Phạm Văn Bản - Bàn về Đảng Chính Trị (Kỳ I)

  • Bởi Phạm Văn Bản
    26/09/2011
    9 phản hồi

    Phạm Văn Bản

    <em>Đảng chính trị cũng giống như ban âm nhạc hay đội túc cầu… Tuy nhiên đảng có tham vọng lớn hơn, đó là lập chính quyền và giành lấy chính quyền. Chỉ khi nào đảng có được chính quyền trong tay, thì lúc đó đảng mới thực hiện được mục tiêu, lý tưởng của mình… hoặc tối thiểu đảng cũng phải giành được số ghế trong Quốc Hội thì mới phát huy được khả năng hiện thực của đảng. Căn cứ theo kết qủa họat động, và tùy thuộc tham vọng của đảng, mà người ta có định nghĩa đảng đó theo như cơ cấu, danh xưng, lý thuyết hay chủ trương họat động.</em>

    Trong sách “Chính Đảng và Chính Trị Hoa Kỳ – Parties and Politics in America” (1960) Clinton Rossister nhận định rằng chính trị đã cứu vãn nền kinh tế Hoa Kỳ trong cuộc đại khủng hỏang vào năm 1930: “Tổ chức cuối cùng đã bẻ gãy được chính sách nô lệ và chủ nghĩa địa phương ở Hoa Kỳ là chính đảng. Người Hoa Kỳ đã nhận của đảng chính trị những giúp đỡ đầu tiên về tự do, công bằng và tình huynh đệ, cũng như với phương thức thích hợp nhất, các đảng chính trị đã và đang biến cải những hy vọng và thất vọng vô hình, thành những đề nghị có thể hiểu được, có thể bàn cãi được được, để được dân chúng chấp nhận và trở thành hiện thực,” (tr. 100) (1*). Những điều này chứng tỏ tầm mức quan trọng của đảng chính trị trong thời đại kỹ nghệ (Industrial Revolution) của nhân loại, cũng như đối với hiện tình của dân tộc Việt Nam ngày nay.

    Trong nội bộ đảng chính trị cũng có hai cánh tả hữu, đối lập và xây dựng để thành viên bất đồng ý kiến nhập sang cánh khác mà sinh hoạt, không có chuyện bỏ đảng vì thiếu lối thoát. Đảng đối lập đóng một vai trò trong việc ngăn cản sự qúa đà hoặc chuyên chế của đảng cầm quyền, là đại biểu cho những ý kiến khác biệt, và là động cơ thúc đẩy đảng cầm quyền cố gắng sửa sai. Tuy nhiên trong thực tế, đối lập cũng luôn tìm cách soi mói và chỉ trích đảng cầm quyền để mong kiếm phiếu, nhưng chính vì thế mà họat động xã hội được thăng tiến. Hơn nữa, đảng đối lập mà không có thực lực chính trị tương xứng với đảng cầm quyền thì giấc mộng tham chính chẳng bao giờ thành công.

    A. Chính Đảng Thế Giới

    Đọc cuốn “Dân chủ và Giáo dục: Giới thiệu các Triết học Giáo dục – Democracy and Education: An Introduction to the Philosophy of Education” triết gia Hoa Kỳ John Dewey (1859-1952) nhận xét về đảng chính trị: “Mỗi cá nhân chỉ tìm thấy được sự an toàn và được bảo vệ, mà đây là tiền đề cho sự tự do, khi họ tập họp lại với nhau. Và rồi những tập hợp này, để bảo toàn sự hữu hiệu của chúng, giới hạn trở lại tự do của các cá nhân trong đó… Bây giờ, chúng ta có một hình thức tổ chức giáp xác với những cá thể yếu đuối bên trong và chiếc vỏ cứng bên ngoài.” Và ông định nghĩa, “Một đảng chính trị tân thời là tập hợp của những người có triết lý, lý tưởng, mục tiêu, hay ý nguyện tương đồng.” (2*)

    Người ta cho rằng, đảng chính trị cũng giống như ban âm nhạc hay hội túc cầu… Tuy nhiên đảng có tham vọng lớn hơn, đó là lập chính quyền và giành lấy chính quyền. Chỉ khi nào đảng có được chính quyền trong tay, thì lúc đó đảng mới thực hiện được mục tiêu, lý tưởng của mình… hoặc tối thiểu đảng cũng phải giành được số ghế trong Quốc Hội thì mới phát huy được khả năng hiện thực của đảng. Căn cứ theo kết qủa họat động, và tùy thuộc tham vọng của đảng, mà người ta có định nghĩa đảng đó theo như cơ cấu, danh xưng, lý thuyết hay chủ trương hoạt động.

    I. Khuynh Hướng Chính Trị

    Trong chính đảng, cho dù có cùng mục tiêu, lý tưởng, quyền lợi… nhưng khuynh hướng đảng viên cũng có nhiều khác biệt. Từ dị biệt đảng phân ra nhiều cánh, từ cực tả đến cực hữu, như cánh cực tả (radical), cánh trung tả (liberal), cánh trung hữu (conservative), cánh cực hữu (reactionary). Và giữa các cánh tả hữu, lại còn nhiều khuynh hướng cực đoan hơn, như trung lập, trung tả…

    1. Cánh Cực Tả

    - Muốn có những thay đổi cực đoan.

    - Có khuynh hướng xử dụng bạo lực và phương thức bất hợp pháp để đạt được mục đích.

    - Luôn chống đối và theo cách phê bình khắc nghiệt đối với trật tự xã hội đương thời.

    - Không bị ràng buộc bởi truyền thống nào.

    2. Cánh Trung Tả

    - Ủng hộ những thay đổi lớn nếu thay đổi này được thực hiện bằng phương thức hợp pháp.

    - Muốn có đổi mới hơn là cứ giữ nguyên sự việc đang diễn biến.

