiện tượng bắt đầu từ biến âm địa phương (bệnh/bịnh, lệnh/lịnh, đinh/đanh, mênh mông/minh mông…), song với trường hợp chính/chánh thì đã ảnh hưởng đến ngữ nghĩa vì trong tiếng Việt toàn dân, chánh (trong cặp đối lập chánh/phó) khác với chính (trong cặp đối lập chính/phụ) và từ tố Hán Việt “chính” (政)với nghĩa “xử lý, làm cho ngay/ việc nhà nước).

    Sự kỳ cục đó cũng biểu hiện trong sự chân thành, thật thà đến lạ của vài người. Chẳng hạn, sau ngày Bác Hồ mất (2/9/1969), chỉ ở Nam bộ người ta mới lập đền thờ; đầu tiên là ở xã Lương Tâm (Cần Thơ), sau đó, nhất là sau 1975, nhiều nơi lập đền. Chỗ đáng nói là ở những “đền”, Bác Hồ được thờ phụng, cúng kiến như một đối tượng tâm linh, tín ngưỡng, linh thiêng hẳn hoi; mọi người thành tâm tin rằng Bác là một vị thánh thần và đến đó như đến một thiết chế tôn giáo cộng đồng.

    Có dạo, vài năm sau đổi mới, báo chí có đưa tin việc một nam diễn viên điện ảnh Hàn Quốc sang Sài Gòn để giao lưu với khán giả Việt Nam. Buổi giao lưu, trời mưa, nhưng có rất nhiều fan, là phụ nữ đã có chồng con, đã đến, đứng dưới sàn sân khấu, hôn chân diễn viên và khóc. Tôi đoan rằng đó là người Nam bộ; số này cũng rất mê tiểu thuyết của bà Tùng Long.

    Một vài người Nam bộ, thường biểu hiện thái độ không vọng ngoại rất rõ ràng. Có dịp đi công tác nước ngoài với họ, tôi thấy họ chẳng xem trọng sở tại gì cả, trừ giao thông, an ninh. Trong khách sạn, người ta đi to nói lớn nhậu nhẹt như ở nhà mình; các hành vi nghi thức với người sở tại cũng thường bị bỏ qua.

    Tuy nhiên, họ lại rất “mê tín” người Bắc; ở các đài phát thanh, truyền hình, nhiều năm trước đây, đa số phát thanh viên đều nói giọng Bắc. Từ thời rộ lên các dự án kinh tế (đầu tư, xây dựng hạ tầng, khoa học công nghệ…), kể cả những mô hình thí điểm cải cách kinh tế xã hội, Nam bộ rất hút các “chuyên gia” từ miền Bắc vào. Xe ôtô biển số 29, 30, 31 dập dìu khắp Nam bộ (chuyện này còn nhiều nguyên nhân lịch sử, quản lý kinh tế khác).

    Và gần đây, lại có hai việc kỳ cục xảy ra cùng trong một thời gian ngắn, ở hai địa phương rất gần nhau. Việc thứ nhất, một ông Phó ban trực Ban phòng chống tham nhũng Thành phố Cần Thơ (tương đương Phó Giám đốc Sở) in chức danh trên bì thiếp mời đám cưới con. In chức danh, học hàm, học vị, quân hàm… trong trường hợp như vậy đã là ngố; ở đây lại là in một chức danh ở một cơ quan nhạy cảm thì hình như dụng ngố vi lợi.

    Việc thứ hai, ông Phó công an huyện Giồng Riềng (Kiên Giang) gởi công văn (loại thông báo) đến các cơ quan trong ngành, trong địa phương báo đám tang cha ông Trưởng công an huyện với trích yếu dưới tiêu ngữ Thông báo “về việc tin buồn”.

    Cả hai vị đó, với cấp chức như vậy, chắc chắn là đã có trình độ đại học; thậm chí với ngành công an, có thể là thạc sĩ (vì ngành này đang đẩy mạnh trí thức hoá với chỉ tiêu được giao cho địa phương từ các cơ sở đào tạo của ngành). Về chính trị, có thể hai vị đều đã qua cao cấp chính trị; và tuổi đời đã trên dưới 50. Với ông Phó công an huyện, có lẽ trong những ngày đó cũng nghe thông tin về ông Phó ban chống tham nhũng. Tất cả nhứng chi tiết giả định ấy đều góp phần loại trừ khả năng họ vô ý vi phạm. Chỉ còn cách giải thích rằng những cái ấy là bình thường trong cả nước ở thời đại này nhưng với người khác người ta kín hơn, biết dấu đi; còn những vị này thì lại thật thà một cách kỳ cục của người Nam bộ.

    Tất nhiên đó chỉ là chuyện của vài người.

