Trần Minh Khôi - Chuyện hiến pháp (II)

  • Bởi Admin
    14/09/2011
    2 phản hồi

    Trần Minh Khôi

    Tại sao phải thay đổi hiến pháp trong lúc này?

    Định nghĩa:

    Đảng: là một nhóm, trên dưới 200 người, đang ở các vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự có quyền lực. Trong số này, một nhóm nhỏ trên dưới 20 người nắm gần như toàn bộ quyền lực trong quân đội, an ninh, và kinh tế. Tuyệt đại đa số đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là công chức nhà nước thuần túy. Đảng trong bài này là để chỉ một nhóm nhỏ, ràng buộc với nhau bởi quyền lợi, trong Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Từ hai mươi năm nay, nếu Đảng thực hiện một cách trung thành những điều khoản đã đưa ra trong Hiến pháp 1992 - các quyền tự do của công dân được bảo đảm bằng luật pháp (Chương V), hệ thống tư pháp độc lập (Chương X), quốc hội bầu chủ tịch nước (Chương VII), chính quyền là bộ phận hành pháp của quốc hội (Chương VIII) – thì Việt Nam đã là một quốc gia tiến bộ, ngay cả trong sự thiếu vắng các cơ chế bầu cử dân chủ và sự tồn tại của một đảng độc tài. Công lý, mục tiêu tối thượng của hiến pháp, đã một phần được thực hiện.

    Nhưng Đảng đã không làm điều đó. Cái logic của quyền lực không cho phép Đảng thực hiện điều đó, ngay cả khi có những thành viên của Đảng muốn. Quyền tự do của công dân, được bảo vệ bởi một hệ thống tư pháp độc lập, không thể đứng chung với quyền lực độc tôn của chỉ mỗi một đảng trong bất cứ hệ thống chính trị nào. Chúng chỉ có thể được bảo đảm trong sự hy sinh quyền lực độc tôn của đảng cầm quyền. Lịch sử chính trị thế giới chứng minh rằng không có một đảng chính trị nào hy sinh quyền lực của mình cho quyền tự do của công dân. Có lý do gì để tin rằng Đảng sẽ là một ngoại lệ?

    (Ở đây cần phải mở ngoặc để có một ghi chú về những quan điểm cho rằng với Hiến pháp 1992, Đảng đã “trả lại” cho công dân một số quyền, trong đó chủ yếu là quyền kinh doanh cá thể. Thật ra, Đảng không trả lại cho công dân quyền nào cả. Quyền kinh doanh cá thể (Chương II – Điều 21) là quyền tự có của công dân khi Đảng, từ trong khủng hoảng của cơ chế kinh tế tập trung, chuyển sang kinh tế thị trường. Tự do kinh doanh cá thể là đặc trưng của kinh tế thị trường mà Đảng không thể đảm đương được. Trong các điều còn lại của Chương II, Đảng đã rất kỹ lưỡng liệt kê tất cả những tài sản quốc gia thuộc về mình. Đảng chưa bao giờ có quyền lực lớn như lúc này. Đảng chưa bao giờ giàu có hơn lúc này. Những gì công dân có được từ sự thay đổi trong Hiến pháp 1992 so với những gì Đảng có được là không đáng kể. Tỉ lệ quyền lực của Đảng và quyền của công dân lúc này lớn hơn tỉ lệ đó hai mươi năm trước. Tỉ lệ sự giàu có của Đảng và của công dân lúc này còn lớn hơn rất nhiều lần. Do đó, không thể lập luận là Đảng đã “trả lại” cho công dân những quyền gì.

    Tương tự, có quan điểm cho rằng trong giới hạn nào đó Đảng đã trả lại một không gian, dù nhỏ, cho tự do ngôn luận. Những người cổ xúy quan điểm này đưa ra bằng chứng cho rằng so với hai mươi năm trước thì công dân hiện nay có quyền tiếp cận đến những nguồn thông tin phong phú hơn. Đúng là như tế, nhưng với một lý do hoàn toàn khác: sự bùng nổ của công nghệ thông tin chứ không phải sự tự nguyện hy sinh quyền lực của Đảng là nguyên nhân của không gian tự do thông tin mà công dân đang có này.)

    Một vấn đề nhức nhối khác, và đây là vấn đề của công lý, trong thực tiển xã hội Việt Nam hiện nay là những điều khoản trong Chương II của Hiến Pháp 1992 đã trang bị cho Đảng, qua cơ chế sở hữu nhà nước, một công cụ tước đoạt tài sản (quyền sử dụng đất đai) của công dân. Nó tạo ra những biến chứng xã hội càng lúc càng có nguy cơ bùng nổ. Người ta có lý do để hy vọng, với sự ra đời của hiến pháp mới, Đảng sẽ dũng cảm chia tay với sự chà đạp công lý đã xảy ra quá lâu này. Tuy nhiên hy vọng này cũng không có cơ sở. Một khi Đảng công khai chấp nhận, bằng hiến pháp, sở hữu cá nhân đối với tài nguyên quốc gia (ở đây chủ yếu là đất đai) thì Đảng cũng sẽ làm vỡ tung một cái ung nhọt đã âm ỉ từ hơn nửa thế kỷ qua. Quyền lực của Đảng hiện nay không đủ mạnh để giải quyết cái ung nhọt này một cách thỏa đáng mà vẫn giữ được vị thế cầm quyền của mình. Đảng sẽ không làm như thế.

