Tập đoàn Điện lực Việt Nam Cứu thua lỗ viễn thông bằng cách làm... kỳ lạ

  • Bởi Admin
    15/09/2011
    3 phản hồi

    Làm sai lệch giá trị thực của giá điện

    (HNM) - EVN kinh doanh viễn thông là lĩnh vực ngoài ngành, nhằm tận dụng lợi thế cơ sở vật chất và cũng phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

    Vấn đề không bình thường ở đây khi EVN xử lý sự thua lỗ của viễn thông bằng cách chuyển khoản lỗ này sang phần kinh doanh điện. Việc chuyển các khoản lỗ từ kinh doanh viễn thông sang kinh doanh điện không chỉ làm sai lệch giá trị thực của giá điện mà còn gây những hệ lụy khác về lòng tin của người dân.

    Thất bại viễn thông

    Như chúng ta đã biết, EVN kinh doanh viễn thông với rất nhiều lợi thế từ cơ sở vật chất của ngành. Tuy nhiên, kinh doanh điện và kinh doanh viễn thông ở nước ta là hai lĩnh vực khác nhau quá xa. Vì thế, nếu EVN mang tư tưởng kinh doanh điện sang kinh doanh viễn thông thì sẽ rất bất cập. Bởi lẽ, kinh doanh điện ở nước ta vẫn còn là độc quyền tự nhiên; viễn thông thì phải cạnh tranh quyết liệt.


    Việc chuyển các khoản lỗ viễn thông sang phần kinh doanh điện không chỉ làm sai lệch giá trị thực của giá điện mà còn làm mất lòng tin của người dân.

    Lợi thế về cơ sở vật chất cũng như nhân lực của EVN cũng chính là cái bất lợi nếu EVN không tìm được cách điều hành hợp lý. Đơn cử, hệ thống cáp quang có nhiều, đầy đủ nhưng lại thiếu sự liên kết trong quản lý (EVNTelecom và các điện lực, tổng công ty truyền tải cùng tham gia quản lý và vận hành), một hệ thống truyền dẫn cáp quang trên 63 tỉnh, thành có nhiều đơn vị khác nhau quản lý và vận hành, điều này dẫn đến chậm và phức tạp khi xử lý sự cố, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và đây chính là yếu tố gây trở ngại trong điều hành và kinh doanh viễn thông.

    Bên cạnh đó, hầu hết các tuyến cáp quang (cả phần thiết bị truyền dẫn lẫn cáp quang) trong địa bàn tỉnh lại do các đơn vị điện lực tự đầu tư, không có quy hoạch tổng thể toàn hệ thống 63 tỉnh, thành, thiếu tính đồng bộ, mạnh đơn vị nào đơn vị ấy tổ chức đầu tư lắp đặt, sau đó kết nối với mạng đường trục của EVNTelecom. Điều đó dẫn đến dễ bị tắc nghẽn khi nhu cầu thực tế khách hàng tăng lên (vì thiết bị truyền dẫn không đủ năng lực, trong khi dung lượng và số sợi cáp quang dư thừa), vấn đề này đã và sẽ tiếp tục cản trở việc kinh doanh viễn thông của EVN khi cạnh tranh với VNPT và Viettel.

    63 tỉnh, thành đều có đơn vị điện lực, vì thế đều có thể kinh doanh viễn thông được. Đây là thế mạnh để phát triển khách hàng. Vì vậy, sau khi được phép kinh doanh viễn thông công cộng, ban đầu EVN là doanh nghiệp phát triển khách hàng với tốc độ khá nhanh. Nhưng do nhiệm vụ chính của điện lực là kinh doanh điện, chức năng chăm sóc khách hàng không như viễn thông nên không giữ được khách hàng. Các đơn vị điện lực đều phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ là kinh doanh điện và kinh doanh viễn thông, trong khi đó EVNTelecom là đơn vị kinh doanh viễn thông chính lại không tham gia kinh doanh trực tiếp, không giao tiếp trực tiếp với khách hàng mà phải thông qua các đơn vị điện lực. Do đó, EVNTelecom không nắm bắt kịp thời nhu cầu và phản ảnh của khách hàng. Điều này đã khiến cho EVNTelecom bị xếp hạng chăm sóc khách hàng kém nhất trong các đơn vị kinh doanh viễn thông.

