Giáp Văn Dương - Giáo dục và tư duy tự nhiên

  • Bởi Admin
    30/09/2011
    2 phản hồi

    Giáp Văn Dương

    Thời gian gần đây, nhiều nước châu Á như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc… đã tiến hành hoặc kêu gọi tiến hành cải cách giáo dục với lý do: Cần nâng cao tinh sáng tạo của học sinh châu Á nhằm cạnh tranh với học sinh Âu-Mỹ trong thời đại của nền kinh tế tri thức. Tuy chưa có một nghiên cứu định lượng cụ thể, nhưng nhận định học sinh các nước châu Á thường được đánh giá là có ít tính sáng tạo hơn so với học sinh cùng lứa Âu Mỹ là một thực tế được thừa nhận rộng rãi, không chỉ trong giới phụ huynh và giáo viên, mà còn cả trong giới làm chính sách. Để minh họa cho điều này, người ta thường đưa ra một vài ví dụ rất kinh điển như Microsoft, Google, Facebook, Apple… kèm theo một nhận định rằng, những công ty độc sáng như vậy không thể ra đời tại châu Á. Lý do là học sinh châu Á không có tính sáng tạo cao như học sinh Âu Mỹ.

    Vậy thì vì sao học sinh châu Á lại không có tính sáng tạo cao như học sinh Âu Mỹ?

    Đã có rất nhiều câu trả lời cho một câu hỏi duy nhất này. Tựu trung, những câu trả lời này có thể phân thành bốn nhóm như sau:

    1. Do học sinh bị quá tải, không có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi nên không sáng tạo.

    2. Do học sinh bị nhồi nhét kiến thức, chỉ chú ý học thuộc lòng để thi cử nên không sáng tạo.

    3. Do truyền thống văn hóa châu Á trọng trật tự, lề lối định sẵn nên không sáng tạo.

    4. Do chất lượng của các hoạt động giáo dục yếu kém nên không khơi gợi được tiềm năng sáng tạo của học sinh.

    Với trường hợp Việt Nam, dư luận và nhận định của giới chuyên môn cũng không ra khỏi các lý do nêu trên. Trong nhiều trường hợp, các lý do này có thể được quy giản về một đầu mối duy nhất: Quá tải! Để minh họa cho điều đó, dư luận thường liệt kê lịch học thêm dày đặc của học sinh và số lượng lớn sách vở tài liệu mà học sinh phải mang theo đến lớp. Và cũng để kiểm chứng hoặc đối phó với dư luận, nhiều quan chức ngành giáo dục đã nhiều lần tiến hành cân cặp sách như một chỉ số để xác định mức độ quá tải của học sinh phổ thông.

    Tuy nhiên, biện pháp cơ học này không cho phép chỉ ra nguyên nhân của một hiện tượng đáng lo ngại hơn việc học sinh kém sáng tạo, đó là: Vì sao bạo lực học đường bùng phát? Có liên hệ gì giữa chương trình quá tải với bạo lực học đường hay không?

    Một cách định tính, câu trả lời là có: Chương trình giáo dục quá tải đã phá vỡ khả năng tư duy tự nhiên của học sinh. Đó là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng kém sáng tạo, vô cảm và bạo lực học đường bùng phát mà xã hội đang chứng kiến.

    Điều này có thể diễn giải ngắn gọn như sau:

    Muốn hay không, con người và toàn bộ các hoạt động của nó, đều có liên hệ mật thiết một cách tự nhiên với nhau và với môi trường xung quanh. Những liên hệ này nhiều khi mang tính bản năng hoặc vô thức, tuy khó nhận biết, nhưng có vai trò tối quan trọng trong việc giữ sự cân bằng tự nhiên trong đời sống nội tại và trong các hoạt động mang tính xã hội của mối cá nhân. Chúng tham gia điều phối hành vi và phản ứng của mỗi cá nhân như một dạng thức tư duy tự nhiên. Chính dạng tư duy tự nhiên này là nền tảng cho các dạng thức tư duy khác, trong đó có tư duy sáng tạo, vận hành hiệu quả.

    Nếu tư duy tự nhiên bị hạn chế hoặc phá hỏng bằng bởi các dạng thức tư duy nhân tạo, thường là các dạng lý tưởng cực đoan, chương trình giáo dục nhồi sọ, thế giới quan sai lệch… thì cá nhân có thể bị mất cân bằng nội tại và cân bằng trong mối liên hệ với các cá nhân khác trong xã hội, dẫn đến đánh mất khả năng kết nối cộng đồng một cách tự nhiên mà biểu hiện ra ngoài là sự kém linh hoạt, kém sáng tạo, vô cảm; hoặc tệ hơn là đánh mất thiên lương, dẫn đến hung hăng cực đoan, bạo lực bùng phát như đã quan sát thấy trong thời gian gần đây.

