Peter Coy - Marx vẫn sai

  • Bởi Admin
    24/09/2011
    6 phản hồi

    Peter Coy<br />
    Bản tiếng việt của PVLH

    Khủng hoảng kinh tế khiến những ý tưởng của Karl Marx lại trở nên hợp thời, nhưng thế giới không nên quên những gì Marx đã nhận định sai.

    karlmarx.jpg
    Minh họa của Andy Martin

    Xã hội thường tiến lên nhờ rút kinh nghiệm từ những sai lầm của mình. Bác sĩ không còn rút hết máu từ bệnh nhân. Phi công không gắng bay bằng cách buộc cánh vào tay mình. Chẳng còn ai vẫn còn nghĩ rằng nạn nô lệ là điều hay. Tuy nhiên, Karl Marx dường như là một ngoại lệ của quy tắc sống và học hỏi. Những tiên đoán nổi tiếng nhất của Marx đã thất bại; không có chế độ độc tài của giới vô sản, và nhà nước cũng chẳng lụi tàn. Môn đồ của ông có một số kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất của thế kỷ 20: Lenin, Stalin, Mao, Pol Pot. Thế nhưng triết gia thích tranh luận và bi quan này dường như vẫn có nhiều người ủng hộ trong mỗi thế hệ mới của những bạo chúa và những kẻ mơ mộng.

    Thậm chí ta có thể nói rằng Karl Marx hiếm khi nào có vẻ đúng hơn. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã làm xuất hiện một lớp người ngưỡng mộ mới ít ai nghĩ tới. Năm 2009, tờ báo chính thức của Vatican, L’Osservatore Romano, đăng một bài ca tụng lời chẩn đoán của Marx về bất bình đẳng thu nhập; quả là một kiểu tán thành đáng kể, nếu biết rằng Marx tuyên bố tôn giáo là “á phiện của nhân dân”. Ở Thượng Hải, trung tâm siêu tư bản chủ nghĩa của nước Trung Quốc chỉ có mỗi cái tên là Cộng sản, khán giả đổ tới xem một vở nhạc kịch năm 2010 dựa trên Tư Bản, tác phẩm nổi tiếng nhất của Marx. Ở Nhật, Tư Bản giờ có cả ấn bản hoạt họa manga. Năm ngoái, dân Brazil bầu một cựu du kích quân Marxist, Dilma Rousseff, làm tổng thống.

    Chuyện Marx trở thành mốt thời thượng chẳng có gì lạ ở thời điểm mà các ngân hàng Châu Âu đang đứng bên bờ vực sụp đổ và tình trạng nghèo đói ở Mỹ đã đạt tới những mức chưa từng thấp trong gần hai thập niên. Các chính khách biết họ có thể lấy điểm với cử tri của mình bằng cách công kích những nhà tư bản tạo công ăn việc làm như những tên vô lại bẩn thỉu.

    Nhưng điều đáng ngạc nhiên là thế này. Ta không cần mặc áo Che Guevara đi ngủ hay ném đá vào tiệm McDonald mới công nhận rằng tư tưởng của Marx là đáng nghiên cứu, đáng trăn trở, và có thể thậm chí áp dụng cho những thách thức hiện nay của chúng ta. Suy cho cùng, nhiều nhà tư tưởng tư bản chủ nghĩa vĩ đại cũng đã từng bàn về Marx. Joseph Schumpeter, bậc thầy về “sự hủy diệt mang tính sáng tạo” (creative destruction) và là anh hùng của nhiều người ủng hộ thị trường tự do, dành bốn chương đầu trong cuốn sách của ông in năm 1942, Capitalism, Socialism and Democracy (Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa Xã hội và Dân chủ), để khám phá Marx Nhà tiên tri, Marx Nhà xã hội học, Marx Nhà kinh tế học, và Marx Nhà thuyết giáo. Ông viết tiếp với nhận xét rằng Marx đã sai lầm, nhưng ông không thể bỏ qua Marx.