    - Có khuynh hướng đi tìm sự tự do một cách tối đa.

    - Chấp nhận có mức độ xáo trộn trật tự xã hội để đổi lấy sự tự do cá nhân.

    - Nhấn mạnh đến sự xứng đáng làm người.

    - Thành viên trong cánh trung tả thường lạc quan và tin tưởng vào bản chất tự nhiên của con người.

    3. Cánh Trung Hữu

    - Ủng hộ những thay đổi vừa phải, chậm từ từ.

    - Quan tâm đến sự bảo toàn trật tự căn bản trong xã hội.

    - Cho tới những thay đổi chỉ nên có tính cách hoán đổi, chớ không hủy bỏ hoàn toàn cái cũ.

    - Rất yêu nước, tuân hành mệnh lệnh của thượng cấp, chấp hành trật tự và luật pháp.

    - Nhìn nhận con người là chưa hoàn hảo và cần sự giám thị.

    4. Cánh Cực Hữu

    - Những thành viên thuộc cánh cực hữu thường chống đối những thay đổi chính sách xã hội một cách cực đoan mù quáng.

    - Bảo vệ những địa vị xã hội.

    - Sẵn sàng dùng phương thức bất hợp pháp để đạt mục tiêu.

    II. Sinh Hoạt Chính Ðảng

    Các đảng chính trị luôn phải đấu tranh trong những cuộc tranh cử, bầu cử để có thể nắm được chính quyền và giữ chính quyền. Những quốc gia như Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Úc Ðại Lợi – các đảng chính trị tổ chức và sinh hoạt theo ba cấp, từ cấp quốc gia, cấp tiểu bang hay tỉnh, và cấp địa phương (quận). Song hành với tổ chức hành chính quốc gia, đảng chính trị cũng tổ chức và sinh hoạt ở khu vực bầu cử.

    Ðảng chính trị là nhu cầu quan trọng và cần thiết cho chính thể dân chủ. Trong thể chế chính trị dân chủ đảng chính trị là Ðại Biểu Dân Chủ, công dân chọn người đại diện cho mình từ đảng chính trị vào chính quyền để làm luật và thực thi luật. Và công dân chọn người đại diện cho mình từ đảng chính trị vào các ghế trong chính quyền để tranh luận, mổ xẻ các vấn đề quốc gia một cách công khai, ích quốc lợi dân. Bởi thế đảng chính trị hoạt động với những công tác định sẵn:

    - Chọn ứng cử viên vào điều hành văn phòng công quyền.

    - Phụ giúp tổ chức guồng máy chính quyền.

    - Làm đối lập với đảng cầm quyền.

    - Gây qũy để vận động tranh cử cho những cuộc bầu cử sắp tới.

    - Đảng luôn thông báo đến cử tri của mình về những chương trình hoạt động, những khó khăn mà chính phủ đang gặp phải, cũng như đưa ra tranh luận để tìm ra phương thức giải quyết

    III. Hệ Thống Chính Ðảng

    Đảng chính trị thường xử dụng cơ quan ngôn luận báo chí, truyền thanh truyền hình làm phương tiện thông tin phổ biến chương trình hoạt động của đảng. Sở dĩ phải rộng đường dư luận vì đảng cầm quyền còn hy vọng tái đắc cử, hoặc đảng đối lập khai thác và phê bình yếu điểm của chính quyền, tạo ra điểm thắng cho đảng mình trong kỳ tranh cử sắp tới. Thông thường chính đảng đơn giản hóa các vấn đề phức tạp của quốc gia, nhằm làm sao cho cử tri dễ dàng chọn lựa. Muốn đắc cử, ứng viên đưa ra điểm nóng mà đa số cử tri chú ý, đồng thời cũng là yếu điểm mà đảng cầm quyền lơ đãng và ít giải quyết.

    1. Ðộc Ðảng

    Các lãnh tụ độc tài rất hoan hỉ và ưa thích phương thức cai trị độc đảng, họ chấp nhận ma giáo “muôn năm trường thọ, nhất thống giang hồ.” (Tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung). Ðảng độc quyền về mọi mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục, xã hội… Tuy cũng tổ chức bầu cử rầm rộ, nhưng mục đích gây phấn chấn nội bộ và đề cao đảng viên với đại chúng… đã bao lãnh tụ giải thích chương trình họat động của đảng tràng giang đại hải và hứa hẹn đủ thứ, nhưng tòan dân đã mỏi mòn chờ trông.

    Như tại Việt Nam hiện nay, xin hỏi phổ thông đầu phiếu là gì, khi sinh hoạt chính trị bị cướp khỏi tầm tay người dân, chỉ còn hoạt động một chiều: đảng cử dân bầu?

    Dân tộc ta được hưởng gì, khi phổ thông đầu phiếu biến thành phương tiện tranh đoạt dành đặc quyền cho cán bộ có chủ trương thủ đoạn, mạnh được yếu thua?

    Dân tộc ta chọn lựa được gì, khi mà khu vực bầu phiếu phân chia theo tiêu chuẩn lợi ích cho đảng cầm quyền?

    Dân tộc ta bầu người đại diện cho mình. Nhưng xin hỏi, đại đa số cử tri đã không biết mục tiêu thực sự của các ứng cử viên; lại nữa, dân biểu tranh đấu cho nguyện vọng người dân địa phương nhưng lại không được quyền phát biểu trái với đường lối chủ trương của đảng cầm quyền.

    Và rồi dân biểu thay mặt dân, nhưng sau ngày đắc cử họ không còn thuộc thành phần đại chúng hay dân tộc, mà lại gia nhập vào nhóm đặc quyền hưởng nhiều đặc lợi suốt đời.

