Trần Minh Khôi - Chuyện hiến pháp (III)

  • Bởi Admin
    14/09/2011
    3 phản hồi

    Trần Minh Khôi

    Thay đổi cái gì?

    Đảng không phải là thế lực chính trị đầu tiên muốn dùng hiến pháp để chính đáng hóa quyền lực đang có. Chuyện này xưa nay các thế lực độc tài trên thế giới vẫn làm, và làm với nguồn trí tuệ và truyền thống không thua kém trí tuệ và truyền thống của Đảng. Tuy nhiên chưa có một đảng, hay cá nhân, cầm quyền chuyên chế nào thành công hay thất bại vì có hay không có hiến pháp. Lý do sụp đổ của một đảng, hay cá nhân, độc tài luôn nằm ngoài hiến pháp. Điều này gợi ý rằng sự thành công, nếu có, của cố gắng chính đáng hóa quyền lực qua việc viết lại hiến pháp này có tính tạm thời.

    Về khuôn mẫu thì kinh nghiệm thế giới cũng để lại nhiều. Năm mươi năm cầm quyền liên tục, trong một môi trường chính trị dân chủ, của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản có thể là một gợi ý hấp dẫn cho các viện nghiên cứu chính trị của Đảng. Các đảng độc tài Á Châu như Quốc Dân Đảng Đài Loan, TNT của Indonesia,… là những gợi ý khác.

    Những người quan tâm đến việc thay đổi hiến pháp lần này cũng đã đưa ra những mô hình thú vị. Đáng chú ý nhất là mô hình trong đó, để đổi lại việc kết hợp cơ cấu quyền lực của Đảng vào cơ cấu quyền lực nhà nước, qua việc công dân trực tiếp bầu các ứng cử viên Đảng chọn vào các vị trí quyền lực nhà nước, Đảng cho phép tạo ra một không gian chính trị ngoài Đảng (một số đại biểu ngoài Đảng nhất định, không do Đảng chọn, trong quốc hội và hội đồng nhân dân). Đây là một quan điểm có tính thỏa hiệp được thấy ở thời kỳ đầu hình thành cơ cấu quyền lực công dân bên cạnh quyền lực vua chúa ở Phương Tây. Quân chủ lập hiến, đi đến dân chủ hóa sinh hoạt chính trị, là một mô hình thành công. Nó giúp tránh những cuộc cách mạng đưa đến đổ vỡ xã hội như đã xãy ra ở Pháp và Nga. Nhưng thời đại đó đã đi qua. Ngày nay khó mà hình dung được 90 triệu công dân Việt Nam chấp nhận sự tồn tại vĩnh viễn của Đảng như một thực thể có tính vương triều đại diện quốc gia. Một khi cách cửa dân chủ đã mở, bằng sự tồn tại của một không gian chính trị ngoài Đảng, thì Đảng không thể chi phối nó được nữa. Cái không gian chính trị ngoài Đảng này sẽ sản sinh các tổ chức đảng phái chính trị khác, và khi chúng đũ lớn chúng sẽ trực tiếp thách thức quyền lực của Đảng. Đảng hiểu điều này hơn ai hết.

    Thỏa hiệp có khả năng xảy ra là Đảng cho phép công dân được trực tiếp sinh hoạt chính trị, bầu cử và ứng cử, ở các cơ quan nhà nước cấp thấp, ít ảnh hưởng đến quyền lực tập trung của Đảng ở trung ương. Thỏa hiệp này, được các nhà độc tài ở Á Châu thực hiện hồi giữa thế kỷ trước, giúp giảm sức ép chính trị từ phía xã hội dân sự đang ngày càng trưởng thành và duy trì quyền lực của Đảng trong một thời gian dài hơn.

