Nền tảng của xã hội dân chủ (2)

  • Bởi Admin
    12/08/2011
    4 phản hồi

    Tqvn2004 chuyển ngữ

    Hiến Pháp

    Hiến Pháp là luật cơ bản của một quốc gia, nó xác định quốc gia đó gồm những ai và gồm những cái gì, và vận hành ra làm sao. Nói cách khác, nó định nghĩa vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng của bản Hiến Pháp, chính quyền cai trị như thế nào, và các luật cơ bản được áp dụng trong quốc gia đó.

    Một quốc gia có thể có Hiến Pháp mà không nhất thiết phải là một nền dân chủ - ví dụ một Hiến Pháp có thể quy định một nền quân chủ tuyệt đối, hoặc rằng Tổng thống có quyền tối cao. Nhưng rất ít nền dân chủ không có Hiến Pháp. Anh Quốc là một ví dụ về nền dân chủ không có Hiến Pháp. Thay vào đó, Anh Quốc có một học thuyết về quyền lực của Quốc Hội.

    Thông thường, Hiến Pháp của một quốc gia dân chủ thường xác định rằng quyền lực nằm trong tay nhân dân. Một Hiến Pháp dân chủ rõ ràng nhất là của Thụy Điển, với lời mở đầu: "Tất cả quyền lực công ở Thụy Điển nằm trong tay nhân dân".

    Mọi luật pháp trong một quốc gia phải tuân theo Hiến Pháp, và Hiến Pháp quyết định các luật mới được thông qua như thế nào.

    Hiến Pháp cũng bao gồm những quy định về cách thay đổi Hiến Pháp. Bởi vì Hiến Pháp cực kỳ quan trọng và là nền tảng của mọi luật pháp nhà nước khác, nên thường các quy định thay đổi Hiến Pháp phải rất chặt chẽ. Ở Đan Mạch, sự sủa đổi Hiến Pháp yêu cầu rằng một khi Quốc Hội đã đồng ý sửa đổi Hiến Pháp, thì phải giải tán quốc hội đó, tổng tuyển cử chọn một quốc hội mới, và quốc hội mới cũng phải đồng ý với các khoản sửa đổi. Khi các sửa đổi được quốc hội mới thông qua lần thứ hai, phải có một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc, và trong đó đa số đồng ý với các sửa đổi và không dưới 40% số người đi bỏ phiếu tán thành sửa đổi, thì Hiến pháp mới mới được coi là hợp lệ.

    Một Quốc Hội Do Nhân Dân Bầu Lên

    Theo như luật sư và cũng là triết gia Montesquieu, người sống vào thế kỷ 16, thì cần phải có ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp trong một quốc gia, nếu không muốn chính phủ biến thành độc tài, và những quyền lực này phải độc lập với nhau. Ba quyền lực nói trên phải được tách bạch về mặt chức năng thực tế, cũng như về mặt nhân sự (những người thực sự thi hành các quyền lực đó). Không có cá nhân nào được thực thi cùng một lúc hai trong ba quyền lực kể trên.

    Trái với niềm tin của nhiều người, Montesquieu không phải là một nhà dân chủ, và ông không viết về dân chủ. Ông ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế mang hơi hướng Khai Sáng (enlightened depotism - là chế độ quân chủ chuyên chế thực hiện những cải cách giáo dục, xã hội và luật pháp lấy cảm hứng từ phong trào Khai Sáng), và trong ngữ cảnh đó ông đã viết về tam quyền phân lập. Như thế, một nhà nước có sự phân tách tam quyền hành pháp, tư pháp và lập pháp không chắc đã là một nhà nước dân chủ, nhưng đó là điều kiện tiên quyết để có một chế độ dân chủ.

    Để trở thành một nền dân chủ, ngành lập pháp phải là quốc hội được nhân dân bầu ra, và tất cả các công dân trưởng thành trong một quốc gia phải có quyền đi bầu, cũng như ứng cử vào quốc hội.

    Một số quốc gia có quốc hội đơn viện, một số khác lại có quốc hội lưỡng viện. Ví dụ, ở Đan Mạch và Thụy Điển, quốc hội chỉ có một viện, với cái tên tương ứng ở mỗi quốc gia là "Folketinget" và "Riksdagen". Trong khi đó, ở Anh và Mỹ, quốc hội chia làm hai: Hạ Viện và Thượng Viện.

    Một chính phủ được sự ủng hộ của đa số trong quốc hội

    Chính phủ có quyền hành pháp. Chính phủ bao gồm các bộ trưởng, và chính bộ trưởng và các bộ ngành thuộc chính phủ sẽ đưa luật pháp do quốc hội lập ra vào thực tế cuộc sống.