    Ðang khi còn tranh đấu, còn vận động thì họ quảng cáo rầm rộ với nhiều chương trình tân tiến, vì dân vì nước… nhưng lấy gì bảo đảm cho rằng họ thực thi? Nhìn lại những ngày bầu cử trong lịch sử, lá phiếu cũng được vận động qua đặc ân tạm bợ và lời hứa hẹn mị dân, mị cán bộ…. Dân tộc ta sẽ thực sự được gì?

    Ngoài ra chế độ dân chủ như ở Mễ Tây Cơ cũng là hình thức độc đảng, đảng Cách Mạng (Partido Revolucionario) chẳng thua kém gì đảng độc tài Cộng Sản. Ðảng này kiểm soát chính quyền từ năm 1920 và thắng tất cả các ghế ở cấp tiểu bang hay thành phố lớn; đang khi các đảng phái nhỏ không thể cạnh tranh nổi với đảng cầm quyền. Hậu qủa của nạn độc tài chính trị đã dẫn tới cảnh dân đói nước nghèo!

    Ðộc đảng dẫn đến quyền lực tuyệt đối, là nguyên nhân tạo ra tai họa cho dân tộc. Ðó cũng là điều chúng ta cần tránh, đừng để vướng mắc sai lầm tái diễn.

    2. Ða Ðảng

    Các quốc gia như Pháp, Ý, Nhật Bản, Tích Lan… đa đảng. Những nước này thường có bốn năm đảng chính trị mạnh, và nhiều đảng nhỏ. Mỗi đảng lại có một chính sách riêng về kinh tế xã hội. Một hai đảng “tả khuynh” thì chủ trương Tự Do, Cấp Tiến. Một hai đảng “trung dung” có chủ trương Dung Hòa, Trung Lập. Một hai đảng “hữu khuynh” lại chủ trương Bảo Thủ.

    Quốc gia đa đảng thì khó có một đảng nào thắng bầu cử để giữ chính quyền, cho nên phải có hai đảng liên minh thành lập nội các. Khi hai đảng không đồng ý với chính sách hay chương trình hoạt động chung, thì liên minh tan rã và thường kéo theo sự xụp đổ chính quyền. Nhìn chung, hệ thống đa đảng thường làm cho chính quyền yếu hơn hệ thống lưỡng đảng.

    3. Lưỡng Ðảng

    Hệ thống lưỡng đảng đã thành hình ở những quốc gia dùng Anh ngữ, dù rằng có nhiều đảng nhỏ nhưng chỉ quy tụ nơi hai đảng chính. Anh Quốc có đảng Bảo Thủ (Conservative) và Lao Ðộng (Labor). Hoa Kỳ có đảng Cộng Hòa (Republican) và Dân Chủ (Democratic). Gia Nã Ðại có đảng Bảo Thủ Tiến Bộ (Progressive Conservative) và Tự Do (Liberal) (3*). Hay Úc Ðại Lợi có những đảng chính trị nhỏ nhưng một trong hai đảng lớn giữ chính quyền. Thông thường, dân chúng vùng kỹ nghệ bỏ phiếu cho đảng Tự Do, vùng nông nghiệp thì bỏ phiếu cho đảng Bảo Thủ. Mặc dù trong nước có hai đảng nhưng mỗi đảng lại kiểm soát một vùng, và cử tri bỏ phiếu cho ứng cử viên đảng mình.

    IV. Chính Ðảng Hoa Kỳ

    Năm 1787 các nhà lãnh đạo chính trị Hoa Kỳ về họp tại Philadelphia soạn thảo Hiến Pháp, tuy không đề cập đến đảng chính trị, nhưng George Washington chủ tọa Hội Nghị Lập Hiến thống nhất 13 tiểu bang, và có nhiều lãnh tụ đảng phái chống đối xảy ra. Dù có bất đồng chính kiến, nhưng vì quyền lợi kinh tế, chính trị, xã hội của người Hoa Kỳ đã buộc mọi người phải ngồi lại để thành lập tổ chức chính trị.

    Một nhóm người gọi là Nhóm Liên Bang (Federalists) ủng hộ chính phủ Liên Bang mạnh. Những người chống đối được gọi là Nhóm Chống Liên Bang. Đây là hai tổ chức chính trị đã hình thành trước khi Washington trở thành tổng thống vào năm 1789. Sau đó hai nhóm này phát triển thành hai đảng chính trị đầu tiên của Hoa Kỳ: Ðảng Liên Bang (Federalist Party) và Ðảng Dân Chủ Cộng Hòa (Democratic Republican Party). Ðảng Liên Bang lãnh đạo bởi Alexander Hamilton muốn có chính quyền trung ương mạnh. Ðảng Dân Chủ Cộng Hòa lãnh đạo bởi Thomas Jefferson ủng hộ chính quyền trung ương yếu.

    Sau cuộc Bầu Cử Tổng Thống năm 1816, lưỡng đảng không giữ được sự thống nhất, một trong những nhóm của đảng Dân Chủ Cộng Hòa do Andrew Jackson lãnh đạo, tới khoảng năm 1830, nhóm này tách ra gọi là người Dân Chủ.

    1. Ðảng Dân Chủ

    Ðảng Dân Chủ là đảng kỳ cựu nhất hoạt động tại Hoa Kỳ. Có sử gia cho rằng Ðảng Dân Chủ bắt đầu vào những năm 1790 với Thomas Jefferson, nhưng đa số lại quả quyết nguồn gốc của Ðảng Dân Chủ bắt đầu sau chiến dịch vận động tranh cử tổng thống năm 1824, và Andrew Jackson thắng cử vào năm 1828.