    Thêm nữa, CDMA là công nghệ duy nhất ở Việt Nam nên thiết bị đầu cuối (handset - điện thoại mobile, điện thoại để bàn không dây) không được xã hội hóa, không được bán trong các cửa hàng bán lẻ thông thường trên thị trường mà phải mua từ các cửa hàng của EVN. Điều này dẫn đến khách hàng sử dụng thiết bị đầu cuối của EVNTelecom không thể sửa chữa được ở cửa hàng điện thoại nào như công nghệ của Viettel, Vinamobi… mà phải tìm đến địa điểm quy định, có nơi một huyện mới có một điểm, rất bất tiện cho khách hàng. Do không được xã hội hóa nên đã ảnh hưởng lớn đến việc chăm sóc khách hàng.

    Cũng vì thiết bị đầu cuối không xã hội hóa được nên giá thành mua rất cao, trong khi đó muốn cạnh tranh trên thị trường thì lại phải bán rẻ hơn giá mua. Để bù đắp vào khoản chênh lệch này, EVNTelecom phải tính vào chi phí khiến cho chi phí cao, càng mua nhiều thiết bị đầu cuối càng lỗ và hệ quả là doanh thu mỗi ngày một giảm và kết quả là doanh thu không bù được chi phí, dẫn đến kinh doanh bị lỗ.

    Vì lý do trên, các tổng công ty điện lực không tiếp tục mua thiết bị đầu cuối. Nhưng không mua thiết bị đầu cuối thì sẽ không phát triển được khách hàng, không có thiết bị để thay thế cho khách, dẫn đến khách hàng rời khỏi mạng EVNTelecom và như vậy đồng nghĩa với việc thị phần bị teo lại trong khi kinh doanh viễn thông đang phải đối mặt với thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

    Cho đến thời điểm này, EVN đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho dịch vụ 3G nhưng không kinh doanh hiệu quả do chỗ có sóng, chỗ không. Cả dải miền Trung chỉ có Đà Nẵng có sóng nhưng cũng không ổn định (do không đầu tư triển khai khu vực này). Chất lượng mạng 3G như vậy không thể cạnh tranh được với Viettel và VNPT cho nên rất ít khách hàng sử dụng dịch vụ 3G của EVN. Doanh thu của 3G hiện nay (sau hơn một năm triển khai kinh doanh 3G) chỉ từ 2,5 đến 3 tỷ đồng/tháng, thay vì với mức vốn đã đầu tư thì doanh thu phải đạt ít nhất 10 lần mới đủ hoàn trả vốn trong 10 năm khấu hao.

    Chuyển lỗ cho các đơn vị điện lực!

    Ngày 11-7-2008, EVN ban hành Quyết định số 415/QĐ-EVN-HĐQT về việc ban hành Quy chế Quản lý tài chính đối với hoạt động viễn thông công cộng áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam, theo đó quy định, dịch vụ CDMA, đối với các thuê bao trả sau, EVNTelecom mua thiết bị đầu cuối, các công ty điện lực chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối theo tỷ lệ 45% thì được hưởng 45% doanh thu cước dịch vụ phát sinh; EVNTelecom hưởng 55%.

    Ở thời gian này, EVNTelecom đã vay tiền để mua thiết bị đầu cuối và các thiết bị này được giao cho các đơn vị điện lực bán. Như vậy, thiết bị đầu cuối này được các đơn vị điện lực bán và giao lại cho EVNTelecom 55% giá trị, 45% giá trị còn lại của thiết bị này các điện lực sẽ trả dần cho EVNTelecom trong 5 năm, còn doanh thu được chia với tỷ lệ đơn vị điện lực 45% và EVNTelecom 55%. Vậy tại sao việc kinh doanh lại bị lỗ?

    Ngoài các yếu tố về mô hình tổ chức và công nghệ, phải kể đến các quy chế tài chính đối với hoạt động viễn thông công cộng được áp dụng trong EVN. Tính đến nay, đầu tư thiết bị của EVNTelecom đã lên tới khoảng 4.500 tỷ đồng, với việc áp dụng quy chế tài chính chia tỷ lệ 45%/55% thì EVN phải đạt doanh thu 9.000 tỷ đồng. Đây là con số không khả thi trong điều kiện kinh doanh viễn thông hiện nay của EVN.

