Mạnh Kim - Về cái gọi là “Sức mạnh quân sự Trung Quốc”: Sự “Ngộ Nhận” Thế Kỷ!

  • Bởi Admin
    28/08/2011
    1 phản hồi

    Mạnh Kim

    (Một phần bài viết này đã được đăng trên Tuổi Trẻ ngày 27/8/2011)

    Và một trong những ngộ nhận có thể được xếp vào loại “sai lầm thế kỷ” là sự phóng đại sức mạnh quân sự Trung Quốc!

    Ít người có thể hình dung rằng một “cường quốc không gian” với những “Thần Chu” đưa người lên quỹ đạo Trái đất như Trung Quốc mà đến nay vẫn còn chưa làm được động cơ cho máy bay (quân sự lẫn thương mại). Trong bài viết công phu về đề tài này (1), Gabe Collins (chuyên gia về Trung Quốc) và tiến sĩ Andrew Erickson (giáo sư Đại học Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ) nhận định rằng, nếu kỹ sư hàng không Trung Quốc có thể đạt được trình độ và khả năng kỹ thuật như Mỹ cách đây 20 năm thì may ra Trung Quốc mới có thể sản xuất được động cơ phản lực cho chiến đấu cơ thế hệ thứ 4 và thứ 5! Một cách chính xác, mức độ tiếp cận kỹ thuật và mày mò nghiên cứu của giới kỹ sư hàng không Trung Quốc, thời điểm hiện tại, là tương đương với Mỹ vào thời điểm 1977. Trong cuộc phỏng vấn tháng 4-2011, tổng giám đốc Cơ quan công nghiệp hàng không Trung Quốc (AVIC) Lâm Tả Minh thừa nhận rằng, dù Trung Quốc đã “phát triển cực nhanh về sức mạnh không gian” nhưng khả năng sản xuất động cơ phản lực vẫn “còn rất yếu” (AVIC đã đưa việc phát triển động cơ phản lực lên hàng mục tiêu chiến lược trong 5 năm tới, với ngân sách 10 tỉ tệ, tức khoảng 1,53 tỉ USD). Phải nói là Trung Quốc yếu toàn diện về kỹ thuật động cơ phản lực – một cỗ máy cực kỳ phức tạp với hàng chục ngàn chi tiết-bộ phận được chế tạo bằng những vật liệu siêu bền với mức chính xác được đo bằng micron (0,001mm).

    Cần biết, động cơ phản lực dùng trong chiến đấu cơ luôn hoạt động ở những điều kiện cực kỳ khắc nghiệt (nhiệt độ cao, tốc độ nhanh và những thay đổi giật xóc liên tục khi tác chiến). Bộ cánh quạt nén của động cơ, chẳng hạn, phải chịu được lực ly tâm cao gấp 20.000 lần so với lực hút Trái đất (khi phi cơ đang bay) trong khi cùng lúc nó phải chịu nổi sức nóng kinh khủng vượt qua điểm tan chảy của hầu hết kim loại (nhiệt độ bên trong động cơ trung bình là 1.500oc). Nôm na, nó chẳng khác gì cái muỗng làm bằng đá lạnh được khuấy trong bát súp nóng hổi mà không hề hấn gì! Cánh quạt động cơ còn phải đáp ứng yêu cầu chịu được áp suất cao trong khi các thay đổi nhiệt độ đột ngột vẫn không thể làm nó bị méo móp. Còn nữa, nếu động cơ chẳng may “nuốt” vật lạ cứng, cánh quạt - nếu không được chế tạo đúng tiêu chuẩn nghiêm ngặt - sẽ bị mẻ, dẫn đến khả năng máy bay bị rung giật mạnh. Ngoài ra, còn phải xét đến các yếu tố môi trường có thể dẫn đến nhiều rủi ro, chẳng hạn cát sa mạc, sự ăn mòn bởi không khí ẩm vùng biển và FOD, tức Foreign Object Debris - thuật từ chuyên môn chỉ vật thể bên ngoài có thể làm hỏng hóc động cơ (động cơ phản lực Nga thường bị lỗi FOD). Và bởi dùng cho chiến đấu cơ mà việc nhào lộn và cắt góc là những thao tác kỹ thuật bay gần như bắt buộc, động cơ phải được thiết kế sao cho nó không bị tác động bởi luồng không khí thay đổi liên tục và đột ngột lên hệ thống cánh quạt, nếu không, nó sẽ bị “ngộp thở” vì thiếu oxy…