    Từ năm 1828 đến 1860, Ðảng Dân Chủ thắng tất cả các cuộc tranh cử tổng thống, mặc dù trong đảng có những bất đồng về các vấn đề như nô lệ, thuế khóa… và gặp nhiều khó khăn về nội bộ. Tới năm 1832 thì có nhiều nhóm chống đối lại Tổng Thống Jackson và thành lập Ðảng Tự Do (Whig Party), nhưng Ðảng Tự Do không thống nhất và phát triển đủ mạnh để dân chúng Hoa Kỳ ủng hộ.

    Cho tới thập niên 1850 Ðảng Dân Chủ chia rẽ vì một số người chống đối, hoặc ủng hộ sự kéo dài chế độ nô lệ. Năm 1860 đảng này đề cử người tranh cử tổng thống, nhưng không thắng được ứng cử viên của Ðảng Cộng Hòa Abraham Lincoln, và vì thế mà Hoa Kỳ lâm cảnh nội chiến vào năm 1861 đến năm 1865.

    Từ 1860 đến 1932, Ðảng Cộng Hòa đổ lỗi cho Ðảng Dân Chủ gây ra cuộc nội chiến Civil War. Ngược lại, Ðảng Dân Chủ đổ lỗi cho Ðảng Cộng Hòa gây ra cuộc đại khủng hoảng kinh tế vào năm 1930. Tóm lại, Ðảng Dân Chủ giữ ghế tổng thống từ năm 1933 cho tới 1953 và kiểm soát luôn lưỡng viện quốc hội.

    2. Ðảng Cộng Hòa

    Ðảng Cộng Hòa khởi đầu bằng những loạt biểu tình chống Nô Lệ tại miền Trung Tây Hoa Kỳ vào năm 1854. Vào thời kỳ này Ðảng Tự Do tan rã, và nhiều đảng viên Tự Do cũng như Dân Chủ ở miền Bắc Hoa Kỳ chống đối sự kéo dài chế độ Nô Lệ. Ðảng Cộng Hòa là đại diện cho quan điểm này nên đã kết nạp đảng viên một cách nhanh chóng. Ứng cử viên tổng thống của Ðảng Cộng Hòa đầu tiên ra tranh cử là John C. Fremont dù bị thất cử nhưng đã chiếm được 11 tiểu bang miền Bắc.

    Và từ năm 1860 khi Abraham Lincoln đắc cử cho đến 1928, Ðảng Cộng Hòa thắng 14 trên 18 cuộc tranh cử tổng thống. Chính sách của đảng đáp ứng nhiều nhóm gồm nông gia, kỹ nghệ và thương gia. Vụ bêu xấu tiền bạc của Tổng Thống Ulysses S. Grant vào năm 1879, và trước đó, nền kinh tế bấp bênh đã gần làm hỏng cuộc vận động tranh cử năm 1876.

    Năm 1912 Tổng Thống William Howard Taft là lãnh tụ đã gây chia rẽ Ðảng Cộng Hòa. Nhóm Cộng Hòa Tiến Bộ chọn Theodore Roosevelt làm Tổng Thống từ 1901 đến 1909, tiếp đến là cuộc tranh cử, và nhóm Bảo Thủ Cộng Hòa lại chọn Ông William Howard Taft tái tranh cử tại đại hội đảng tổ chức vào năm 1912. Ông Theodore Roosevelt ly khai với Ðảng Cộng Hòa để thành lập Ðảng Cấp Tiến (Progressive Party). Sự chia rẽ trong nội bộ đã làm cho Ðảng Cộng Hòa thất cử.

    Trong Ðệ Nhị Thế Chiến (1939-45) Ðảng Cộng Hòa lại chứng tỏ cho dân chúng Hoa Kỳ thấy được dấu hiệu phục hồi sinh lực của đảng. Năm 1946, đảng thắng cử ở Lưỡng Viện Quốc Hội lần đầu tiên kể từ năm 1928. Cho tới năm 1952 Dwight D. Eisenhower đắc cử tổng thống và mang lại chiến thắng vẻ vang cho Ðảng Cộng Hòa sau 24 năm mất ghế. Năm 1956 Tổng Thống Eisenhower tái đắc cử nhưng ông chỉ chiếm được đa số ở Quốc Hội có hai năm đầu trong tám năm làm tổng thống của ông.

    3. Các Chính Ðảng Khác

    Tại Hoa Kỳ cũng có nhiều đảng chính trị khác như Tự Do Cộng Hòa (Liberal Republicans, 1872), Cấp Tiến (Progressives, 1912), Kim Dân Chủ (Gold Democrats, 1896), Xã Hội (Socialists, 1901), Công Xã (Socialists Workers, 1938)… Nhưng các đảng này chưa bao giờ thắng cử tổng thống. Những khi tư tưởng của các đảng nhỏ này vừa đề ra và được đại chúng ủng hộ, thì ngay lập tức cả hai đảng lớn Dân Chủ và Cộng Hòa đều thay đổi đường lối nhằm đáp ứng kịp thời lòng dân. Nhiều tiểu bang Hoa Kỳ ủng hộ mạnh cho một đảng, và đảng này kiểm soát tiểu bang. Từ cuộc Nội Chiến đến năm 1960 đảng Dân Chủ kiểm soát các tiểu bang miền Nam, Cộng Hòa kiểm soát các tiểu bang miền Trung Tây.

    (Còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    Phản hồi: 

    Thưa bạn Visistor, hai quan niệm tổ chức Đông Tây dị biệt là có thật, và nếu chúng ta không quan sát kỹ, mà chỉ nhận xét theo định kiến để "lý tưởng hóa"... (mơ lẫn thực) thì công cuộc tổ chức Giúp Dân Cứu Nước sẽ chẳng bao giờ thành công.

    Thứ đến, nhận xét của bạn: "Bác này lại bị rơi vào khái niệm các đảng chính trị chỉ có 'thắng - thua' rồi." Quan niệm Đồng Thành, Đồng Bại, Thành hoặc Bại... của Tây phương (Tôi sẽ viết phân tích trong một bài riêng, nhằm giúp cho tổ chức VN thành công).