    Khi EVNTelecom khó có khả năng vay tiền để đầu tư thiết bị đầu cuối, ngày 29-9-2009, EVN lại ban hành Quyết định số 497B/QĐ-EVN về việc ban hành quy chế quản lý tài chính thay cho Quyết định 415/QĐ-EVN-HĐQT ngày 11-7-2008. Quyết định số 497B quy định: Đối với thuê bao phát triển từ ngày 30-9-2009 trở về trước, các công ty điện lực chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối theo tỷ lệ 45% và được hưởng 45% doanh thu cước dịch vụ phát sinh (sau khi đã trừ cước các dịch vụ GTGT của các nhà cung cấp khác và chi phí khuyến mãi); EVNTelecom chịu chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối là 55% và được hưởng phần doanh thu còn lại. Đối với thuê bao phát triển từ ngày 1-10-2009, các công ty điện lực chịu trách nhiệm đầu tư mua thiết bị đầu cuối và chịu 100% chi phí hỗ trợ thiết bị đầu cuối thì các công ty điện lực được hưởng 60% doanh thu cước dịch vụ phát sinh (sau khi trừ cước các dịch GTGT của các nhà cung cấp khác và chi phí khuyến mãi); EVNTelecom được hưởng phần còn lại.

    Sau khi phân tích tài chính năm 2009 của EVNTelecom thấy bị lỗ khoảng 1.026 tỷ đồng, vào tháng 3-2010 EVN đã quyết định chuyển toàn bộ khoản lỗ này sang các tổng công ty điện lực bằng quyết định tăng giảm vốn đầu tư của EVN tại công ty con. Khoản tiền này sẽ được treo nợ trả dần trong 5 năm kể từ năm 2009.

    Thực chất của bài toán chuyển tài sản này sẽ làm giảm lỗ trên sổ sách của EVNTelecom, giúp cho bức tranh tài chính của EVNTelecom có vẻ sáng sủa hơn. Để giảm lỗ cho EVNTelecom, cũng trong tháng 3-2010, EVN lại quyết định áp dụng thay thế tỷ lệ 45%/55% bằng tỷ lệ 30%/70% áp dụng để tính toán cho năm 2009.

    Mỗi năm, ngành điện cần tới hàng chục nghìn tỷ đồng để phát triển các công trình nguồn, lưới... EVN thiếu vốn là một thực tế. Nhưng sự việc xử lý các khoản lỗ của EVNTelecom và những hệ lụy của nó đã làm sai lệch sự nhìn nhận của người dân đối với giá điện.

    Nhóm PV điều tra

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Phản hồi: 

    Công ty VMS Mobifone hàng năm nộp vào ngân sách nhà nước không dưới 4 000 tỷ, thế nhưng Công ty rất thận trọng với dự án 3G. Trước khi thi tuyển 3G, Công ty VMS thuê tư vấn nước ngoài tư vấn xây dựng mạng 3G và Công ty đã chuẩn bị sẵn sàng hồ sơ mua sắm thiết bị để khi có kết quả thi tuyển 3G là lập tức đấu thầu mua sắm thiết bị. Công ty VMS sau 3 tháng có kết quả thi tuyển 3G đã cung cấp dịch vụ 3G ra công chúng và đến nay Công ty đã có 4 triệu thuê bao 3G chiếm 18% doanh thu. Tuy nhiên Công ty VMS vẫn rất thận trọng với dự án 3G với số trạm hiện có rất khiêm tốn 5 400 trạm.

    Công ty EVNTelecom thì sao? Mạng CDMA 450 MHz với vùng phủ sóng rộng chỉ cần đầu tư 3 000 trạm đã phủ sóng 80% vùng lãnh thổ và mạng CDMA đã đem lại cho EVNTelecom doanh thu 3 800 tỷ/năm. Tuy nhiên năm 2010 doanh thu giảm sút chỉ còn lại 1/3 và Điện lực phải bù lỗ để EVNTelecom khấu hao thiết bị đầu cuối, Điện lực phải cộng doanh thu cho thuê cột điện, thuê cáp quang, thuê anten… vào doanh thu viễn thông công cộng. Mỗi Công ty Điện lực hàng năm nộp nghĩa vụ thuế cho Nhà nước chưa đến 10 tỷ nhưng phải bù lỗ cho EVNTelecom gần 10 tỷ từ doanh thu cho thuê cột điện, cột anten, cáp quang…

    Mạng 3G của EVNTelecom hiện có 2500 trạm với số tiền đầu tư 3 000 tỷ, trong đó 80% số tiền đầu tư là đi vay, trong khi EVNTelecom còn 720 tỷ trái phiếu đáo hạn 2013. Tuy nhiên trạm 3G bố trí không hợp lý nên doanh thu từ 3G năm 2010 chỉ là 5,6 tỷ.