    Để một bộ cánh quạt đi từ bản vẽ đến sản xuất hàng loạt rõ ràng là một con đường dài. Về kỹ thuật, thời điểm hiện tại, Trung Quốc gặp khó khăn rất nhiều đối với công nghiệp hợp kim đặc chế cho động cơ phản lực, bất luận rằng Trung Quốc hiện là một trong những nước sở hữu nhiều nguyên liệu (nhất thế giới) cần thiết cho sản xuất hợp kim động cơ phản lực. Một giám đốc quản lý thuộc hãng IHI (trước kia có tên là Ishikawajima-Harima Heavy Industries Co; nơi chuyên sản xuất động cơ phản lực và đóng tàu của Nhật) cho biết, vật liệu chiếm đến 50% chi phí sản xuất động cơ phản lực. Chỉ cần một nhà khai thác lớn như Jinchuan Nickel (Kim Xuyên tập đoàn) cung cấp 5% sản lượng cobalt hàng năm của họ cho các nhà sản xuất động cơ phản lực trong nước, Trung Quốc, về lý thuyết, đã có thể sản xuất được hơn 3.000 động cơ phản lực mỗi năm. Nhân lực Trung Quốc cũng chẳng thiếu. AVIC có đến 10 chi nhánh với 400.000 công nhân. Để dễ hình dung, có thể đưa ra vài so sánh: với 15.000 nhân công, hãng UMPO của Nga có thể sản xuất 109 động cơ AL-31 và AL-41 năm 2010; và hãng GE Aviation của Mỹ với nhân công chưa bằng 1/10 AVIC, có thể tung ra 200 động cơ cánh quạt cùng 800 động cơ phản lực và động cơ trực thăng mỗi năm!

    Điều gì khiến kỹ thuật hàng không quân sự Trung Quốc không thể vượt qua nổi cái “dớp” động cơ phản lực? Trình độ là một yếu tố, tất nhiên. Ngoài ra còn là vấn đề cấu trúc tổ chức. Việc sản xuất động cơ phản lực quân sự hiện thuộc độc quyền của tập đoàn quốc phòng nhà nước AVIC, với những nhà máy nằm tại Thẩm Dương, Tây An và Quý Châu. Bởi không có đối thủ cạnh tranh, theo cách tương tự như những hãng Mỹ GE Aviation (phân nhánh của General Eletric) hay P&W (Pratt & Whitney; nơi sản xuất động cơ cho F-15, F-16, C-17 Globemaster III, EA-6B Prowler, F-111…, cũng như hai máy bay tàng hình thế hệ mới nhất là F-22 Raptor và F-35 Lightning II), nên công nghiệp hàng không quân sự Trung Quốc chịu cảnh ì ạch. Cạnh tranh dẫn đến sức ép lên cải tiến kỹ thuật và giảm chi phí. Nếu Lầu năm góc không phản ứng trước thái độ “ta đây” của P&W cuối thập niên 1970 và đầu 1980, thời điểm hãng này là nhà cung cấp độc quyền cho Không quân Mỹ, bằng cách mở cửa cho GE bước vào thị trường tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt, thì chưa chắc quân đội Mỹ có những chiến đấu cơ hiện đại như bây giờ. Sự thiếu vắng cạnh tranh không chỉ làm trì trệ và thậm chí xói mòn sức sáng tạo của kỹ sư Trung Quốc mà còn tạo điều kiện cho tham nhũng, từ những viên chức luôn biết cách cấu véo miếng bánh ngân sách nhà nước.

    Rốt cuộc, Trung Quốc, đến nay, chỉ có khả năng sản xuất “xác” máy bay và động cơ thì vẫn phải nhập. Điều gì sẽ xảy ra và liệu quân đội Trung Quốc có còn được đánh giá là mạnh nữa không nếu họ đột ngột rơi vào cảnh bó gối ngồi chờ nguồn thiết bị hoặc thậm chí bị cắt hẳn? Việc lệ thuộc nguồn cung cấp bên ngoài khiến Trung Quốc lọt vào thế bị động chẳng đặng đừng, đặc biệt khi nhà cung cấp Nga “nổi tiếng” kém về “dịch vụ hậu mãi”. Cần biết, động cơ phản lực không là cỗ máy hoạt động đơn giản theo kiểu “đổ xăng là chạy”. Nó phải được điều khiển bởi phần mềm. Trong khi đó, mã nguồn của phần mềm động cơ phản lực quân sự luôn là thứ bí mật mà nhà xuất khẩu vũ khí không bao giờ cung cấp cho khách hàng (chẳng hạn với Mỹ, họ chẳng bao giờ hé răng tiết lộ mã nguồn khi bán động cơ phản lực, kể cả với đồng minh thân tín như Israel). Muốn nâng cấp phần mềm vận hành động cơ phản lực, chẳng còn cách nào là phải nài nỉ “thỉnh” chuyên gia mã nguồn từ nhà cung cấp sang!... Rõ ràng Trung Quốc còn một chặng rất dài để có thể tuyên bố “chủ quyền” trên không trung và có ưu thế trong những cuộc không chiến trong tương lai. Richard Aboulafia, chuyên gia phân tích quốc phòng thuộc Teal Group (Mỹ), nhận định rằng, Trung Quốc có “một khoảng cách rất xa so với cấp độ kỹ thuật của những (động cơ phản lực) F119/F135/F136” và họ “phải có những bước sải thật dài về nghiên cứu vật liệu, thiết kế và sản xuất; đến khi đó thì phương Tây cũng đã có những bước sải dài nữa rồi”. “Trung Quốc đang có những bước tiến về kỹ thuật động cơ phản lực và có thể đạt được cấp độ sản xuất độc lập trong 5-10 năm tới, dù đó cũng chỉ là những mẫu sao chép của Nga và phương Tây từ các phiên bản đời thập niên 1980” – Aboulafia nói thêm (2).