    Tuy nhiên, những chương trình giáo dục nhân tạo quá tải như vậy lại thường được bao biện bởi các lý tưởng và mục đích giáo dục tốt đẹp, nên cả người thiết kế và người tham gia hoạt động giáo dục đều quên mất rằng, tất cả các mục đích đó đều là sản phẩm của một quá trình tư biện duy lý, hoặc tệ hại hơn là một mong ước duy ý chí. Chính bản chất duy lý, thường được cộng hưởng với động cơ duy ý chí, của các chương trình giáo dục này đã định hướng ngầm cho các chương trình giáo dục trở thành áp đặt, độc đoán, tuy nặng nề quá tải nhưng lại xơ cứng giản đơn về bản chất, nên cùng hè nhau phá hủy cái tôi trong các hoạt động sáng tạo nói riêng và mọi hoạt động xã hội khác nói chung.

    Chưa kể, do sự khiếm khuyết về bản chất của tri thức cá nhân và thiên hướng tự cao mang tính tự thân của lý trí, sự duy lý thường dẫn đến xu hướng tối giản, giống nhau đồng loạt để dễ bề kiểm soát. Điều này góp phần giết chết sự phong phú đa dạng trong tư duy và sinh hoạt của các cá nhân, cũng là bóp chết sự đa dạng trong toàn xã hội. Ở cấp độ thấp, chúng là cho khả năng biểu hiện cảm xúc, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ cơ thể, khả năng thông cảm bị giảm sút, ù lì kém sáng tạo, thậm chí vô cảm. Ở mức cao hơn, nó làm gia tăng bạo lực trong ngôn ngữ và hành động theo hướng cực đoan, độc đoán như một kết quả tất yếu của nội dung đào tạo. Ở mức cao nhất, nó có thể phát triển thành bệnh lý như trầm cảm, chán nản mọi thứ, có ý muốn tự tử v.v.

    Tình trạng gia tăng bạo lực học đường, gia tăng tội phạm ở tuổi vị thành niên trong thời gian gần đây có thể được lý giải một phần bởi hiện tượng phá vỡ khả năng tư duy tự nhiên bởi các chương trình giáo dục quá tải, phim ảnh bạo lực, trò chơi điện tử, sự thiếu hụt của thời gian và không gian vui chơi của trẻ, v.v. Thực tế này nhức nhối đến mức câu hỏi “Vì sao tội ác lên ngôi? Vì sao bạo lực học đường bùng phát?” đã trở thành chủ đề nóng của dư luận. Tuy chưa có câu trả lời rốt ráo, nhưng nhiều người đã nhận thấy một trong những nguyên nhân chính là chương trình giáo dục nhân tạo duy ý chí mang tính áp đăt là một trong những nguyên nhân chính. Thậm chí, có người đã phải cay đắng thốt lên rằng: “Hàng chục năm nay chúng ta mơ ước xây dựng thành công con người mới xã hội chủ nghĩa. Khủng khiếp thay, chúng ta đã… thành công!”

    Việc chúng ta xây dựng thành công con người mới xã hội chủ nghĩa hay không là một chủ đề còn bàn bãi, nhưng rõ ràng, chúng ta đã ít nhiều thành công trong việc phá vỡ tư duy tự nhiên bởi các chương trình giáo dục áp đặt, nặng về học thuộc để đối phó thi cử, nặng về định hướng một cách độc đoán bởi một chương trình, một bộ sách giáo khoa, một nhận định duy nhất, nên chúng ta đang phải trả giá cho việc phá vỡ khả năng tư duy tự nhiên này.

    Thiết nghĩ, đã đến lúc cần phải khôi phục lại khả năng tư duy tự nhiên cho học sinh, thậm chí cho cả những người làm giáo dục, để từng bước tạo ra những con người lành mạnh một cách tự nhiên đúng nghĩa. Theo đó, việc cần làm trước hết là giảm tải chương trình học và tiếp đó là cải tiến chương trình thi cử cho phù hợp trước khi tiến hành những cải cách đồng bộ khác.