    Trong bối cảnh EVNTelecom có thể sẽ đi vào con đường của ALCII, Công ty EVNTelecom vội vàng bán 60% vốn điều lệ cho Tập đoàn FPT với số tiền đầu tư đầu tiên 4 000 tỷ để lắp đặt thêm 5 000 trạm 3G, bên cạnh đó Tập đoàn FPT là tập đoàn mạnh về tài chính, với phương thức quản trị tiên tiến và biện pháp “thời chiến” sẽ vực dậy EVNTelecom. Tập đoàn FPT với ý định thay thế toàn bộ thiết bị truyền dẫn, những khu vực FPT đã có mạng Man E thì nodeB được kết nối mạng ManE, những khu vực chưa có Man E thì Tập đoàn FPT xây dựng mạng ManE vừa kết hợp công nghệ G-PON để cung cấp dịch vụ FTTH đồng thời kết nối nodeB 3G. Tuy nhiên thương vụ M&A giữa EVNTelecom và FPT bất thành. Chính vì thương vụ mua bán này bất thành FPT phải bị đóng băng khoản tiền đặt cọc 708 tỷ trong ngân hàng từ tháng 10/2010 và nếu chỉ tính riêng lãi suất cho vay 14%/năm thì FPT đã mất khoản tiền 100 tỷ, thế nhưng chính khoản tiền đặt cọc cũng không biết khi nào mới thu hồi về được.

    Vùng phủ sóng 3G hẹp không thể kinh doanh được và để nâng cao chất lượng vùng phủ sóng, EVNTelecom dự kiến đầu tư thêm 3 800 trạm để đưa số trạm 3G lên 6 300 trạm. Trong bối cảnh vốn đầu tư là vốn vay nhưng EVNTelecom không có quyền tự quyết. Tất cả các công việc quy hoạch thiết kế nodeB, vận hành trạm, công tác kinh doanh đều do Điện lực thực hiện. Điện lực đã thiết kế quy hoạch nodeB không đúng tiêu chuẩn dẫn đến vùng phủ sóng hẹp, vùng phủ sóng mang tính cục bộ và sẽ xảy ra tình trạng chèn sóng giữa các trạm. Bên cạnh đó cán bộ làm công tác viễn thông tại điện lực yếu kém về quản trị, không có chuyên môn chính là nguyên nhân dẫn đến thất bại của 2G.

    Đơn vị xây lắp viễn thông thuộc VNPT xây lắp hạ tầng viễn thông của Điện lực cười đùa, Đơn vị đã xây lắp hạ tầng viễn thông cho các đơn vị VinaPhone, Mobifone, Viettel, Vietnammobile... nhưng xây lắp cột anten 3G cho Điện lực là khác biệt.

    Cột anten Điện lực chỉ cao 18m so với mặt đất đã thế có nhiều vị trí cột anten được đặt tại vị trí địa hình quá thấp, tủ thiết bị có kích thước 100cmx50cmx40cm không biết dùng làm gì đã thế còn xây hàng rào kiên cố để bảo vệ tủ, hệ thống cầu cáp cũng không, tủ BTS cũng không, nhà trạm cũng không ... hay sử dụng cho nodeB outdoor nhưng nodeB outdoor trong trường hợp đặc biệt mới lắp đặt tại khu dân cư và phải đảm bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt tránh ảnh hưởng sức khoẻ người dân, dây tiếp đất kim thu sét chỉ dây đồng M50, hệ thống tiếp đất bao nhiêu ohm cũng được dẫn đến có nhiều vị trí điện trở tiếp đất còn lớn hơn cả tiêu chuẩn bảo vệ sét cho công trình xây dựng là 10 ohm.