    Vậy, trước hết để có tầm nhìn về Văn Hóa Chính Trị của Tổ Tiên, xin mời bạn đọc bài "The New Science: The Quantum View of TienRong" -- By Vincent Pham, MEd (Western Washington University, 2000):

    We have seen that the new science of Y2K has a very different philosophical and conceptual basic. Quantum science tells us that the world is all of a piece, holistic. We human being are in and of nature, we help to make reality happen, we are free agents with a responsibility for cocreation. More than that, quantum science shows us that we are, in our essential physical and spiritual makeup, extensions, and “excitations,” of the underlying ground state of being. Quantum View of TienRong, for Wheatley (1995), is “thoughts in the mind of God.”

    For the Western model:

    The Newtonian universe is that they can be efficient and reliable. Their clear boundaries make membership unambiguous. Every procedure and every role is specified and pinned down in its place. Every employee knows exactly what is expected every day or what is not. So long as procedure is followed and proper channels used, information can flow smoothly to those parts of the organization where it is directed. But there are disadvantages. Just as rules don’t accommodate exceptions easily, these organizations are inflexible. For example, serial thinking cannot deal with complex data or rapid changes – computer can deal only with a few inputs and outputs at any one time but cannot deal with pattern recognition – because patterns are too complex.

    For the Eastern model:

    Nobel Prize-winning Japanese physicist Leo Esaki said, “The Japanese don’t have a specific word for ‘self.’ We are concerned with relationships, and what Westerners call the ‘self’ is, for us, a matter of who is related to whom and in what larger social context.” He compares Japanese society to a state of superfluid helium. Every particle is related to every other to such an extent that boundaries don’t exist and the parts share the identity of the whole.

    The Chinese sociologist Fei Xiaotong compares Confucian society to a complex pattern of interlocking waves, each fanning outward from some stone (individual) dropped in one of the many centers, but all so intricately involved that no clear boundary can be discerned between the waves caused by one stone and those of another. He said, “Everyone stands at the center of the circles produced by his or her own social influence. Everyone’s circles are interrelated. One touches different circles at different times and places.”

    Now we understand The Quantum View of Tien Rong as the Western particle-like model of the self and the Eastern wave-like model have thus given rise to quite different organizational structures, each with their own strengths and weakness.

    The Quantum View of Tien-Rong, we may define as the famous character in quantum lore who express the both nature of quantum reality; like Schrodinger’s Cat – the mascot of “the New Science.” Schrodinger’s Cat has been put into an opaque box along with a fiendish device, a radioactive source that can trigger the release of either food or poison. Common sense would tell us that if device releases food the cat will live, and if it release poison the cat will die. But radioactive sources are quantum devices, and Schrodinger’s Cat is a quantum cat, existing separately and simultaneously in several places. So device releases both food and poison, and the cat is both alive and dead.

    The Quantum View of Tien-Rong is also a metaphor for the way that quantum systems evolve. When a quantum bit wants to get from Tien to Rong, it doesn’t follow just one path. On the contrary, it throws out an infinite number of possible paths – those are called virtual transition. Each path represents one possibly best path from Tien to Rong, a feeler toward the future. In fact, in quantum reality, Rong itself is not yet sharply defined. Rong is still part of a future scenario yet to emerge. So infinite possible paths strike out from Tien toward an uncertain or ambiguous Rong, mutually defining the future as they interfere with or get into dialogue with each other. This allows the whole system to be creative in responding to its own uncertain future. In the end, Rong will emerge, and one of the infinite paths from Tien to Rong will emerge as the right path.

    A member would cultivate his or her own inner light and individual potential, but at the same time be always aware that a truly creative member draws a great deal of insight and inspiration from unexpressed qualities of the group being led.

    In the Eastern model, the wave description of selfhood is at its most extreme opposite from the Western – particle model of the self. For example, in our culture, we are defined by the relationships what describe as “Tien gave ‘a birth with a hundred children.’ And Rong said, I am Rong and you are Tien. We cannot live together. You bring fifty children to go up the mountain, and I will take fifty children to down the sea. When you need, you call me and I will be back.”

    We are defined by the view of relationships, but we have many different kinds and circles of relationship and thus the boundaries of our own identity are quite ambiguous and contextual. With the parents we will have one way of conducting the self, with the children another, with the wider kinsfolk still another, with the neighbors, members of the community, the village or the state still more. We cannot state the set of moral principles, each applicable in its context, and the Western notion of university moral codes makes no sense to us in such societies. We think that these elastic networks make up the society; there is always the self at the center of each web. But this notion of the self amounts to egocentrism, not individualism.

    In individualist, Western society, the whole is made up of its parts and each part has its tightly defined identity circumscribed by boundaries. In its public aspects at least, every part (every individual) is equal to every other. Every individual has the same rights and obligations within an organization as anyone else with the same organizational status or function.

    In the society: “50 up the mountain, 50 down the sea,” and “a birth of 100 persons,” the self is always at the center of the circle, but we have a hundred circles and the characteristics, obligations, and codes of each circle define who we are and how we should be have. We have no universal rights, only contextual obligations. The boundary between public and private spheres is relative: “A birth of 100,” one for all or all in one.
    Leadership and the New Science is the great book because that book makes us thinking and learning about an organization and the new leadership that must nurture at least three kinds of intelligence: mental intelligence, emotional intelligence and spiritual intelligence.

    Ironically, it is these very qualities of emotional and spiritual intelligence that many corporate transformation program strike to develop. At least they try to tap into the “net result” of their employees having such qualities. Most corporate leaders today would like to have a workforce, or at least a managerial team, that can think on its feet, be creative, thrive on complexity, take responsibility, and give it all to the firm. This is why they are spending millions on so-called change agents, consultants who specialize in managing transformation.