    Không chỉ nhập động cơ phản lực cho chiến đấu cơ, Trung Quốc còn lệ thuộc bên ngoài đối với nhiều loại vũ khí khác (3). Con rồng “Tiêm Thập” (J-10) và người anh em J-11A/B của nó hiện sử dụng động cơ AL-31FN mua của hãng NPO Saturn (Nga), tương tự chiến đấu cơ J-15 (đang trong quá trình chế tạo; được thiết kế cho tác chiến từ tàu sân bay). Bên trong chiếc “Thầm Sấm” JF-17 (còn gọi là “Kiêu Long” FC-1) là động cơ RD-93 của hãng Klimov (Nga). Trong khi đó, trực thăng chiến đấu Z-11 do “Xương Hà phi cơ công nghiệp tập đoàn” (Changhe Aircraft Industries Corporation) sản xuất là xài động cơ của Pháp. Còn nữa, tàu ngầm Type 039 (“Song class”) mà năm 2007 Trung Quốc từng chào bán cho Thái Lan lại sử dụng động cơ diesel của hãng MTU Aero Engines GmbH (Đức) và hệ thống điện của Pháp, trong khi khu trục hạm Type 051B thuộc cấp Lữ Hải (“Luhai class”) sử dụng turbine khí của Ukraine và động cơ diesel của Đức. Trên đất liền, “bộ binh chiến xa” (thiết giáp) ZBL-09 8x8, mệnh danh “Báo Tuyết” – sản phẩm hợp tác của công ty xe hạng nặng Trùng Khánh, tập đoàn Norinco (Bắc Phương công nghiệp) và công ty xe hạng nặng Tế Nam – được lắp động cơ Đức; trong khi xe tăng Type 88 mà Wikipedia (được người viết tham khảo ngày 25-8-2011) chú giải là do kỹ sư Phương Ủy Tiên thiết kế và được hãng “Nội Mông Cổ đệ nhất cơ giới chế tạo” lại sử dụng “động cơ Đức, súng đại bác NATO và hệ thống chữa cháy của Anh” – theo nguồn (4). Nói cho công bằng, Trung Quốc không phải không tự làm được vũ khí. Họ đã phát triển đáng nể, theo khả năng hết sức có thể, dù nhiều loại vũ khí Trung Quốc đã và đang được làm bằng cách rất truyền thống theo đúng bản chất văn hóa của họ: chôm chỉa và sao chép. Ví dụ, tàu ngầm Type 041 (“Yuan class”, “Tấn cấp” tiềm đĩnh) là phiên bản được lấy “cảm hứng” từ tàu ngầm cấp Kilo của Nga, hoặc chiến đấu cơ J-11 do “Thẩm Dương phi cơ công ty” sản xuất là phiên bản lai ghép của chiếc Su-27 được cấp bản quyền từ hãng Sukhoi mà không quân Liên Xô đã cho ra mắt từ năm 1984...

    Phải cần đến một hãng vận tải biển Hà Lan giúp mới kéo được xác con tàu Varyag và phải mất hai năm con tàu này mới có thể cập cảng Đại Liên rồi thêm vài năm nữa để đại tu thành “hàng không mẫu hạm” Thi Lang thì đẳng cấp quân đội Trung Quốc ở chỗ nào? Phải nhập từng linh kiện cho việc chế tạo chiến đấu cơ cũng như nhiều loại vũ khí khác thì “sức mạnh” quân đội Trung Quốc nên được xếp vào hạng mấy thế giới? Phải chôm chỉa để “đi tắt, đón đầu” trong nghiên cứu-phát triển kỹ thuật thì Trung Quốc đã có thể được xếp vào hạng “cường quốc quân sự” chưa?

    Mạnh Kim

    (1) Jet Engine Development in China: Indigenous high-performance turbofans are a final step toward fully independent fighter production, Gabe Collins và Andrew Erickson, ChinaSignPost (26-6-2011)

    (2) China Nears Jet Engine Breakthrough: Report, Dave Majumdar, defensenews (30-6-2011)

    (3) China defense industry faces homemade engine troubles, Robert Karniol, The Straits Times (20-7-2011)

    (4) politikalmatters.com/2011/03/chinese-method-of-advancement.html (22-3-2011)

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Tác giả bài viết này đã đánh giá rất đúng và chính xác về khả năng sức mạng quân sự của Trung Quốc.