    Chế độ đại nghị (parliamentarism) là nguyên tắc đảm bảo rằng chính phủ có sự ủng hộ của đa số đại biểu quốc hội, và có thể cho thông qua các dự thảo luật bằng đa số phiếu.

    Ở Đan Mạch và một số quốc gia khác lại tồn tại một thứ gọi là "chế độ đại nghị phủ quyết" (negative parlamentarism). Điều này có nghĩa là chính phủ, sau khi nhận được đa số phiếu trong quốc hội và lên nắm quyền, sẽ nắm quyền lực cho tới khi có đa số phiếu chống lại nó. Nói cách khác, sẽ không có chính phủ mới, một khi phe đối lập bị chia rẽ đến mức không thể gom được đa số phiếu để bỏ chính phủ cũ và lập chính phủ mới. Dưới chế độ đại nghị phủ quyết, mọi điều khoản luật pháp đều cần phải có đa số phiếu chấp thuận thông quan, điều này có nghĩa là chính phủ phải thường xuyên đàm phán với phe đối lập để đảm bảo đa số phiếu thuận khi thông qua luật.

    Bỏ phiếu kín

    Một trong những nguyên tắc cơ bản của dân chủ là chỉ có mình người bỏ phiếu biết anh ta bầu cho ai. Không một người nào, dù là vợ, là chồng, là cha mẹ, là sếp, là người dẫn dắt tinh thần hay bất kỳ ai có quyền đòi hỏi để biết quyết định chính trị của một người khác.

    Đối với người phương Tây, đó là quyền đương nhiên, bởi vì chúng tôi lớn lên với quyền này trong một nền văn hóa nhấn mạnh vào sự bất khả xâm phạm của cá nhân. Nhưng đối với nhiều người lớn lên trong các xã hội phi dân chủ, thì tạo dựng nguyên tắc này có thể là một quá trình lâu dài và khó khăn. Đặc biệt là trong các xã hội nặng về truyền thống, phân biệt đẳng cấp, và chênh lệch quyền lực giữa đàn ông và đàn bà, thì thường cần những thay đổi mang tính cách mạng để có được quyền bỏ phiếu kín này.

    Nền pháp trị (Rule of Law)

    Để một xã hội chuyển hóa sang dân chủ, và tiếp tục con đường dân chủ, một yêu cầu tiên quyết là nền pháp trị.

    Trong nền pháp trị, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Luật pháp được biết đến một cách công khai, và ai cũng có thể tìm hiểu về nó. Mọi người có quyền đem trường hợp của mình ra tòa. Tòa xét xử công khai. Mọi người đều vô tội cho tới khi bị chứng minh có tội. Mọi người đều có quyền tư vấn luật sư và có quyền chất vấn các bằng chứng, và chỉ có thể kết án thông qua một phiên tòa công bằng. Không ai có thể bị kết án và trừng phạt mà không qua xét xử.

    Mọi người cũng không thể bị xét xử theo hồi tố. Điều này có nghĩa là nếu muốn kết tội ai đó, thì hành vi của họ phải trái luật pháp tại thời điểm họ thực hiện hành vi đó. Nhà lập pháp không thể nói: "Chúng tôi vừa tạo ra luật này để chống lại điều mà bạn đã làm, để chúng tôi có thể dùng luật mới trừng phạt hành vi trước đây của bạn".

    Trên nguyên tắc, các xã hội phi dân chủ nhưng lại có nền pháp trị có thể tồn tại. Lại cũng có những xã hội pháp trị mà trong đó luật pháp khiến dân chủ không thể phát triển được, ví dụ như cấm tranh luận tự do hoặc cấm người dân nhóm họp.

    Tuy nhiên, khó có thể tìm ra ví dụ về những quốc gia phi dân chủ, mà lại có nền pháp trị. Trung Quốc và Ả-rập Xê-út là hai trường hợp giáp ranh:

    Trung Quốc nói chung có nền pháp trị, hoặc ít nhất là cũng muốn người khác biết đến mình có nền pháp trị. Nhưng Trung Quốc có những nhà tù bí mật dành cho các nhà hoạt động chính trị bị giam giữ mà không qua xét xử. Tham nhũng ở quốc gia này rộng khắp đến mức người ta không biết liệu tòa có độc lập hay không?

