Nguyễn Sĩ Dũng - Học ở Hiến Pháp năm 1946

  • Bởi Admin
    16/09/2011
    4 phản hồi

    Nguyễn Sĩ Dũng

    Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền trước hết phải có một bản Hiến pháp dân chủ. Bản Hiến pháp dân chủ là bản Hiến pháp phải do toàn dân hoặc Quốc hội lập hiến thông qua và phải được đặt ở vị trí cao hơn nhà nước. Nói một cách khác muốn tránh lạm quyền thì quyền lực nhà nước phải bị giới hạn bởi chính bản Hiến pháp dân chủ đó. Trong lịch sử chúng ta đã từng có một bản Hiến pháp được xây dựng trên tinh thần dân chủ như thế đó là Hiến pháp năm 1946.

    Ý kiến của tác giả Nguyễn Sĩ Dũng trong bài viết dưới đây một lần nữa khẳng định cần phải "học ở Hiến pháp 1946", học ở những giá trị lập hiến mà chúng ta đã có trong lịch sử từ cách đây hơn 60 năm. Rất nhiều những nhà khoa học khác cũng đã lên tiếng đồng tình với việc cần phải trở lại với những giá trị của Hiến pháp 1946, trở lại với những giá trị đích thực của Hiến pháp.

    Mong rằng quyền phúc quyết Hiến pháp của người dân sẽ được qui định và được hiện thực hóa trong lần sửa đổi Hiến pháp tới đây.

    Đất nước này là đất nước của hơn 90 triệu đồng bào. Vì thế xây dựng một nhà nước của dân thì không thể khác hơn nhân dân phải có quyền được phúc quyết Hiến pháp.

    Nguyễn Minh Tuấn

    HỌC Ở HIẾN PHÁP NĂM 1946

    Để nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về kỹ thuật lập hiến, về tư tưởng Nhà nước pháp quyền, có lẽ, chúng ta không cần phải học hỏi ở đâu xa, mà học ngay ở Hiến pháp năm 1946.

    Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Sự ngắn gọn này đạt được là nhờ vào việc Hiến pháp chỉ tập trung quy định những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp, mà cụ thể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực Nhà nước. Đây thực sự là một bản khế ước xã hội về việc phân chia quyền: quyền của các công dân và quyền của Nhà nước; quyền giữa các cơ quan Nhà nước với nhau.

    Nếu Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được tổ chức trên những nguyên tắc và thủ tục sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ, thì Hiến pháp 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.

    Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì Hiến pháp đã được đặt cao hơn Nhà nước. Về mặt thủ tục, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1. Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2. hoặc Hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ 3 năm. Như vậy, đáng ra nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70).

    Hai là, các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Ví dụ, Điều 10 quy định: “Công dân Việt Nam có quyền: - Tự do ngôn luận; - Tự do xuất bản; - Tự do tổ chức và hội họp; - Tự do tín ngưỡng; -Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”; Điều 12 quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Như chúng ta thấy, Hiến pháp không đặt vấn đề Nhà nước bảo đảm các quyền đó, mà ghi nhận các quyền đó như những quyền đương nhiên (do tạo hóa ban cho).

    Ba là, việc phân cấp, phân quyền được thực hiện khá mạch lạc, và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ, quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54)...

    Việc phân cấp, phân quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương cũng rất rõ. Ví dụ, Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59).

    Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính mà theo cấp xét xử (Điều 63); Hai là, xác lập quy phạm ở tầm hiến định là khi xét xử, thẩm phán “chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69).

    Hiến pháp năm 1946 là di sản to lớn về tư tưởng và văn hóa lập hiến của dân tộc. Di sản này sẽ mãi soi sáng trí óc và con tim của chúng ta trong quá trình phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

    Tác giả: Nguyễn Sĩ Dũng
    Nguồn: Tạp chí Tia Sáng, đăng ngày 16/09/2011, truy cập tại đây

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Bản hiến pháp 1992 rõ ràng là một bản hiến pháp... vi hiến. Từ dân chủ đa đảng 1946 cuối cùng bị nhào nặn phù phép ngược hẳn 180 độ trở thành độc tài độc đảng. Tu chính, chỉnh sửa là bổ sung chứ không triệt tiêu, đi ngược hẳn lại cái gốc.

    Thế này thì đến một lúc nào đó Đảng cộng sản sẽ tự tung tự tác sửa hiến pháp tuyên bố khôi phục lại chế độ phong kiến quá. Ai làm gì được Đảng?

    visitor viết:
    Tác giả viết:

    Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính mà theo cấp xét xử (Điều 63); Hai là, xác lập quy phạm ở tầm hiến định là khi xét xử, thẩm phán “chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69).

    Thật chí lí! Làm được như thế này thì mới có thể xét xử công tâm được, tòa án sẽ không còn sợ các cơ quan chính quyền có thể can thiệp thô bạo vào công việc của mình được.

    Tôi không hiểu rõ "thiết kế theo cấp hành chính" là thiết kế như thế nào ? Phải chăng mỗi xã mỗi huyện mỗi phường có một tòa án tương ứng ? Nếu đúng là vậy thì nên dẹp bỏ tòa án "thiết kế theo cấp hành chính" mà thay bằng theo cấp xét xử thì hợp lý hơn.
    Ví dụ nhiều xã có tòa án chung và các xã này không nhất định phải thuộc cùng một huyện. Tổ chức tòa án theo dạng xét xử hình kim tự tháp bottom up.

    Tuy nhiên việc quan trọng nhất vẫn là các thẩm phán, chánh án phải được tuyển chọn một cách minh bạch, độc lập với quan điểm chính tri (với đảng tịch) thì ngành tư pháp mới độc lập được. Phải kiên quyết loại trừ các thẩm phán, chánh án làm theo chỉ đạo của bất kỳ thế lực nào như đảng, chính phủ, quốc hội.
    Ngành tư pháp là một ngành độc lập, trọng tài lo về công lý, chỉ tuân theo hiến pháp và luật pháp chứ không thể tuân theo chỉ đạo của ai khác. Chính vì vậy, trên các bản án, thư trao đổi xuất phát từ tòa án, người ta không ghi thêm bất kỳ câu nào khác ngoại trừ tên và địa chỉ của tòa án.

    Ví dụ các tòa án ở Pháp, người ta chỉ ghi "Tòa phúc thẩm Paris" chứ không thêm vào "Cộng hòa Pháp" để biểu thị sự độc lập của trọng tài công lý, ngành tư pháp.
    Một công dân Pháp muốn tái lập chế độ quân chủ lập hiến như bên Anh chẳng hạn, nếu tòa án gởi thư triệu tập phiên tòa mà ghi "Cộng hòa Pháp" thì rõ ràng tòa án đã trắng trợn chống công dân Pháp này rồi. Tòa án trước hết phải là trọng tài cho các bên

    " Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền trước hết phải có một bản Hiến pháp dân chủ."
    Muốn có một bản Hiến pháp dân chủ thật sự !!! Thì tuyệt đối phải không có sự thao túng ,và nhúng tay vào của những người CSVN khi soạn thảo Hiến pháp mới của VN !.

    Tác giả viết:

    Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính mà theo cấp xét xử (Điều 63); Hai là, xác lập quy phạm ở tầm hiến định là khi xét xử, thẩm phán “chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69).

    Thật chí lí! Làm được như thế này thì mới có thể xét xử công tâm được, tòa án sẽ không còn sợ các cơ quan chính quyền có thể can thiệp thô bạo vào công việc của mình được.