    Ghi chú: bản rút gọn đã đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần, 23/9/2011.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Dù không nghi ngờ gì mục đích tốt của tác giả và bài này, nhưng tôi thấy hai khái niệm tư duy tự nhiên và tư duy nhân tạo của tác giả không rõ ràng, vì thiết nghĩ thường chỉ có vật chất mới nên phân chia theo tự nhiên và nhân tạo? Còn đã là tư duy thì là thuộc tính và khả năng của con người?

    Về khả năng sáng tạo của giới trẻ, theo tôi phụ thuộc nhiều vào độ tự tin của họ. Người trẻ nước ta và châu Á nói chung kém hẳn giới trẻ Tây Âu về độ tự tin, vì thế, kém hẳn về khả năng sáng tạo.

    Độ tự tin của lớp trẻ có từ đâu? Tất nhiên là từ giáo dục. Nhiệm vụ của Giáo dục khi đó (bởi người thầy, nhà trường, gia đình, xã hội) là phải tin tưởng vào lớp trẻ hơn chính họ tin tưởng vào bản thân mình. Có tự tin họ mới dám mạo hiểm. Vì tin vào bản thân và luôn được cả xã hội (thầy cố, gia đình, nhà tường, đoàn thể...) tin tưởng động viên, họ mới có thể dấn thân vào những điều mới lạ, và vì thế họ mới sáng tạo được, bước đầu là trong nhà trường, sau đó mới ra ngoài xã hội.

    Tiếc thay là cả xã hội, gia đình, nhà truòng ta luôn nói với lớp trẻ: các con không làm được, chưa làm được gì đâu! Cái chữ "không làm được" ấy nó được đóng đinh vào tâm thức lớp trẻ khiến họ thiếu niềm tin vào chính mình một cách vô thức.

    Thay vào đó, chúng ta hãy đặt niềm tin vào lớp trẻ cao hơn chính họ tự tin vào bản thân. Hãy luôn nói: "Con làm được!" và giao cho họ những nhiệm vụ cao hơn niềm tin của họ - thường là cao hơn kết quá trước đó của họ chút ít để họ có thể làm được với cố gắng, nỗ lực. Khi họ làm được, hãy tưởng thưởng và lại đặt niềm tin cao hơn vào họ... Cứ thế, giáo dục là cho lớp trẻ vay mượn niềm tin vào bản thân họ. Cho đến một ngày tự tin là phong cách sống của họ và chúng ta sẽ có những thế hệ đầy sáng tạo, vì rất tự tin.

    Vậy thì vì sao học sinh châu Á lại không có tính sáng tạo cao như học sinh Âu Mỹ?

    Trích dẫn:
    Đã có rất nhiều câu trả lời cho một câu hỏi duy nhất này. Tựu trung, những câu trả lời này có thể phân thành bốn nhóm như sau:

    1. Do học sinh bị quá tải, không có thời gian nghỉ ngơi, vui chơi nên không sáng tạo.

    2. Do học sinh bị nhồi nhét kiến thức, chỉ chú ý học thuộc lòng để thi cử nên không sáng tạo.

    3. Do truyền thống văn hóa châu Á trọng trật tự, lề lối định sẵn nên không sáng tạo.

    4. Do chất lượng của các hoạt động giáo dục yếu kém nên không khơi gợi được tiềm năng sáng tạo của học sinh.

    Tôi đồng ý với các nhận xét trên.

    Không hiểu yếu tố gien có ảnnh hưởng đến hay không nhưng tôi nhận thấy học sinh gốc Âu Mỹ có tính sáng tạo cao, diễn đạt ý tưởng lưu loát tự nhiên và họ làm việc theo nhóm với hiệu quả rất cao mà không cần nhất định có thủ lãnh của nhóm

    Có những môn học, sinh viên có thể có solution khác thày nhưng nếu bạn giải thích được lý do hợp lý, bạn vẫn được điểm cao

    Sinh viên Á châu có thể có những cá thể cực giỏi, nổi bật theo kiểu học sinh chuyên toán nhưng xét trung bình toàn diện cả nhóm, sinh viên Âu Mỹ vẫn cao hơn.

    Hồi xưa tôi là học sinh một trường trung học nổi tiếng. Những lần đầu tiên, trường tôi gởi học sinh đi thi chuyên toán, đều thua liểng xiểng so với một vài trường không nổi tiếng. Nhưng nếu xét về kết quả học sinh toàn trường, trương tôi vẫn nhiêu học sinh giỏi thi đậu vào bách khoa. Những trường kia tuy thắng chuyên toán nhưng chỉ là cá thể