    But most change agents are themselves mechanistic and have not clue what deep transformation means and never mind what it requires. Most don’t know where to begin, so they satisfy themselves with downsizing or restructuring, with introducing a change vocabulary, with charts that say vision and value and leadership. They give two-day or two-week seminars on creativity. But they don’t change the room – they work within the existing structures. Communists Party is an example. Lenin spoke for many managers: “Freedom is good, but control is better.” If an organization is a machine, control makes sense. If an organization is the process structure, then seeking to impose control permanent structure is suicide.

    The Quantum View of Tien-Rong may define as a participatory universe. The observer is part of the observed reality. The observer is a cocreator who helps to make that reality happen. Life wants to discover itself. Individuals explore possibilities and systems emerge. They self-transcend into new forms of being. Newness appears out of nowhere. We can never predict what will emerge; and we never go back. Life is on a one-way street to novelty and always surprises us. For instance, emergence is the surprising capacity we discover only when we join together. New systems have properties that appear suddenly and mysteriously: relationships change us, reveal us, and evoke more from us – because once individuals link together they become something different. It is Vietnamese Liberal and Democratic Organization.

    Phản hồi: 

    VN chưa bao giờ là nhà nước pháp quyền cho nên các nhân vật cao cấp như Nguyễn Tấn Dũng, Tấn Sang, Sinh Cung, Hòa Bình không làm đúng chức năng của thủ tướng, CT nước, CT QH và chánh tòa án tối cao. Khi làm việc nước ở tòa án, QH họ phải có tư duy, phát biểu và hành động đúng theo chức vụ của mình. Họ làm việc nước mà miệng cứ ấm ớ, ê a nghị quyết của đảng thì VN chưa có một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó.

    "đảng tôi bị thất bại tôi cũng chả thấy bị lép vế gì".

    Ở một số nước, đảng bị ít phiếu có bị thua thiệt về tài chánh.
    Ví dụ nếu họ có hệ thống chính trị, đảng không được nhận tài trợ của các công ty, tập đoàn mà chỉ có thể là quà tặng của các đảng viên, cảm tình viên. Tài chánh của đảng chủ yếu là do nhà nước cung cấp căn cứ vào tỷ lệ số phiếu nhận được mỗi lần bầu cử QH. Đảng nào ít phiếu sẽ nhận ít tiền.

    Các bác sẽ bảo, vậy các tập đoàn cứ đưa tiền cho một cảm tiµnh viên và người này đưa lại cho đảng là xong ngay. Nhưng khó lắm, tập đoàn đưa tiền bằng cách nào ? tiền mặt chắc ? Ở đây tất cả đều chuyển ngân thông qua nhà bank để tránh rửa tiền ...

    Vì vậy ở VN quân đội làm kinh tài, tôi cho là một việc không bình thường, vi phạm đạo đức và nghề nghiệp của chức năng quân đội, kiêu binh

    [quote=visitor][quote=Phạm Văn Bản]Các bạn thân mến,

    Sự khác biệt trong việc tổ chức Đảng Chính Trị Việt Nam:

    1. Theo quan niệm tổ chức của Ðông phương, chúng ta thường dựa trên nền tảng Vì Nghĩa. Chúng ta ngồi lại với nhau vì thấy việc chung phải làm, và vì tình nghĩa với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế mới có những người Tụ Nghĩa, Kết Nghĩa rồi có Nghĩa Sĩ, Nghĩa Quân… Tất cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm lòng đối với việc chung, việc nước phải làm, với Quê Hương Dân Tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa với nhau.

    Vì vậy mục đích của việc kết tụ là “đền ơn đáp nghĩa,” hoặc làm ơn làm nghĩa… Với hình thức tổ chức của Ðông phương rất thích hợp với Tình Người, nhưng nặng phần chủ quan, lỏng lẻo, và nhẹ phần công tác. Do đó không khai thác và ứng dụng triệt để những điều kiện thành công khách quan, đây là điểm yếu trong công cuộc tổ chức đã thường dẫn đến thất bại của nhiều chính đảng hoạt động trên quê hương Việt Nam.

    2. Ngược lại, theo quan niệm Tây phương, nền tảng tổ chức là “hợp tác” và cùng nhau làm việc chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là “hữu hiệu,” họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt; tiếp đến mục đích của tổ chức là “hưởng lợi,” mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều thì càng tốt, bởi có lợi thì con người mới thích tham gia.

    Do chủ trương “hợp tác sao cho hữu hiệu để hưởng lợi” đã phát sinh ra hình thức tổ chức mà ngày nay người ta mệnh danh là “dân chủ.” Hình thức này dựa trên nguyên tắc “đa số thắng thiểu số,” và trên phương thức “bầu cử với nhiệm kỳ.” Hình thức tổ chức này thành công trong việc xử dụng tài sức và vật dụng để phát triển. Tuy nhiên, vì hạn hẹp vào “lợi” cho nên hình thức tổ chức chỉ thích ứng trong phương diện “có lợi” mà thôi.

    Vì chủ đích hưởng lợi, nên hình thức tổ chức thường rơi vào tệ trạng với những nguy cơ man trá, thủ đoạn để thành công. Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì “mạnh được yếu thua” và “ai thắng thì có công lý,” cho nên thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô… Bởi thế chúng ta phải cẩn thận và đề ra cơ chế thích đáng nhằm ngăn ngừa nạn độc tài, đã từng đưa đất nước chúng ta xuống vực thẳm nghèo nàn và chậm tiến.[/quote]

    Bác này lại bị rơi vào khái niệm các đảng chính trị chỉ có 'thắng - thua' rồi. Sau khi thắng cử, thủ lĩnh các đảng thắng cử sau khi trở thành thủ tướng đều tuyên bố sẽ là thủ tướng của tất cả mọi người dân, không phân biệt đã bầu hay không bầu cho đảng mình. Đảng tôi bị thất bại tôi cũng chả thấy bị lép vế gì.

