BS Ngọc - Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

  • Bởi Khách
    03/09/2011
    7 phản hồi

    BS Ngọc

    Ngày 2/9 có lẽ là ngay lý tưởng để suy nghiệm tiêu ngữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc dười hàng chữ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Hãy nói về Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tên nước đứng sau cùng. Tên của chủ nghĩa đứng đầu. Nên nhớ rằng trước kia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên nước là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Việt Nam đứng đầu, Dân Chủ và Cộng Hòa đứng sau. Dân tộc trên hết và vĩnh viễn, thể chế chính trị chỉ là tạm thời. Ấy thế mà sau này Đảng Cộng Sản Việt Nam sáng tác ra quốc danh đặt Việt Nam sau chủ thuyết chính trị! Quốc danh hiện nay là một cách xem thường dân tộc. Người ta chỉ xem Việt Nam như thể một cộng đồng dân tộc trong đại cộng đồng có tên là Xã Hội Chủ Nghĩa. Thế nhưng chúng ta biết rằng cái đại đồng đó không còn nữa. Quê hương của Xã Hội Chủ Nghĩa đã đập nát tượng Lénin và tên đồ tể Stalin. Nước ta ngày nay thực tế là một nước tư bản. Một loại tư bản đỏ. Tư bản dã man. Dã man với người dân. Như thế, ngay từ tên nước đã là một sự dối trá. Dối trá vì không đúng với thực tế và cũng chẳng phù hợp với lý tưởng. Thử hỏi trong giới lãnh đạo có mấy ai còn tin vào Chủ nghĩa Xã hội?

    Độc lập. Đó là một lý tưởng không thể nào có được. Không có một nước nào có thể tồn tại độc lập như một ốc đảo. Trên thế giới, các nước phải liên minh với nhau và tương trợ lẫn nhau. Làm gì có chuyện hoàn toàn độc lập. Trong thời Pháp thuộc, chúng ta mong ước được thoát khỏi gông cùm của bọn thực dân với chiêu bài dành độc lập tự chủ. Vô số người đã nằm xuống cho lý tưởng cao cả đó. Đánh đuổi thực dân Pháp xong, một nửa đất nước rơi vào quỹ đạo của khối cộng sản, đứng đầu là Tàu cộng và Liên bang Sô Viết. Có thể nói trên mọi mặt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lệ thuộc vào hai nước cộng sản đàn anh đó. Ở miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa rơi vào quỹ đạo của Mỹ và thế giới tự do. Kinh tế và chính trị của VNCH cũng lệ thuộc vào Mỹ. Sau 1975, những người lèo lái đất nước lúc thì ngả theo Liên Xô, lúc thì dựa vào Tàu cộng. Đến nay, chúng ta đã thấy rõ những người lãnh đạo quyết tâm đưa đất nước vào quỹ đạo của Tàu cộng, nếu không muốn nói tạo điều kiện để nước ta trở thành Bắc thuộc thêm một lần nữa. Nói tóm lại, suốt trăm năm qua, nước ta không có độc lập.

    Tự do. Người Việt Nam chưa bao giờ hưởng tự do. Quyền làm người của người Việt Nam chưa bao giờ được tôn trọng. Người dân không có quyền tiếp cận thông tin đa chiều. Người dân không có quyền phát biểu về chính trị. Người dân không có quyền lập hội hoặc đoàn thể dân sự. Bất cứ ai có ý kiến khác Đảng đều bị quy chụp là “phản động” và bị bỏ tù, thậm chí có thể bị giết chết. Không bị bỏ tù hay bị giết, thì cũng bị công an theo dõi, sách nhiễu và khủng bố. Thử đọc qua những tâm sự của các nhân sĩ Hà Nội đi biểu tình chống Tàu cộng thì biết công an sách nhiễu và khủng bố họ như thế nào. Công an đã biến thành một bộ máy không phải bảo vệ người dân mà là hại dân. Xã hội hiện nay là xã hội công an trị và Đảng trị. Công an trị theo mô hình Stasi của Đông Đức ngày xưa. Hành động khủng bố và sách nhiễu của công an còn thua cả hành động của quân phát xít Đức ngày xưa.

    Thời Pháp thuộc người dân còn có tự do hơn thời Đảng CSVN cai trị. Thời VNCH của ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu người dân còn có cuộc sống chính trị thoải mái hơn thời Đảng CSVN cai trị. Đó là sự thật. Trước 1975, sinh viên học sinh có quyền xuống đường biểu tình chống chế độ, chống Mỹ. Trước 1975, người dân có quyền lập đoàn thể dân sự. Trước 1975, cán bộ của Đảng CSVN hoạt động bị bắt ra tòa có luật sư bào chữa nghiêm minh. Tất cả những quyền đó đã bị cướp đoạt ngay sau ngày “giải phóng”. Bây giờ có lẽ những người dân như người viết bài này nhìn lại “chế độ Thiệu Kỳ” mình từng chống lại hồi trước và thấy… nuối tiếc. Nói cho công bằng, bọn thực dân Pháp, bọn “thực dân Mỹ”, bọn Diệm Thiệu còn tử tế với người dân hơn là Đảng CSVN. Pháp, Mỹ, Diệm, Thiệu còn đối xử với người cộng sản đàng hoàng hơn là Đảng CSVN đối xử với đảng viên của họ.