    Ả-rập Xê-út là một xã hội không có nền pháp trị vì hai lý do như sau: Thứ nhất, luật pháp Ả-rập Xê-út không coi đàn ông và đàn bà là bình đẳng. Thứ hai, quốc gia này có hai hệ thống luật pháp: Một hệ thống dân sự, dựa trên các tòa án v.v..., và một hệ thống tôn giáo, hệ thống này có vẻ chẳng chịu hạn chế nào cả. Cảnh sát tôn giáo có quyền tự do trừng phạt người ta, theo cách mà họ muốn, nếu những người đó hành xử không theo truyền thống đạo Hồi.

    Tòa án độc lập & công bình

    Để những luật pháp do quốc hội lập ra thực sự có ý nghĩa, cần có người đứng ra đảm bảo rằng luật pháp được tôn trọng. Đây là nhiệm vụ của tòa án: Quyền tư pháp.

    Không chỉ những công dân bình thường phải tuân thủ luật pháp, luật pháp còn áp dụng cho cả đại biểu quốc hội và các quan chức chính phủ. Đó chính là thuốc thử thực sự cho một nền dân chủ. Trong đa số các quốc gia, các đại biểu quốc hội và quan chức chính phủ có quyền miễn truy cứu khi họ đang là thành viên quốc hội hoặc chính phủ, nhưng điều này không có nghĩa là họ có quyền đứng trên pháp luật. Điều này có nghĩa là họ phải bị cách chức khỏi quốc hội / chính phủ, trước khi họ có thể chịu trách nhiệm trước pháp luật vì đã vi phạm pháp luật.

    Để có thể bắt đại biểu quốc hội và thành viên của chính phủ chịu trách nhiệm trước pháp luật, tòa án phải ĐỘC LẬP với ngành hành pháp và lập pháp, tuân thủ theo "tam quyền phân lập" của Montesquieu (xem phần: Một Quốc Hội Do Nhân Dân Bầu Lên ở phía trên).

    Viện Công Tố và Công An

    Viện Công Tố (tương đương Viện Kiểm Sát ở Việt Nam) và Công An, cùng với chính quyền, tạo thành ngành hành pháp. Hệ thống này phân cấp từ cao xuống thấp, đứng đầu là Bộ Tư Pháp, dưới bộ này là các Viện Công Tố (ở Hoa Kỳ là Văn Phòng Biện Lý - The District Attorney) với các công tố viên ở các tiểu bang hoặc tỉnh thành, và dưới Viện Công Tố là lực lượng công an.

    Lực lượng công an duy trì pháp luật, điều tra các trường hợp có thể là phạm tội, và truy tố người làm trái pháp luật. Các công tố viên đóng vai trò luật sư để truy tố những vụ hình sự trước tòa.

    Tam quyền phân lập có nghĩa là cả công an và công tố viên đều không có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định của tòa án.

    Nhưng ai là người sẽ giám sát lực lượng công an và đảm bảo rằng họ không vi phạm pháp luật. Điều này khác nhau ở mỗi quốc gia, và thường là những cơ chế pháp luật hết sức phức tạp.

    Ở Đan Mạch, nhiệm vụ đảm bảo lực lượng công an không vi phạm pháp luật rơi vào tay công tố viên trong một số trường hợp. Trong các trường hợp khác, đó là nhiệm vụ của Bộ Tư Pháp. Nhưng bất kỳ khi nào có khiếu nại về hành vi của công an, thì chính bên công an sẽ tiến hành điều tra bản thân mình, trừ trường hợp một ủy ban điều tra độc lập được chỉ định. Trong trường hợp có khiếu nại về hành vi của công an Đan Mạch, việc công an tự mình xem xét hành vi của chính mình tạo ra một vấn đề: đó là vòng lặp (nghĩa là có thể mất đi tính độc lập và vô tư). Nhiều lần người ta đã đưa ra đề nghị có lực lượng đặc biệt để giám sát lực lượng công an, nhưng điều này vẫn chưa thành hiện thực.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Thắc mắc :
    - nghị quyết Trung ương 8 là của ai ?
    - không phù hợp với pháp luật tố tụng : ai có quyền xét xử những vi phạm pháp luật tố tụng ? Nếu có vi phạm, bán án đã tuyên có còn giá trị hay không ?

    http://sgtt.vn/Ban-doc/151405/Khong-ai-co-quyen-yeu-cau-tham-phan-dung-tuyen-an.html

    Ý kiến luật sư

    Không ai có quyền yêu cầu thẩm phán dừng tuyên án!

    SGTT.VN - Căn cứ Hiến pháp và pháp luật tố tụng, lời yêu cầu dừng tuyên án của ông chánh án không ổn, bởi không ai có quyền yêu cầu thẩm phán chủ toạ phiên toà phải dừng tuyên án, kể cả chánh án.

