Nguyễn Ngọc Già - Sửa Hiến pháp là mệnh lệnh của Dân tộc & Tổ quốc Việt Nam

  • Bởi Khách
    08/09/2011
    10 phản hồi

    Nguyễn Ngọc Già

    Nguyễn Huy Canh viết:

    Tôi cho rằng, hạn chế của điều 4 Hiến Pháp 1992 chính là ở chỗ này: Đảng chỉ là một tổ chức chính trị xã hội chứ không phải là một lực lượng lãnh đạo (toàn xã hội).

    Tác giả Phạm Viết Đào cho biết cảm giác chưa an tâm về ý kiến của ông Nguyễn Huy Canh, nên bài viết "Về điều 4 Hiến pháp 1992" đã được đưa lên để rộng đường dư luận và mong có thêm các ý kiến khác nhằm làm sao từng người dân có thể tham gia vào vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 đảm bảo được thực chất "Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân" trong bối cảnh xã hội VN đang thay đổi từng ngày. Trên tinh thần đó, người viết bài xin có ý kiến gồm 2 phần: tóm tắt các ý kiến của tác giả Nguyễn Huy Canh và trình bày ý kiến cá nhân của bản thân.

    I. CÁC LUẬN ĐIỂM CHÍNH CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN HUY CANH:

    1. Quốc Hội khóa XIII có rất nhiều việc hệ trọng phải làm, trong đó có việc sửa đổi HIẾN PHÁP 1992 (sau đây xin gọi tắt là HP).

    2. Theo tác giả, việc sửa đổi HP nói chung và điều 4 nói riêng làm sao vừa đảm bảo "củng cố, tăng cường và nâng cao sức chiến đấu và lãnh đạo của Đảng", lại vừa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn là "phản ánh được lợi ích dân tộc, và phù hợp với logic vận động của HIỆN THỰC TUYỆT ĐỐI" (*). Tác giả cũng chỉ ra hạn chế của điều 4: xem ĐCSVN là tổ chức chính trị - xã hội, không phải là "lực lượng lãnh đạo" toàn xã hội???!!! Tác giả khẳng định "không thể luật hóa điều 4HP được", vì làm thế là "tước bỏ (hoặc ít ra là hạn chế) quyền lãnh đạo của Đảng, là biến Đảng ta thành một quyền lực trừu tượng, thành hư quyền". Tác giả cũng nói, có thể chỉnh sửa điều 4 cho phù hợp với logic của lí thuyết quyền lực và thực tiễn chính trị tại VN hiện nay, đồng thời cho rằng "cần có một bộ luật về chính đảng"(nhưng đừng nên nhầm lẫn điều này với việc luật hoá điều 4). Tuy vậy, tác giả lại không nói rõ sự khác biệt cơ bản (để đừng nhầm lẫn) giữa việc luật hóa điều 4 và "một bộ luật về chính đảng", cũng như không cho thấy chỉnh sửa điều 4 như thế nào mới "phù hợp với logic của lý thuyết quyền lực và thực tiễn chính trị" tại Việt Nam.

    3. Tác giả phân tích để chỉ ra những lạc hậu, lỗi thời của hệ thống ( và bộ máy) quyền lực ĐCSVN (tính cho đến nay nó chỉ phù hợp với thời chiến). Từ đó, ĐCSVN trở thành "vua tập thể" (lấy ý của ông Nguyễn Văn An) cùng các hệ lụy tai hại kéo theo. Tuy vậy, tác giả cho rằng quyền lực chính trị (của ĐCSVN) và quyền lực Nhà nước hiện nay đang tồn tại song song, do đó mong ĐCSVN "mạnh dạn hoá thân cấu trúc quyền lực ấy của mình vào bộ máy nhà nước" cũng như "các nhà lãnh đạo ĐCSVN "cần sáng suốt hiểu ra rằng nhà nước phải là, chính là hình thức tồn tại duy nhất của quyền lực Đảng" (**)

    4. Tác giả đề xuất một mô hình hệ thống quyền lực sao cho hợp lý, khoa học nhất bằng mấu chốt quan trọng: "Nguyên thủ quốc gia- người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chủ tịch hoặc Tổng thống) có quyền lựa chọn, chỉ định Thủ tướng. Thủ tướng không nhất thiết phải là một đảng viên của Đảng. Nguyên thủ quốc gia và CP hoạt động theo nguyên tắc chế độ trách nhiệm cá nhân và theo những qui định của HP, pháp luật".

    Tóm lại,tác giả Nguyễn Huy Canh mong muốn ĐCSVN (làm sao) vừa giữ vững vai trò lãnh đạo thực quyền, xuyên suốt thông qua hình thức "Nguyên thủ Quốc gia" [có lẽ vừa là TBT vừa là Chủ tịch (hay tổng thống)] nghĩa là mọi quyền lực tập trung vào ĐCSVN nhưng lại vừa ĐẢM BẢO đáp ứng ĐƯỢC LỢI ÍCH DÂN TỘC, mặc dù tác giả nhận rõ vai trò quan trọng của tư pháp phải đạt được tính độc lập (cần phải "phi đảng hóa").

    II. SỬA HIẾN PHÁP LÀ MỆNH LỆNH CỦA DÂN TỘC VÀ TỔ QUỐC:

    Trước tiên, tác giả Nguyễn Huy Canh không nên né tránh việc sửa đổi HP bằng cách cho đó là việc của Quốc hội (ngay câu mở đầu). Hãy nhìn thẳng vào thực tế (ĐCSVN buộc phải) sửa đổi HP là kết quả cả một quá trình đấu tranh, đòi hỏi quyết liệt và phải trả giá bằng nhiều hy sinh mất mát của dân tộc Việt Nam (ít nhất 20 năm qua, tính từ HP). Nhìn vào danh sách chính thức của 30 thành viên thuộc Ủy Ban sửa đổi HP (1), chúng ta đều thấy 100% là đảng viên ĐCSVN. Quốc hội lại luôn tổ chức bầu cử sau đại hội ĐCSVN, cũng như 90% đại biểu QH là đảng viên ĐCSVN, điều đó chứng tỏ ĐCSVN xem đất nước này là CỦA RIÊNG như một "luật bất thành văn"!