    Hạnh phúc. Người Việt Nam không có hạnh phúc. Làm sao hạnh phúc khi trộm cướp hoành hành khắp nơi và bất công xã hội tràn lan. Người ta cư xử với nhau bằng súng, dao găm, mã tấu. Ngay cả những người có nhiệm vụ bảo vệ an ninh công cộng đã trở thành những kẻ đánh người, giết người giữa thanh thiên bạch nhật. Người dân không còn tin nếu không muốn nói là ghét những kẻ kiêu binh chỉ còn biết “còn Đảng còn mình”. Làm sao hạnh phúc khi đi đến bất cứ cơ quan Nhà nước nào cũng phải hối lộ, bôi trơn? Hối lộ và bôi trơn cán bộ đã trở thành một thực tế trong cuộc sống của người dân. Cán bộ thất học ăn tiền của dân thì có thể tạm hiểu được, nhưng ngay cả giới có học như bác sĩ, thầy cô giáo, giáo sư đại học mà cũng ăn tiền thì đó là suy đồi đạo đức. Nếu không may mắc bệnh vào bệnh viện thì thế nào cũng bị bác sĩ hoặc nhân viên bệnh viện tống tiền. Làm sao hạnh phúc khi công lý là một cái gì xa xỉ đối với người dân. Một cái tát tay vào mặt viên công an chỉ biết còn Đảng còn mình lãnh 9 tháng tù, ăn trộm 3 con gà lãnh cái án 20 năm tù giam, trong khi công an gạ tình và giết người thì … vô tội. Không, chưa bao giờ người dân có hạnh phúc dưới sự cai trị của Đảng CSVN.

    Nói thế cũng không hẳn đúng, bởi trong thực tế vẫn có một nhóm người hoàn toàn tự do và hạnh phúc. Họ là những đảng viên của Đảng CSVN. Họ là những người giàu nhất hiện nay, sở hữu những căn nhà to nhất, đắt tiền nhất, sang trọng nhất. Họ là những người ăn trên ngồi chốc. Họ nắm quyền điều hành đất nước và xem đất nước này như là tài sản riêng của họ. Họ là những người đứng trên pháp luật. Họ có tất cả, từ tự do đến hạnh phúc. Họ là những người thực dân kiểu mới.

    Có thể nói rằng chưa bao giờ người dân khốn khổ như hiện nay. Khốn khổ vì đất nước bị lệ thuộc vào Tàu cộng, vì không có tự do, quyền làm người bị chà đạp, và vì hoàn toàn không có hạnh phúc. Khốn khổ vì thấy mình là nạn nhân của những người thực dân kiểu mới. Cha ông chúng ta đánh Tây và đuổi Mỹ Ngụy để góp phần tạo nên một thể chế thực dân kiểu mới. Điều đau lòng là chính người Việt nhân danh Xã Hội Chủ Nghĩa, Độc lập. Tự do. Hạnh phúc để cướp đi tự do và hạnh phúc của người Việt.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Trích dẫn:
    Độc lập. Đó là một lý tưởng không thể nào có được. Không có một nước nào có thể tồn tại độc lập như một ốc đảo. Trên thế giới, các nước phải liên minh với nhau và tương trợ lẫn nhau. Làm gì có chuyện hoàn toàn độc lập. Trong thời Pháp thuộc, chúng ta mong ước được thoát khỏi gông cùm của bọn thực dân với chiêu bài dành độc lập tự chủ. Vô số người đã nằm xuống cho lý tưởng cao cả đó. Đánh đuổi thực dân Pháp xong, một nửa đất nước rơi vào quỹ đạo của khối cộng sản, đứng đầu là Tàu cộng và Liên bang Sô Viết. Có thể nói trên mọi mặt Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lệ thuộc vào hai nước cộng sản đàn anh đó. Ở miền Nam, Việt Nam Cộng Hòa rơi vào quỹ đạo của Mỹ và thế giới tự do. Kinh tế và chính trị của VNCH cũng lệ thuộc vào Mỹ. Sau 1975, những người lèo lái đất nước lúc thì ngả theo Liên Xô, lúc thì dựa vào Tàu cộng. Đến nay, chúng ta đã thấy rõ những người lãnh đạo quyết tâm đưa đất nước vào quỹ đạo của Tàu cộng, nếu không muốn nói tạo điều kiện để nước ta trở thành Bắc thuộc thêm một lần nữa. Nói tóm lại, suốt trăm năm qua, nước ta không có độc lập.

    Đoạn này luẩn quẩn!!!

    Trên thì khẳng định không thể có được hoàn toàn độc lập, phải liên minh với nước khác!!!???

    Dưới thì kêu qua 100 năm qua không có độc lập (thực sự)!

    Nếu biết không thể hoàn toàn đọc lập, thì kêu ca (mục đích là chê bai nền độc lập của CS) không có độc lập làm gì.

    Nếu đã nói đến liên minh, tại sao lại không nên liên minh với TQ??? hoặc lúc liên minh với TQ, lúc liên minh với Mỹ hay Âu, hay nước khác ...v...v...

    BS Ngọc tốt nghiệp trước 75, vậy BS có thương tiếc cho cái chết của 2 ông thầy, Giáo sư BS Trần Anh, và Giáo sư BS Lê Minh Trí? Những vị thầy của thầy, rất giỏi, rất hào sảng, bị khủng bố ám hại ngay giữa thành phố SG? Để rồi 40 năm sau, nền y tế của TP HCM chứa đầy những lở loét, tệ hại từ tình trạng bệnh nhân, bệnh viện, Bác sĩ và nhân viên Y tế!
    Ngày trước, không một BS nào lại có thể muối mặt mà bán lại thuốc mẫu do dược phòng biếu không, đừng có nói là ăn huê hồng! Nhân viên y tế có bao giờ dám ra giá với bệnh nhân thập tử nhất sanh? Có những SV Y khoa nội trú cho máu bệnh nhân trực tiếp lúc bắt tay vào cuộc mổ. Những sinh viên nghèo còn chia xẻ chút tiền cho bệnh nhân về xe đò. Những quà bánh, hoa trái chỉ đến tay những người phục vụ sau khi bệnh nhân thoát hiểm, gọi là chút lòng biết ơn. Không có vụ chạy chọt để được điều trị. Vào nhà thương là được thương, được điều trị, săn sóc chứ không phải bị làm khó dễ, phải đặt nặng v/đề "Đầu tiên".
    Bây giờ, những người làm y tế có lương tâm không thiếu, nhưng họ phải bó tay trước sự lũng đoạn nhân danh phe đảng, thi đua, hình thức, ... thực ra là mưu lợi trong hoàn cảnh cơ khổ, bất hạnh của kẻ khác.
    Nội môi trường này cũng đủ để những người có dính dáng đến bệnh tật thấy cuộc sống không dễ chịu chút nào, huống hồ lúc nào cũng phải xưng xưng tán tụng đời sống là: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc!
    Thật là khôi hài, dị hụ hết chổ nói!
    Đến khi nào người dân mới được quên cái dòng chữ giả dối xạo ke này, khỏi phải viết trên mọi đơn từ giấy tờ? Cứ ghi, cứ hô lên tất là có được như những người tung hô: Muôn năm trường trị! Thống nhất giang hồ thì Đông Phương Bất Bại của Kim Dung thì sẽ được Vạn tuế! Vạn vạn tuế! ư?