    Ở phương Tây tôi chả thấy người mạnh hiếp đáp kẻ yếu, chỉ thấy mấy ông kiểu dân Việt mình đến đó trả có đóng góp gì mấy vẫn được hưởng mọi phúc lợi xã hội. Tôi rất thích khẩu hiệu ở phương Tây "Không để nhóm thiểu số nào bị bỏ rơi". Mấy ông bà thiểu số đồng tính còn được tổ chức các lễ hội diễu hành rầm rộ biểu dương lực lượng ngoài phố. Các ngả đường bị chặn lại chỉ để cho mấy ông bà này diễu hành một cách an toàn mà thôi.[/quote]

    Phản hồi: 

    [quote=Phạm Văn Bản]Các bạn thân mến,

    Sự khác biệt trong việc tổ chức Đảng Chính Trị Việt Nam:

    1. Theo quan niệm tổ chức của Ðông phương, chúng ta thường dựa trên nền tảng Vì Nghĩa. Chúng ta ngồi lại với nhau vì thấy việc chung phải làm, và vì tình nghĩa với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế mới có những người Tụ Nghĩa, Kết Nghĩa rồi có Nghĩa Sĩ, Nghĩa Quân… Tất cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm lòng đối với việc chung, việc nước phải làm, với Quê Hương Dân Tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa với nhau.

    Vì vậy mục đích của việc kết tụ là “đền ơn đáp nghĩa,” hoặc làm ơn làm nghĩa… Với hình thức tổ chức của Ðông phương rất thích hợp với Tình Người, nhưng nặng phần chủ quan, lỏng lẻo, và nhẹ phần công tác. Do đó không khai thác và ứng dụng triệt để những điều kiện thành công khách quan, đây là điểm yếu trong công cuộc tổ chức đã thường dẫn đến thất bại của nhiều chính đảng hoạt động trên quê hương Việt Nam.

    2. Ngược lại, theo quan niệm Tây phương, nền tảng tổ chức là “hợp tác” và cùng nhau làm việc chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là “hữu hiệu,” họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt; tiếp đến mục đích của tổ chức là “hưởng lợi,” mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều thì càng tốt, bởi có lợi thì con người mới thích tham gia.

    Do chủ trương “hợp tác sao cho hữu hiệu để hưởng lợi” đã phát sinh ra hình thức tổ chức mà ngày nay người ta mệnh danh là “dân chủ.” Hình thức này dựa trên nguyên tắc “đa số thắng thiểu số,” và trên phương thức “bầu cử với nhiệm kỳ.” Hình thức tổ chức này thành công trong việc xử dụng tài sức và vật dụng để phát triển. Tuy nhiên, vì hạn hẹp vào “lợi” cho nên hình thức tổ chức chỉ thích ứng trong phương diện “có lợi” mà thôi.

    Vì chủ đích hưởng lợi, nên hình thức tổ chức thường rơi vào tệ trạng với những nguy cơ man trá, thủ đoạn để thành công. Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì “mạnh được yếu thua” và “ai thắng thì có công lý,” cho nên thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô… Bởi thế chúng ta phải cẩn thận và đề ra cơ chế thích đáng nhằm ngăn ngừa nạn độc tài, đã từng đưa đất nước chúng ta xuống vực thẳm nghèo nàn và chậm tiến.[/quote]

    Bác này lại bị rơi vào khái niệm các đảng chính trị chỉ có 'thắng - thua' rồi. Sau khi thắng cử, thủ lĩnh các đảng thắng cử sau khi trở thành thủ tướng đều tuyên bố sẽ là thủ tướng của tất cả mọi người dân, không phân biệt đã bầu hay không bầu cho đảng mình. Đảng tôi bị thất bại tôi cũng chả thấy bị lép vế gì.

    Ở phương Tây tôi chả thấy người mạnh hiếp đáp kẻ yếu, chỉ thấy mấy ông kiểu dân Việt mình đến đó trả có đóng góp gì mấy vẫn được hưởng mọi phúc lợi xã hội. Tôi rất thích khẩu hiệu ở phương Tây "Không để nhóm thiểu số nào bị bỏ rơi". Mấy ông bà thiểu số đồng tính còn được tổ chức các lễ hội diễu hành rầm rộ biểu dương lực lượng ngoài phố. Các ngả đường bị chặn lại chỉ để cho mấy ông bà này diễu hành một cách an toàn mà thôi.

    Phản hồi: 

    Các bạn thân mến,

    Sự khác biệt trong việc tổ chức Đảng Chính Trị Việt Nam:

    1. Theo quan niệm tổ chức của Ðông phương, chúng ta thường dựa trên nền tảng Vì Nghĩa. Chúng ta ngồi lại với nhau vì thấy việc chung phải làm, và vì tình nghĩa với nhau mà làm việc chung, việc nghĩa. Bởi thế mới có những người Tụ Nghĩa, Kết Nghĩa rồi có Nghĩa Sĩ, Nghĩa Quân… Tất cả đều căn cứ trên động lực tinh thần, tấm lòng đối với việc chung, việc nước phải làm, với Quê Hương Dân Tộc hay ít ra vì nặng nợ ơn nghĩa với nhau.

    Vì vậy mục đích của việc kết tụ là “đền ơn đáp nghĩa,” hoặc làm ơn làm nghĩa… Với hình thức tổ chức của Ðông phương rất thích hợp với Tình Người, nhưng nặng phần chủ quan, lỏng lẻo, và nhẹ phần công tác. Do đó không khai thác và ứng dụng triệt để những điều kiện thành công khách quan, đây là điểm yếu trong công cuộc tổ chức đã thường dẫn đến thất bại của nhiều chính đảng hoạt động trên quê hương Việt Nam.