    Nhà mạng khác yêu cầu xây lắp cột anten 3G phải cao hơn 2G, sector 3G lắp trên sector 2G. Cột anten 18m phải được đặt trên nóc nhà đảm bảo độ cao 36m đối với khu vực thành phố, đồng thời đảm bảo sector lắp đặt cao hơn nhà cao tầng gần đó để không bị nhà cao tầng chắn sóng.

    Nhà thầu tham gia các gói thầu xây lắp hạ tầng dự án 3G giai đoạn 2 của Điện lực đã hoàn thành hạng mục trước 30/09/2010 như Hợp đồng đã ký kết nhưng đã gần một năm rồi mà Điện lực không chịu thanh toán. Nhà thầu đã xuất hoá đơn, thanh lý hợp đồng nên năm 2011 không được thanh toán thì Nhà thầu không biết báo cáo thuế như thế nào và báo cáo sai thì bị phạt thuế. Nhiều Nhà thầu để thực hịên gói thầu phải vay lãi suất ngân hàng 22%/năm và không được thanh toán trong năm 2011 phải bị phạt lãi suất do đáo hạn có thể đẩy Nhà thầu vào nguy cơ phá sản.

    Đối với người dân sống gần cột anten của Điện lực không đúng tiêu chuẩn là một hiểm hoạ. Cột anten là điểm thu sét nên yêu cầu tiêu chuẩn xây dựng điện trở tiếp đất nhỏ hơn 10 ohm, còn tiêu chuẩn cho thiết bị viễn thông nhỏ hơn 1 ohm, dây tiếp đất kim thu sét dây đồng M95. Tuy nhiên nhiều cột anten không đảm bảo tiêu chuẩn đã trở thành hiểm hoạ đối với người dân sống gần cột anten và cũng là hiểm hoạ đối với chính hộ gia đình cho thuê mặt bằng.

    Hộ gia đình cho thuê mặt bằng xây lắp cột anten cũng bức xúc, đã giao mặt bằng từ 30/6/2010, xuất hoá đơn năm 2010 nhưng đến nay Điện lực vẫn không thanh toán tiền thuê mặt bằng. Hộ gia đình nghe thông tin Điện lực đang có kế hoạch huỷ bỏ hợp đồng và không cần xuất hoá đơn năm 2011.

    Công tác thiết kế và quy hoạch nodeB của Điện lực thì sau khi EVNTelecom hoàn thành lắp đặt 7 500 nodeB thì vùng phủ sóng vẫn không bằng vùng phủ sóng của 5 400 nodeB hiện có của Mobifone. Trong khi Mobifone mạng 3G roaming qua 2G, nodeB 3G cung cấp truyền dẫn bằng mạng ManE và khách hàng sử dụng dịch vụ di động Mobifone có thể dễ dàng chọn lựa chế độ UMTS để chọn 3G hoặc chế độ GSM chọn 2G hoặc song công 2G và 3G. Nhưng EVNTelecom mạng 3G không thể roaming qua 2G, các nodeB chỉ được kết nối 4 luồng 2Mbps của thiết bị Metro 1000 đang cấp cho BTS CDMA.

    Như vậy nếu giã sử EVNTelecom vỡ nợ trách nhiệm sẽ thuộc về ai? Tuy Điện lực đã đầu tư số vốn không nhỏ vào viễn thông và đang thua lỗ trầm trọng phải bù lỗ bằng kinh doanh điện.

    Phản hồi: 

    Năm 2010 EVNTelecom thua lỗ khoảng 1 500 tỷ, về phía Điện lực thua lỗ kinh doanh viễn thông công cộng khoảng 3 000 tỷ đồng. Tổng thua lỗ kinh doanh viễn thông của Tập đoàn Điện lực Việt Nam năm 2010 khoảng 4 500 tỷ và khoản thua lỗ kinh doanh viễn thông gần bằng quỹ lương của cả Tập đoàn.