    Thân chào BS Ngọc,

    Hình như đây là bài viết trích từ blog BS Ngọc, tức là ông Đỗ Hồng Ngọc, tác giả của cuốn sách nhỏ Nghĩ Từ Trái Tim (luận bàn về Bát Nhã Tâm Kinh Ba La Mật của Đạo Phật) thì phải. Nếu đúng là thế thì tôi xin hân hạnh được tiếp chuyện với ông, vì tôi cũng là một Phật tử thuần thành, say mê nghiên cứu triết lý Nhà Phật, nhất là triết lý siêu việt Sắc Sắc Không Không.

    Về ba khẩu hiệu giả tạo ĐỘC LẬP, TỰ DO, HẠNH PHÚC mà ông Ngọc nêu lên, tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét sắc bén của ông. Còn chuyện từ ngữ Hán Việt do ông Minh Thái nêu lên, tôi miễn phê bình bởi lẽ tôi không còn muốn chịu thêm ảnh hưởng Hán hoá tý nào, trong bối cảnh một đất nước thống nhất và toàn dân đang gian khổ đấu tranh để giành lại chủ quyền biển đảo với bọn bành trướng phương Bắc. Tôi yêu quý tiếng Việt của tôi và chấp nhận ảnh hưởng văn hoá phần nào của 2000 năm cọ sát với xâm lược phương Bắc trong một dĩ vãng xa xưa, nhưng giờ đây đến lúc cần phải tiếp thu nền văn hoá và khoa học kỹ thuật phương Tây, đánh tan đầu óc nô lệ Hán hoá.

    Mong nhận hồi âm của BS Ngọc,

    Lê Quốc Trinh, Canada

    Quốc khánh: Đối thoại về Độc lập - Tự do

    (VOV) - Khách mời là ông Nguyễn Trần Bạt - tác giả của nhiều cuốn sách đề cập đến các vấn đề đương thời gây được sự chú ý trong dư luận như: “Đối Thoại với Tương lai”, “Cải cách và Phát triển”, “Văn hóa và Con người”…

    Ông Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch, Tổng giám đốc Công ty InvestConsult Group, một trong những doanh nghiệp đầu tiên hành nghề tư vấn, đầu tư trên thị trường Việt Nam. Ngoài kinh doanh, ông còn là một nhà nghiên cứu về các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, triết học. Ông Nguyễn Trần Bạt là tác giả của nhiều cuốn sách đề cập đến các vấn đề đương thời gây được sự chú ý trong dư luận như: “Đối Thoại với Tương lai”, “Cải cách và Phát triển”, “Văn hóa và Con người”…

    Nhân dịp kỷ niệm 66 năm Ngày Quốc khánh 2/9, chúng tôi mời ông Nguyễn Trần Bạt đối thoại về chủ đề: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Đây là tiêu ngữ thiêng liêng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt dưới Quốc hiệu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam), từ khi lập nước đến nay.

    ** Phóng viên: 66 năm qua, Độc lập -Tự do - Hạnh phúc đã trở thành một tiêu ngữ rất quen thuộc đối các công dân Việt Nam. Tuy nhiên, sự quen thuộc của nó không bao giờ làm giảm đi tính thiêng liêng và giá trị của nó, đúng không thưa ông?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Đúng thế! Có lẽ cái tiêu chuẩn số một, tư tưởng số một và nguyên lý số một của Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là độc lập dân tộc.

    Thứ hai là tự do và dân chủ. Và có một tư tưởng nữa không nằm trong cái logo ấy, đó là đại đoàn kết dân tộc. Không có tội ác nào lớn hơn đối với đất nước bằng tội ác làm mất sự đoàn kết dân tộc. Cho nên 3 tư tưởng: Độc lập dân tộc, Tự do - dân chủ và Đại đoàn kết dân tộc là ba điểm mấu chốt trong toàn bộ hệ thống tư tưởng chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Còn ba tiêu chí độc lập, tự do và hạnh phúc là những giá trị phổ quát của nhân loại, đã được khẳng định rộng rãi trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên trong lịch sử chính trị hiện đại của chúng ta đã hội nhập với các giá trị của thế giới bằng 3 chữ vĩ đại như thế trong tiêu chí sáng tạo ra nền cộng hòa của chúng ta.

    ** Phóng viên: Vậy lý tưởng này, trong bối cảnh hôm nay, cần được hiểu như thế nào?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Tôi nghĩ rằng từ lý tưởng chính trị đến hiện thực chính trị là cả một bài toán để giải quyết về sự tương thích các điều kiện và thực tế với lý tưởng.

    Đây là một công việc khó, một công việc rất vất vả cho mọi thế hệ chính trị, kể cả thế hệ lãnh đạo hiện nay, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chắc chắn còn rất vất vả để hiện thực hóa tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dân tộc chúng ta phải rèn luyện một bản lĩnh để bảo vệ nền độc lập, với nội hàm của chữ độc lập ngày càng phức tạp.

    Chúng ta phải đủ năng lực để kinh tế độc lập, chúng ta phải đủ thông thái để chính trị độc lập, chúng ta phải giữ gìn bản sắc để văn hóa độc lập. Chúng ta phải nâng cao hiệu lực về việc phát triển con người để con người Việt Nam được độc lập.