    Xích Tử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    1. Nếu cho rằng người miền Nam bảo thủ khỉ sử dụng những âm, chữ0 đặc trưng miền Nam thì cũng có thể cho rằng người Bắc cố chấp khi tiếp tự sử dụng lẫn lộn những âm, chữ như "l" và "n", "tr" và "ch", "d";gi"và"r"....Cho nên tùy góc độ mà nhìn nhận, miền Bắc đóng vai trò kẻ chiến thằng, vai trò kẻ áp đặt được chuẩn mực về nhiều lĩnh vực chính trị, văn hóa, ngôn ngữ,...cho nên khá nhiều người Bắc vẫn vỗ ngực tự cho ta là chuẩn mà không biết rằng mình cũng vẫn khư khư cái sai của bản thân rảnh rành. Riêng ở góc độ một người Nam như tôi thì tôi rất tự hào tiếp tục sử dụng ngôn ngữ đặc trưng như vậy vì tôi thấy đó là một cách giữ gìn bản sắc, giữ gìn đặc trưng của văn hóa miền Nam và cũng như là bảo tồn được sự đa dạng của tiếng Việt. UNESCO hằng năm vẫn báo động vê sự mất đi cũng nhiều hệ ngôn ngữ trên thế giới, mà sự suy giảm về đa dạng ngôn ngữ cũng là dấu hiểu chỉ ra về sự suy tàn của các nền văn hóa.
    2. Người miền Nam không hề "sùng tín" người Bắc, từ chế độ VNCH Diệm-Thiệu là người Bắc di cư, cho đến chính quyền CS sau 75 sau này đều cố gắng xây dựng cơ cấu quyền lực cũng nhưng phân chia quyền lợi cho người Bắc, với chính quyền Diệm thì là gia đình trị và công giáo Bắc Kỳ di cư, với chính quyền CS thì đó là người người Bắc XHCN sớm giác ngộ, trung thành và kiên định với lý tưởng CS, cho nên mọi lĩnh vực từ chính trị cho đến kinh tế, văn hóa, truyền thông, giáo dục,...đều thay thế bằng người Bắc và loại bỏ người miền Nam đến hết mức có thể. Với mức độ thống trị bao trùm như vậy dễ tạo cảm giác và sinh ra những nhận định hời hợt rằng người miền Nam "sùng tín" miền Bắc, đặc biệt là với người nước ngoài và những người miền Bắc có phẩn ảo tưởng và tự cao tự đại.

    Thưa bác Xích Tử,

    Theo tôi, việc trong tiếng Việt, tiếng miền Nam có một số từ được người dân phát âm và viết khác đi nhưng vẫn cùng nghĩa với từ Bắc gốc, hình thành dần trong suốt hơn 300 năm mở mang về Nam của dân ta như các cặp từ: chính/chánh, thịnh/thạnh, phúc/phước, Cả/Hai... rồi: đinh/đanh, tính/tánh, bệnh/bịnh, lệnh/lịnh... không phải là chuyện kỳ cục của người Nam Bộ đâu, mà đều có lý do lịch sử và văn hoá.

    Có hai lý do chính là nguồn gốc của hai nhóm từ Nam mới:

    Lý do lịch sử và tâm linh cho nhóm các từ Cả => Hai, Chính => Chánh, Phúc => Phước, Thịnh => Thạnh... Là vì người Nam xưa là dân mở cõi sỗng xa vua cả về khoảng cách lẫn tinh thần, gần như ban đầu không có vua cai quản họ, chỉ có Cha Cả, có Chúa Phúc, Chúa Thịnh, Chúa Chính... để họ tôn thờ như thánh nhân nên do lòng kính trọng và sùng bái xen lẫn sợ hãi họ không dám dùng tên các vị trên cho mình nữa, mà nói khác đi, để tránh phạm huý. Thói quen này vốn cũng của người Bắc: nếu lỡ đạt tên con trùng tên vua, quan hay người mà họ tôn trọng thì họ sẽ gọi tên con khác đi. Đến nay, hàng trăm triệu người Việt sinh ra sau 1945 không có ai có tên khai sinh là Chí Minh cả!
    (tránh đi cho nó lành!)

    Vì thế, trong gia đình, họ nhường hẳn chữ Cả cho Cha Cả và các gia đình gọi con lớn là con thứ Hai trở đi, chữ Phúc dân ta dành hẳn cho Chúa Phúc, dân thường dùng chữ Phước thay vào, tương tự với chữ Thịnh thành Thạnh, Chính thành Chánh... Thôi thì... cứ tránh đi cho nó lành...

    Nhóm từ mới khác như đinh/đanh, tính/tánh, bệnh/bịnh, lệnh/lịnh... là do cách phát âm của người Nam khác đi định hình thành. Đây là lý do địa lý khác biệt?

    Đó là nghiên cứu, suy luận của cá nhân tôi, một ngườì Bắc sống trên đất Nam.

    Mong bác Xích Tử và các bác chỉ giáo!