    Năm 2010 EVNTelecom chi 3 000 tỷ nhưng thu chỉ được 2 000 tỷ nên EVNTelecom thua lỗ 1 000 tỷ đó là chưa tính 3G. Dự án 3G giai đoạn 1 EVNTelecom ký hợp đồng với nhà thầu năm 2009, đầu năm 2010 thì nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng và tháng 6/2010 thì EVNTelecom đã khai trương dịch vụ 3G. Tuy nhiên sau hơn một năm nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng nhóm nhà tài trợ dự án 3G giai đoạn 1 của EVNTelecom chưa đồng ý giải ngân cho nhà thầu và tỷ giá đô tăng làm EVNTelecom phải chịu thêm một khoản thua lỗ, bên cạnh đó cộng với khoản thuê hạ tầng 3G giai đoạn 1, tiền thuê mặt bằng lắp đặt trạm 3G đã làm EVNTelecom thua lỗ 3G khoảng 500 tỷ.

    Năm 2010 Điện lực đầu tư 100% thiết bị và được hưởng tỷ lệ 60/40. Điện lực đặt mua một máy điện thoại bàn E-COM rẻ cũng 7 00 000 đồng, có Điện lực đặt mua máy bàn có giá 1 400 000 đồng.

    Năm 2010 cũng chính là năm điện thoại cố định suy thoái và để giải quyết điện thoại không dây tồn kho các nhà mạng đua nhau tặng máy, tặng cả thuê bao. Điện lực lúc đầu bán máy nhưng thấy các nhà mạng cho máy thì cũng phải cho máy chấp nhận chịu lỗ để thu một phần vốn. Điện thoại cố định chủ yếu là thuê bao doanh thu trung bình khoảng 25 000 đồng/tháng tức là khoảng 300 000 đồng/năm. Phát triển một thuê bao E-COM Điện lực được hưởng 60% tương ứng với 180 000 đồng/năm. Tuy nhiên có nhiều khách hàng sử dụng một thời gian ngắn đã cắt thuê bao và xem như khách hàng sử dụng tối đa 2 năm tương ứng với thời gian khấu hao thiết bị đầu cuối được tính là chi phí sản xuất, thế thì phát triển 1 thuê bao E-COM mỗi năm lỗ 170 000 đồng/năm và tổng cộng thua lỗ phát triển một thuê bao là 340 000 đồng.

    Máy di động CDMA rất đắt và giá mỗi máy đặt hàng nước ngoài cũng phải vài triệu, trong khi máy di động GSM chỉ có giá vài trăm ngàn. Điện lực mua một máy di động CDMA vài triệu nhưng phải bán cho khách hàng 7 00 000 đồng để phát triển thuê bao.Như vậy để phát triển 1 thuê bao di động CDMA thì Điện lực phải bù lỗ ít nhất một triệu. Tuy vậy dịch vụ di động CDMA chỉ một số ít nhân viên ngành điện sử dụng.

    Năm 2010 cũng là năm doanh thu dịch vụ CDMA giảm sút nghiêm trọng và để phần nào bù lỗ cho EVNTelecom, Tập đoàn EVN đã ra quy định thuê bao CDMA phát triển trước 1/1/2010 thì EVNTelecom sẽ được hưởng doanh thu theo tỷ lệ 70/30. Chính những thuê bao phát triển năm 2009 trở về trước còn lại là thuê bao trung thành và có doanh thu ổn định. Do vậy đối với dịch vụ CDMA thì EVNTelecom lỗ 1 thì Điện lực lỗ 2.

    Tập đoàn EVN đề ra năm 2010 là năm thực hiện chiến lược internet cáp quang FTTH. EVNTelecom cấp một luồng FE và đầu tư 1 số switch quang điện và yêu cầu Điện lực đầu tư converter, cáp quang FTTH, modem quang, ODF quang để cung cấp dịch vụ internet cáp quang FTTH. Điện lực cũng hồ hởi đầu tư vật tư thiết bị để cung cấp dịch vụ internet cáp quang.

    Các nhà mạng cung cấp dịch internet cáp quang FPT, VNPT …có mạng core internet có tốc độ vài chục Gbps, mạng nội hạt là mạng Metro (Man-E) kết hợp công nghệ G-PON. Cấu trúc mạng cung cấp internet như trên vừa đảm bảo tốc độ và an toàn đường truyền đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng.