    Như đã nói ở trên, các vấn đề bảo đảm quyền tự do hiến định của công dân, hoặc vấn đề xây dựng hoạt động tư pháp độc lập, không cần đến một hiến pháp mới. Vấn đề xã hội lớn nhất mà hiến pháp mới có thể giúp giải quyết là công nhận quyền tư hữu đất đai. Chưa có một đảng cầm quyền nào trên thế giới tự nguyện từ bỏ quyền lực của mình, đặc biệt là loại quyền lực đem lại sự giàu có. Không có dấu hiệu gì cho thấy Đảng tự nguyện từ bỏ một công cụ tước đoạt tài sản công dân đã giúp Đảng giàu có lên rất nhiều trong hai thập niên qua. Nhưng, trong sự cân nhắc kỹ lưỡng khả năng kiểm soát xã hội như đã nói đến ở trên, có khả năng Đảng sẽ thực hiện điều này để đảm bảo quyền sở hữu trên chính tài sản đất đai đã có cho các thành viên của Đảng.

    (Có nhiều người lập luận rằng Đảng không công nhận quyền tư hữu là vì lấn cấn trong lý luận của chủ nghĩa Marx. Lập luận này không có cơ sở. Khi cần thì Đảng đã không ngần ngại từ bỏ toàn bộ lý luận của hệ thống kinh tế chủ nghĩa xã hội của Marx để đi theo con đường kinh tế tư bản. Không có một yếu tố nào của chủ nghĩa xã hội Đảng giữ lại, tư bản nhà nước chẳng hạn, mà không trực tiếp phục vụ lợi ích của Đảng. Bên cạnh đó, Đảng đã không làm gì để bảo vệ quyền lợi của đông đảo giai cấp công nhân, giai cấp mà Đảng tự nhận là đại diện, đang bán sức lao động và sống lây lất ở các khu chế xuất và ở nước ngoài. Không có bằng chứng cho thấy Đảng trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin. Đảng dùng chủ nghĩa này như một công cụ cai trị mà thôi.)

    Một thay đổi khác, nhằm hiến pháp hóa thực tiễn, là thừa nhận thành phần doanh nhân trong các cơ chế quyền lực. Thói quen của khuôn mẫu cộng sản chia công dân thành những thành phần khác biệt có thể vẫn tiếp tục hiện diện trong hiến pháp mới. Nhưng điều này không còn có ý nghĩa thực tiển gì nhiều.

    Quay qua quay lại, không còn bao nhiêu điều Đảng có thể thay đổi trong hiến pháp để đem lại thực chất cho những tiến triển của sinh hoạt chính trị xã hội trong vài thập niên tới. Sự tiến triển này chỉ đến từ sự trưởng thành của xã hội dân sự, độc lập với những gì có hay không có trong hiến pháp, đến mức độ đũ để tạo áp lực chính trị cho việc ra đời của một hiến pháp bảo đảm quyền tự do thực sự của công dân. Hiến pháp sắp tới đây cũng sẽ dừng lại ở mức độ của những hiến pháp trang trí và hư danh.

    Để kết luận

    Sự thay đổi hiến pháp, dù đi theo chiều hướng nào, bao giờ cũng quan trọng. Trước hết là nó tạo một cơ hội đánh thức ý thức hiến pháp ở công dân. Tuyệt đại đa số công dân Việt Nam không biết đến, hoặc không đọc, hiến pháp. Không chỉ thế lực cầm quyền, chính công dân cũng phải chịu trách nhiệm về tính trang trí và hư danh của hiến pháp. Hiến pháp là trang trí, là hư danh chính vì công dân cho phép nó như thế. Một ý thức thường trực về hiến pháp ở công dân sẽ giúp thúc đẩy tiến trình hoàn thiện hiến pháp để bảo đảm các quyền tự do của họ.

    Xã hội Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội thần dân, với sự khiếp sợ truyền thống đối với nhà nước, sang xã hội công dân, coi nhà nước chỉ là một công cụ quản lý quốc gia do họ dựng nên. Sự tồn tại tiếp tục của Đảng ở vị trí quyền lực có thể được coi như là sự tồn tại của một vương triều cuối cùng. Thời gian tồn tại này dài hay ngắn tùy thuộc hoàn toàn vào sự trưởng thành và ý thức chính trị của xã hội dân sự. Đảng cần thay đổi hiến pháp là để điều chỉnh mối quan hệ của Đảng với xã hội dân sự. Cố gắng này đánh dấu sự trưởng thành từng bước của xã hội dân sự. Đó là điều đáng mừng.