    Dù Marx lạc lối về nhiều điều, và dù có ảnh hưởng nguy hại ở những nơi như Liên Xô và Trung Quốc, trong khối tác phẩm (đồ sộ) của ông có những bài viết tinh tường sâu sắc đáng ngạc nhiên. Một trong những luận điểm quan trọng nhất của Marx là chủ nghĩa tư bản vốn dĩ bất ổn. Ta chỉ cần đọc tít thời sự từ Châu Âu – hiện bị ám ảnh bởi bóng ma Hy Lạp có thể vỡ nợ, một thảm họa ngân hàng, và sự sụp đổ của khu vực đồng tiền chung euro – là đủ thấy ông đúng. Marx chẩn đoán tính bất ổn của chủ nghĩa tư bản ở thời điểm mà những người cùng thời và những người đi trước ông, như Adam Smith và John Stuart Mill, hầu như mê mẩn với khả năng của chủ nghĩa tư bản trong việc phục vụ những ước muốn của con người.

    Gần đây, Marx thu hút sự quan tâm nghiên cứu thấu đáo từ những người như kinh tế gia Nouriel Roubini thuộc Đại học New York, và George Magnus, cố vấn kinh tế cao cấp của Ngân hàng Đầu tư UBS ở London. Chủ lao động của Magnus, ngân hàng UBS có trụ sở chính ở Thụy Sĩ, là một cột trụ của thế giới tài chính, với văn phòng ở hơn 50 nước và giá trị tài sản hơn 2 ngàn tỉ đô-la. Tuy nhiên, trong một bài viết ngày 28/8 cho Bloomberg View, Magnus nói rằng “nền kinh tế toàn cầu hiện nay có một số điểm tương đồng kỳ lạ” với những gì Marx đã tiên liệu. (Ông ghi chú đó chỉ là ý kiến cá nhân.)

    Thử bàn cụ thể xem sao. Theo Magnus, Marx tiên đoán rằng các công ty sẽ cần ít công nhân hơn khi họ cải tiến năng suất, tạo ra một “đội quân dự trữ công nghiệp” của những người thất nghiệp; sự tồn tại của đội quân này gây áp lực giảm lương cho những người có việc làm. Thời buổi này với tỉ lệ thất nghiệp Mỹ vẫn cao hơn 9 phần trăm, khó mà tranh cãi với điều đó. Hôm 13/9, Cơ quan Điều tra Dân số Mỹ công bố số liệu cho thấy mức thu nhập ở điểm giữa đã giảm từ năm 1973 cho tới 2010 đối với nam công nhân từ 15 tuổi trở lên, có việc làm toàn thời gian quanh năm, sau khi đã tính trượt giá. Thân phận của người lao động chân tay ở Mỹ vẫn khác xa với mức lương bèo bọt đủ sống và bóng ma “bất hạnh chồng chất” mà Marx gọi hồn kêu về. Nhưng cũng chưa phải tương lai tươi sáng.

    Marx thích chỉ trích nhà kinh tế học người Pháp Jean-Baptiste Say, người đã lập luận rằng tình trạng thừa thải hàng hóa chung không thể tồn tại bởi vì thị trường luôn khớp cung với cầu. Marx lập luận rằng tình trạng sản xuất thừa mứa là bản chất cố hữu của chủ nghĩa tư bản vì giai cấp vô sản không được trả lương đủ để mua hàng hóa do giai cấp tư sản sản xuất. Một lần nữa, gần đây khó mà phản bác lý thuyết đó. Cách duy nhất mà giới lao động Mỹ có thể duy trì tiêu dùng trong thập niên vừa qua là bằng cách vay mượn quá mức. Khi thị trường nhà sụp đổ, nhiều người lụn bại vì nợ ngập đầu. Cơn ác mộng vỡ nợ tiếp sau đó vẫn còn chưa dứt.