    Một dân tộc mà nhân dân của nó không có những phẩm chất để yêu mến giữ gìn và đủ bản lĩnh để giữ gìn nền độc lập thì dân tộc ấy trên thực tế chỉ độc lập về mặt Nhà nước chứ không phải độc lập về mặt dân tộc.

    Độc lập không chỉ là bản lĩnh Chính phủ, không chỉ là bản lĩnh đảng chính trị mà là bản lĩnh ấy phải phổ cập đến mức trở thành bản lĩnh của nhân dân.

    ** Phóng viên: Thế còn tự do, ngày nay nên hiểu như thế nào?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Tự do – rất nhiều người hiểu sai chữ này. Tự do vừa là cái bên trong mình, vừa là điều kiện bên ngoài. Điều kiện bên ngoài của tự do chính là dân chủ. Dân chủ chính là tiêu chuẩn môi trường để khái niệm tự do được tôn trọng.

    Còn Độc lập dân tộc cũng là điều kiện để đảm bảo tự do, bởi vì nếu không Độc lập dân tộc, lệ thuộc vào nước ngoài, đất nước chúng ta không tự do thì dân chúng ta không tự do được.

    Vì thế cho nên Độc lập và dân chủ là các điều kiện bên ngoài để cho khái niệm tự do được bảo vệ hay là được đảm bảo có môi trường phát triển.

    ** Phóng viên: Thưa ông, lý tưởng Độc lập - Tự do - Hạnh phúc đã từng có một sức mạnh vô cùng to lớn, biến thành động lực và khát vọng giúp dân tộc chúng ta dành chiến thành trong những cuộc chiến tranh khốc liệt và không cân sức. Vậy trong thời bình, Độc lập - Tự do có ý nghĩa như thế nào, có vai trò và vị trí như thế nào trong công cuộc hiện đại hóa quốc gia?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Có rất nhiều người nói với tôi, yêu nước là phải hy sinh cho đất nước. Tôi cười, tôi nói rằng yêu nước là phải làm cho đất nước đáng yêu. Chủ nghĩa yêu nước trong thời bình, chủ nghĩa yêu nước hiện đại chính là làm cho đất nước mình đáng yêu hơn, để cho sự yêu nước là tình cảm tự nhiên của mỗi con người. Bất kỳ cái gì làm cho đất nước chúng ta xấu hơn, ít hấp dẫn hơn với con người trong nước và ngoài nước thì trong chừng mực nào đó đều có nghĩa là không yêu nước.

    Đấy là chủ nghĩa yêu nước hiện đại, là tự do hiện đại và tôi nghĩ rằng chúng ta phải phấn đấu theo ba nguyên lý tư tưởng chính trị quan trọng nhất của Bác Hồ là Độc lập dân tộc, Tự do dân chủ và Đại đoàn kết dân tộc.

    ** Phóng viên: Quan sát tình hình trong nước hiện nay, nhất là những thay đổi sau gần 25 năm chúng ta có chính sách Đổi mới, cá nhân ông có hài lòng hay không với tốc độ phát triển của đất nước ta hiện nay?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Có nhiều người đang đòi hỏi đất nước, đòi hỏi nhà nước phải thỏa mãn họ, thỏa mãn một số tiếu chuẩn nào đó. Tôi thì khác, tôi luôn luôn cho rằng mọi hiện thực xã hội đều là hệ quả tất yếu và khách quan của năng lực của một dân tộc.

    Năng lực của dân tộc ấy có trong đó cả năng lực của chúng ta, những người dân, năng lực của nhà nước, năng lực của chính phủ, năng lực của đảng chính trị. Chúng ta không thể sốt ruột đòi hỏi cái vượt quá khả năng của Nhà nước và của Đảng cũng như của người dân. Bản chất của sự phát triển chính là tạo ra những tiêu chuẩn nhận được sự đồng thuận hay là phù hợp với năng lực của tất cả các lực lượng cấu tạo ra xã hội của chúng ta.

    ** Phóng viên: Tóm lại là ông có hài lòng hay không, thưa ông?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Tôi không đặt ra vấn đề tôi có hài lòng không. Bởi vì mà đặt ra vấn đề hài lòng tức là tôi đánh giá. Có lẽ trong đời sống tư tưởng chúng ta phải thay đổi quan niệm như thế. Tôi không đặt ra vấn đề đó. Tôi nghĩ rằng chúng ta phấn đấu để dần dần nâng cao tất cả các chỉ giới ấy lên chứ không phải là đưa ra các đòi hỏi cục bộ. Bởi vì tôi có khách quan đến mấy đi nữa thì đòi hỏi của tôi vẫn là đòi hỏi cục bộ. Đòi hỏi của cả một số lượng đông hơn tôi cũng không đại diện cho đòi hòi có chất lượng khách quan toàn xã hội. Cần hiểu chính trị chính là điểm cân bằng giữa đòi hỏi của tất cả các lực lượng xã hội.

    ** Phóng viên: So với tốc độ phát triển của thế giới hiện nay, theo ông Việt Nam chúng ta đang ở vị trí nào? Liệu chúng ta đã phát huy được hết tiềm năng nội sinh của dân tộc để đi đúng với sức mình hay chưa?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Chúng ta đưa ra các mong muốn lớn hơn khả năng của dân tộc chúng ta, cho nên không bao giờ có sự thỏa mãn của xã hội đối với tốc độ phát triển và đừng đi tìm kiếm cái đấy một cách vô ích. Nếu xã hội phát triển đến một mức nào đó thì lại có đòi hỏi mới, đòi hỏi mới bao giờ cũng cao hơn, xa hơn, phiêu lưu hơn, lãng mạn hơn khả năng của chúng ta.

    ** Phóng viên: Thưa ông, để thúc đẩy kinh tế-xã hội đất nước phát triển, chúng ta đang đối diện với những vấn đề rất lớn. Trong bài viết của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng công bố trước khi Chính phủ khóa XIII ra mắt tại Quốc hội, đã đặt ra ba trọng tâm ưu tiên giải quyết. Đó là cải cách đổi mới thể chế, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng. Đặt ra ba vấn đề này là rất trúng nhưng giải quyết được lại không hề đơn giản. Theo ông trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế chúng ta cần ưu tiên những điểm gì?.

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Tôi cảm nhận một cách khá thiện cảm với nguyên lý 3 đột phá như vậy của Thủ tướng. Quả thật đấy là 3 vấn đề của đời sống chúng ta, nhưng nội hàm của cả 3 khái niệm ấy cần được cụ thể hóa. Ví dụ cải cách thể chế thì phải hiểu thể chế là gì. Có phải là luật pháp không? Thể chế có dừng lại ở cơ cấu Chính phủ và Nhà nước không? Có phải là các chính sách không?

    Tôi đồ rằng không. Thể chế có những cội nguồn căn bản hơn nhiều, mà ngay cả Thủ tướng khi phát biểu về những vấn đề ấy cũng rất thận trọng. Rất nhiều người muốn phê phán hoặc là muốn khen ngợi. Nhưng tôi xin lỗi là cả sự phê phán lẫn khen ngợi đều không phát hiện đúng cái khó khăn mà Thủ tướng phải đối mặt!

    ** Phóng viên: Vậy nếu cần có sự góp ý cho Chính phủ thì theo ông, cần phải ưu tiên làm việc gì cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta hiện nay?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Cần tập trung vào thực hiện 3 nguyên lý quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tức là phải xác lập độc lập dân tộc một cách rõ rệt. Phải xác lập quyền tự do và dân chủ của xã hội một cách cụ thể, và phải làm thế nào để quy tụ được đoàn kết dân tộc. Đấy là mục tiêu chính. Muốn gì thì muốn chúng ta không đi qua và không tránh được ba nguyên lý cơ bản ấy của tư tưởng Hồ Chí Minh.

    ** Phóng viên: Hiện nay, Việt Nam đã ở vào ngưỡng các quốc gia có thu nhập trung bình. Về mặt kinh tế - chính trị, chúng ta đã có một vị thế đáng kể trên thế giới, có quan hệ với tất cả các nền kinh tế lớn, trong đó có nền kinh tế Mỹ và nền kinh tế Trung Quốc. Trong quan hệ với 2 nền kinh tế này thì một mặt chúng ta xuất siêu vào Mỹ, một mặt ta lại nhập siêu từ Trung Quốc. Theo ông, ta phải làm gì để cân bằng và có lợi với hai nền kinh tế này?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Câu hỏi của anh được diễn đạt một cách tế nhị, dưới giác độ kinh tế. Nhưng thực chất câu hỏi của anh là chúng ta giải quyết thế nào về chính sách đối ngoại giữa hai quốc gia khổng lồ và hiện nay đang thao túng và chi phối bàn cờ chính trị toàn cầu, bàn cờ kinh tế toàn cầu và trong một thực tế nào đó là bàn cơ văn hóa.

    Tôi cho rằng nên đối xử với hai thế lực đang chi phối nhân loại bằng thái độ của một quốc gia độc lập, tức là quay lại 3 nguyên lý chính trị quan trọng của Hồ Chủ tịch. Khi đó, chúng ta sẽ là đối tượng được họ tranh thủ. Khi mà chúng ta thừa nhận những giá trị cơ bản của nhân loại thì chúng ta thuộc về nhân loại. Giai đoạn mà các cường quốc thôn tính, chi phối và giết chết các dân tộc qua rồi. Đấy là thành tựu cơ bản của phong trào giải phóng dân tộc, một trong những trào lưu chính trị quan trọng nhất của thế kỷ 20.

    Cho nên tôi nghĩ, chúng ta cần chia sẻ với các tiêu chuẩn toàn cầu về đời sống con người, qua đó tạo ra hiệu lực đoàn kết một cách tự nhiên giữa chúng ta với nhân loại, đoàn kết một cách tự nhiên các lực lượng nhân dân chúng ta, thống nhất xung quanh Đảng ta, Chính phủ ta, xung quanh Quốc hội của chúng ta. Đó chính là lực lượng cơ bản để chúng ta đối phó với tình trạng phức tạp của đời sống chính trị quốc tế hiện nay.

    ** Phóng viên: Theo ông nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những nguy cơ gì?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước mọi nguy cơ. Thậm chí có lúc tiêu cực tôi nói chúng ta chưa có nền kinh tế của mình.

    Ở trên thế giới người ta có những kho gạo trong đó gạo được phân loại ra từng loại, ví dụ loại nấu 5 phút mới chín, loại nấu 3 phút, loại 2 phút. Có nghĩa là cấu trúc sản phẩm gạo đã liên quan đến vấn đề tiêu thụ năng lượng. Nền nông nghiệp của chúng ta là nền nông nghiệp chưa chuyên nghiệp. Chúng ta vẫn dừng lại ở trạng thái là nuôi, trồng và bán con, bán cây. Sản phẩm nông nghiệp của chúng ta không phải là sản phẩm nông nghiệp chuyên nghiệp.

    Chúng ta tự hào là chúng ta xuất khẩu bao nhiêu tấn gạo, nhưng chúng ta mới tự hào như một anh nông dân bán được gạo. Chúng ta chưa tự hào với tư cách là một lực lượng kinh tế nông nghiệp.

    Kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế không chuyên nghiệp và chưa có các cấu trúc căn bản của nó. Ở đâu chúng ta cũng động chạm. Sân golf nhiều hơn ruộng lúa cũng là vấn đề đụng chạm. Vấn đề là phải cấu trúc lại cái cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam.

    ** Phóng viên: Ông có thể nói một cách khái quát?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Một cách khái quát là anh phải có cấu trúc cụ thể. Chính sách vĩ mô bao giờ cũng có 2 loại. Loại để tạo ra một cấu trúc thực và loại để tạo ra hiệu quả thương mại. Chúng ta mới chỉ chú ý đến tầng trên là tạo ra hiệu quả thương mại mà chúng ta không để ý đến việc xây dựng lực lượng kinh tế. Không có một cấu trúc kinh tế ổn định thì chúng ta không thể có cái gọi là chính sách vĩ mô về phát triển.

    Tôi nói lại là bước một chúng ta phải xây dựng cái cơ cấu thực, cấu trúc thực của nó. Thứ hai, chính sách kinh tế là sự chú ý chính trị của Nhà nước vào một khu vực nào đó của nền kinh tế nhằm xúc tiến nó phát triển lên để tạo ra những sự cân bằng cần thiết vào mỗi một giai đoạn phát triển khác nhau.

    ** Phóng viên: Ông dự cảm gì về tình hình kinh tế của Việt Nam trong 5 năm tới?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Đây là một câu hỏi rất khó! Năm năm tới sẽ là một bước đột phá quan trọng nếu chúng ta đúng. Năm năm tới là một cái hố tiêu năng khổng lồ nếu chúng ta sai. Cái đó hoàn toàn lệ thuộc vào chính sách của chúng ta vào chất lượng chính trị của Nhà nước và của xã hội.

    Chúng ta phải có một Nhà nước rành mạch. Có thái độ rõ ràng trước tất cả các vấn đề nhất là đối với con người. Chúng ta nói thẳng đấy là một quá trình rèn luyện. Không phải chỉ rèn luyện của xã hội mà còn rèn luyện của cả Đảng cầm quyền. Thừa nhận đó là một quá trình thì có gì xấu hổ. Cả thế giới người ta đều rèn luyện cả, kể cả những nhà nước tiên tiến bây giờ cũng phải rèn luyện.

    ** Phóng viên: Thưa ông, để đưa đất nước phát triển ổn định, đạt được các mục tiêu đề ra như mong muồn thì Đảng, Nhà nước, Chính phủ và từng công dân cần hành động như thế nào?

    Ông Nguyễn Trần Bạt: Tôi cho rằng để tạo ra một đất nước có triển vọng, để tạo ra một tương lai có triển vọng đối với xã hội chúng ta, chúng ta bắt buộc phải có một hệ thống chính trị, trong đó trung tâm là Chính phủ, tạo ra lòng tin cho xã hội bằng sự chính đáng của chính sách, bằng sự công khai của chính sách.

    Giá trị của một công dân là đóng góp dần dần để cải biến cái thể chế ấy chứ không phải chống lại nó. Cho nên, tôi nghĩ rằng công dân nước cộng hòa của chúng ta phải thừa nhận Chính phủ chúng ta, phải thừa nhận Nhà nước chúng ta và phải có thái độ thân thiện về chính trị đối với Chính phủ, đối với Nhà nước, đối với Đảng một cách rõ rệt.

    Thái độ thân thiện tích cực nó khác với thái độ thân thiện thụ động. Đó là nghiên cứu các nhược điểm của thể chế hiện hành bằng con đường khoa học để cải thiện dần dần, không tạo các sức ép chính trị một cách vô lý. Không được phép tạo ra sự rối loạn tâm lý chính trị để từ đấy làm cho năng lực hợp tác của các lực lượng xã hội trở nên rối loạn. Đấy là quan điểm chính trị của tôi.

    ** Phóng viên: Xin cảm ơn ông Nguyễn Trần Bạt về cuộc trò chuyện này!

    Phạm Mạnh Hùng-Hải Yến-Ngọc Chi (thực hiện)

    Nguồn: VOV

    Di sản Hồ Chí Minh được thực hiện ra sao?

    Quốc Phương

    BBC Việt ngữ


    Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh (phải) và cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, năm 1965, bốn năm trước khi ông qua đời.

    Nhân tuần lễ kỷ niệm quốc khánh Việt Nam, 2-9, trí thức trong nước chia sẻ với BBC về di sản của cố chủ tịch Hồ Chí Minh, cả ở khía cạnh được cho là có ý nghĩa nhất tới khía cạnh gây tranh cãi và bình luận về sửa đổi Hiến pháp, pháp luật ở Việt Nam.

    Một nhà sử học kiêm đại biểu Quốc hội, cho rằng di sản lớn nhất mà Hồ Chí Minh để lại là tinh thần "không có gì quý hơn độc lập tự do" và đặc biệt hơn là "lấy sức ta giải phóng cho ta" chứ "đừng ỷ vào, dựa vào đâu cả."

    Trao đổi với BBC, nhân quốc khánh lần thứ 66 của Việt Nam, ông Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử cho rằng nguyên lý "không có gì quý hơn độc lập tự do" không chỉ có giá trị với người Việt Nam mà còn có ý nghĩa với nhiều quốc gia khác trên Thế giới.

    Ông Quốc nói: "Vấn đề là giữa ý tưởng mong muốn của Cụ Hồ và hiện thực có đạt được hay không, thì nó còn phụ thuộc vào chính những con người kế thừa nó, hoặc phủ nhận nó. Đó là một vấn đề phức tap."

    Nhà sử học lưu ý thêm: "Chúng ta cũng phải thấy rằng không có cái gì là duy nhất và vĩnh cửu cả. Điều quan trọng là chúng ta cố gắng trân trọng những gì những người khác đã để lại và tiếp tục phát triển nó cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của xã hội, cũng như của đất nước."

    Bình luận về di sản có ý nghĩa của ông Hồ, một nhà xã hội học cho rằng di sản lớn nhất mà ông để lại là "giành được độc lập, thống nhất cho đất nước".

    Cái di sản lớn nhất mà Cụ Hồ để lại cho người dân là quyết tâm làm sao tiếp tục xây dựng nền dân chủ và đời sống hạnh phúc, ấm no. Đấy là công việc mà Cụ Hồ không thể làm xong xuôi được và bây giờ cả nước phải cố gắng thực hiện.

    » GS. Tô Duy Hợp

    "Nước Việt Nam là một và đó là nguyện vọng lớn nhất của toàn dân Việt Nam đã đạt được, và có lẽ đó là cái di sản lớn nhất, giành được độc lập đất nước cho nhân dân Việt Nam," Giáo sư Tô Duy Hợp thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam nhận xét.

    Tuy nhiên Giáo sư Hợp, người từng có nhiều công trình nghiên cứu về mô hình phát triển của Việt Nam tại Viện Xã hội học và Viện Triết học, cho rằng cũng có những điểm cần bàn về di sản và thực hiện di sản của cố chủ tịch Hồ Chí Minh:

    "Tuy nhiên nhân vô thập toàn," Giáo sư Hợp nhận xét ngắn gọn khi được hỏi về liệu vị cố lãnh đạo có để lại di sản gì đáng tranh cãi hay không.

    "Mục tiêu lớn nhất cụ Hồ Chí Minh đặt ra cho Việt Nam, là ngay cái tên của nước Việt Nam rất rõ là 'Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc,' từ năm 1945 đến nay thì Việt Nam đã thể hiện được cái độc lập đất nước, trải qua mấy cuộc kháng chiến, Việt Nam đã thể hiện được sức mạnh đoàn kết... Dân tộc độc lập về cơ bản đã đạt được," ông Hợp đánh giá.

    "Nhưng dân chủ hiện nay cũng đạt được một phần, còn phải tiếp tục. Còn hạnh phúc đúng là khó khăn."

    Nhà xã hội học nêu ý kiến của một lãnh đạo Hiệp hội Quốc tế về Điều tra Giá trị vốn phản biện một đánh giá quốc tế trước đó được Việt Nam trích dẫn nhiều nói 'tỷ lệ hạnh phúc của người dân của Việt Nam là cao'. Vị lãnh đạo này, theo Giáo sư Hợp, tỏ ra đáng chú ý khi cho rằng:

    "Việt Nam quá là khổ, chiến tranh quá là nhiều. Bây giờ được một tí hòa bình, thì cho là hạnh phúc. Chứ thực ra cái thỏa mãn này rất là chủ quan."

    Một nhà phê bình văn học cho rằng di sản lớn nhất mà vị cố lãnh tụ cộng sản để lại là sự "quyết tâm để trở thành một nước Việt Nam độc lập."

    Nhưng nhà phê bình này lưu ý 'khái niệm độc lập' theo cách hiểu trước đây và qua thời gian tới nay có sự khác biệt. Từ Hà Nội, nhà phê bình Vương Trí Nhàn nhận xét:

    "Theo tôi hiểu, những khái niệm về độc lập lúc bấy giờ nó không giống như bây giờ. Trong quá trình ấy, tôi thấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những biến chuyển. Theo tôi là có những Hồ Chí Minh và Hồ Chí Minh năm 1945-46 không giống với Hồ Chí Minh năm 1969 khi Người qua đời."

    Ông Nhàn cho rằng di sản của vị cố Chủ tịch đã được tiếp thu với những "quan niệm khác nhau" và Việt Nam hiện nay vẫn phải tiếp tục "tìm hiểu di sản đó chứ không phải là chúng ta đã xác định được một cách chính xác."

    Mô hình áp đặt?


    Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định chế độ chính trị đa đảng, đa nguyên, không giống với Hiến pháp quy định chế độ cai trị độc đảng như hiện nay.

    Trước câu hỏi liệu mô hình và chủ thuyết cộng sản chủ nghĩa mà ông Hồ Chí Minh lựa chọn cho Việt Nam trước đây có thể đã phát huy trong một giai đoạn trong lịch sử nhất định, nhưng hiện có thể là một trở ngại cho sự phát triển của đất nước, đặc biệt là cho thể chế dân chủ tiến bộ thực sự, nhà sử học Dương Trung Quốc nói:

    "Nếu cứ lên án nó như một di sản của quá khứ, đó là một cách nhìn hơi siêu hình. Hãy làm sao làm cho mọi thứ tốt hơn. Bởi vì chúng ta, dân tộc chúng ta đã bao giờ trải qua nền dân chủ thực sự đâu."

    "Hãy chỉ cho tôi một giai đoạn lịch sử nào chúng ta thực sự có dân chủ. Thời kỳ Pháp thuộc ư, thời kỳ thuộc chế độ Việt Nam cộng hòa ư? Còn bây giờ chúng ta hãy cố gắng làm cho nó tốt hơn, ngày càng tốt hơn."

    "Còn các mô hình lựa chọn, tôi nghĩ mỗi dân tộc sẽ có một mô hình thích hợp cho mình. Nhưng nó phải dựa trên sự nỗ lực, kể cả sự đấu tranh của chính dân tộc ấy, chứ không phải chúng ta lấy một mô hình của ai đó để mà áp đặt chúng ta được."

    Riêng về một khía cạnh tranh cãi liên quan tới sự thay đổi từ đường lối đa đảng, đa thành phần đầu tiên khi lập quốc của Đảng Cộng sản, do ông Hồ lãnh đạo, tới nay đã trở thành độc đảng, một vấn đề có thể gây tranh cãi, ông Quốc nói:

    "Năm 1945-46, Chính phủ không chỉ gồm những thành phần xã hội khác nhau mà kể cả những người hay hôm qua còn ở phía bên kia của Cách mạng. Nhiều Bộ trưởng Việt Minh từ chức để nhường chỗ cho những người không phải Việt Minh. Và điều đó cũng tác động để tạo ra một điều mà chúng ta có thể coi là một điểm sáng trong lịch sử."

    Tương lai của đất nước thế nào còn phụ thuộc vào người dân Việt Nam chúng ta và tôi nghĩ không có cái gì bất biến cả

    » Nhà sử học Dương Trung Quốc

    "Nhưng còn những gì diễn ra sau này, tôi nghĩ đơn giản thôi là nói đến chế độ chính trị không thể siêu hình để nói tới lợi ích được. Có thể lợi ích của nhà cầm quyền, bao giờ người ta cũng muốn tạo cho họ cái lợi thế nhất."

    "Điều đó nói ra thì có thể đặt vấn đề đặt lợi ích dân tộc đến đâu, nhưng đó là một cách nói thôi, còn tất cả tôi nghĩ phải phụ thuộc vào sự phấn đấu của tất cả người dân Việt Nam. Tương lai của đất nước thế nào còn phụ thuộc vào người dân Việt Nam chúng ta và tôi nghĩ không có cái gì bất biến cả."

    Ôn cố, tri tân, đề cập tới công việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mà Quốc hội khóa 13 đang có kế hoạch tiến hành, ông Quốc nói:

    "Tôi nghĩ đó đều là những vấn đề mà xã hội đặt ra, và Quốc hội sẽ nêu lên trong thời điểm sắp tới. Thế nhưng cuối cùng nó được chấp nhật như thế nào, ít nhất về mặt nguyên tắc mà nói, thì nó là ý chí của 500 đại biểu và có thể hiện được không ý chí của tất cả cử tri. Điều đó phải hạ hồi phân giải."

    Trong khi đó, nhà phê bình Vương Trí Nhàn cho rằng có thể Việt Nam chưa sẵn sàng và chưa nên sửa đổi Hiến pháp vào thời gian tới đây.

    "Tôi nghĩ là toàn dân cũng rất bức xúc rồi, nhưng có lẽ chúng ta chưa chuẩn bị kỹ... Dư luận xã hội phải thường xuyên thảo luận, phải có những đợt trao đổi giảng giải và dịch các bộ luật của nước ngoài ra."

    Đánh giá lại câu chuyện di sản và Việt Nam thực hiện di sản của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh sau 66 năm độc lập, về phần mình, Giáo sư Tô Duy Hợp đưa ra một tổng kết và cho rằng:

    "Cái di sản lớn nhất mà Cụ Hồ để lại cho người dân là quyết tâm làm sao tiếp tục xây dựng nền dân chủ và đời sống hạnh phúc, ấm no. Đấy là công việc mà Cụ Hồ không thể làm xong xuôi được và bây giờ cả nước phải cố gắng thực hiện."

    Nguồn: BBC

    Minh Thái (viết theo ý một cụ già) viết:

    BS Ngọc ít tuổi, không nên vặn vẹo vào chuyện ưu thế của cách dúng ngữ pháp ở thời xưa và thời nay.

    Thời xưa, rất quen dùng "Đông Dương CS Đảng", nhưng nay gọi là "Đảng CS Đông Dương".
    ...

    Bài này nên viết lại. Chê cho đúng chỗ.

    Tôi đồng ý là bác Minh Thái (viết theo ý một cụ già) nói rất đúng về khía cạnh ngữ pháp trong cái tên nước của VN trước đây (ở miền Bắc) và hiện nay. Bác sĩ Ngọc đã nhận định và phê bình không đúng lắm về vị trí (chót) của hai chữ Việt Nam trong cái tên nước CHXHCN VN hiện nay, tuy theo tôi biết, Bác sĩ Ngọc cũng không hẳn là quá trẻ như bác Minh Thái nghĩ. Ông nay cũng đã thuộc hạng tuổi "thất thập cổ lai hy" rồi.

    Tuy nhiên, nói chung, bài viết của Bác sĩ Ngọc cũng có nhiều điểm đúng đáng hoan nghênh.

    1) Một thời quen dùng ngữ pháp Hán-Việt (tính từ đặt trước danh từ).
    Cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến. Vương quốc chuyển thành "nước cộng hoà". Ví dụ, nước Cộng Hoà Pháp.

    Tiếng Việt, về ngữ pháp (văn phạm) trước 1945 chịu ảnh hưởng rất lớn của tiếng Trung, nghĩa là trong các từ Hán-Việt thì tính từ đặt trước danh từ.
    Cụ Hồ đặt tên nước là "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà" là nói theo ngữ pháp Hán-Việt. Nếu theo ngữ pháp thuần Việt thì phải gọi là nước Cộng Hoà Dân Chủ VN.
    Thời đó, trí thức rất quen dùng ngữ pháp Hán-Việt (tính từ đặt trước danh từ).
    Nước Tàu, theo ngữ pháp của họ, gọi là Trung Hoa nhân dân Cộng Hoà quốc, nếu dịch sang tiếng Việt (theo ngữ pháp Việt) sẽ là Nước CH ND Trung Hoa.

    Tên gọi nước "Cộng Hoà XHCN VN" là theo ngữ pháp Việt. Danh từ Cộng Hoà đặt lên đầu. Nếu dùng cách như thời cụ Hồ đặt tên nước, sẽ thành "VN XHCN Cộng Hoà".
    Chỉ có điều, ngày nay tính từ "dân chủ" (của ngày xưa), nay được thay bằng tính từ "XHCN". Ý đảng CS muốn nói rằng, nước VN đã từ chế độ dân chủ "tiến lên" chế độ XHCN (như Liên Xô). Thế thôi.
    BS Ngọc ít tuổi, không nên vặn vẹo vào chuyện ưu thế của cách dúng ngữ pháp ở thời xưa và thời nay.
    Thời xưa, rất quen dùng "Đông Dương CS Đảng", nhưng nay gọi là "Đảng CS Đông Dương".

    2) Thêm tính từ vào danh từ "Cộng Hoà"
    Đó là chuyện của các nước XHCN. Lãnh tụ CS sau khi lật đổ chế độ phong kiến, đương nhiên tên nước phải là "cộng hoà" rồi. Nhưng họ muốn phân biệt 2 loại "nước Cộng Hoà". Họ thêm tính từ "dân chủ", "nhân dân" hoặc "XHCN" vào sau danh từ Cộng Hoà. Để phân biệt "cộng hoà tư sản" và "cộng hoà" do đảng CS thành lập.
    Đó là chuyện lố bịch.

    Bài này nên viết lại. Chê cho đúng chỗ.