    Quan tâm lớn nhất của Đảng, cũng như của tất cả các đảng cầm quyền trong lịch sử chính trị hiện đại, là duy trì quyền lực của mình. Điều này bình thường. Điều không bình thường là công dân và xã hội dân sự giao phó toàn bộ sứ mạng quốc gia cho Đảng, như trước đây người dân trong xã hội thần dân giao phó toàn bộ sứ mạng quốc gia cho vương triều. Nếu, trong một giai đoạn lịch sử nào đó, xã hội dân sự buộc phải thừa nhận quyền lực tuyệt đối của một đảng trong quyền lực nhà nước thì nó cũng phải đũ trưởng thành để kiểm soát quyền lực này trong khi chờ đợi quyền kiểm soát này được hiến định. Nếu không thì nó sẽ tiếp tục bị nhà nước thao túng.

    Xã hội dân sự Việt Nam chưa đũ trưởng thành. Và Đảng hiểu điều đó. Trong ngắn hạn, Đảng sẽ vẫn tiếp tục những cố gắng để kéo dài quyền lãnh đạo của mình và đè nén sự phát triển của xã hội dân sự trong chừng mực vẫn có thể đè nén được.

    Xã hội dân sự phải tận dụng cơ hội thay đổi hiến pháp này để khẳng định mình. Những đòi hỏi của xã hội dân sự đối với hiến pháp trong thời điểm này chắc chắn sẽ không được thực hiện. (Chúng đã có trong hiến pháp hiện nay rồi và không được thực hiện). Hiến pháp kế tiếp sẽ vẫn là hiến pháp của Đảng, nhằm bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Đảng. Nhưng sự thức tỉnh của ý thức hiến pháp trong xã hội dân sự sẽ giúp cho chính xã hội dân sự trưởng thành, từ đó giúp kiến tạo nền tảng cho tiến trình hiện thực hóa những điều khoản nhằm bảo vệ quyền tự do công dân ghi trong hiến pháp.

    Không ai khác, và không phải thế lực cầm quyền, mà chính xã hội dân sự là lực lượng duy nhất có khả năng biến một hiến pháp trang trí và hư danh trở nên một hiến pháp thực sự.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Trích dẫn:
    Không ai khác, và không phải thế lực cầm quyền, mà chính xã hội dân sự là lực lượng duy nhất có khả năng biến một hiến pháp trang trí và hư danh trở nên một hiến pháp thực sự.

    Phải cần cả hai chiều. HP cần tạo điều kiện tốt cho xã hội dân sự phát triển và XHDS ngày càng củng cố HP để thật sự phục vụ quốc gia. Chứ nếu HP cứ đè nén XHDS thì đến bao giờ mới có sức mạnh đủ để chuyển hóa HP?

    Về sửa đổi HP (dù là tu chính HP hiện thời hoặc ban hành một HP mới), có thể nào sẽ thêm một điều khoản nhắc đến Trung Quốc như một láng giềng hữu nghị mà dân tộc Việt Nam phải đối xử ưu tiên, trân trọng, ... mục đích là để dọn đường thênh thang cho TQ vào VN cũng như để luật hóa những hình phạt cho kẻ nào chống TQ?

    Một HP trước đây của VN (thời Lê Duẫn) đã xác định TQ là kẻ thù thì cũng rất có thể HP sắp tới sẽ đi ngược lại. Đỉnh cao trí tuệ loài người mà! Chuyện gì lại không dám làm!

    Trích dẫn:
    Không ai khác, và không phải thế lực cầm quyền, mà chính xã hội dân sự là lực lượng duy nhất có khả năng biến một Hiến pháp trang trí và hư danh trở nên một Hiến pháp thực sự.

    “Trong việc soạn thảo Hiến pháp, thực ra các công trình sư không cần phải nặng óc để tự sáng tạo từ con số không. Họ không cần phải “re-invent the wheel” vì có khá nhiều hiến pháp trên mặt đất đã chứng tỏ sự trưởng thành trong kiến thức và ý thức của nhân loại và có khả năng mang đến hạnh phúc cho nhân dân lâu dài. Hãy nhìn vào Hiến pháp Hoa Kỳ với trên 200 năm ổn định và tự do; Thụy Sĩ, Đan Mạch, Hòa Lan, Luxembourge trên 150 năm; Úc Đại Lợi trên 100 năm. Và đặc biệt là Hiến pháp 1949 CHLB Đức.

