Nguyễn Việt - Bài Học nào cho Việt Nam

  • Bởi Khách
    30/07/2011
    9 phản hồi

    Nguyễn Việt

    Anh Công Tự thân mến,

    Tôi đã đọc kỹ bài “Kế sách bảo vệ chủ quyền của Philippines” của anh trên Blog của anh Nguyễn Xuân Diện. Tôi nghĩ anh đã nêu khá rõ chính sách của nuớc bạn để Việt nam có thể học hỏi. Nhưng theo tôi, Việt Nam và Philippines buớc vào cuộc xung đột biển Đông từ hai hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tồn tại trong hai thể chế chính trị hoàn toàn khác nhau nên sẽ có rất nhiều điều các bạn Phi làm đuợc, nhưng chúng ta thì không và nguợc lại.

    - Về lịch sử, địa lý, Việt Nam ở sát Trung Quốc, chịu hàng ngàn năm đô hộ của Trung Quốc, ảnh hưởng rất nhiều về văn hóa, tư tưởng (Nho, Lão, Mao v.v...). Trong khoa học thì từ âm lịch, canh nông, trong văn hóa thì từ ngày tết lễ đến ngôn ngữ, văn học, chúng ta đều chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Điều này ở Philippines hoàn toàn khác hẳn.

    - Trong vòng 60 năm gần đây, ảnh hưởng của Trung Quốc đến Việt nam thông qua các cuộc cách mạng vô sản và công cuộc xây dựng CNXH lại càng sâu sắc. Không có một biến động lớn nào của Việt Nam mà lại diễn ra không có sự có mặt của Trung Quốc. Từ Chỉnh huấn, Chỉnh phong, Giảm tô, CCRĐ, Cải tạo Công Thương, Chống Mỹ .v.v... đều có những “cố vấn bạn” chỉ đạo. Trong suốt thời gian đó, Philippines lại là một pháo đài của phương Tây nhằm ngăn chặn thế cờ “Domino Cộng Sản” ở Á châu. Chỉ từng đó đã thấy rằng: Chúng ta, vốn quen học Trung văn, khó học theo nguời Phi giỏi Anh ngữ, theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

    Điều đó giải thích tại sao Philippines, một nuớc đang gặp khá nhiều vấn đề về quốc phòng và an ninh chính trị hơn nước ta (như phiến quân hồi giáo ABU SAYYAF, Mặt trận ly khai MORO ở Mindanao .v.v...) vẫn có một chính sách rõ ràng đối với Trung Quốc. Vì muốn dựa vào dân và quốc tế nên các bạn Phi thực hiện đối sách biển Đông khá minh bạch, cả về đối nội lẫn trên trường quốc tế, không hề ú ớ, úp mở.

    Song điều tôi nêu ở trên về quan hệ khăng khít giữa hai nước Việt - Trung trong suốt quá trình lịch sử dựng nước, không phải là các yếu điểm của dân tộc ta, lại càng không có nghĩa là chúng ta cứ phải nhân nhượng. Càng gần Trung Quốc, càng bị cái bóng khổng lồ đó đè, cha ông ta luôn có đối sách cứng rắn và khôn khéo, chắc chắn là khác hẳn Philippines. Chính nhờ vậy mà suốt mấy ngàn năm nay, biên cương của nước Nam Việt ta luôn là một cơn ác mộng cho các Mã Viện, Thoát Hoan, Vương Thông, Tôn Sỹ Nghị. Có nghĩa là trong vấn đề tranh chấp với Trung Quốc hiện nay, chúng ta chẳng thể học đuợc ai, ngoài của chính chúng ta.

    Trên nhiều diễn đàn, đa số các tác giả đều nêu rõ: Mọi thắng lợi của nước Nam Việt trong cuộc đấu tranh sinh tồn chống lại phương Bắc đều dựa vào một nguyên tắc: “Vun đắp lòng yêu nuớc của Dân, dựa vào Dân để lấy Chí nhân mà thắng Cường bạo”. Những triều đại đặt quyền lợi của tập đoàn mình lên trên dân tộc, như Hồ Quý Ly, nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn đều dẫn đến cảnh mất nuớc, phải làm nô lệ cả vua lẫn tôi.