    Chánh án TAND tỉnh Khánh Hoà Nguyễn Văn Phước trả lời phỏng vấn. Ảnh: CTV

    Báo Sài Gòn Tiếp Thị số ra ngày 12.8.2011, có đăng bài Chánh án tỉnh Khánh Hoà trần tình về “báo án”, nội dung phản ảnh việc kiểm điểm, phê bình thẩm phán Nguyễn Chí Cường, chánh toà hình sự – TAND tỉnh Khánh Hoà vì cho rằng thẩm phán Cường đã có thiếu sót trong việc không báo án cho chánh án và uỷ ban thẩm phán trước khi xét xử, án tuyên khác với ý kiến đã báo án, không dừng việc tuyên án... Việc yêu cầu thẩm phán phải dừng tuyên án như vậy có đúng luật và tinh thần cải cách tư pháp theo nghị quyết Trung ương 8?

    Có quan điểm cho rằng,về góc độ quản lý hành chính thì chánh án toà tỉnh hoàn toàn có quyền phải biết, phải yêu cầu thẩm phán báo cáo về đường lối xét xử vụ án, nhất là những vụ phức tạp, nhạy cảm. Từ đó, việc lãnh đạo toà yêu cầu thẩm phán dừng tuyên án để báo cáo về đường lối xử lý vụ án là hoàn toàn bình thường…

    Căn cứ Hiến pháp và pháp luật tố tụng, lời yêu cầu dừng tuyên án của ông chánh án không ổn, bởi không ai có quyền yêu cầu thẩm phán chủ toạ phiên toà phải dừng tuyên án, kể cả chánh án. Hoạt động xét xử của toà án là đại diện cho công lý, tất cả hoạt động tố tụng phải được thực tiến hành theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Khi HĐXX đã nghị án xong thì phải tuyên án, không ai được quyền trì hoãn việc thực thi công lý.

    Luật chỉ có quy định việc hoãn phiên toà (theo điều 194 BLTTHS), chứ không có điều nào quy định việc dừng tuyên án. Luật cũng chỉ quy định, nếu qua việc nghị án mà thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì HĐXX quyết định trở lại phần xét hỏi và tranh luận. Tuy luật không quy định, nhưng trong thực tế, HĐXX có thể dừng (hoãn) việc tuyên án trong trường hợp bất khả kháng như đại diện viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên toà hoặc thành viên trong HĐXX bị tai nạn, ốm đau đột xuất hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tham gia khi HĐXX tuyên án.

    Hiến pháp và các luật có liên quan đến toà án và hoạt động xét xử đều quy định: khi xét xử, thẩm phán độc lập, chỉ tuân thủ pháp luật, nghiêm cấm mọi hành vi cản trở thẩm phán, hội thẩm nhân dân thực hiện nhiệm vụ. Kể từ khi chánh án phân công thẩm phán giải quyết một vụ án theo quan hệ tố tụng thì thẩm phán được quyền xem xét quyết định theo pháp luật (trừ việc quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử và áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giam). Khi vụ án được đưa ra xét xử, tại phiên toà HĐXX là người chịu trách nhiệm trước pháp luật và có quyền quyết định toàn bộ các vấn đề liên quan đến vụ án. Do đó, việc chánh án yêu cầu thẩm phán dừng việc tuyên án đã can thiệp đến hoạt động của HĐXX chứ không riêng thẩm phán, vì hội thẩm nhân dân là người ngang quyền với thẩm phán và họ có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Ở đây quan hệ hành chính được chánh án lấn át quan hệ tố tụng. Và như vậy, việc can thiệp, yêu cầu dừng tuyên án của chánh án là không phù hợp với pháp luật tố tụng.

    Luật sư Nguyễn Hồng Hà
    (Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hoà)

    Để có thể bắt đại biểu quốc hội và thành viên của chính phủ chịu trách nhiệm trước pháp luật, tòa án phải ĐỘC LẬP với ngành hành pháp và lập pháp

    Tòa án phải ĐỘC LẬP với ngành hành pháp và lập pháp thì đúng rồi nhưng dường như tòa án không tự động tạo ra hồ sơ pháp lý !
    Tòa án là nơi để những người có tranh chấp ra đó tìm công lý. Như vậy thông thường phải có bên nguyên (để khởi động hồ sơ) và bên bị.

    Đối với đại biểu quốc hội và thành viên của chính phủ, khi họ vi phạm pháp luật, ai sẽ là bên nguyên ? Ở các nước dân chủ, bên nguyên có thể là hội đoàn, báo chí, người dân, đại biểu QH (của đảng khác) và có thể là thành viên của chính phủ.