    Thời điểm đầu năm 2010, Điện lực đầu tư cung cấp dịch vụ internet cáp quang cho khách hàng gồm 1 km cáp quang FTTH có giá 3 000 000 đ, 02 converter có giá 1 400 000 đồng, 01 ODF quang có giá 400 000 đồng, modem quang có giá 2 200 000 đồng, nhân công 500 000 đồng/thuê bao thì tổng cộng khoảng 7 500 000 đồng. Doanh thu mỗi thuê bao 1 000 000 /tháng và Điện lực được hưởng 50% thì sau 2 năm Điện lực đã có lợi nhuận 4 500 000 đồng. Tuy nhiên chất lượng dịch vụ kém nên một thời gian ngắn khách hàng đã cắt dịch vụ và thậm chí Điện lực chấp nhận lỗ khuyến mãi 50% giá trị còn 500 000 đồng/tháng nhưng khách hàng vẫn không sử dụng.

    Chất lượng dịch vụ internet kém khách hàng không sử dụng nên Điện lực thay switch quang điện bằng switch quang và đặt một loạt switch quang gần địa điểm cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên bản chất của cấu trúc mạng không thay đổi nên chất lượng vẫn không được cải thiện. Điện lực đã khuyến mãi khủng 70% chỉ còn 300 000 đồng/tháng nhưng vẫn không có khách hàng sử dụng.

    Năm 2010 Tập đoàn đã bổ nhiệm lãnh đạo chuyên trách công tác viễn thông từ Tập đoàn cho đến Điện lực huyện, bên cạnh đó Tập đoàn cũng tuyển thêm nhân viên làm công tác viễn thông để thành lập và hoàn thiện bộ phận chuyên trách công tác viễn thông từ Tập đoàn cho đến Điện lực huyện. Do vậy quỹ lương cán bộ làm công tác viễn thông cùng góp thêm phần thua lỗ của kinh doanh viễn thông.

    Năm 2010 Điện lực đã thua lỗ kinh doanh viễn thông quá lớn và rút kinh nghiệm năm 2011 Điện lực đầu tư mua thiết bị đầu cuối ít hơn và tập trung mua thiết bị đầu cuối cũ từ khách hàng để tân trang lại. Doanh thu CDMA năm 2011 vẫn tiếp tục giảm sút từ doanh thu CDMA năm 2008 là 285 tỷ/tháng, năm 2009 là 262 tỷ/tháng và năm 2011 chỉ còn khoảng 55 tỷ/tháng.

    Năm 2011 EVNTelecom vẫn chưa thấy có gì sáng sủa hơn, đối với doanh thu viễn thông thì vẫn tiếp tục sụt giảm, còn dự án 3G giai đoạn 1 thì ngân hàng chưa cho giải ngân, còn dự án 3G giai đoạn 2 nhà thầu đã bàn giao thiết bị từ đầu năm 2011 nhưng EVNTelecom vẫn chưa tìm được nơi vay để trả tiền thiết bị. Dự án 3G giai đoạn 2 EVNTelecom chưa ký hợp đồng thuê cơ sở hạ tầng với Điện lực nên EVNTelecom cũng không trả tiền thuê mặt bằng lắp đặt cột anten và nhà trạm.

    Năm 2011 kinh doanh viễn thông đối với Điện lực càng đen tối hơn. Điện lực phải trả lãi vay của khoản tiền 2 100 tỷ cho hạ tầng dự án mạng 3G giai đoạn 2 và tiền thuê mặt bằng lắp đặt cột anten, nhà trạm thì Điện lực đã lỗ khoảng 500 000 tỷ.

    Do vậy để minh bạch giá điện là cơ sở tạo sự đồng thụận của xã hội trong việc nâng giá điện. Điện lực có thể chuyển các khoản lỗ viễn thông từ Điện lực cho EVNTelecom và EVNTelecom có thể nộp đơn xin bảo hộ phá sản.

    Phản hồi: 

    Cách giải quyết là hoặc bán EVNTelecom cho tập đoàn khác hoặc tách EVNTelecom ra thành một công ty khác.

    Các tập đoàn của đảng làm ăn nhập nhằng về tài khoản, ngân sách, tạo lạm phát cao, hiệu quả đầu tư kém tạo tham nhũng chia chác tràn lan. Tuy nhiên ban lãnh đạo các tập đoàn thì hả hê vì có tiền bỏ túi.

    Không thấy chánh án dỏm Trương Hòa Bình bàn và đấu tranh về tham nhũng mà Bình chỉ nhắc về an ninh.