    Hiến pháp của xứ này tuy sinh sau đẻ muộn nhưng được thừa hưởng hầu hết những giá trị cốt lõi mà nhân loại đã học được và lược lấy trong việc tổ chức một cơ chế điều hành đất nước có đủ khả năng thực sự mang lại tự do, no ấm và hạnh phúc cho mọi người (ngay cả CHDC Đức cũng chấp nhận). Những bản Hiến pháp nói trên không những là tài sản của chính quốc gia đẻ ra chúng mà còn là tài sản chung của cả nhân loại. Vì thế không cần phải mặc cảm khi lấy đem về làm của cho mình. Không cần phải có “dấu ấn” của Á Đông hay của Việt Nam. Tự sáng tạo cho mình cái mới từ con số không, không những là làm uổng phí thời gian quí giá mà còn có thể gây nhiều rắc rối không cần thiết vì những ý tưởng chưa được thử nghiệm trên thực tế hoặc vì những lỗ hỏng tổ chức không nhìn thấy trước. Nói tóm lại: hãy tận dụng những cái có sẵn trong việc soạn thảo Hiến pháp cho Việt Nam, nhưng phải hiểu rõ thực chất của từng điều khoản trong văn bản.

    Trên tiến trình soạn thảo (sửa đổi) Hiến pháp và kiến tạo một quốc gia nhân bản, dân chủ, pháp trị, để đạt hiệu quả cao và bảo đảm sự hợp tác của mọi người, những qui trình và qui luật phối hợp làm việc nên được thiết lập trước và có sự đồng thuận của tất cả đại biểu. Sau đó mới nương vào những qui trình và qui luật này để tiến hành. Mỗi đại biểu nên chọn sẵn một số qui luật và qui trình để đóng góp ý kiến. Mỗi đại biểu nên liệt kê sẵn những điều khoản muốn đưa vào Hiến pháp để đề nghị. Việc soạn thảo nên được xúc tiến theo qui luật “thu hoạch những cái đồng thuận trước, bàn luận những cái dị biệt sau” và theo qui luật “thu hoạch cái cốt lõi trước, đánh bóng ngôn ngữ sau.”

    Những đại biểu soạn thảo Hiến pháp phải hiểu rõ trách nhiệm của mình là nhìn tới trước để thấy một ảnh tượng tốt đẹp của ngày mai và tận sức cống hiến tất cả những gì mình có thể cống hiến - niềm tin, trí tuệ, tình thương lớn - nhằm kiến tạo một phương tiện vô giá để biến ảnh tượng đó thành sự thật. Những đại biểu soạn thảo Hiến pháp phải hiểu rõ mỗi lời mỗi câu mình đặt xuống, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, sẽ quyết định mạng sống, sự sống và cách sống của toàn dân và sẽ lưu lại dấu ấn hàng trăm năm về sau. Những đại biểu soạn thảo Hiến pháp phải hiểu rõ chính mình là những công trình sư đang kiến tạo một con đường dẫn tới hạnh phúc, tự do của hàng chục triệu con người trong đất nước. Những đại biểu soạn thảo Hiến pháp phải hiểu rõ là mình đang “dấn thân làm một cuộc cách mạng trong sáng” ngay tại bàn hội nghị để mang lại hạnh phúc cho nhân dân.

    Những đại biểu soạn thảo Hiến pháp phải hiểu rõ việc làm của mình không có chỗ cho những tính toán đen tối vị kỷ, không có chỗ cho những tự ái sân hận tị hiềm vụn vặt, không có chỗ cho những chạy chọt lạm dụng xấu xa. Những đại biểu soạn thảo Hiến pháp phải hiểu rõ “tham dự với sự trong sáng thánh thiện” để thực hiện một “công trình của niềm tin, trí tuệ và tình thương lớn” là điều kiện tiên quyết đặt trên bản thân.”

    Iris Vinh Hayes