    Đối với các nước độc tài hoặc pháp quyền dỏm như VN thì ai là bên nguyên để có thể tố cáo đại biểu quốc hội và thành viên của chính phủ chịu trách nhiệm trước pháp luật ?

    Có quy trình tự động nào của luật pháp để tòa án phải can thiệp tự động như bên nguyên mà không cần người dân nộp đơn tố cáo không? VN cần có một quy trình pháp lý tự động như vậy thì may ra tòa án mới có thể can thiệp được.
    Ví dụ mỗi khi QH ra luật mới, tòa án tối cao phải tự động cho ý kiến về tính hợp hiến. Khi có việc chết người, nếu VKS không có báo cáo (sơ khởi hoặc cuối cùng) cụ thể về nguyên nhân trong vòng 30 ngày, tòa án phải tự động yêu cầu VKS tham gia ngay điều tra.
    Dĩ nhiên đừng hỏi ý kiến Trương Hòa Bình vì Bình không phải là nhà luật học. Bình là một chánh án trá hình. Bình chỉ là một đảng viên, bảo vệ trước hết quyền lợi của Bình

    Đối với các quốc gia chưa phát triển, những nơi mà “gốc rễ của ý thức dân chủ chưa cắm sâu” và một cá nhân tự do hoàn toàn vô nghĩa trước nhà lãnh đạo thâu tóm quyền lực, các lãnh đạo thường dựa vào truyền thống để tiếp tục ngự trị và hợp pháp hóa độc tài bằng cách làm cho người dân tin rằng họ đang kế thừa và phát huy truyền thống (ở Việt Nam ta thường thấy là lãnh đạo dựa vào duy tình, định tính). Nhưng diễn biến cho thấy trong quá trình đó, nhà lãnh đạo lại để xảy ra điều ngược lại: phủ định truyền thống bằng một quyền lực phản tự nhiên, đó là thực trạng xã hội bị đảo lộn nhiều giá trị hiện nay.

    Một trong những nguyên tắc cơ bản của dân chủ là chỉ có mình người bỏ phiếu biết anh ta bầu cho ai. Không một người nào, dù là vợ, là chồng, là cha mẹ, là sếp, là người dẫn dắt tinh thần hay bất kỳ ai có quyền đòi hỏi để biết quyết định chính trị của một người khác.

    Nếu bạn được ủy quyền để bỏ phiếu giùm thì có thể có hai người biết đó là bạn và người ủy quyền cho bạn. Mỗi cử tri đều có giấy/thẻ cử tri thì mới có quyền đi bỏ phiếu.
    Ở một vài nước, bạn chỉ có thể được ủy quyền một lần tức là bạn chỉ có thể bỏ phiếu giùm cho một người chứ không thể bỏ phiếu giùm nhiều người.
    Người ủy quyền phải có lý do, ví dụ giấy chứng nhận bác sĩ, mẫu đơn giấy ủy quyền phải xin ở nơi cư ngụ, điền đầy đủ và có hai chữ ký của người ủy quyền và được ủy quyền. Sau đó đem ra UBND nơi cư ngụ để thị thực.
    Ngày đi bầu, người được ủy quyền đi bỏ phiếu giùm, phải đưa các giấy tờ như giấy CMND của mình, giấy bác sĩ của người ủy quyền, thẻ cử tri của mình, thẻ cử tri của người ủy quyền và đơn ủy quyền có thị thực của UBND.
    Ủy ban bầu cử kiểm soát xem nếu thẻ cử tri của mình (người được ủy quyền) có đóng giấu "bầu ủy quyền" hay chưa? Nếu có thì bạn không được bầu ủy quyền nữa vì chỉ được "bầu ủy quyền" 1 lần mà thôi. Nếu chưa thì họ kiểm soát tiếp thẻ cử tri của người ủy quyền, giấy bác sĩ và đơn ủy quyền có thị thực. Nếu tất cả đều hợp lệ, họ phát thẻ hoặc phiếu bầu cho cử tri được ủy quyền để bỏ phiếu. Sau khi bỏ phiếu xong, ra lấy lại giấy tờ, lúc đó họ đóng con giấu "bầu ủy quyền" lên trên hai thẻ cử tri của bạn (được ủy quyền) và của người ủy quyền. Bạn thu hồi hai thẻ cử tri, giấy CMND và đi ra khỏi ủy ban bầu cử

    Ở VN nghe nói bỏ phiếu giùm rất lung tung, không cần ủy quyền, gian lận bầu cử chắc chắn xảy ra rất nhiều !