    Những người ái mộ Marx nhìn nhận tất cả những vấn đề với một thái độ “đã bảo mà” đầy thương hại. Nhà địa lý David Harvey, 75 tuổi, đã dạy cuốn Tư Bản của Marx trong 40 năm ở những trường bao gồm Đại học Oxford, Đại học Johns Hopkins, và hiện nay tại Trung tâm Cao học thuộc Đại học City University of New York. Văn phòng của Harvey, cách tòa nhà Empire State Building một con phố, được trang trí bằng một bức chân dung màn lụa vẽ Marx, từ trên tủ sách trừng mắt nhìn xuống. Cũng như Marx, Harvey tin rằng giới tư sản có khuynh hướng gieo mầm mống cho sự tự hủy diệt. Theo lập luận của vị giáo sư này, chủ nghĩa tư bản không kiềm chế có xu hướng đưa tới thặng dư vô độ, vì vậy việc hoàn toàn xóa bỏ quản lý điều tiết thực sự có tác hại cho chủ nghĩa tư bản về lâu dài. “Đảng Cộng hòa đang trên đường hủy diệt chủ nghĩa tư bản,” Harvey nói với giọng thích thú, “và họ có thể làm điều đó tốt hơn tầng lớp lao động.”

    Nhưng hượm đã. Điều mà Marx và các đồ đệ đánh giá thấp là khả năng tự lành bệnh của chủ nghĩa tư bản. Đó có thể là sai lầm trí tuệ tai hại của ông. Tuyên ngôn Cộng sản nói rằng khi cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra, nó sẽ mang lại giáo dục công cộng miễn phí cho trẻ em và xóa bỏ “lao động trẻ em trong công xưởng như hiện nay”. Thế nhưng, hóa ra là thế giới không cần đến một cuộc cách mạng vô sản để những cải cách xã hội đó diễn ra; chỉ cần có chủ nghĩa tư bản được khai sáng.

    Những nhà Marxist giáo điều thích nói rằng “cơ sở hạ tầng” kinh tế quyết định và kiểm soát “kiến trúc thượng tầng” chính trị xã hội, nhưng điều ngược lại cũng có thể đúng. Các lãnh tụ chính trị đã nhiều lần khắc phục những thặng dư của chủ nghĩa tư bản, như trong chiến dịch chống độc quyền của Tổng thống Teddy Roosevelt, chương trình phục hồi kinh tế New Deal [sau thời kỳ Đại Khủng hoảng 1929-1933, N.D.] của Tổng thống Franklin Roosevelt, và chương trình cải cách xã hội Great Society [xóa bỏ nghèo đói và bất công chủng tộc, N.D.] của Tổng thống Lyndon Johnson’

    Hiện nay, một lần nữa chủ nghĩa tư bản không kiềm chế đang đe dọa phá hoại chính mình. Những ngân hàng lớn nhất thế giới, yếu về tài chính nhưng mạnh về chính trị, đang siết chặt với người đi vay trong nỗ lực cứu vãn bảng cân đối kế toán của chính họ. Tương tự như thế, các nước chủ nợ như Trung Quốc và Đức đang cố gắng đổ gánh nặng tái cân đối lên vai các nước con nợ, mặc dù việc siết chặt họ quá mức có nguy cơ dẫn tới một thảm họa kinh tế và tài chính.

    Đã đến lúc cần có một đợt bùng nổ khai sáng khác. Trước kia, John Maynard Keynes của Anh, và Hyman P. Minsky của Mỹ (tác giả cuốn Stabilizing an Unstable Economy [Ổn định Một Nền Kinh tế Bất ổn]) đã giúp ích cho chủ nghĩa tư bản bằng cách chẩn đoán khuynh hướng sa vào khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và kê toa bốc thuốc để hồi phục. Các nhà hoạch định chính sách hiện nay càng sớm “nhận ra rằng chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngàn năm một thuở của chủ nghĩa tư bản,” như Magnus viết, “thì họ càng được trang bị tốt hơn để tìm được lối thoát ra khỏi khủng hoảng.” Thấu hiểu những khía cạnh Mark đã nhận định đúng là bước đầu tiên để tiến tới bảo đảm rằng những tiên đoán của ông về sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản vẫn còn sai lầm.

    Coy là trưởng biên tập Kinh tế của Bloomberg Businessweek.

    Dịch từ bản tiếng Anh “Marx to Market“, Bloomberg Businessweek, 14/9/2011

    Bản tiếng Việt: PVLH, Blog lên đông xuống đoài, http://phamvuluaha.wordpress.com

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Điều đúng nhất mà chính Marx đã cảnh báo là: Sẽ là thảm họa cho loài người nếu học thuyết cncs rơi vào tay những kẻ vô sản -kiểu lưu manh ,vô học đầu đường xó chợ.