    Tác giả Nguyễn Huy Canh đã bày tỏ nhiều luận điểm mâu thuẫn nghiêm trọng. Mâu thuẫn nghiêm trọng nhất, vừa muốn ĐCSVN (làm sao) vẫn giữ quyền cai trị độc tôn lại vừa (cần) đáp ứng được LỢI ÍCH DÂN TỘC, trong khi (lại) CHỐI BỎ vai trò ĐCSVN (là tổ chức chính trị - xã hội (chứ) không phải là LỰC LƯỢNG LÃNH ĐẠO)???!!!. Tác giả khá hoang tưởng khi cho rằng LỢI ÍCH của Dân tộc Việt Nam hoàn toàn có thể trùng khớp với LỢI ÍCH ĐCSVN. Hiến pháp phải và chỉ đặt LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN TẤT CẢ CÁC LỢI ÍCH (dù cho lợi ích của đảng phái), chỉ có như thế Quyền phúc quyết của dân tộc mới đúng thực chất cần phải có. Hoang tưởng tiếp theo của tác giả Nguyễn Huy Canh chính là (làm sao) ĐCSVN nắm thực quyền nhưng lại "phi đảng hóa" vai trò của Tư pháp và một Thủ tướng không nhất thiết là đảng viên ĐCSVN.

    Tiếp tục thực hiện việc "đảng hóa" trong HIẾN PHÁP (bất kể là đảng nào) thì Việt Nam tiếp tục tình trạng phi dân chủ.

    Điều 4 HP:

    Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

    Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

    Việc buộc phải đưa Hiến pháp 1992 ra sửa đổi là yêu cầu khách quan, xuất phát từ đòi hỏi của xã hội ngày càng tiến bộ theo hướng văn minh, hiện đại, dân chủ, bởi Việt Nam đã thay đổi quá nhiều theo hướng hội nhập Quốc tế ngày càng sâu rộng, qua hai sự kiện quan trọng bậc nhất trong 20 năm qua:

    - Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.

    - Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức WTO.

    Sửa đổi Hiến pháp làm sao bảo đảm chuyển hóa xã hội Việt Nam tiến tới dân chủ trong ôn hòa với thời gian ngắn nhất (có thể) lại không trả thù, bạo loạn, chính là mục tiêu tối thượng đặt ra cho ĐCSVN. Đó là mong muốn của tất cả mọi người, bất luận đảng viên hay công dân bình thường, đặc biệt trước tình hình an nguy Tổ Quốc chưa bao giờ bị đe dọa nghiêm trọng như hiện nay.

    Vậy, ĐCSVN phải xác định việc sửa đổi Hiến pháp là MỆNH LỆNH của dân tộc Việt Nam, là TRÁCH NHIỆM, BỔN PHẬN của ĐCSVN, cũng là NHU CẦU SỐNG CÒN của ĐCSVN.

    Đại đa số người Việt Nam đều không muốn máu đổ, trả thù thêm nữa, do đó, theo logic không hề muốn tiêu diệt ĐCSVN. Điều quan trọng bậc nhất là triệt tiêu chế độ độc tài. Xin nhấn mạnh, triệt tiêu chế độ độc tài không đồng nghĩa tiêu diệt ĐCSVN (bằng chứng tại nhiều nước trên thế giới, ĐCS vẫn hoạt động bình thường).

    Luật pháp do con người tạo ra, tất nhiên không bao giờ có một hệ thống Luật pháp hoàn chỉnh tuyệt đối. Đó là tính vận động liên tục trong triết học. Ví dụ, Hoa Kỳ (quốc gia được xem là chuẩn mực về Luật pháp trên thế giới) phải đến khi bị nạn khủng bố 11/9 mới có nhu cầu tạo ra luật mới: Luật Yêu Nước.

    Theo tác giả Nguyễn Huy Canh, nhu cầu kiến thiết một hệ thống chính trị mới phù hợp với xã hội VN hiện nay quan trọng hơn nhiều so với việc sửa đổi Hiến Pháp. Tuy vậy, có vẻ tác giả rơi vào vòng lẩn quẩn và mấu chốt bế tắc ở chỗ: tác giả không nhắc gì đến tính dân chủ.

    Xin nhớ:

    Hiến Pháp không tạo nên dân chủ, mà chính dân chủ tạo nên hiến pháp.

    Benjamin Barber

    Tuy nhiên, "không thể luật hóa điều 4" của Nguyễn Huy Canh là đúng. Bởi lẽ, nó sẽ bất khả thi ngay lập tức (khi vừa ban hành) với một hệ thống chính trị vừa ngang vừa dọc, toàn bộ đều là đảng viên ĐCSVN. Nói cách khác, ĐCSVN tự thân đã len lỏi quá sâu và thật lâu vào từng mạch máu xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng trên từng lĩnh vực lớn nhỏ, ngay cả điều tưởng chừng vô hại (ví dụ cái khăn quàng đỏ của thiếu nhi). Điều này (luật hóa điều 4) cũng mâu thuẫn với ý kiến "phi đảng hóa" nền Tư pháp của Nguyễn Huy Canh(!)

    Câu hỏi cần đặt ra cho ĐCSVN:

    - Nền tảng tư tưởng nào mang tính quyết định để trở thành tiền đề cho việc sửa HP? Phải chăng chỉ có tư tưởng "lợi ích dân tộc là tuyệt đối"?

    - Nếu thực là vậy, bằng cách nào Hiến pháp (mới) nhanh chóng và nghiêm túc đi vào cuộc sống bằng những bộ luật khả thi?

    - Hệ thống Tư pháp đã đến lúc (dù quá muộn) phải "phi đảng hóa"?

    - Công cụ bảo vệ Tổ Quốc, giữ gìn an ninh xã hội (tức là Quân đội và Công an) thay vì thấm nhuần "trung với đảng" và "còn đảng còn mình" có quá muộn để hiểu "Còn Tổ Quốc (mới) còn mình"?

    III. KẾT:

    Phải chăng, sửa đổi HP là cơ hội (trăm năm có một) để vừa tránh được sự tan nát của ĐCSVN (trong đổ máu) vừa bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam, vừa mang lại dân chủ ôn hòa cho Dân tộc Việt Nam?

    Có đáng tiếc không, khi một lần nữa chúng ta nhắc lại: Dân tộc Việt Nam đã bỏ qua nhiều cơ hội để làm cho đất nước trở thành một Quốc gia: DÂN CHỦ - VĂN MINH - DÂN MẠNH - NƯỚC GIÀU?