    Các triều đại Nam Việt, khi đã thống nhất được sức mạnh dân tộc, tuy với một lực lượng quân sự yếu hơn nhiều, vẫn đủ sức giáng cho kẻ khổng lồ phương Bắc những đòn khiếp đảm mà thông thường sau vài thế kỷ chúng mới dám bén mảng quay lại nhòm ngó nuớc ta:

    Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán năm 938.

    Lý Thường Kiệt đại thắng quân Tống năm 1076.

    Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên năm 1230.

    Lê Lợi, Nguyễn Trãi tiêu diệt quân Minh năm 1428.

    Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1782.

    Khoảng cách hàng trăm năm giữa các mốc lịch sử trên đây là thời gian mà “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư”.

    Đất nước chúng ta sau mấy chục năm chiến tranh liên miên, năm 1975 đã hoàn toàn thống nhất và lẽ ra dân tộc ta phải đuợc hưởng nền hòa bình bền vững. Sau ngày 30.4.1975 lẽ ra người Việt ta, dù ở bên này hay bên kia đều sẽ bỏ qua hận thù, cùng nhau nhặt mảnh bom, tháo gỡ mìn để xây dựng lại Tổ quốc. Song điều đó đã không xảy ra, thật đau xót! Biên giới của chúng ta lại bị xâm phạm, ở phía Tây Nam và cả phía Bắc. Khi đó, trong lòng dân tộc Việt vẫn có cái hố ngăn cách, giữa những người “Quốc gia” thua trận và những người “Cách mạng” thắng trận. Cho đến những ngày tháng 7 năm 2011 này, 36 năm sau cuộc chiến, tôi mới thấy rõ một nỗ lực từ trong lòng dân tộc đang tìm cách vượt mọi trở lực để xóa bỏ cái hố này. Tôi đã muốn rơi nước mắt khi thấy những nguời biểu tình yêu nuớc tại Hà Nội giơ những mảnh giấy vinh danh các chiến sỹ Việt Nam hy sinh vì tổ quốc tại Hoàng Sa, Trường sa. Các báo Thanh Niên, Đại Đoàn Kết đã nhắc đến các anh. Còn trước đó, mọi khát vọng về hòa giải dân tộc chỉ dừng lại ở những câu nói không được phổ biến của cố thủ tuớng Võ Văn Kiệt: “Yêu nước cũng có hàng trăm cách yêu nước.... Nước Việt Nam này đâu phải chỉ của riêng những người cộng sản... Ngày 30.4 là ngày vui của hàng triệu người, song cũng là ngày buồn của hàng triệu người khác!”

    Khi Đặng Tiểu Bình xua quân để “dạy cho Việt Nam một bài học” năm 1979, nếu chúng ta đã không bị cái hố ngăn cách đó làm cho một nửa nuớc bị tê liệt vì bị cải tạo, vì lo vượt biên, làm cho nửa nước còn lại bị suy yếu vì phải đề phòng “thù trong”, thì tình thế khi đó đã khác. Khi đó với sức mạnh của cả một dân tộc đoàn kết, không hiềm thù lẫn nhau, Quân đội Nhân Dân Việt Nam tinh nhuệ với kinh nghiệm của một cuộc chiến 30 năm, cộng với kiến thức và lòng yêu nước của các sỹ quan, binh sỹ miền Nam, sẽ đủ sức dạy ngược cho Trung Quốc một bài học khiếp đảm mà có lẽ, ngày hôm nay và vài trăm năm nữa, chúng ta sẽ không còn phải thì thầm với con cháu là: “Vì Trung Quốc nó mạnh, ta yếu, ta nghèo nên phải mềm con ạ!”

    Tôi nghĩ bài học của dân tộc ta là như vậy, chứ không phải chỉ là chơi với Mỹ hay với Nga với Nhật để giữ mình.

    Nguyễn Việt

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    Đi tìm bài học cho VN trong đối sách với người láng giềng “vừa là đồng chí vừa là anh em” TQ (theo lời dạy của “kụ” Hồ) quả không bao giờ cùng.

    Sau đây là một bài mới của tác giả Nguyễn Hưng Quốc mà tôi thiển nghĩ cũng cho chúng ta vài suy ngẫm về một bài học đối với người "anh em" TQ:

    CHẲNG LẼ LẦN NẦY TRUNG QUỐC LẠI NÓI THẬT
    (http://www.diendantheky.net/2011/08/chang-le-lan-nay-trung-quoc-lai-noi.html )

    Sau đây là thêm vài bằng chứng khác mà phía TQ đã đưa ra về vài chuyện các nhà lãnh đạo đảng “ta” đã làm trong quá khứ để “chứng minh” rằng TÂY SA (tức Hoàng Sa) và NAM SA (tức Trường Sa) là của TQ:

    [Trích bài Tên Tàu Cho Đảo Việt của tác giả Trần Khải (nguồn:
    http://www.vietbao.com/D_1-2_2-66_4-178139_15-2/ )]

    “Chính phủ CSVN đã phạm sai lầm nhiều lần trong quá khứ về quyết tâm gìn giữ lãnh thổ, lãnh hải.

    Báo Beijing Review hôm Thứ Hai 1-8-2011 có bài viết nhan đề “Still Arguing” (Vẫn Còn Tranh Cãi) của tác giả Li Jinming, giáo sư Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á ở đạị học Xiamen University, viết rằng chính phủ CSVN đã ít nhất 3 lần công nhận rằng Trung Quốc có chủ quyền toàn bộ trên Hoàng Sa và Trường Sa.

    Bài viết nêu ra luận điểm:
    (trích)“Từ 1954 tới 1975, chính phủ CSVN công khai công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ TQ trong nhiều trường hợp. Thí dụ, Thủ Tướng VN Phạm Văn Đồng xác nhận những đảo này là lãnh thổ TQ trong văn thư ngoại giao gửi Thủ Tướng TQ Chu Ân Lai vào ngày 14-9-1958. Sau đó, còn được xác nhận bởi một bản đồ thế giới xuất bản bởi Tổng Tư Lệnh Quân Lực CSVN năm 1960. Trong bản đồ, đảo Nam Sa (tức Trường Sa) được ghi là lãnh thổ TQ. Rồi sau đó, vào năm 1972, Sở Thăm Dò và Bản Đồ VN in một bản đồ trong đó đảo Nam Sa viết bằng chữ Trung Hoa, chứ không phải viết bằng tiếng Việt, Anh hoặc Pháp.”(hết trích dịch)

    Đó là những chi tiết mới do phía Trung Quốc đưa ra. Không hiểu đó có phải là sự đồng thuận thực sự giữa TQ-VN hay không? Chưa thấy Bộ Ngoại Giao VN trả lời.

    Tuy nhiên, cần thấy rằng, một bản công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng đã là một sai lầm lớn, nay vướng thêm 2 sai lầm năm 1960 và 1972 quả nhiên cho thấy chế độ có vấn đề “lỗi hệ thống.”

    Những chuyện như thế không bao giờ xảy ra tại Sài Gòn, ngay cả trước 1975, khi chế độ Miền Nam là một nền dân chủ bất toàn. Khi đụng tới chủ quyền thiêng liêng trên đất và biển, chỉ cần một biến động nhỏ là sẽ được nền báo chí tự do (dù là bất toàn) tại Miền Nam la làng. Không thể nào có chuyện ém nhẹm thông tin tới vài chục năm sau mới lộ ra, mà lộ ra lại là từ phía TQ.

    Chúng ta không thể đoán nhà nước VN sẽ trả lời TQ thế nào, nhưng đã tới hoàn cảnh toàn dân cần chung sức giữ gìn đất và biển quê nhà. Đây là giây phút chỉ cần thêm một “đồng thuận” sai trái nữa giữa Hà Nội và Bắc Kinh, đất nước có thể sẽ trở thành một Tây Tạng thứ 2.” (Trần Khải)

    Ng. Việt viết:
    Theo tôi thì bài học ở đây không phải là dùng chiến thuật gì để bảo vệ các đảo ở HS-TS mà vấn đề chính là đối sách thế nào với phuơng Bắc. Trong lịch sử, Việt và Trung lúc mạnh lúc yếu khác nhau, nhưng TQ luôn xem thái độ của VN truớc mỗi khi gây chuyện. Qua bài viết trên Đại Đoàn Kết về Công hàm 1958, chúng ta đều thấy rõ là lãnh đạo VNDCCH có những tin tưởng nhất định vào TQ (ĐĐK nêu ví dụ đảo Bach Long Vĩ để bảo vệ ý tưởng của công hàm Phạm Văn Đồng). Sau đó đã có thời kỳ 5-6 năm liền TQ đuợc phép đưa hàng chuc vạn quân vào miền Bắc VN để tham gia đánh Mỹ. Với những thông điệp đó, TQ hiểu là VN coi họ máu mủ hơn những đồng bào của mình ở phương Nam và họ đã vững tâm chiếm Hoàng Sa năm 1974 mà không sợ bị VNDCCH phản đối

    Nguyễn Việt

    Theo ngu ý của tôi, nhận định này hoàn toàn chính xác. Ngoài việc nhắc đến ví dụ về đảo Bạch Long Vĩ (như báo Đại Đoàn Kết nêu ra) còn có vụ ông Hồ và ĐCSVN năm 1956 đã TIN TƯỞNG Trung Quốc nên để cho phía TQ dời đường rầy xe lửa ở biên giới Lạng Sơn sâu vào lãnh thổ VN hơn 300 mét mà không phản đối (như trong cuốn “bạch thư” năm 1984 của nước CHXHCNVN về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như trong sách của ông Lưu Văn Lợi năm 1994 về HS, TS đã nêu ra). Hậu quả của niềm tin này là ông Hồ và ĐCSVN đã làm mất khu vực quân sự trọng yếu có tính lịch sử vô cùng TO LỚN của Tổ quốc ta là vùng đất Ải Nam Quan vào tay TQ ngay từ năm 1956, và đã được hợp thức hóa qua Hiệp định biên giới trên bộ năm 1999.

    Điều đáng ca ngợi ông Nguyễn Việt trong nhận định trên mà tôi muốn bày tỏ ở đây là sự THẲNG THẮN của ông khi viết : “chúng ta đều thấy rõ là lãnh đạo VNDCCH có những tin tưởng nhất định vào TQ” , trong đó ông đã nói rõ lãnh đạo VNDCCH thay vì viết bằng từ CHUNG CHUNG là “ta” như thói quen của nhiều người ở miền Bắc (trước 1975) như quý ông Dương Danh Di, Lưu Văn Lợi v.v... khi đề cập đến những vấn đề tương tự. Thử hỏi “ta” ở đây là ai ? Chắc chắn “ta” không phải là quý vị nói trên hoặc người dân quèn (không ở trong Bộ Chính Trị đảng Lao Động VN). Với truyền thống nghi ngờ dã tâm của người láng giềng phương Bắc, chắc chắn không mấy ai TỰ NGUYỆN tin tưởng TQ mà tất cả đều bị ông Hồ và ĐCSVN thời đó tuyên truyền và cưỡng ép phải tin tưởng vào người anh em đồng chí vĩ đại TQ. Thế thôi. Ai đã dám cả gan làm những quyết định quan trọng như giao đảo Bạch Long Vĩ cho TQ quản lý HỘ, hoặc để cho TQ tự ý dời đường rầy xe lửa vào sâu lãnh thổ VN ở Ải Nam Quan, nếu không phải là các NHÀ LÃNH ĐẠO cấp cao nhất thời đó (như ông Hồ) ? Nói “ta” kiểu chung chung như thế là tự nhận mình có góp phần vào những hành vi này, tỏ ra HÈN và cam chịu chia sẻ trách nhiệm BÁN NƯỚC với các nhà lãnh đạo (như ông Hồ) một cách OAN UỔNG không đáng có. Đây là một khía cạnh tôi xem là văn hóa ở miền Bắc trước năm 1975 mà trong hiện tại tôi thiển nghĩ người dân Việt trong nước cần can đảm TỪ BỎ để mọi người trở nên TRUNG THỰC và CHÍNH TRỰC cũng như có TƯ CÁCH đàng hoàng đáng nể hơn.

    Nếu vào thập niên 1950 ở miền Bắc mà người dân không bị ĐCSVN đàn áp để có thể nói thẳng những gì họ nghĩ thì có lẽ VN đã không bị mất Ải Nam Quan, hơn một nửa thác Bản Giốc và nhiều kilômét vuông biển trong Vịnh Bắc Bộ chung quanh đảo Bạch Long Vĩ (một hệ lụy của việc giao cho TQ quản lý HỘ đảo BLV từ 1954 đến 1957).

    Cám ơn Nguyễn Việt và "Bài học nào cho Việt Nam," vì chỉ khi nào lớp người lãnh đạo chính trị hiểu biết và thực hiện Toàn Dân Toàn Diện (Toàn dân vi binh, Toàn địa vi phòng, Toàn tài vi dụng, và Toàn quốc vi chính) thì mới thắng được Trung Quốc xâm lăng.

    HS-TS thì khác viết:
    Về Hoàng Sa và Trường Sa thì hoàn toàn khác. VN không thể dùng chiến tranh nhân dân kiểu biển người, cài cắm du kích, nằm vùng như đã áp dụng trước đây để giữ HS-TS.

    Theo tôi thì bài học ở đây không phải là dùng chiến thuật gì để bảo vệ các đảo ở HS-TS mà vấn đề chính là đối sách thế nào với phuơng Bắc. Trong lịch sử, Việt và Trung lúc mạnh lúc yếu khác nhau, nhưng TQ luôn xem thái độ của VN truớc mỗi khi gây chuyện. Qua bài viết trên Đại Đoàn Kết về Công hàm 1958, chúng ta đều thấy rõ là lãnh đạo VNDCCH có những tin tưởng nhất định vào TQ (ĐĐK nêu ví dụ đảo Bach Long Vĩ để bảo vệ ý tưởng của công hàm Phạm Văn Đồng). Sau đó đã có thời kỳ 5-6 năm liền TQ đuợc phép đưa hàng chuc vạn quân vào miền Bắc VN để tham gia đánh Mỹ. Với những thông điệp đó, TQ hiểu là VN coi họ máu mủ hơn những đồng bào của mình ở phương Nam và họ đã vững tâm chiếm Hoàng Sa năm 1974 mà không sợ bị VNDCCH phản đối

    Năm 1979 khi đem quân chinh phạt Việt Nam, Giải Phóng Quân Trung Quốc còn rất lạc hậu, không có một chút kinh nghiệm chiến tranh nào hết. Nguợc lại quân đội Nhân Dân Việt Nam lúc đó còn rất mạnh, lại tiếp quản một khối lượng lớn khí tài quân sự của Mỹ để lại (nhưng không dùng đuợc vì đoạn tuyệt với Mỹ, sau thành sắt vụn hết). Theo phân tích của nhà nghiên cứu sử học Trần Vũ „Quân đội Viêt Nam 1979, một cơ hội bị đánh mất“, nếu khi đó chính quyền Hà Nội không lo sợ một cách vô lối về mối đe dọa của các thế lực thù địch ở miền Nam, tập trung điều các sư đoàn thiện chiến nhất của mình lên biên giới thì Trung Quốc đã bị một đòn nhớ đời như đã từng bị Lý Thuờng Kiệt, Quang Trung dạy bảo và hôm nay chính phủ VN không phải ú ớ, lấp liếm về Thác Bản Giôc, về Mục Nam Quan, về đuờng biên giới Pháp-Thanh bị lùi đến đâu.