    Nhưng theo tôi học thuyết của Marx còn rất dễ biến cả những kẻ trí thức nhiều tham vọng vô nhân tính trở thành những kẻ làm cách mạng mà thực chất là CẮT ( hoặc giết hoặc hại) mạng người không cùng quan điểm về cncs.

    Chính vì vậy tôi cho rằng khi xuất bản in ấn phẩm của marx phải ghi dòng chữ: SÁCH VỀ CNCS KHÔNG ĐƯỢC ĐEM ÁP DỤNG TRONG THỰC TIỄN VÌ GÂY HẠI NGUY HIỂM CHO CON NGƯỜI.

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2011/09/110923_capitalism_tim_jackson.shtml

    Mỗi xã hội đều dựa vào một huyền thoại nào đó và sống theo đó. Huyền thoại của chúng ta là tăng trưởng kinh tế.

    Trong vòng năm thập niên qua việc theo đuổi tăng trưởng đã trở thành mục tiêu về chính sách quan trọng duy nhất tại nhiều nơi trên thế giới.

    Nền kinh tế toàn cầu giờ đây lớn gấp năm lần so với nửa thế kỷ trước.

    Cứ đà tăng trưởng này thì đến năm 2100 nó sẽ lớn gấp 80 lần.

    Đà tiến hoạt động kinh tế toàn cầu sôi động một cách lạ thường này là chưa từng có tiền lệ trong lịch sử.

    Nó hoàn toàn không thích ứng với nguồn tài nguyên hạn chế và hệ sinh thái mong manh mà sự tồn tại của chúng ta phụ thuộc vào. Và kèm theo đó là sự xuống cấp của khoảng 60% hệ sinh thái toàn cầu.

    Hầu như chúng ta thường lảng tránh những con số gây choáng ngợp này. Tăng trưởng thì vẫn phải tăng, chúng ta quả quyết.

    Những lý do để nhắm mắt làm ngơ đồng loạt này dễ thấy.

    Chủ nghĩa tư bản phương tây được cấu trúc dựa trên tăng trưởng để đảm bảo ổn định. Khi tăng trưởng bị chững lại – như xảy ra gần đây – các chính khách bị hoang mang.

    Các doanh nghiệp chật vật tồn tại. Mọi người mất việc, và đôi khi mất cả nhà nữa. Vòng xoáy suy thoái hé lộ dần.

    Chất vấn tăng trưởng được coi là hành động của những kẻ mất trí, của người lý tưởng hóa và các nhà hoạt động cách mạng.

    Nhưng chúng ta vẫn phải xem xét vấn đề này. Huyền thoại về tăng trưởng kinh tế đã cho chúng ta bài học thất bại.

    'Đầu cơ thả phanh'

    Tăng trưởng đã chẳng giúp được gì cho hai tỉ người chỉ sống với dưới hai đôla một ngày.

    Nó đã làm đổ vỡ hệ sinh thái mong manh mà ta vẫn phụ thuộc vào để tồn tại. Nó đã thất bại, một cách ngoạn mục, bằng những cách riêng của nó, trong nỗ lực tạo ra một nền kinh tế ổn định và đảm bảo cuộc sống mọi người.

    "Tạo của cải cho số ít cá nhân, dựa trên sự phá hủy sinh thái và sự bất công xã hội triền miên, không thể là nền tảng cho một xã hội văn minh"

    Giáo sư Tim Jackson

    Tạo của cải cho số ít cá nhân, dựa trên sự phá hủy sinh thái và sự bất công xã hội triền miên, không thể là nền tảng cho một xã hội văn minh.

    Nhưng khủng hoảng kinh tế cho chúng ta một cơ hội đặc biệt để đầu tư vào sự thay đổi. Để loại bỏ kiểu nghĩ ngắn đã làm hoen ố xã hội suốt bao nhiêu năm.

    Để tiến hành một cuộc đại tu tận gốc các thị trường tư bản vốn hoạt động yếu kém.

    Thực trạng đầu cơ vô độ về hàng hóa và các sản phẩm tài chính đưa thế giới tài chính đến bờ vực sụp đổ chỉ ba năm trước đây.

    Nó cần phải được thay đổi bởi một cơ chế đồng vốn khác lâu dài hơn, chậm rãi hơn.

    Đầu tư vững chắc vào tài sản có giá trị lâu dài: đầu tư vào công nghệ sạch với hàm lượng các-bon thấp; vào y tế và giáo dục; vào nhà cửa chất lượng tốt và hệ thống giao thông hiệu quả; vào các khu nhà công và không gian mở. Đầu tư vào tương lai của cộng đồng chúng ta.

    'Đại tu doanh nghiệp'

    Thảm họa tràn dầu vùng Vịnh là lời cảnh báo cho đại công ty BP

    Doanh nghiệp cũng tới lúc cần phải đại tu.

    Kiếm lời một cách tàn nhẫn từ tiền thuế của người dân là vô đạo đức. Bàn tay vô hình của thị trường phải được thuần hóa để phục vụ mọi người.

    Những chủ tịch tập đoàn biết nhìn xa trông rộng từ những công ty có chiến lược đã hiểu được những đòi hỏi này.

    Doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội đã bắt đầu là phát triển mạnh trong nền kinh tế sau khủng hoảng.

    Sửa sai cho nền kinh tế chỉ là một phần của cuộc chiến.

    Chúng ta cũng phải đối diện với cái logic cuộn thừng của chủ nghĩa tiêu dùng.

    Ngày tháng mà ta tiêu tiền mà ta không sở hữu vào những thứ ta không cần chỉ cốt để làm người khác phải trầm trồ đã hết rồi.

    Sống lành mạnh là phải có nguồn dinh dưỡng tốt, có nhà cửa khấm khá, là tiếp cận dễ dàng tới các dịch vụ chất lượng cao, cộng đồng bình ổn, và hài lòng với công việc.

    Giàu có – với cách hiểu nào đi nữa về ngôn từ, cũng vượt quá sự quan ngại về vật chất.

    Nó phụ thuộc vào tình yêu của chúng ta cho gia đình, trong sự giúp đỡ bạn bè quanh ta.

    Nó chính là sức mạnh của cộng đồng chúng ta, trong khả năng mà chúng ta có thể tham gia sâu rộng vào cuộc sống xã hội một cách có ý nghĩa cũng như có mục đích cho cuộc sống của chúng ta.

    Thách thức đối với xã hội là phải tạo được những điều kiện để điều đó thành hiện thực.

    Đảng ta là đảng của các tư bản đỏ, của các tập đoàn kinh tế.
    Bác Hồ mà sống lại chắc không nhận ra cái đảng của mình

    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/business/2011/09/110922_capitalism_lord_desai.shtml

    Chủ nghĩa tư bản vẫn đang sống và sống khỏe – nhưng không phải ở các nước phương Tây mà đang dịch chuyển về phương Đông.

    Chủ nghĩa tư bản Nga đã già cỗi và cần gấp một cuộc đại tu, nhưng tinh thần của chủ nghĩa tư bản – dám mạo hiểm, tiết kiệm, đầu tư, cần cù – tất cả những đức tính đó đã di cư và tìm được tổ ấm ở Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nam Hàn và Nhật Bản – là những nước mà ta vẫn nghĩ chẳng bao giờ có thể thoát được đói nghèo.

    Chủ nghĩa tư bản phương tây đã có cả nửa thế kỷ xa hoa quá mức, liên tục thịnh vượng, thất nghiệp thấp, tăng trưởng gần như được đảm bảo và kết quả là chi phí của chúng ta tăng lên theo, ngành chế tạo phải chuyển ra nước ngoài, trong khi ngành tài chính chứng tỏ là người bạn thiếu chung thủy.

    Chúng ta sẽ phải nghĩ lại về mô hình của mình, giá trị của mình, sẽ lại cần đến những đức tính cũ bởi chủ nghĩa tư bản sẽ chẳng sớm biến mất.

    Nếu châu Á có chủ nghĩa tư bản tràn đầy khí lực và chúng ta vẫn giữ cái chủ nghĩa tư bản đã kiệt sức này, chúng ta sẽ phải trả giá lớn và bán sự thịnh vượng của mình cho sự thịnh vượng cho họ.

    Chủ nghĩa xã hội đã chết từ cách đây hai mươi năm – chủ nghĩa tư bản vẫn sống.

    Nó thay đổi hình thái, nó dịch chuyển, nó thật sự có qui mô toàn cầu.

    Cuối cùng thì nay chúng ta cũng hiểu được toàn cầu hóa là cái gì – nó có nghĩa là ai cũng có vị trí quan trọng như ai. Nếu ta không siêng năng làm việc, ta sẽ mất đi tầm quan trọng của chính mình.

    Đó là bài học của thế giới đương đại.

    Chủ nghĩa tư bản sống qua chu kỳ khủng hoảng, đó là cách nó tự làm mới và tiếp sinh lực cho chính mình.

    Với thực tế là chúng ta thiếu may mắn, chủ nghĩa tư bản hồi sinh bằng cách dịch chuyển về phương đông.

    Chúng ta bị bỏ lại với sự đổ nát và chúng ta phải làm điều gì đó để cứu chính mình ra khỏi đống gạch vụn này.

    Nhưng điều này phải được thực hiện dựa trên tinh thần của chủ nghĩa tư bản chứ không phải đi ngược lại tinh thần đó.

    Đã đến lúc cần có một đợt bùng nổ khai sáng khác

    Bác nào nghiên cứu nghĩ ra được solution mới cho cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chánh hiện nay mà không cần đến bạo lực để cướp và chém giết như Mac-Le, sẽ được giải nobel kinh tế ?

    Trích dẫn:
    Thế nhưng, hóa ra là thế giới không cần đến một cuộc cách mạng vô sản để những cải cách xã hội đó diễn ra; chỉ cần có chủ nghĩa tư bản được khai sáng.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_v%C3%B4_s%E1%BA%A3n

    Cách mạng vô sản là một cuộc cách mạng xã hội hoặc/và chính trị mà theo đó giai cấp công nhân tiến hành lật đổ tư bản. Chủ nghĩa Marx cho rằng là bước đầu tiên tiến đến loại bỏ ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Lenin cho rằng để chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản

    "Lật đổ tư bản" bằng cách nào ? Phá hoại sản xuất, cướp, giết hoặc bỏ tù ?
    Và thay thế tư bản bằng cái gì ? Bằng một giai cấp "tư bản đỏ" khác nhân danh vô sản?

    Đúng là không cần cách mạng vô sản của Mác và Lê Nin để chém giết và phá hủy.
    Chỉ cần có chủ nghĩa tư bản văn minh được khai sáng : tất cả hợp tác vì quyền lợi của mọi người.

    "Điều mâu thuẫn là một tác giả ít tiền như Marx lại viết rất nhiều về tiền bạc của hệ thống tư bản. Vậy mà ông đã có thể phân tích những mâu thuẫn, vạch trần những động lực, nghiên cứu lịch sử và tiên đoán ngày tàn của chế độ tư bản. Nói như vậy không phải để suy ra là Marx coi tư bản là một chuyện xấu. Ngược lại, ông đã ca ngợi hết lời giai cấp đã tạo ra hệ thống tư bản (điều mà cả hai phe chống và khen Marx đều im lặng một cách tùy tiện).

    Marx đã công nhận chưa có một hệ thống xã hội nào cách mạng như vậy trong lịch sử. Chỉ trong vài trăm năm mà giới tư bản trung lưu đã loại bỏ hầu hết tàn tích của chế độ quân chủ. Họ đã gầy dựng những kho tàng văn hoá và vật thể, đưa ra khái niệm nhân quyền, giải phóng nô lệ, lật đổ độc tài và đế quốc, tranh đấu cho tự do và thiết lập nền móng cho một nền văn minh thực sự cho toàn cầu. Thật là không có một văn bản nào ca ngợi tư bản như Bản Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, kể cả tờ Wall Street Journal."

    Nhưng điều quan trọng là chúng ta không nên "tuyệt đối hoá và khái quát hoá" một học thuyết của một đại tư tưởng gia như Karl Heinrich Marx.

    In Praise of Marx