    2. Ngược lại, theo quan niệm Tây phương, nền tảng tổ chức là “hợp tác” và cùng nhau làm việc chung, việc nước. Nhưng mục tiêu của tổ chức là “hữu hiệu,” họ làm sao cho hoàn thành công tác trước mắt; tiếp đến mục đích của tổ chức là “hưởng lợi,” mọi người đều có lợi và càng lợi nhiều thì càng tốt, bởi có lợi thì con người mới thích tham gia.

    Do chủ trương “hợp tác sao cho hữu hiệu để hưởng lợi” đã phát sinh ra hình thức tổ chức mà ngày nay người ta mệnh danh là “dân chủ.” Hình thức này dựa trên nguyên tắc “đa số thắng thiểu số,” và trên phương thức “bầu cử với nhiệm kỳ.” Hình thức tổ chức này thành công trong việc xử dụng tài sức và vật dụng để phát triển. Tuy nhiên, vì hạn hẹp vào “lợi” cho nên hình thức tổ chức chỉ thích ứng trong phương diện “có lợi” mà thôi.

    Vì chủ đích hưởng lợi, nên hình thức tổ chức thường rơi vào tệ trạng với những nguy cơ man trá, thủ đoạn để thành công. Tóm lại, với chủ trương “đa số thắng thiểu số” của người Tây phương thì “mạnh được yếu thua” và “ai thắng thì có công lý,” cho nên thường trở thành hình thức hợp pháp giúp cho nhóm người mạnh đàn áp kẻ yếu, nhóm người có quyền lực áp bức bóc lột kẻ thế cô… Bởi thế chúng ta phải cẩn thận và đề ra cơ chế thích đáng nhằm ngăn ngừa nạn độc tài, đã từng đưa đất nước chúng ta xuống vực thẳm nghèo nàn và chậm tiến.

    Phản hồi: 

    Tại sao bác Bản không thêm vào cánh tả và cánh hữu ?

    Ví dụ ở Pháp, UMP được cho là cánh hữu. MoDem là cách trung, không hiểu là có phải là trung hữu hay không ?

    Phản hồi: 

    Cánh Cực Hữu, dễ có khuynh hướng cực đoan dân tộc, kỳ thị chủng tộc và bài ngoại.
    Chỉ khi nào kinh tế suy thoái, xã hội khó khăn thì cánh cực hữu mới phát triển

    Phản hồi: 

    Các Bạn thân mến,

    Theo nguồn tiên đoán, thì ngày mai (ngày 27 tháng 9 năm 2010) sẽ xảy ra sự kiện: Một Đại Nạn, bắt đầu từ Trung Quốc. Và vấn đề kinh tế thế giới thê thảm chưa từng thấy, riêng Việt Nam, Singgapore, Nhật, và Đông Nam Á bị ảnh hưởng nặng nề... giây chuyền rung chuyển tới Âu Mỹ!

    - Khi bùng nổ, các máy bay ngưng hoạt động một thời gian,
    - Thị trường chứng khoán, ngân hàng, kể cả máy ATM đều đóng cửa,
    - Tiền của các nước mất giá chưa từng có,
    - Thức ăn sẽ khan hiếm tức khắc, vì mọi người đầu cơ tích trữ,
    - Đói khát, loạn lạc...

    Cầu xin cho điềm xấu này đừng xảy ra, vì nếu xảy ra thì Đảng Cộng Sản VN, lúc đó cũng không thể cai trị được đám ma đói!

    Phản hồi: 

    Lại xin được cảm ơn bác Bản rồi!

    Trước, tôi cứ nghĩ việc giải phóng nô lệ và TT Lincoln phải là của Đảng Dân chủ, có lẽ vì tôi đã bị "định hướng": Dân chủ tôt hơn Công hoà!

    Hoá ra không phải vậy! Về cơ bản họ như nhau, đều là các chính đảng trong thể chế dân chủ, chỉ là trung tả hay trung hữu, như hai mặt của tấm huy chương vậy?

    Bài viết của bác Bản dẫn đến câu hỏi: một đảng chính trị theo khuynh hướng này (Tả?)có thể tự cải tổ dần thành khuynh hướng khác (Hữu?) không?

    Câu trả lời là: Không? Vì cách tổ chức và hoạt động của một đảng chính trị đã loại trừ mọi cơ may cải tổ như thế rồi. Chỉ còn một cách: đảng đó phải tự giải tán hay tan rã và những lãnh tụ cải tổ cân thành lập đảng mới.

    Tức là không thể hy vọng áp dụng chiêu "ve sầu lột xác" yêu thích của đảng cộng sản VN cho đảng cộng sản VN hiện nay?

    Chiêu bài ổn định xã hội chỉ là cái vỏ cho mong muốn kéo dài toàn trị cộng sản cang lâu càng tốt?

    Mong các bác chỉ giáo.

    Cảm ơn bác Bản và các bác.

    JLN

    Phản hồi: 

    Qua bài trên đây của bác Bản, bác PVĐ và bác Đợi Chờ, hai bác có cho rằng đảng CSCN cần hoặc có thể tách ra làm nhiều đảng tuy có thể có cùng lý thuyết về ly tưởng không ?

    Đó là lý do tại sao Hồ Chí Minh ra sức ép buộc mọi đảng viên CS phải đoàn kết nội bộ, dân chủ tập trung trong tay trung ương đảng và BCT. Ngay trong đảng cũng không cho phép khác biệt "công khai". Họ tiêu diệt ngay sự khác biệt này bằng cách chụp mũ "xét lại". Nhân danh "đoàn kết nội bộ" để thủ tiêu, triệt hạ những ai khác mình, như vậy ông Hồ không thể là dân chủ thật sự