    Nguyễn Ngọc Già
    _______________

    http://www.baomoi.com/Danh-sach-30-thanh-vien-Uy-ban-sua-doi-Hien-phap/122/6764472.epi (1)

    (*) Hẹn dịp khác để nói về "vận động hiện thực tuyệt đối" là cách dùng từ ngữ triết học không rõ ràng lắm, bởi lẽ "vận động là tuyệt đối, đứng yên là tương đối" (a). Vì vận động bao hàm tính hiện thực tại từng thời điểm mà sự vật hay hiện tượng đang xảy ra vào lúc đó, nên khái niệm "vận động hiện thực tuyệt đối" nghe tối nghĩa, vì nếu vận động hiện thực mang tính tuyệt đối (phải ý tác giả là thế?), lúc đó nó đã đứng yên (mâu thuẫn). Do đó, tôi nghiêng về ý nghĩa tác giả đang muốn nói "vận động là tuyệt đối" và mọi tư duy, hành vi, hành động đều nên đặt dưới góc nhìn vận động. http://www.wattpad.com/1430681-c%C3%A2u-4-c%C3%A1c-quy-lu%E1%BA%ADt-c%C6%A1-b%E1%BA%A3n-c%E1%BB%A7a-ph%C3%A9p-bi%E1%BB%87n-ch%E1%BB%A9ng-duy (a)

    (**) Ý nghĩa này nghĩa là: Tổng bí thư và Chủ tịch nước (Tổng thống) do 1 người đảm nhiệm (như Trung Quốc). Đây cũng là ý kiến của ông Nguyễn Trung (cựu Đại sứ VN tại Thái Lan) trước đây và GS. Chu Hảo gần đây. Ý kiến này chỉ khả thi và đúng thực chất trong một chế độ dân chủ đa đảng và tam quyền phân lập đúng nghĩa.

    _______________________________________


    Nguyễn Huy Canh - VỀ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP 1992

    Phamvietdao.net: Đây là một vấn đề lớn đang được nhiều người suy nghĩ; những điều tác giả Nguyễn Huy Canh viết ra sau đây, bản thân chủ blog cũng chưa cảm thấy yên tâm; đã trao đi đổi lại nhiều lần mong tác giả trình bày rõ hơn, cụ thể hơn, nâng cao hơn… để cho giá trị của góp ý đạt được cái đích mong muốn…

    Nguyễn Huy Canh nguyên là cán bộ giảng dạy tại một trường Đảng địa phương (trung cấp chính trị), hết sức quý trọng ý kiến của anh, mặc dù chưa thật thỏa mãn trước những điều mà anh đặt ra và kiến giải, song cũng xin đưa lên mạng để mong được rộng đường dư luận và mong nhận được các ý kiến thảo luận khác…

    Kính gửi:

    - Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước
    - Các chính trị gia
    - Cùng tất cả những ai quan tâm tới hiện tình đất nước…

    - Theo tôi Điều 4 Hiến pháp cần chỉnh sửa để hiến định khâu nhân sự của Đại hội Đảng, đây là một bước chuẩn bị nhằm hiện thực hoá quyền lực của Đảng thông qua bầu cử của nhân dân. Đại hội Đảng lựa chọn ra những đại biểu ưu tú, những ứng cử viên sáng giá giới thiệu cho nhân dân lựa chọn (lần 2); nhân dân sẽ bầu cử Nguyên thủ quốc gia theo chế độ phổ thông đầu phiếu (có chương trình tranh cử) do Đảng giới thiệu và bầu cử QH. Phải thông qua lá phiếu của nhân dân thì quyền quản lý nhà nước của Đảng mới là quyền hiến định; Còn như hiện nay là "Đảng định "...

    - Nguyên thủ quốc gia - người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chủ tịch hoặc Tổng thống) có quyền lựa chọn, chỉ định Thủ tướng. Thủ tướng không nhất thiết phải là một đảng viên của Đảng. Nguyên thủ quốc gia và CP hoạt động theo nguyên tắc chế độ trách nhiệm cá nhân và theo những qui định của HP, pháp luật.

    Quốc Hội khóa XIII có rất nhiều việc hệ trọng phải làm, trong đó có việc sửa đổi HIẾN PHÁP 1992.

    Sửa đổi HP1992 có rất nhiều điều phải quan tâm đặt ra cho các chính trị gia, các nhà luật học. Tôi cho rằng, HP với tính cách là TUYÊN NGÔN chính trị của một QUỐC GIA, một DÂN TỘC chỉ có thể có một sự chỉnh sửa hoàn chỉnh đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn khi chúng ta có một quan niệm, một tư tưởng chính trị dẫn đường có tính hệ thống phản ánh được lợi ích dân tộc, và phù hợp với logic vận động của HIỆN THỰC TUYỆT ĐỐI. Không đạt tới cái logic ấy, tôi e rằng chúng ta sẽ lại chỉ có một sản phẩm chắp vá đầy tính kinh nghiệm vụn vặt, hoặc dập khuôn ở đâu đó…

    Điều 4 HP và việc có nên chỉnh sửa nó hay không chính là tư tưởng chính trị có tính dẫn đường như thế.

    Tôi được biết có rất nhiều chính trị gia (có chính kiến khác nhau) đều mong muốn và đưa ra yêu cầu về việc luật hóa nó (ít ra cũng phải bằng một đạo luật như ý kiến của cựu đại biểu NGUYỄN MINH THUYẾT)

    Bỏ hay luật hóa nó không thể được viết ra như một nhu cầu cảm tính (hay bức xúc) trước những hạn chế và hệ lụy mà nó gây ra mà phải bắt đầu, theo tôi, từ cách mà chúng ta kiến thiết mô hình chính trị đã có từ hơn 50 năm nay đã lỗi thời sau bao biến chuyển của thực tiễn nước nhà có tính cách bản thể học từ trong sự vận động của HIỆN THỰC KHÁCH QUAN…

    Trước hết phải nhận thấy việc đổi mới hệ thống chính trị dĩ nhiên đã trở thành yêu cầu bức thiết của xã hội, và cũng là nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng nhằm củng cố, tăng cường và nâng cao sức chiến đấu và lãnh đạo của Đảng.

    Tôi xin bắt đầu từ cấu trúc quyền lực của Đảng. Xét theo chiều từ cao xuống, về mặt lý thuyết chúng ta có Đại hội Đảng toàn quốc là cơ quan quyền lực cao nhất, đến Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và cuối cùng là Tổng Bí thư.

    Cấu trúc quyền lực này cũng đồng thời trên thực tế là quyền lực chính trị cao nhất của đất nước, của xã hội. Vì điều thực tế này đã làm cho cấu trúc trên ngày càng bộc lộ nhiều bất cập. Sự hạn chế của nó có thể được xem như đã đến mức trở thành vật cản trên con đường phát triển của chính bản thân Đảng và của dân tộc. Đó là:

    1. Cấu trúc trên được sinh ra phù hợp với thời kỳ đất nước có chiến tranh, và đặc biệt sức mạnh của nó càng được củng cố trong giai đoạn có sự tồn tại của cơ chế quản lý hành chính, quan liêu, bao cấp.

    Sau hơn 50 năm đất nước đã có nhiều thay đổi lớn, cấu trúc đó đã trở thành giáo điều trước xu thế dân chủ hoá đời sống xã hội trên các lĩnh vực kinh tế - văn hoá - chính trị ngày càng mạnh mẽ. Người dân, xã hội đã nhận thấy rằng cấu trúc quyền lực cao nhất của xã hội thì người dân nhất định phải được tham gia sinh hoạt chính trị, tham gia vào quá trình kiến tạo, hình thành cấu trúc quyền lực trên đây bằng lá phiếu của mình (đây là cốt lõi của chế độ dân chủ chính trị ). Sự phát triển của nhu cầu trên càng bộc lộ sâu sắc sự bất cập giữa lý thuyết về quyền lực(khép kín) của Đảng và những quy định của Hiến pháp về dân chủ.

    2. Trong thực tiễn cấu trúc quyền lực trên lại diễn ra theo chiều ngược lại. Điều đó đã phản ánh lý thuyết không chỉ ra được bản chất công cụ của quyền lực. Vì vậy sự tồn tại bên cạnh và tách rời của cấu trúc trên trong quan hệ với quyền lực nhà nước đã làm cho quyền lực nhà nước trong rất nhiều trường hợp, cũng như xét theo bản chất, trở thành quyền lực trừu tượng, thành hư quyền. Nhiều người đã gọi quyền lực Nhà nước là hình thức,là tượng trưng ,(phụ thuộc) bởi sự áp đặt và lấn sân của cấu trúc trên.

    Sự áp đặt chủ trương, đường lối, ý chí quyền lực của Đảng lên nhà nước là điều diễn ra đương nhiên. Hệ lụy của tình thế đó nhiều khi đã biến Đảng ta (ở nhiều cấp) thành những ông vua của thời hiện đại (theo cách diễn đạt của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An).

    Ông Nguyễn Văn An cũng như nhiều người khác đã cố gắng tìm ra lời giải cho bài toán chính trị trên đây bằng việc quy về yêu cầu luật hoá điều 4 Hiến pháp. Với ý muốn vạch ra giới hạn cho Đảng, chỉ ra đâu là công việc của Đảng, đâu là của nhà nước; rằng Đảng được quyết cái gì, không được quyết cái gì ...

    Tư duy chính trị triệt để chỉ ra rằng không thể luật hoá Điều 4 (dù chỉ bằng một đạo luật) với ý muốn, với nội dung đó được. Bởi vì tôi ý thức một cách sâu sắc rằng một chính đảng muốn trở thành quyền lực chính trị của xã hội thì chính đảng ấy phải nắm giữ, phải chi phối được quyền lực nhà nước (suy nghĩ về một quyền lực chính trị bên cạnh quyền lực nhà nước là một sự mơ hồ và không tưởng của tư duy chính trị).

    Vì vậy yêu cầu luật hoá Điều 4, trên lí thuyết cũng như thực tế là nhằm tước bỏ (hoặc ít ra là hạn chế)quyền lãnh đạo của Đảng, là biến Đảng ta thành một quyền lực trừu tượng, thành hư quyền. Điều này cũng đau khổ chẳng kém gì nỗi đau của nhà nước mà ta đã và đang trải qua.

    Vậy con đường nào để nhân dân tham gia vào quá trình kiến tạo quyền lực cao nhất trong Đảng bằng lá phiếu ? Con đường đổi mới nào để vừa giữ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, nhưng không rơi vào chế độ quân chủ chuyên chế tập thể , nghĩa là vẫn bảo đảm được quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân như những chính thể cộng hòa của xã hội hiện đại, tiên tiến hiện thời?

    Không thể đổi mới theo cách cải tiến, thử nghiệm của tư duy kinh nghiệm vẫn làm. Đây là vấn đề thuộc về Hệ thống và do đó việc đổi mới nó phải được xây dựng trên tư duy logic chính trị.

    Trên chiều hướng đó, tôi cho rằng để giữ vững sự lãnh đạo của mình, đã đến lúc Đảng ta phải dũng cảm vượt lên chính mình, dũng cảm phá bỏ mô hình quyền lực đã cũ (theo cách kiến tạo, tổ chức BCHTW, BCT, BBT…), mạnh dạn hoá thân cấu trúc quyền lực ấy của mình vào bộ máy nhà nước.(Tôi mong muốn các nhà lãnh đạo của chúng ta cần sáng suốt hiểu ra rằng nhà nước phải là, chính là hình thức tồn tại duy nhất của quyền lực Đảng)

    Điều đó có nghĩa rằng công tác nhân sự của các lần Đại hội không phải là ở chỗ bầu ra BCHTW cũng như sắp xếp (dự định) các chức danh chủ yếu của bộ máy nhà nước.

    Nhân sự của Đại hội là một bước chuẩn bị nhằm hiện thực hoá quyền lực của Đảng thông qua bầu cử của nhân dân. Đại hội lựa chọn ra những đại biểu ưu tú, những ứng cử viên sáng giá giới thiệu cho nhân dân lựa chọn (lần 2) qua bầu cử Nguyên thủ quốc gia theo chế độ phổ thông đầu phiếu (có chương trình tranh cử) và bầu cử QH.

    Trong Quốc hội hình thành tổ chức Đảng Đoàn QH (giống như Bộ Chính trị) đó là cơ quan chỉ đạo, lãnh đạo mọi hoạt động của Quốc hội.

    Nguyên thủ quốc gia - người đứng đầu cơ quan hành pháp (Chủ tịch hoặc Tổng thống) có quyền lựa chọn, chỉ định Thủ tướng. Thủ tướng không nhất thiết phải là một đảng viên của Đảng. Nguyên thủ quốc gia và CP hoạt động theo nguyên tắc chế độ trách nhiệm cá nhân và theo những qui định của HP, pháp luật.

    Tính thống nhất của quyền lực chính trị trước đây được tổ chức trong cấu trúc quyền lực của Đảng và ánh xạ vào nhà nước trong hình thức tam quyền phân công đã dẫn đến một mô hình quyền lực tập quyền chuyên chế (như đã phân tích ở trên) .Tôi cho rằng, hạn chế của điều 4 HP1992 chính là ở chỗ này: Đảng chỉ là một tổ chức chính trị xã hội chứ không phải là một lực lượng lãnh đạo (toàn xã hội). Chỉ trở thành lực lượng lãnh đạo khi đảng chuyển hóa thành ĐẢNG CẦM QUYỀN, và với tư cách này, ĐCS trở thành lực lượng lãnh đạo nhà nước theo từng nhiệm kì (khoảng giao giữa 2 nhiệm kì, quyền lực chính trị này không còn hoàn toàn thuộc về Đảng như trước khoảng giao thời- có thể chỉ là thời gian ngắn). Chỉ có thể khắc phục được tính độc quyền (hay chuyên quyền) của quyền lực chính trị, làm cho quyền lực thuộc về nhân dân một cách thực chất; chúng ta sẽ tìm thấy lời giải, kinh nghiệm trong lịch sử nhà nước pháp quyền hiện đại bằng cách xây dựng quyền lực TƯ PHÁP là một cơ chế độc lập với QH và CP. Tư pháp là một cấu trúc quyền lực phi đảng hóa, và có tính chuyên nghiệp (phi nhiệm kì). Chính nó duy trì tính liên tục của quyền lực chính trị của nhân dân, và cũng là quyền lực đối trọng trong mối tương quan với QH và CP

    Như vậy, có thể đi đến kết luận: không thể luật hóa điều 4HP được. Mà chỉ có thể chỉnh sửa nó cho phù hợp với logic của lí thuyết quyền lực và thực tiễn chính trị nước nhà . Và dĩ nhiên cũng rất cần có một bộ luật về chính đảng. (nhưng đừng nên nhầm lẫn điều này với việc luật hoá như đã nói ở trên)

    Dự án chính trị trên đây cho thấy quyền lãnh đạo của Đảng được thể hiện và thực hiện trực tiếp (nghĩa là không phải thông qua một công đoạn nào) bởi Quốc hội, Nguyên thủ quốc gia và ở Hiến pháp và pháp luật.

    Dự án này cũng cho thấy quyền lực của Đảng đồng thời cũng là quyền lực nhà nước (hiện hình ở 2 cơ quan) và được nhân dân trực tiếp tham gia lựa chọn trong quá trình sinh thành của nó; Cơ cấu tổ chức bộ máy lãnh nhà nước kiểu này nó luôn được kiềm chế, giám sát bởi quyền lực đối trọng là cơ quan TƯ PHÁP (chưa kể đến quyền lực thứ tư là xã hội dân sự sẽ được hình thành từ những đổi mới này)

    Nếu con đường đổi mới này được thực hiện sẽ tạo ra cơ sở hiện thực cho việc vận dụng giá trị quyền lực phổ biến của nhà nước hiện đại vào thể chế chính trị nước ta. Đó là điều mong muốn của người viết bài này về một mô hình chính trị cho đất nước: Đảng lãnh đạo - Nhà nước tam quyền - Xã hội dân sự và một nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước…

    Tôi hy vọng sâu sắc rằng từ suy ngẫm, phân tích về điều 4 HP, chúng ta sẽ xây dựng được (ít ra trong tư tưởng) về mẫu hình một xã hội dân chủ hiện đại, và dự án chính trị trên đây mong muốn góp phần thúc đẩy sự tiến lên của Đảng và dân tộc ta, và nó cũng là sự gợi mở cho việc sửa đổi HP1992 cũng như điều 4 của HP này nói riêng…

    Nguyễn Huy Canh

    Đảng viên

    http://phamvietdao2.blogspot.com/2011/09/ve-ieu-4-hien-phap-1992.html

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    10 phản hồi

    Tôi gọi bằng anh cho thân thiện. Xin cảm ơn anh đã thấy ra được chủ ý của bài viết:Nhu cầu thiết kế hệ thống là quan trọng hơn nhiều việc sửa đổi HP.Tuy nhiên cũng muốn có đôi điều chia sẻ với anh. Khi nói về những v/đ chính trị đừng nên hiểu chủ thể nhận thức giống như cầm cái gương soi vào đối tượng, mà nó phải là đối tượng đang tự mở ra, lộ ra như là thế ở chủ thể nhận thức. Điều ấy có nghĩa rằng, đời sống máu thịt của chủ thể, cái đời sống sờ thấy được ấy gắn chặt vào đối tượng như một mặt khó tách rời của nó. Chỉ có thể sống với nó, trong nó thì mới viết và nên viết về nó. Còn ko thì chỉ là những tiếng kêu xa lạ, những lí thuyết trơn tuột, trống rỗng ai cũng có thể viết được, phán được vì ko bị những trắc ẩn của thực tại ngăn cản. Điều thứ 2 anh nói về mô hình nhất thể hóa 2 chức danh.Đó là điều ko hề có trong tư tưởng của tôi. Tôi rất ghét mọi sự bắt chước. Đây là mô hình của TQ mà GS Chu Hảo đang nhiệt tình cổ vũ. Đây cũng là điều tôi ko hiểu về trí tuệ của một trí thức lớn của nước nhà mà tôi chưa có dịp phê phán
    Thứ 3,anh chưa hiểu về nội dung "vận động của HTTĐ"mà tôi trình bày.
    Cái vận động và đứng im như anh nói đã quá cũ và xưa rồi. 20 năm nay tôi đã chẳng bao giờ tư duy theo cái tri thức chiết trung, ngụy biện ấy nữa. Cái logic của HTTĐ đang vận động, đang mở ra ở mảnh đất, ở đời sống chúng ta. Nhưng nó còn đang gặp rất nhiều trở ngại trên lĩnh vực của đời sống chính trị, tư tưởng...Đã có rất nhiều người cảm nhận được cái logic ấy, nhưng tiếc rằng nó chưa một lần mở ra,lộ ra, đạt tới trong tư duy triết học. Chủ nghĩa Marx,triết học thực dụng, triết học Tân hiện thực đều đã trở nên cũ kĩ ko thể sử dụng được vào hiện thực đa chiều, đa nguyên này...

    Sửa HP VN là chắc chắn rồi ! Mỗi lần sửa thì chúng lại cập nhật các thủ đoạn tinh vi hơn mà thôi .Tuy nhiên cũng hy vọng chúng đã ăn no béo cật rồi thì cũng phải lo hậu sự chứ .Việc hò hét hô hào sửa đổi HP cũng phản ánh tâm trạng lo hậu sự. Số phận dân tộc VN có bi thảm hay ko chính là cái vụ sửa HP nay đó .Cứ nhìn Gadafi thì rõ. Nếu vẫn ngu dại tham quyền cố vị vô lương tâm bất nhân thì sẽ thê thảm mà thôi.
    Tự do hay là chết mà!

    Tôi chia sẽ ý kiến của bác Oigioioi.

    Theo Barber:... Dân chủ tạo nên hiến pháp. Trong khi đó hệ quả của CNCS là phải độc tài. Vì sao buộc phải độc tài (như Cuba, Bắc Hàn, Liên Xô, TQ, VN,....)? Vì hệ tư tưởng CNCS (Đảng CS) khởi điểm đã sử dụng lực lượng nồng cốt có xuất phát điểm về giai cấp, về tri thức và nhận thức kém ---> làm bậy, làm điều bất nghĩa, phạm nhiều sai lầm ---> sợ bị lật tẩy, trả thù, đưa ra ánh sáng, làm mất "chính nghĩa sáng ngời", nên họ phải luôn tìm cách che dấu, bưng bít, chấn áp mọi tiếng nói lương tri và sự thật. Muốn làm vậy thì phải độc tài, vì có độc tài thì mới thâu tóm được toàn bộ quyền lực để dễ bề thao túng, tuyên truyền, che chắn, bưng bít đàn áp các lực lượng đối kháng và những tiếng nói trung thật có thể đụng chạm đến yếu điểm, tử huyệt của họ (vì nếu thực thi dân chủ thì bọn dân chủ sẽ bới móc hoặc can thiệp những việc làm sai trái của họ, thì sao còn uy tín, chính nghĩa sáng ngời để "làm ăn" tiếp). Tóm lại, họ rất sợ sự thật nên phải độc tài, và ngày càng trượt dài vì điều đó, bởi "sự thật" luôn phát sinh theo năm tháng dối trá.