    Nói chung, Đảng thay đổi hiến pháp lần này không có mục đích nào khác hơn là mục đích đã nói đến ở trên: hợp pháp hóa quyền lực tuyệt đối đang có của Đảng đối với nhà nước và đối với quốc gia.

    Tại sao Đảng cần phải làm như vậy?

    Lý do là Đảng cần tính chính đáng của quyền lực mà Đảng đang có. Tính chính đáng của quyền lực của người cai trị, bằng cách này hay cách khác, đến từ sự chấp thuận quyền lực đó của người bị cai trị. Hoặc nói theo ngôn ngữ chính trị, tính chính đáng của quyền lực của người cầm quyền phải bắt nguồn từ quyền lực tổng thể của xã hội (collective social power). Đối với các thế hệ trước, tính chính đáng của Đảng đến từ vai trò của Đảng, và của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong công cuộc thống nhất đất nước. (Không có khái niệm “chính nghĩa” ở đây. Nếu lúc đó Việt Nam Cộng Hòa thống nhất đất nước thì thế lực quân phiệt tham nhũng ở Miền Nam cũng sẽ có được tính chính đáng này). Thế hệ công thần lần lượt ra đi. Các thế hệ Đảng kế tiếp thừa hưởng tính chính đáng này để tiếp tục cai trị. Bốn mươi năm là một quảng thời gian quá dài và đến nay nó đã cạn kiệt. Thế hệ Đảng hiện nay, để tiếp tục cầm quyền, phải tự tạo cho họ tính chính đáng mới. Cách lý tưởng nhất để tạo tính chính đáng của quyền lực là được công dân bầu lên qua một tiến trình bầu cử tự do. Điều này sẽ không xảy ra. Lựa chọn khả thi kế tiếp là tự viết ra hiến pháp để chính đáng hóa quyền lực của mình qua hệ thống pháp lý.

    Ngoài ra Đảng không có lựa chọn nào khác.

    (còn tiếp - Phần III, Thay đổi cái gì?)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Trích dẫn:
    Đảng: Là một nhóm, trên dưới 200 người, đang ở các vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự có quyền lực. Trong số này, một nhóm nhỏ trên dưới 20 người nắm gần như toàn bộ quyền lực trong quân đội, an ninh, và kinh tế. Tuyệt đại đa số đảng viên chỉ là công chức Nhà nước thuần túy.

    "Đối với ngành Công an, chỉ có lực lượng cảnh sát là bị dân ghét nhất do họ thường giải quyết các vấn đề xã hội, tiếp xúc dân và nhũng nhiễu dân. Lực lượng thứ hai là an ninh chính trị làm những công việc để gìn giữ cho chế độ. Quan chức thì có nhiều quyền lợi, chứ nhân viên thì không đáng kể. Đây là lực lượng dễ tự diễn biến nhất, thức thời nhất. Khi xảy đến tình thế mà không thể đi ngược xu hướng và quy luật, chính lực lượng an ninh là nhóm người thảo luận trước và đưa ra nhận định trái chiều đầu tiên. Nhận định của lực lượng an ninh sẽ là chỗ dựa cho các nhóm đối lập, làm nhanh chóng phân hóa giới lãnh đạo.

    Ở nước ta còn có lực lượng thứ ba là an ninh quân đội. Lực lượng này chính là TC2. TC2 thực chất là cơ quan có rất nhiều quyền lực và nhiều đặc lợi. Họ thường uy hiếp, khủng bố hàng ngũ lãnh đạo cao cấp, không cho bất kỳ sự liên kết đối lập nào, hay mầm mống chống đối nào. Họ có rất nhiều thủ đoạn và họ bị tố cáo là có quan hệ rất mật thiết với "Hoa Nam". Đây là lực lượng có thể đánh phủ đầu, đe dọa hoặc thủ tiêu các cá nhân có mầm mống chống đối, bất kể trong Đảng hay ngoài Đảng. TC2 chính là con hổ dữ, công cụ hữu hiệu của lãnh đạo Đảng hiện nay."

    Trích dẫn:
    Bốn mươi năm là một quảng thời gian quá dài và đến nay nó đã cạn kiệt. Thế hệ Đảng hiện nay, để tiếp tục cầm quyền, phải tự tạo cho họ tính chính đáng mới. Cách lý tưởng nhất để tạo tính chính đáng của quyền lực là được công dân bầu lên qua một tiến trình bầu cử tự do. Điều này sẽ không xảy ra. Lựa chọn khả thi kế tiếp là tự viết ra hiến pháp để chính đáng hóa quyền lực của mình qua hệ thống pháp lý.

    Chậc, thế mà Nguyễn Sinh Hùng lại ba hoa chích chòe cười duyên phán rằng HP phải phù hợp cho giai đoạn cách mạng mới : giai đoạn con ông cháu cha nắm quyền