    Đó là chỉ xét trên bình diện quân pháp. Nếu xét về mặt chính trị, mỗi khi TQ muốn gây hấn với ta, họ luôn xem xét lòng dân ta. Cho đến hôm nay họ vẫn rung đùi vì cái hố ngăn cách kia không hề đuợc chính quyền VN thành tâm xóa lấp. Ngày 30.4 vẫn được kỷ niệm theo kiểu hân hoan ăn mừng, chứ không phải là ngày mà hai nguời anh em ngồi lại, chua xót nói với nhau những lời trăn trở. Họ rung đùi vì thấy nguời Việt trong nuớc đi biểu tình chống họ bị công an khép vào tội „tiếp thay cho các thế lực thù địch“. Bắc Kinh càng tăng sức ép với Hà Nội vì thấy người Việt hải ngoại truớc khi đi biểu tình về HS-TS còn cãi nhau chán về câu chuyện cờ vàng, cờ đỏ.

    Nói tóm lại, năm 1979 nếu chúng làm đúng như cha ông ta dạy thì sẽ không có Truờng Sa 1988 và nhiều chuyện đau đầu khác như hôm nay. Đó chính là bài học đắt giá mà chúng ta đang phải trả.

    Đáng tiếc là những gì diễn ra tại Việt Nam những ngày này, tuy đã an ủi ta về những tinh hoa còn tồnm tại trong lòng dân tộc, nhưng vẫn còn quá yếu ớt, thậm chí bị bóp nghẹt. Như vậy không thể làm cho TQ chùn tay!

    Nguyễn Việt

    Tôi rất thích bài viết này. Nếu CSVN làm được nhửng gì trong bài viết này, thì chắc chắn họ không phải run sợ trước đàn anh tham lam Trung Cộng, và ngay các đảng phái VN yêu nước khác. Vì Bộ chính trị từ đâu đả lảnh đạo miền bắc với sự dối trá, gian manh, nên sau khi thắng trận, họ cứ bị ám ảnh không tin ai cả, và cái gì họ củng sợ. Sợ đâm ra ngu dốt. Thiệt là đau lòng cho đất nước VN.

    Về Hoàng Sa và Trường Sa thì hoàn toàn khác. VN không thể dùng chiến tranh nhân dân kiểu biển người, cài cắm du kích, nằm vùng như đã áp dụng trước đây để giữ HS-TS.
    HS và TS là các đảo san hô, bãi đá, hiếm nước và thực vật. Chỉ có thể tiếp tế lương thực và nước ngọt bằng tàu và trực thăng. Nếu hải quân yếu, khi đánh nhau, làm sao tiếp tế để giữ đảo ? Xe tăng và bộ binh không có tác dụng đối với đảo nhỏ, ít rừng vá núi đá .

    Phải nâng cấp hải quân và tuần dương dân sự để bảo vệ vùng biển, tránh xâm nhập trái phép.
    Phải điều đình "đa phương" một cách lâu dài, rất lâu dài, để đạt được thỏa thuận chung một cách hòa bình
    Đây là vùng có nhiều nước tranh chấp, điều đình đơn phương với TQ là "chết" và không có giá trị

    16 chữ vàng của TQ chỉ là trò bịp bợm, lừa đảo. Đảng CSTQ còn giết dân TQ thẳng tay, CMVH, thì chẳng có lý do gì nó lại thương dân VN !
    VNCH cũng bị Nixon ép ký hiệp ước ngừng bắn 1973 mà chẳng ai tin là nó duy trì lâu dài. Nixon cần hiệp ước này để rút quân ra khỏi VN mà thôi.
    Lê Duẩn ký hiệp ước quân sự với Liên Sô mà vẫn bị Trung cộng đánh giết 1979 như thường

    Nói tóm lại phải biết dựa vào dân, tự cường, kết bạn một cách minh bạch thì mới giữ mình được. Biết thì sống.