    Khi đã độc tài (phi dân chủ) rồi, thì theo Barber, CS không thể làm nên hiến pháp đúng nghĩa (vì lợi ích dân tộc) và chúng ta cũng đừng hy vọng vào điều đó. Chỉ có cách, như Boris Yeltsin đã nói: "CS không thể cải tạo (sửa đổi) mà phải xóa bỏ nó để làm lại từ đầu" (nhưng vẫn cho nó tham gia chính trường về sau khi đã có dân chủ, như Đảng CS Nga bây giờ,...)

    Quốc hội nên xem xét cân nhắc cẩn thận trong lần sửa hiến pháp này. Nên thay thế điều 4 hiến pháp bằng điều luật số 10/59 có sửa đổi, bổ sung.

    Tiếp tục thực hiện việc "đảng hóa" trong HIẾN PHÁP (bất kể là đảng nào) thì Việt Nam tiếp tục tình trạng phi dân chủ!

    » NNG

    Đúng vậy. Dù cho đảng nào đi chăng nữa, nếu HP vẫn đem đảng vô là tiếp tục phi dân chủ. Do đó nhiều người đòi bỏ điều 4 là đúng.

    Không thể chỉnh sửa như ông Nguyễn Huy Canh đề nghị, cũng không thể "luật hóa" vì nó không khả thi, không những như NNG nói mà còn là mị dân, vì tưởng như ĐCSVN từ nay đã phải hoạt động theo Luật không thể tự tung tự tác, nhưng thực chất VKS, Tòa án cũng là mấy ông CS với nhau. Vậy thì luật hóa làm cái đếch gì? vô nghĩa.

    Huỳnh Thục Vy - Vài suy nghĩ về việc sửa đổi Hiến pháp

    Những ngày này, báo chí trong nước, giới thạo tin và những người có quan tâm đến tình hình đất nước đang bàn tán về việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Các đại biểu Quốc hội, nhà báo, luật gia, kinh tế gia… đã hăng hái đưa ra rất nhiều ý kiến đóng góp xung quanh vấn đề thủ tục, nhân sự tham gia cố vấn dự thảo Hiến pháp sửa đổi, những định hướng và nội dung cụ thể cho việc sửa đổi. Mặc dù còn nhiều người hoài nghi về hiệu quả của việc làm này nhưng không ít người đặt những hi vọng nhất định vào nó.

    Về luật học, Hiến pháp là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đóng vai trò chỉ đạo các luật. Về chính trị, Hiến pháp là một cái khung định hình những nguyên tắc chính trị cơ bản, thiết lập hình thức chính thể, cấu trúc Nhà nước của một quốc gia. Cũng như bất cứ một định chế chính trị xã hội nào, Hiến pháp phải được linh động thay đổi theo thời gian cho thích hợp với các điều kiện cụ thể của quốc gia. Không thể phủ nhận rằng, sau một khoảng thời gian nhất định, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của một quốc gia sẽ có những thay đổi và việc tu chính một bản Hiến pháp là rất cần thiết để làm cho văn bản mang tính cốt lõi pháp lý và chính trị này phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Nếu không, Hiến pháp lỗi thời sẽ ngăn cản những tiến bộ xã hội.

    1/ Thay đổi nhiều nhưng không căn bản

    Từ năm 1945 tới nay, Nhà cầm quyền cộng sản đã ban hành bốn bản Hiến Pháp (1946, 1959, 1980 và 1992) và ngay chính bản Hiến pháp 1992 hiện hành cũng đã được bổ sung, sửa đổi một lần mới đây vào năm 2001. Thay đổi là cần thiết, nhưng khi người ta thay đổi quá nhiều lần và khoảng cách giữa hai lần thay đổi quá ngắn khiến chúng ta không thể không suy nghĩ.

    Việc bỏ đi một Hiến pháp cũ để thay bằng một Hiến pháp mới, hay việc tu chính một bản Hiếp pháp hiện hành là một việc hệ trọng, có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Việc làm này phải song hành với thiện chí tiến bộ của Nhà cầm quyền, nhận thức và sự đóng góp của người dân trong việc xây dựng Hiến pháp, trình độ lập pháp của Quốc hội, hiện trạng quốc gia… Sự thay đổi, sửa đổi chóng vánh và chắp vá chỉ thể hiện một điều là người ta muốn đối phó tình thế, thiện chí giả tạo và xoa dịu những căng thẳng bề nổi hơn là thực tâm thúc đẩy tiến bộ. Hơn nữa, việc thay đổi tùy tiện đối với một văn bản có tầm quan trọng như thế của những người cộng sản trong bao nhiêu năm qua làm cho ta thấy thái độ coi thường Hiến pháp của họ. Đối với họ, Hiến pháp không phải là bản cam kết, mà chỉ là cái công cụ trong tay, muốn định đoạt thế nào tùy nghi. Và sự thiếu vắng tiếng nói đóng góp của các tầng lớp dân chúng cũng nói lên rất nhiều cái vai trò mờ nhạt, mang tính danh nghĩa của định chế quan trọng này ở Việt Nam.

    Chúng ta hãy nhìn vào Hoa Kỳ, từ một quốc gia mới giành độc lập (13 bang với dân số khoảng 2,5 triệu người) đã trở thành một siêu cường kính tế, chính trị, quân sự (50 bang với dân số hơn 308 triệu người) trong khoảng hơn 200 năm chỉ có duy nhất một bản Hiến pháp. Hiến pháp Hoa Kỳ được soạn thảo năm 1787, cách đây 224 năm (dù đã trải qua 27 lần tu chính) đến nay vẫn có hiệu lực pháp luật. Hay ngay cả một quốc gia rộng lớn, dân số đông, thành phần tôn giáo và sắc tộc phức tạp như Ấn Độ từ năm 1950 (3 năm sau ngày độc lập) đến nay duy chỉ có một bản Hiếp pháp (với nhiều lần tu chính Hiếp pháp). Còn Trung Quốc, một quốc gia cộng sản sát vách Việt Nam từ khi Mao Trạch Đông nắm quyền lãnh đạo toàn bộ Đại lục đã có bốn bản Hiến pháp thay nhau ra đời (năm 1954, 1975, 1978 và 1982), riêng Hiến pháp hiện hành (năm 1982) cũng đã nhiều lần được tu chính. Ở Việt Nam, bao lần Hiến pháp thay đổi, nhưng những bất cập và khiếm khuyết gốc rễ về chế độ chính trị, hình thức chính thể, sự phân chia quyền lực Nhà nước, quyền tư hữu đất đai… vẫn tồn tại.

