Trần Minh Khôi - Chuyện hiến pháp (I)

  • Bởi Admin
    13/09/2011
    0 phản hồi

    Trần Minh Khôi

    Vai trò của hiến pháp trong một hệ thống chính trị là gì?

    Để trả lời câu hỏi này người ta buộc, trước hết, phải trả lời câu hỏi “hiến pháp là gì?”.

    Theo nhà lý thuyết chính trị Giovanni Sartori, trong tiểu luận “Constitutionalism: A Preliminary Discussion”, thì cả hai câu hỏi đều không có câu trả lời duy nhất. Hiến pháp và vai trò của nó trong hệ thống chính trị là chuyện của từng quốc gia. Cũng trong tiểu luận này, Sartori đưa ra khái niệm “hiến pháp trang trí” khi khảo sát hiến pháp ở các quốc gia toàn trị. Theo ông, có ba loại hiến pháp: 1) hiến pháp bảo đảm quyền (garantiste constitutions), 2) hiến pháp hư danh (nomimal constitutions), và 3) hiến pháp trang trí (façade constitutions*).

    Loại hiến pháp thứ nhất, thường thấy ở các quốc gia dân chủ tự do, bao gồm các điều khoản quy định các quyền tự do của công dân và vai trò giới hạn của nhà nước. Nó là một bản khế ước giữa quốc gia và nhà nước. Nó quy định điều gì nhà nước có thể làm và điều gì nhà nước không thể làm, đồng thời liệt kê các quyền tự do mà nhà nước phải bảo đảm cho công dân. Loại hiến pháp này đóng vai trò của một văn bản pháp quy tối cao của quốc gia.

    Loại thứ hai chỉ nhằm mô tả một cơ chế nhà nước dựa trên quyền lực chính trị đang tồn tại, mục tiêu là để chính thức hóa quyền lợi của nhóm người đang cầm quyền. Nó bao gồm những điều khoản về cơ cấu quyền lực nhà nước nhưng không bao gồm những điều khoản giới hạn quyền lực này. Quyền lực nhà nước, và qua đó quyền lực của nhóm cầm quyền, là vô tận. Hiến pháp hư danh cũng không có ý làm dáng muốn trở thành một hiến pháp thực sự: nó không mô tả các quyền tự do không được thực hiện. Trong một hệ thống chính trị, nó đóng vai trò của một công cụ biện minh cho hành xử độc tài của nhóm cầm quyền.

    Loại thứ ba, hiến pháp trang trí, là chỉ dùng để trang trí cho hệ thống chính trị. Nó có đầy đủ các điều khoản về quyền và cơ chế nhà nước nhưng các quyền và cơ chế này không được hiện thực hóa. Người nắm quyền lực chính trị theo hiến pháp và người thực sự nắm quyền luôn là hai người khác nhau. Nó là hiến pháp giả tạo. Loại hiến pháp này là phát minh của các quốc gia cộng sản, bắt đầu ở Nga từ thời Stalin. Nó không có vai trò gì quan trọng trong hệ thống chính trị ngoài vai trò của một công cụ lừa gạt trong các mối quan hệ quốc tế và đối với công dân của nó (**).

    Nay trở lại với vấn đề thay đổi hiến pháp (đang ồn ào, sẽ tốn rất nhiều công của, và sẽ làm nhiều người thất vọng) ở Việt Nam. Ba vấn đề:

    1. Hiếp pháp Việt Nam thuộc loại nào?

    2. Tại sao phải thay đổi hiến pháp trong lúc này?

    3. Thay đổi cái gì?

    Định nghĩa:

    Đảng: là một nhóm, trên dưới 200 người, đang ở các vị trí lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực sự có quyền lực. Trong số này, một nhóm nhỏ trên dưới 20 người nắm gần như toàn bộ quyền lực trong quân đội, an ninh, và kinh tế. Tuyệt đại đa số đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là công chức nhà nước thuần túy. Đảng trong bài này là để chỉ một nhóm nhỏ, ràng buộc với nhau bởi quyền lợi, trong Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Đảng thay đổi hiến pháp năm 1992, ngay sau khi thế giới cộng sản sụp đổ. Cố gắng củng cố quyền lực, vào thời điểm đó, đi đôi với cố gắng chính đáng hóa quyền lực của Đảng bằng hiến pháp. Hay nói cách khác, hiến pháp trang trí, đã trở nên quá lộ liễu và chứa đầy nguy cơ, phải ra đi. Công cuộc xây dựng một hiến pháp hư danh bắt đầu. Điều 4 xuất hiện, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bằng hiến pháp. Hậu quả trực tiếp của lựa chọn này là quyền lực trước đây thuộc về Tổng Bí thư, người lãnh đạo Đảng, nay chuyển sang cho Thủ tướng, người lãnh đạo nhà nước. Tuy nhiên, trong hai thập niên vừa qua, Đảng đã không làm gì thêm để thực sự luật pháp hóa quyền lực của Đảng trong thực tế. Hiến pháp 1992, do đó, vẫn là một cố gắng nửa vời. Ban Chấp hành Trung ương đóng vai trò của một quốc hội. Cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại song song và tiếm quyền cơ cấu tổ chức nhà nước. Những cơ cấu này không có trong hiến pháp. Dó đó, các cơ cấu quyền lực của Đảng trên các cơ cấu quyền lực nhà nước là vi hiến. Ngoài vai trò thủ tướng chính phủ, Hiến pháp 1992 không phản ảnh đúng quyền lực thực sự của các cơ cấu nhà nước.

    Bên cạnh đó, Hiến pháp 1992 vẫn chứa đựng đầy đũ các quyền tự do không bao giờ được hiện thực hóa, dù chỉ là từng phần. Các quyền này tồn tại để đóng vai trò trang trí như ở các hiến pháp trước. Tóm lại, Hiến pháp 1992 vẫn thuộc loại hiến pháp trang trí, mặc dù nó đã đặt những nền tảng cần thiết cho sự hình thành một hiến pháp hư danh để thay thế nó về sau.

    Lý do thay đổi hiến pháp lần này là để thực hiện những gì Hiến pháp 1992 bỏ dỡ, nghĩa là tiếp tục luật hóa quyền lực vô tận đã có của Đảng bằng hiến pháp. Nó không có mục đích nào khác. Không có lý do gì để tin rằng Đảng sẽ hiện thực hóa những điều khoản về quyền tự do của công dân, ví dụ như các điều ghi trong Chương V của Hiến pháp 1992, bằng cách viết thêm một bản hiến pháp mới. Cũng không có lý do gì để tin rằng Đảng sẽ hiện thực hóa hoạt động tư pháp độc lập, như đã ghi trong Chương X của Hiến pháp 1992, bằng một hiến pháp mới. Những điều này không phải là quan tâm của Đảng. Nếu Đảng thật sự quan tâm đến quyền tự do của công dân, quan tâm đến hoạt động tư pháp độc lập thì Đảng không cần phải đợi hai mươi năm sau khi bản hiến pháp ra đời. Không nên mơ mộng thêm nữa về điều dó.

    (còn tiếp)

    _____________________

    (*): Façade có nghĩa là mặt tiền. Từ này và những từ khác được kèm theo từ gốc để người đọc có thể tự dịch lại cho chuẩn.

    (**): Andrey Vyshinsky, tên đao phủ của Stalin, từng viết từ những năm 1950, trong "Luật pháp của Nhà nước Sô Viết", rằng hiến pháp của Stalin đã đem quyền lực đến cho nhân dân, rằng nó thặt chặt mối quan hệ giữa người dân và chính quyền Sô Viết, nó xác nhận các quyền dân chủ và tự do thật sự. Lập luận này được các đảng cộng sản khác từ trước đến nay lập lại.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi