Nguyễn Quang Lập - Hiến pháp 1946 và công hàm quái chiêu

  • Bởi Admin
    30/08/2011
    4 phản hồi

    Nguyễn Quang Lập

    Báo Đại đoàn kết có bài Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (20/07/2011) được thiên hạ rất khen. Đấy, cứ công khai minh bạch như thế có phải hay không, cứ thậm thà thậm thụt, úp úp mở mở chỉ tổ làm dân sinh nghi. Ngẫm mà xem, xưa nay hễ ta để dân nghi điều gì là TQ lợi dụng ngay điều đó, đục nước béo cò mà. Ta thì khi nào cũng nghĩ đục nước là do bọn phản động khuấy lên, còn cò là các thế lực thù địch, nói trắng ra là Mỹ. Điều đó có thể có nhưng không đáng sợ bằng đục nước do chính ta làm vẩn đục lòng tin của dân; và con cò đáng sợ nhất, nguy hiểm nhất là TQ. Phải đắng cay mà nhận ra như thế, thưa mấy bác phòng chống diễn biến hòa bình. Nhưng thôi, chuyện này nói sau.

    Nhân chuyện cái công hàm 1958, nhà bác Hiệu Minh có đưa bài Công hàm 1958 đã vi hiến? của ông Lý Quý Vũ. Cái tựa có vẻ ”phản động” nhưng đọc thì thấy đó là sự vi hiến tỏa sáng, hi hi. Báo Đại đoàn kết cũng như nhiều người đã lên tiếng( trong đó có mình, he he) là tại thời điểm hiệp định Genève hãy còn nguyên giá trị thì cái sự đồng tình trong công hàm 1958 chỉ là sự đồng tình của nước thứ ba chứ không phải của nước chủ nhà, chủ nhà lúc đó đương nhiên là VNCH. Lý lẽ ấy rất xác đáng. Bây giờ người ta mới hiểu đây là một chiêu của Cụ Hồ trong tình thế không thể không đồng tình. Mình tin như thế, vì mình biết chẳng ai dại đi sang nhượng đất đai Tổ Quốc cho người khác, vì đó là tội bán nước. Cụ Hồ lại càng không. Cụ giành lại độc lập rồi tắc lưỡi sang nhượng cho TQ a? Còn lâu.

    Kẹt vì nặng nợ với TQ quá, lại biết tỏng lòng tham vô đáy của TQ, cụ mới nghĩ ra cái chiêu tuyên bố không mất tiền thế kia. Cụ Hồ vốn có nhiều chiêu rất quái trong ngoại giao ai cũng biết, nhưng chiêu này của Cụ chưa quái lắm. TQ có thể vặn lại, nói VNDCCH và CHXHCNVN chả phải cùng một Đảng lãnh đạo sao, tuyên bố của VNDCCH cũng chính là tuyên bố của CHXHCNVN, đừng có mà ngụy biện.

    Có lẽ Cụ Hồ cũng đã lường trước cả chuyện này nên Cụ với tư cách Chủ tịch nước, tức là ông chủ quốc gia, người đứng tên trong sổ đỏ quốc gia đã không đứng tên trong công hàm. Trong công hàm đó Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng không ” thừa lệnh chủ tịch nước”. Lý Quý Vũ đã phát hiện rất hay, thời đó chúng ta đang sống và làm việc theo Hiến pháp 1946. “Hiến pháp năm 1946 quy định: Điều 43: “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà”. Điều 44: “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.” Điều 53 còn nhấn mạnh quyền hạn của Chủ tịch nước: “Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam”. Công hàm 1958 là một dạng hiệp ước biên giới, vì vậy, theo HP1946, người ký hợp hiến Công hàm này phải là Chủ tịch nước VNDCCH. Hoặc nếu không, thì TTg phải viết thêm câu “Thừa lệnh Chủ tịch nước…” và có chữ ký của Chủ tịch nước.“

    Hi hi để cho thủ tướng kí công hàm, Cụ Hồ coi như không biết, trong khi luật pháp 1946 ghi rành rành quyền ông chủ tịch nước to nhất. Ông chủ tịch nước đứng tên sổ đỏ quốc gia. Chủ tịch không kí, không cho TT thừa lệnh thì mọi sự sang nhượng đều vô giá trị. Trong tình thế không thể không đồng tình Cụ Hồ đã có một động tác giả có thể nói là tuyệt chiêu.

    Cái chiêu ấy gọi là tuyệt chiêu chỉ vì Hiến pháp 1946 cho chủ tịch nước thực quyền cao nhất, trong đó có quyền thành lập nội các, chỉ đạo nội các. Tiếc rằng cái quyền ấy dần dần mất hút kể từ ngày Cụ mất. Tiếc lắm thay.

    __________________

    Công hàm 1958 đã vi hiến?

    Độc giả Lý Quý Vũ vừa phát hiện rất thú vị khi tìm ra Hiến pháp 1946 và chuyện liên quan đến Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai.

    Cho đến thời điểm hiện nay, các blog, báo chí của cả hai bên đều phân tích rất kỹ bối cảnh của Công hàm 1958 và hệ lụy khó lường tới chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang tranh chấp.

    Có nhiều luồng ý kiến cho rằng, HS và TS khi đó thuộc Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam) thì việc TTg Phạm Văn Đồng ngầm đồng ý “cho” Trung Quốc là không đúng, vì người ta không thể cho cái không phải của mình.

    Hơn nữa, trong câu chữ của Công hàm, không hiểu do vô tình hay cố ý mà phía VNDCCH chỉ công nhận lãnh hải của TQ là 12 hải lý mà không hề nhắc đến hai quần đảo TS và HS. Và còn nhiều ý kiến khác nữa.

    Tuy nhiên, ý kiến của Lý Quý Vũ là một phát hiện mới lạ, chưa có ai đề cập. Để đảm bảo tính đa chiều, Hiệu Minh blog xin đăng lại Tuyên bố của Trung Quốc và Công hàm 1958.

    Tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về lãnh hải

    Lãnh hải của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa rộng 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho toàn bộ lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm Trung Quốc đại lục cùng với duyên hải của các hải đảo, với Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh cách đại lục bằng hải phận quốc tế, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc

    Lãnh hải của Trung Quốc đại lục và duyên hải của các đảo được tính theo đường thẳng nối liền những điểm mốc ven bờ làm đường biên cơ sở, thuỷ vực từ đường biên cơ sở này hướng ra ngoài 12 hải lý là lãnh hải của Trung Quốc. Phần nước thuộc đường biên cơ sở này hướng vào bên trong, bao gồm vịnh Bột Hải, phần trong hải vực Quỳnh Châu, đều là phần nội hải của Trung Quốc. Các đảo thuộc đường biên cơ sở này hướng vào trong, bao gồm đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, đảo Mã Tổ, đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khưu, đảo Kim Môn lớn nhỏ, đảo Nhị Đảm, đảo Đông Định đều thuộc về các đảo thuộc nội hải của Trung Quốc.

    Tất cả phi cơ và thuyền bè quân dụng của ngoại quốc, chưa được chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho phép, không được tiến nhập vào lãnh hải vào không gian trên lãnh hải. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào vận hành tại lãnh hải của Trung quốc, phải tôn trọng pháp lệnh hữu quan của chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

    Dựa trên nguyên tắc quy định 2, 3 áp dụng cho cả Đài Loan cùng các hòn đảo xung quanh, những hòn đảo của khu vực Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và những gì thuộc về những hải đảo của Trung Quốc. Đài Loan và Bành Hồ địa khu hiện nay đang bị Mỹ dùng vũ lực xâm chiếm. Đây là hành vi phi pháp xâm phạm chủ quyền và sự toàn vẹn của lãnh thổ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đài Loan và Bành Hồ đang chờ đợi để thu hồi, chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa sử dụng tất cả những phương pháp thích đáng tại một thời điểm thích đáng để thu phục những khu vực này, đây là chuyện nội bộ của Trung Quốc, không cho phép ngoại quốc can thiệp.

    Công hàm do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký (tạm gọi là Công hàm 1958)

    “Thưa đồng chí Tổng lý,Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

    Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

    Theo bạn Lý Quí Vũ, năm 1958, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đang tuân theo Hiến pháp 1946 (HP1946). Đứng đầu Chính phủ VN là Chủ tịch nước, không phải là Thủ tướng (TTg), TTg chỉ là thành viên trong nội các.

    Hiến pháp năm 1946 quy định:

    Điều 43: “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà”.

    Điều 44: “Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.

    Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.”

    Như vậy, việc TTg PVĐ ký công hàm 1958 mà không có dẫn đề: “Thừa lệnh Chủ tịch nước VNDCCH” là trái với quy định của HP1946, tức Công hàm 1958 có thể đã vi hiến. Lý do:

    Điều 49, HP1946 nói rõ:

    “Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà:

    a) Thay mặt quốc gia…

    h) Ký hiệp ước với các nước…

    Điều 53 còn nhấn mạnh quyền hạn của Chủ tịch nước: “Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chữ ký của Chủ tịch nước Việt Nam”.

    Công hàm 1958 là một dạng hiệp ước biên giới, vì vậy, theo HP1946, người ký hợp hiến Công hàm này phải là Chủ tịch nước VNDCCH. Hoặc nếu không, thì TTg phải viết thêm câu “Thừa lệnh Chủ tịch nước…” và có chữ ký của Chủ tịch nước.

    Đúng sai thế nào xin nhường lời cho các nhà làm luật chính thức lên tiếng là liệu Công hàm 1958 có vi hiến nếu áp dụng Hiến pháp 1946.

    Nội dung HP1946 tại đây:

    http://laws.dongnai.gov.vn/1945_to_1950/1946/194611/194611090001

    Bên Chính phủ đã lo hết rồi. Chúng ta cứ yên tâm.

    Bàn trong blog như thế này là để cập nhật tri thức cho chính mỗi chúng ta, nhằm dạy con cháu những bài học sơ đẳng về chủ quyền quốc gia và thể hiện tình yêu đất nước.

    Cảm ơn Lý Quý Vũ rất nhiều.

    Hiệu Minh Blog.

    Thấy bài viết bắt đầu nóng, Hiệu Minh Blog xin gửi các đồng chí Công an mạng viếng thăm blog này 6 lời dạy của Hồ Chủ Tịch như sau:

    Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính.
    Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ.
    Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
    Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
    Đối với công việc, phải tận tụy.
    Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo.

    Blog HM đăng một loạt bài về công hàm 1958 khá nhậy cảm nhằm một mục đích duy nhất “Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.

    Xin cảm ơn các đồng chí.

    Nguồn: Blog Hiệu Minh

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Hề hề, lão Lập coi trò đẩy cho người khác ký của cụ Hồ là tuyệt chiêu để xóa giá trị pháp lý của công hàm 1958.

    Thế thì cái thông cáo 18.8.2011 cấm biểu tình của UBNDTP Hà Nội không có chữ ký nào cả là quái chiêu của tập thể Thành ủy HN để tránh bị bêu đầu sau này vì tội phản quốc ? Hay là để xóa cái giá trị pháp lý của thông báo đó ?

    Ý kiến của ông Lý Quý Vũ dùng Hiến pháp 1946 của nước VNDCCH để chứng minh rằng Công hàm 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai là không có giá trị pháp lý vì Công hàm này đã vi phạm Hiến pháp 1946 (mà ông Lý Quý Vũ cho rằng đang hiện hữu vào thời gian Công hàm PVĐ được ký) là một ý kiến rất hay, ít nhất là trên mặt lý thuyết.

    Tuy nhiên, khi bàn về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ 1958, liệu nó có VI HIẾN (và do đó trở thành vô giá trị) hay không, trước hết ta phải xét xem Hiến pháp 1946 chính nó có giá trị pháp lý hay không cái đã. Theo luật sư Trần Thanh Hiệp, trong một cuộc phỏng vấn do phóng viên Nguyễn An của đài Á Châu Tự do thực hiện (xin xem phần kèm theo dưới đây), đã cho biết, theo ông, đứng trên khía cạnh quốc tế công pháp mà nói, thì Hiến pháp 1946 CHƯA BAO GIỜ CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ cả vì nó phạm nhiều lỗi hà tì, mà một trong các hà tì này là nó chưa bao giờ được BAN HÀNH theo đúng thủ tục pháp lý. Chính phủ VNDCCH do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo đã nại cớ tình trạng chiến tranh để không ban hành Hiến pháp 1946 này. Do đó, trên mặt pháp lý Hiến pháp 1946 hoàn toàn không có giá trị.

    Sau đây là phần trích từ cuộc phỏng vấn này:

    Phân tích giá trị của bản hiến pháp 1946 của Việt nam

    (Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nguyendaiviet2008/article?mid=11&fid=-1 )

    2005.09.17

    Trần Thanh Hiệp - Nguyễn An

    Thời gian gần đây dư luận ở trong nước từ nhiều phía, thân cũng như không thân chính quyền, đã bàn luận rất nhiều về bản Hiến pháp 1946 ra đời cách đây trên nửa thế kỷ và đã hết hiệu lực từ cuối thập niên 1950. Nhân dịp năm nay kỷ niệm 60 năm Quốc khánh 2-9, Giáo sư Phạm Duy Nghĩa Đại học Quốc gia Hà Nội, khi được báo Tuổi Trẻ online phỏng vấn, đã tuyên bố rằng bản hiến pháp 1946 vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam.

    • Tải xuống để nghe

    Để bàn sâu thêm về ý kiến này, Nguyễn An của Đài Á Châu Tự Do đã trao đổi với Luật sư Trần Thanh Hiệp, chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân quyền ở Pari về Hiến pháp nói chung và Hiến pháp 1946 nói riêng. Luật sư Hiệp là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về chủ thuyêt Hiến trị cũng như về các Nhà nước pháp quyền, Nhà nước pháp trị.

    Về quan điểm của giáo sư Nghĩa, luật sư Hiệp cho rằng có thể bổ túc biểu văn của ông Nghĩa ít ra về hai điểm. Một là giá trị pháp lý của Hiến pháp năm 1946, và hai là cần phân biệt cho rõ, nói luật hay nói chính trị. Trứơc hết, ông Hiệp phân tích về giá trị pháp lý của bản hiến pháp năm 1946.

    Trần Thanh Hiệp: Khi nói bản Hiến pháp năm 1946 vẫn còn nguyên giá trị là nói còn giá trị về mặt chính trị. Nhưng về mặt pháp lý thì không thể nói nó còn nguyên giá trị được. Tại vì bản Hiến pháp năm 1946 chưa bao giờ có giá trị pháp lý cả. Muốn có giá trị pháp lý thì nó phải hội đủ những điều kiện pháp định cả về hình thức lẫn nội dung.

    Không nên nghĩ sai lầm rằng chỉ có nội dung của Hiến pháp mới quan trọng, còn hình thức thì đại khái thế nào xong thôi. Trên bình diện pháp lý, nếu một Hiến pháp có hà tì về hình thức thì đương nhiên nó bị coi là vô hiệu, tức cũng như chưa hề bao giờ có bản Hiến pháp đó cả.

    Hà tì của Hiến pháp 1946

    Nguyễn An: Xin ông nói rõ về điều ông gọi là hà tì của hiến pháp năm 1946. Hà tì là gì, và hà tì của Hiến pháp 1946 là gì?

    Trần Thanh Hiệp: Hà tì là một thuật ngữ luật học không thông dụng ở ngoài đời dưới dạng từ kép hán việt. Nhưng hai từ đơn chữ hán “hà” và “tì” đã được việt hoá thì rất thông dụng thí dụ “khoai hà”, là khoai bị sâu ăn, hay “ngựa hà”, là ngựa mà chân bị sâu ăn. Còn “tì” là vết xấu như có tì vết.

    Trở lại nghĩa gốc của tữ kép chữ hán “hà tì” thì “hà” là ngọc có vết, nứt, sứt mẻ, không được toàn bích và “tì”, là những chỗ sai lầm, là vết xấu. Trong thuật ngữ luật học, hà tì dùng theo nghĩa bóng, và nói hà tì là nói một vật, một hành vi pháp lý nào đó, có khuyết điểm, khuyết tật, thiếu sót, thiếu điều kiện, nên không có giá trị, hay không được coi là hợp lệ v.v…

    Hiến pháp năm 1946 có một số hà tì về hình thức, ở đây tôi chỉ nói về một hà tì thôi, đó là hà tì nó chưa được ban hành (promulguer, to promulgate), thuật ngữ cộng sản trước đây gọi là “ban bố”, nay gọi là “công bố”.

    Hiến pháp năm 1946, nơi điều 49, đoạn (đ) định rằng quyền ban hành các đạo luật thuộc về Chủ tịch nước Việt Nam DCCH, còn điều 31 thì buộc rằng các luật đã được quốc hội (Nghị viện) thông qua phải được Chủ tịch nước ban hành (ban bố) chậm nhất là 10 ngày sau khi được thông tri.

    Trong thời hạn này, Chủ tịch có quyền yêu cầu quốc hội thảo luận lại. Nếu quốc hội sau khi thảo luận lại vẫn không sửa đổi thì Chủ tịch bắt buộc phải ban hành. Như vậy, ban hành không phải chỉ là cho đăng chính thức luật lên công báo mà là một thủ tục để xác nhận rằng luật đã được biểu quyết một cách hợp lệ và kể từ lúc nó được ban hành, luật bắt đầu có hiệu lực, mọi người kể cả công quyền phải tuân theo và áp dụng.

    Nếu luật không được ban hành thì không ai bắt buộc phải tuân thủ. Hiến pháp 1946 là một đạo luật không được ban hành, không ở trong thời hạn 10 ngày, cũng không ngoài thời hạn này vì có lý do bất khả kháng. Vậy về mặt pháp lý, bản Hiến pháp năm 1946 phải coi như không có. Nói nó còn giữ nguyên giá trị là đưa ra một lý luận về mặt chính trị, chứ không phải để khẳng định rằng một bản văn pháp lý không được ban hành vẫn có giá trị pháp lý.

    Vâng, chuyện này nói nhiều phết rồi, ai nói cũng có cái lý của người đó. Dưng mà em thấy nói thế này thì cũng chỉ là đóng cửa thầm thì tự an ủi nhau nhỉ. Rồi thỉnh thoảng mở cửa hét lên "của tao đó" rồi lại sợ vãi đái ra, đóng sập cửa lấm lét dòm qua cái khe xem bọn bên ngoài nó phản ứng ra sao. Tủi thân quá.

    Có lẽ các bác nên một lần thử đặt mình vào địa vị Trung Quốc xem các bác có thèm quan tâm ai đứng tên, công hàm thiếu chữ ký của ai, vi phạm hiến pháp nào của Việt Nam không? Em xin trả lời luôn: Đố mà lấy lại được.

    Trích dẫn:
    Độc giả Lý Quý Vũ vừa phát hiện rất thú vị khi tìm ra Hiến pháp 1946 và chuyện liên quan đến Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai.
    ...
    Tuy nhiên, ý kiến của Lý Quý Vũ là một phát hiện mới lạ, chưa có ai đề cập.

    Đáng tiếc là chính phủ Hồ Chí Minh lại làm việc không minh bạch và không cương quyết trong việc HS-TS từ 1958 cho đến 1974, khi TQ đánh chiếm HS của VNCH.

    Một vài phản hồi trong bài của bác Nguyễn Ngọc Già khoảng đầu tháng 7/2011 cũng có một vài ý kiến gần giống ý của bạn Lý Quý Vũ.

    Trong bài http://danluan.org/node/9230
    Nguyễn Ngọc Già - Làm sao giải quyết "công hàm 1958" của ông Phạm Văn Đồng?

    Phản hồi : Công hàm của PVĐ 1958 (khách viếng thăm) gửi lúc 12:25, 06/07/2011 - mã số 36862

    Lá thư này của bà LS Nguyễn Thị Dương Hà, là vợ của TS LS Cù Huy Hà Vũ, đã được đăng trên Dân Luận rồi.

    Trong đó có một điểm bà Hà cho rằng cả hai chính phủ VNDCCH và VNCH chỉ là hai chính phủ tạm thời theo tinh thần của hiệp định Genève.

    Nên nhớ rằng hiến pháp 1946 là HP duy trì ở VNDCCH cho đến 1960. Hồ Chí Minh luôn là chủ tịch nước từ 1945 cho đến 1969

    Điều thứ 44
    Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó chủ tịch và Nội các.
    Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. Có thể có Phó thủ tướng.

    ==> đứng đầu chính phủ là Hồ Chí Minh chứ không phải Phạm Văn Đồng

    Điều thứ 49
    Quyền hạn của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà:
    a) Thay mặt cho nước.
    đ) Ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị.
    h) Ký hiệp ước với các nước.

    ==> Hồ Chí Minh chứ không phải Phạm Văn Đồng thay mặt nhà nước. Công hàm này không phải là hiệp ước với TQ

    Điều thứ 52
    Quyền hạn của Chính phủ:
    a) Thi hành các đạo luật và quyết nghị của Nghị viện.
    b) Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện.
    c) Đề nghị những dự án sắc luật ra trước Ban thường vụ, trong lúc Nghị viện không họp mà gặp trường hợp đặc biệt.
    ...
    ==> công hàm của PVĐ chưa được luật hóa và chưa được quốc hội phê chuẩn

    Điều thứ 53
    Mỗi sắc lệnh của Chính phủ phải có chứ ký của Chủ tịch nước Việt Nam và tuỳ theo quyền hạn các Bộ, phải có một hay nhiều vị Bộ trưởng tiếp ký. Các vị Bộ trưởng ấy phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.

    ==> công hàm của PVĐ không phải là sắc lệnh của chính phủ

    Điều thứ 54
    Thủ tướng phải chịu trách nhiệm về con đường chính trị của Nội các.
    ...

    ==> Phải chăng công hàm của PVĐ về biển là chỉ có chính Phạm Văn Đồng chịu trách nhiệm chính trị ? Không có giá trị pháp lý ?

    Phản hồi : Thắc mắc về hải phận (khách viếng thăm) gửi lúc 14:45, 06/07/2011 - mã số 36870

    Trích dẫn:
    http://www.dcvblogs.com/nguyen-han-hna/2007/12/hoang_sa_trng_sa.html

    1958 - Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân dân Trung hoa tuyên bố:

    Hải phận CHNDTH rộng 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho toàn lãnh thổ CHNDTH và các quần đảo của Trung Quốc, kể cả Đài Loan và các quần đảo chung quanh, quần đảo Penghu, Tungsha, Hsisha (Xisha, Trường Sa - TM), Chungsha, Nansha (Hoàng Sa - TM) và tất cả những quần đảo ngoài khơi thuộc Trung Quốc.

    (Lược dịch đoạn [1] bản “Tuyên bố Hải phận của CHNDTH” 04/09/1958 - PRC's Declaration on the Territorial Sea)

    1958 - Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng viết:

    “Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 04/09/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

    (Trích công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng gởi Tổng lý Quốc vụ Viện CHNDTH Chu Ân Lai ngày 14/09/1958).

    Lâu nay thấy mọi người chỉ nêu công hàm của Phạm Văn Đồng gởi cho Lai của TQ chứ không thấy yêu sách của Mao là gì.

    Tuyên bố của Chu Ân Lai : Hải phận CHNDTH rộng 12 hải lý

    Công hàm của Phạm Văn Đồng, chỉ nêu "quyết định về hải phận của Trung Quốc" chứ không nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa.
    ...

    Phản hồi : 1974 - Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà (khách viếng thăm) gửi lúc 14:24, 06/07/2011 - mã số 36868

    http://www.dcvblogs.com/nguyen-han-hna/2007/12/hoang_sa_trng_sa.html

    1974 - Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà

    Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của minh trên những quần đảo ấy.

    (Trích “Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng Hoà”, 14/02/1974)