    Ở một quốc gia dân chủ, Hiếp pháp đạt trình độ lập pháp cao với thủ tục nghiêm ngặt, có nội dung hoàn chỉnh và thống nhất, nêu lên cơ sở pháp lý và chính trị mang tính nguyên tắc và cốt lõi. Dù trải qua thời gian dài nó vẫn giữ nguyên giá trị bất hủ; và chỉ cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề mới cho phù hợp với sự phát triển của lịch sử đất nước thì nó có thể có hiệu lực pháp luật vượt thời gian. Còn dưới các chế độ độc tài, Hiến pháp chỉ như một thứ đồ chơi, biến dạng tùy theo sở thích của tầng lớp lãnh đạo. Thực tế cho thấy, Hiến pháp thường hay bị thay đổi bởi các chế độ độc tài. Có hai trường hợp, một là những nhà độc tài lên nắm quyền nhờ một bản Hiến pháp dân chủ như Hitler chẳng hạn sẽ quay ngược lại thay đổi Hiến pháp đó bằng một bản Hiến pháp mới có lợi cho ông ta trong việc thâu tóm quyền lực. Hai là, những chính thể độc tài đang cai trị với bản Hiến pháp phi dân chủ do chính họ làm ra, cũng thường thay đổi nó theo từng thời kỳ để né tránh việc giải quyết những bức xúc trong nước.

    Thật buồn cười khi một việc tốn nhiều thời gian, tâm sức chuyên gia và công quỹ quốc gia, chẳng mang lại sự thay đổi và hiệu quả cụ thể nào lại cứ được truyên truyền và liên tục thực hiện. Tiền thuế của dân đâu phải được nộp để các nhà lãnh đạo thỉnh thoảng mang Hiến pháp ra đổi Hiến pháp mới, hay sửa lại cho có công có việc mà làm!

    2/ Ý chí của ai?

    Nhiều người đã đóng góp ý kiến rằng nên xây dựng một bản Hiến pháp mang tính chất của một khế ước (khế ước trao quyền của người dân cho những người sẽ đại diện họ lãnh đạo quốc gia, đồng thời những người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm trước nhân dân khi không thực hiện được những điều mình cam kết). Mong ước có một Hiến pháp như một khế ước là mong ước chính đáng của người Việt Nam từ bao năm qua. Thế nhưng, điều kiện tiên quyết để Hiến pháp được coi là khế ước khi nó được lập nên và phê chuẩn bởi một Quốc hội đại diện cho nhân dân (do nhân dân bầu lên một cách minh bạch và công bằng). Mỗi một đại biểu Quốc hội phải gánh vác trách nhiệm được dân giao phó, ý chí chính trị của họ chính là ý chí của nhóm người mà họ đại diện. Hiến pháp hay bất cứ đạo luật nào đều được tạo nên bởi Quốc hội thì trước tiên ta khẳng định nó thể hiện ý chí của Quốc hội. Nếu Quốc hội thực sự đại diện cho nhân dân thì bản Hiến pháp ấy cũng thể hiện ý chí người dân. Và như cái cách mà tôi luôn đề cao, mọi thứ đều mang cái bản chất và ý chí của những nhân tố tạo ra nó. Một bản Hiến pháp do những người đại diện cho Đảng tạo ra thì nội dung của nó chỉ thể hiện ý chí của Đảng. Vậy làm sao ta có được một khế ước (hợp đồng) công bằng khi những người lãnh đạo cứ tự biên tự diễn, người dân chỉ việc ký và thực hiện? Đó là vấn đề về thủ tục.

    Tiếp đến là vấn đề nội dung. Người dân và các chuyên gia được tham gia vào những nội dung sửa đổi này ở mức độ nào?! Hay đó chỉ là sự “tiếp nhận cởi mở” các ý kiến đóng góp, để rồi cuối cùng đâu lại vào đó, nội dung sửa đổi chỉ là những văn bản đặt trên bàn làm việc Trung ương Đảng; Quốc hội chỉ việc nhắm mắt thông qua, còn người dân chẳng mảy may biết gì. Đó là chưa kể đến một cuộc trung cầu dân ý là không thể thiếu cho một tu chính án Hiến pháp. Cứ giả định rằng, những đại biểu Quốc hội “Đảng cử dân bầu” này dù không có trưng cầu dân ý, dù không tham khảo ý kiến chuyên gia vẫn đưa ra được những nội dung sửa đổi cực kỳ tiến bộ, hợp lòng dân, thể hiện ý chí người dân. Thì có gì đảm bảo được rằng Hiến pháp sửa đổi này sẽ được tôn trọng? Chúng ta đều biết rằng một bản hiến pháp cực kỳ tiến bộ cũng chỉ là một cái “hàng rào giấy”. Có ai ngăn cản được nhà cầm quyền vi phạm nó? Riêng cái đuôi “theo quy định của pháp luật” cũng đã mở ra một con đường thênh thang cho sự ra đời của các đạo luật vi hiến. Người ta cố tình làm cho Hiến pháp phụ thuộc vào luật chứ không phải ngược lại. Khi làm luật, hoặc ra các nghị định, sắc lệnh, người ta sẽ quăng Đạo luật cao nhất này vào một xó. Để bảo vệ Hiến pháp, nhiều người nghĩ đến một Tòa bảo hiến. Nhưng khi chưa có tam quyền phân lập thì Tòa bảo hiến cũng bằng thừa. Và khi chưa có xã hội dân sự và đa đảng thì tam quyền phân lập cũng chỉ là trên danh nghĩa. Có đa đảng và xã hội dân sự mạnh mẽ, thẩm phán sẽ không dính dáng gì đến Đảng phái, chỉ làm việc theo lương thức và dưới sự giám sát của người dân. Còn khi chỉ có một Đảng cầm quyền và xã hội dân sự hầu như không có thì dù có tam quyền phân lập chăng nữa, tất cả thẩm phán kể cả thẩm phán Tòa bảo hiến (cũng như các quan chức hành pháp và tư pháp) sẽ thống nhất làm việc theo lệnh Đảng và không cần để ý đến phán xét của dân. Một ví dụ gần đây nhất là : bất chấp sự tồn tại của điều 69 Hiến pháp, chính quyền Hà Nội đã ra một thông báo cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc. Đến nỗi dù nó không có chữ ký thì vẫn có hiệu lực pháp luật, bằng chứng rõ ràng là nhiều người đã bị bắt vì biểu tình, và cuối cùng chính quyền Hà Nội đã tạm dẹp yên các cuộc biểu tình yêu nước. Ở cái xứ sở này, một bản thông báo không chữ ký có giá trị hơn Hiến pháp!

    Người ta tốn nhiều tâm sức và giấy mực để đóng góp nội dung này nội dung kia vào dự thảo Hiến pháp. Chưa nói đến việc Đảng có thực lòng ghi nhận ý kiến đóng góp hay không, thiết nghĩ chữa bệnh phải chữa từ gốc rễ. Cũng như vậy, những tiến bộ phải phát triển từ căn cơ thì mới thực chất và bền vững, chứ không phải cứ úp cái Hiến pháp tiến bộ lên nền chính trị thì dân sẽ bớt khổ, nước sẽ bớt loạn. Mặc dù một Hiến pháp tiến bộ sẽ là cơ sở pháp lý cho những vận động dân chủ tiệm tiến, nhưng đó là cả một quá trình lâu dài nếu chưa kể việc này phụ thuộc rất nhiều vào mối tương quan về thế và lực giữa nhà cầm quyền và người dân. Khi viết những dòng cuối bài này tôi đang nghĩ đến một câu ông bà mình thường nói: “cậy người chi bằng cậy mình”!

    Huỳnh Thục Vy

    Tam Kỳ ngày 7 tháng 9 năm 2011

    Nguồn: Huỳnh Thục Vy

    Thôi đi các bố các mẹ, các bố mẹ muốn đổi đời nô lệ mà đòi nó phải được ghi bằng điều luật trong Hiến Pháp thì quả là chả thuộc lịch sử : tự nhiên có Spactacus à? tự nhiên có chiến tranh Bắc-Nam ở Hoa Kì à? ,tự nhiên có các cuộc nổi dậy Trung -Cận-Đông à? Hèn và không thuộc Sử thì còn nô lệ dài dài nghe chửa các Ông Chủ.

    Hiến pháp hiện hành của Nhà nước CHXHCNVN do Đảng CSVN sinh ra . Họ đang cầm quyền và đang thao túng nó... Nếu không được sửa đổi triệt để,kịp thời và toàn diện để nó phù hợp với các nền dân chủ trên toàn cầu.Thì e rằng nó không khắc gì cái thòng lọng tự xiết vào chính cổ!. Của những sự trần chừ và không triệt để đó !!! Người Dân thì chịu thêm một cổ hàng trăm cái chòng để đeo .?

    Admin viết:
    Cứ nhìn ông Nguyễn Sinh Hùng là thấy hết hy vọng vào lần sửa đổi HP này...

    Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 họp phiên đầu tiên

    ...

    Theo Chủ tịch Quốc hội, việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

    ...
    http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110907/Ban-Bien-tap-du-thao-sua-doi-Hien-phap-1992-hop-phien-dau-tien.aspx

    Bác Admin có thể giải thích cụ thể hơn ý của bạn Sinh Hùng trong câu trên không ?

    Bạn Hùng phát biểu nổ đùng đùng nhưng tôi không biết trong thực tế bạn í muốn gì ?

    Tại sao bạn Hùng lại không để các nhà chuyên môn xem xét và làm một bản báo cáo những cái gì không hợp lý hoặc thiếu để thay thế, bổ túc mà lại chỉ đạo kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với ... ? Như vậy có hợp lý không ? Có phù hợp với chức năng của chủ tịch QH hay không ? Và có dân chủ hay không ?

    Bạn Hùng muốn kế thừa cái gì của HP 1946 ? Tự do báo chí ? lập hội lập đảng ?

    "giai đoạn cách mạng mới" mà bạn Hùng nêu là cách mạng về cái gì ?

    Bạn Hùng có vẻ mê mẩn với mấy chữ "dân chủ, công bằng và văn minh" nhưng cụ thể bạn ấy hiểu nó ra sao và làm gì để thực hiện nó ?. Gào lên như bạn ý thì ai mà chẳng gào lên được chứ đâu cần phải là CT QH ?

    Cứ nhìn ông Nguyễn Sinh Hùng là thấy hết hy vọng vào lần sửa đổi HP này...

    Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 họp phiên đầu tiên

    Hôm nay 7/9, Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 họp phiên đầu tiên nhằm xây dựng mô hình, tổ chức, cách thức làm việc cho Ban Biên tập trong tiến trình thực hiện nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử quan trọng này.


    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: Phương thức thức tổ chức làm việc của Ban có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra - Ảnh từ Chinhphu.vn

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cho biết, phương thức thức tổ chức làm việc của Ban có ý nghĩa quyết định đến việc hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra.

    Việc chỉ đạo, phối hợp giữa các Tổ Biên tập với Thường trực Ban Biên tập phải thống nhất, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Công tác xây dựng dự thảo phải đảm bảo tiếp thu được ý kiến đóng góp của đông đảo các nhà quản lý, nhà khoa học trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và đặc biệt là ý kiến của các tầng lớp nhân dân.

    Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nêu rõ, công tác xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 bao gồm nhiều nội dung với khối lượng công việc rất lớn và tiêu chí cao, đòi hỏi tinh thần trách nhiệm rất cao, phương thức làm việc rất khoa học của Ban Biên tập và các bộ phận liên quan mới có thể đảm bảo chất lượng công việc.

    Theo Chủ tịch Quốc hội, việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 phải trên cơ sở kế thừa và tổng kết cả quá trình thực hiện Hiến pháp 1946 kết hợp với các bản Hiến pháp qua các thời kỳ; phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn cách mạng mới trên tinh thần tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

    Báo cáo về kế hoạch hoạt động và tổ chức công việc của Ban Biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, TS.Phan Trung Lý, Ủy viên Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Trưởng Ban Biên tập cho biết, theo lịch trình dự kiến, tháng 4/2012 sẽ trình Ban Chấp hành Trung ương Báo cáo Tổng kết việc thi hành và những nội dung cần sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp 1992.

    Tháng 10/2012 trình Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về dự thảo 1 của Hiến pháp. Tháng 1/2013 tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo sửa đổi Hiến pháp…và đến tháng 10 hoặc 11/2013 sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua.

    Để đảm bảo chất lượng tham mưu cho Ủy ban, Ban Biên tập dự kiến sẽ thành lập 6 Tổ Biên tập bao quát các lĩnh vực trong nội dung Hiến pháp.

    Theo Cổng Thông tin điện tử Chính phủ
    http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110907/Ban-Bien-tap-du-thao-sua-doi-Hien-phap-1992-hop-phien-dau-tien.aspx